1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tế chuyên môn tại TAND huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

67 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CƠ QUAN THỰC TẾ 2 I: Đặc điểm cơ quan thực tế 2 1. Tên cơ quan, lịch sử thành lập và phát triển: 2 2. Điều kiện cơ sở, vật chất 4 3.Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan 4 4. Cơ cấu tổ chức, nhân sự 4 II. Đặc điểm Phòng, Ban được phân công thực tế 4 PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CỦA BÁO CÁO THỰC TẾ 6 I. Vụ án Nguyễn Thị Dung – Phạm tội: Đánh bạc. 6 1. Khái niệm, nội dung lý luận liên quan đến vụ án. 7 2. Tóm tắt vụ án 12 3. Hồ sơ vụ án (các giấy tờ có trong hồ sơ) 12 6. Quan điểm của bản thân 25 7. Vận dụng 26 II.Vụ việc Điêu Thị Hà – Khoàng Văn Duyến Về việc: Xin ly hôn. 35 1. Khái niệm, nội dung lý luận liên quan đến vụ việc. 35 2. Tóm tắt nội dung vụ án, vụ việc. 45 3. Hồ sơ vụ việc. 45 4. Cơ sở pháp lý giải quyết vụ án (hoặc quy trình giải quyết của cơ quan tố tụng) 47 5. Quá trình giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền áp dụng pháp luật ở đơn vị thực tế 51 6. Quan điểm của bản thân sau khi nghiên cứu vụ việc. 52 7. Vận dụng. 52 PHẦN 3: BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC TẾ CHUYÊN MÔN CỦA CÁ NHÂN 55 I. Kết luận (về quá trình thực tế) 55 1. Thuận lợi 55 2. Khó khăn 55 II. Kiến nghị 55 1. Đối với cơ sở thực tế 55 2. Đối với nhà trường 56

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA LUẬT VÀ QUẢN LÝ XÃ

HỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Thái Nguyên, ngày 24 tháng 4 năm 2018

BÁO CÁO THỰC TẾ CHUYÊN MÔN CÁ NHÂN

Đơn vị thực tế chuyên môn: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG

CHÀ

Họ và tên sinh viên: HÀNG THANH BÌNH

Mã số sinh viên: DTZ1553801010008

Lớp: LUẬT A –K13

MỤC LỤC PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CƠ QUAN THỰC TẾ 2

I: Đặc điểm cơ quan thực tế 2

1 Tên cơ quan, lịch sử thành lập và phát triển: 2

2 Điều kiện cơ sở, vật chất 4

3.Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan 4

Trang 2

4 Cơ cấu tổ chức, nhân sự 4

II Đặc điểm Phòng, Ban được phân công thực tế 4

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CỦA BÁO CÁO THỰC TẾ 6

I Vụ án Nguyễn Thị Dung – Phạm tội: Đánh bạc 6

1 Khái niệm, nội dung lý luận liên quan đến vụ án 7

2 Tóm tắt vụ án 12

3 Hồ sơ vụ án (các giấy tờ có trong hồ sơ) 12

6 Quan điểm của bản thân 25

7 Vận dụng 26

II.Vụ việc Điêu Thị Hà – Khoàng Văn Duyến - Về việc: Xin ly hôn 35

1 Khái niệm, nội dung lý luận liên quan đến vụ việc 35

2 Tóm tắt nội dung vụ án, vụ việc 45

3 Hồ sơ vụ việc 45

4 Cơ sở pháp lý giải quyết vụ án (hoặc quy trình giải quyết của cơ quan tố tụng) 47

5 Quá trình giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền áp dụng pháp luật ở đơn vị thực tế 51

6 Quan điểm của bản thân sau khi nghiên cứu vụ việc 52

7 Vận dụng 52

PHẦN 3: BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC TẾ CHUYÊN MÔN CỦA CÁ NHÂN 55

I Kết luận (về quá trình thực tế) 55

1 Thuận lợi 55

2 Khó khăn 55

II Kiến nghị 55

1 Đối với cơ sở thực tế 55

2 Đối với nhà trường 56

Trang 3

PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CƠ QUAN THỰC TẾ

I: Đặc điểm cơ quan thực tế

1 Tên cơ quan, lịch sử thành lập và phát triển:

Tên cơ quan:

Tên cơ quan: Tòa án nhân dân huyện Mường Chà

Địa chỉ: Tổ 5- thị trấn Mường Chà- huyện Mường Chà- tỉnh Điện Biên

Trang 4

Mường Chà là địa bàn có nhiều dân tộc( Mông, Thái, Hoa,…) sinh sống Trình độ dân trí, sự hiểu biết về pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế, các tệ nạn xã hội, tội phạm hình sự nhất là tội phạm

về ma túy, các tranh chấp dân sự trong nhân dân diễn biến khá phức tạp đã tác động và gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện nói chung và từng xã nói riêng Để tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được

ổn định không chỉ là trách nhiệm của chính quyền cấp xã, cơ quan công an địa phương, bộ đội biên phòng,… mà còn là trách nhiệm của tòa án trong việc tuyên truyền sâu rộng pháp luật, từng bước nâng cao nhận thức pháp luật trong nhân dân; giáo dục, răn đe, phòng ngừa các vi phạm và tội phạm kịp thời trên địa bàn theo chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Nhà nước và ngành cấp trên;

tổ chức xét xử nhiều vụ án lưu động bằng người thật, việc thật, phục vụ nhân dân tại các xã có tình hình an ninh, trật tự phức tạp, thường xuyên có tội phạm xảy ra

Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân huyện Mường Chà

Tòa án nhân dân huyện Mường Lay, tỉnh Lai Châu (cũ)- Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên ngày nay được thành lập cùng với sự thành lập tỉnh Lai Châu (cũ) vào năm 1963 Năm

1996 xảy ra lũ lụt thiệt hại lớn về người và của Ngày 28-4-1997, Chính phủ ra Nghị định số 40-CP Giải thể thị trấn Mường Lay cũ, giao toàn bộ diện tích gồm 827,5 ha và 879 nhân khẩu của thị trấn Mường Lay cũ cho xã Lay Nưa quản lý Thành lập thị trấn Mường Laymới trên cơ cở diện tích tự nhiên và nhân khẩu của bản Na Pheo (xãMường Mươn) cùng với nhân khẩu của thị trấn Mường Lay cũ chuyển

về Khi ấy TAND huyện Mường Lay đang nằm trên địa bàn thị trấn Mường Lay, huyện Mường Lay(cũ) cũng di dời đến địa bàn thị trấn Mường Chà bây giờ

Khi mới thành lập Toà án nhân dân huyện Mường Lay- tỉnh Lai Châu(cũ) – nay là TAND huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên gặp rất nhiều khó khăn do bộ máy mới được thành lập, cơ sở vật chất thiếu thốn, biên chế cán bộ ít, chưa có kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ xét xử; trình độ văn hóa của cán bộ, công chức cao nhất đến lớp 7/10, biên chế Toà án huyện chỉ có Chánh án là Thẩm phán; do đó Chánh án vừa làm công tác quản lý vừa trực tiếp xét xử

Năm 2003 chia tách tỉnh Lai Châu thành 02 tỉnh Lai Châu và Điện

Trang 5

huyện Mường Lay đổi tên thành huyện Mường Chà theo đó TAND huyện Mường Lay đổi tên thành TAND huyện Mường Chà.

TAND huyện Mường Chà đã qua 2 đời Chánh án là Khoàng Văn

Đanh, Giàng Nhè Khanh đến giờ là quyền chánh án Nguyễn Văn Xôm

2 Điều kiện cơ sở, vật chất

Tòa án được xây từ năm 1997 khi Thị trấn được di dời đến địa bàn bây giờ Ban đầu Tòa nhà Trụ sở làm việc chỉ có 01 tầng, mới được

tu sửa và xây dựng thêm tầng 02 Gồm 01 hội trường xét xử được

bố trí theo phiên tòa thân thiện, một hội trường họp và 06 phòng làm việc, 01 phòng kho lưu trữ hồ sơ vụ án, các phòng làm việc được bố trí đầy đủ máy tính và dụng cụ cần thiết phục vụ cho công tác chuyên môn của ngành

3.Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan

- Chức năng: Xét xử, giải quyết những vụ án hình sự; những vụ việc dân sự (bao gồm những yêu cầu và tranh chấp về dân sự; hôn nhân

và gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động); những vụ án hành chính; giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản hợp tác xã, quyết định

áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật (quyết định

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết tranh chấp; ra quyết định thi hành án hình sự; hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; ra quyết định miễn chấp hành hình phạthoặc giảm mức hình phạt đã tuyên; ra quyết định xoá án tích )

- Nhiệm vụ: Tòa án nhân dân huyện Mường Chà có nhiệm vụ bảo vệcông lý, bảo vệ quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân

4 Cơ cấu tổ chức, nhân sự

Tòa án nhân dân huyện Mường Chà có tổng số 08 biên chế, trong đó: Thẩm phán 02 đồng chí, thư ký 03 đồng chí, 01 đồng chí kế toán, 01 đồng chí bảo vệ, 01 đồng chí tạp vụ

Cụ thể gồm:

- Quyền chánh án – Thẩm phán: Đ/c Quàng Văn Xôm

- Thẩm phán: Đ/c Lò Văn Dinh

- Kế Toán: Đ/c Bùi Thì Kền

Trang 6

- Thư ký tòa án gồm các Đ/c: Chu Thị Chức , Thào A Thu và Phìn Đại Quảng.

- Tạp vụ: Trần Thị Yến

- Bảo vệ: Lò Văn Cường

II Đặc điểm Phòng, Ban được phân công thực tế

Trong thời gian thực tế nhóm em đã được hướng dẫn ngồi tại phòng họp của Tòa án, nhưng vì đặc thù công việc như: hòa giải của các đương sự, họp cơ quan tòa án,… đều diễn ra tại phòng họp nên nhiều khi chúng em phải di chuyển sang phòng nghiệp vụ để ngồi nghiên cứu hồ sơ

Trong phòng họp ngoài dãy bàn ghế dùng để họp còn có bàn làm việc của 02 đồng chí bên trái là bàn làm việc của đồng chí Lò Văn Dinh – Thẩm phán và bên phải là bàn làm việc của đồng chí Thào A Thu – Thư ký Tòa án

Phòng họp là phòng dùng để họp toàn cơ quan, họp khi có giao ban quý của cơ quan, hòa giải dân sự, tiếp dân nên phòng khá rộng Không gian phòng thoáng mát đầy đủ trang thiết bị máy chiếu, Tivi,Micro, loa

Trang 7

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CỦA BÁO CÁO THỰC TẾ

I Vụ án Nguyễn Thị Dung – Phạm tội: Đánh bạc

Tên vụ án: Vụ Nguyễn Thị Dung – SN: 1983

Trang 8

Thường trú tại: Tổ 7, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.

Phạm tội: Đánh bạc- Điều 248 Bộ luật Hình sự

Những người có liên quan: Nguyễn Văn Diệu, Tô Văn Tỉnh, Khoàng Thị Triệu, Tòng Thị Dong

- Từ điển Oxford định nghĩa đơn giản về gamble(đánh bạc) là sự mạo hiểm về tiền bạc trong trò chơi như chơi bài, đua ngựa, …

- Đánh bạc trái phép được hiểu là hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hìnhthức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quannhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng quyđịnh trong giấy phép Ngoài ra, thuật ngữ đánh bạc “trái phép” còn

có thể được dùng để phân biệt với các hoạt động tương tự như đánhbạc nhưng có phép (hợp pháp) như các hoạt động vui chơi có

thưởng (trong casino)

1.2 Lược sử hình thành tội “Đánh bạc”

a) Thời phong kiến

Theo những tư liệu lịch sử còn sót lại, nhà Trần chính là triều đại phong kiến đầu tiên của nước ta ban hành các điều luật để ngăn chặn đánh bạc Hình phạt phổ biến thời Trần là đánh bằng gậy, kẻ đánh bạc có thể bị đánh đến chết

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép năm 1296, dưới thời vua Trần Anh Tông, viên quan của triều đình tên Nguyễn Hưng do đánh bạc đã bị vua ra lệnh phạt đánh gậy đến chết

Dưới thời Hậu Lê, ngay sau khi đánh thắng quân Minh, lên ngôi hoàng đế, năm 1429, vua Lê Thái Tổ đã ra chỉ dụ: "Kẻ nào du thủ du

Trang 9

thực, đánh cờ đánh bạc thì quan ty và quân dân bắt nộp để trị tội Đánh bạc thì chặt năm ngón tay, đánh cờ chặt một phân ngón tay".Ngay khi lên ngôi, vua Lê Thánh Tông nhận thấy cờ bạc là tệ nạn cần phải được xóa bỏ Bấy giờ, quan lại tham nhũng, đục khoét của nhân dân, trong nước nảy sinh nhiều tệ nạn như cờ bạc, đàng điếm

Để ổn định xã hội, triều đình đã cho xây dựng và ban hành luật Hồng Đức Theo đó, tội đánh bạc sẽ bị đánh 70 gậy, phạt ba quan tiền Những người có công tố cáo sẽ được triều đình ban thưởng Quan lại đánh bạc bị hạ cấp bậc, người đứng đầu và những kẻ tái phạm bị tăng tội Tiền đánh bạc thu được bị sung công Chính nhờ những quy định cụ thể, nghiêm khắc, nạn cờ bạc được xóa bỏ, tình hình xã hội đi vào ổn định Vua Lê Thánh Tông đã xây dựng được một đất nước hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Kế tục sự nghiệp của những vị vua đi trước, nhiều vua Lê sau này như Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông cũng ban hành những quy định để

Trường hợp dung túng, bao che nếu có người tố giác thì hương

trưởng bị xử đánh 50 roi, bị bắt làm phu phục dịch 6 tháng, lại phải nộp 50 quan tiền để thưởng cho người cáo giác

Dưới thời Minh Mạng, triều định có rất nhiều luật lệ trừng phạt nặng những kẻ phạm tội trên mọi lĩnh vực, trong đó có tội đánh bạc Năm

1828, đích thân vua Minh Mạng xử án can phạm Đỗ Bá Thố - người giữ chức quan nhỏ trong quân đội - xem thường lệ cấm đánh bạc của vua

Khi sự việc bị phát giác, Đỗ Bá Thố bị quan trên cách chức, phạt trượng nhưng vua Minh Mạng cho như thế chưa đáng tội và phê

Trang 10

chuẩn hình phạt nặng hơn: "Vậy tên Đỗ Bá Thố chuẩn cho đem đóng gông bêu ở ngoài cửa trại lính ấy 2 tháng, hết hạn xử phạt

100 trượng đem thi hành ngay, rồi giao về làm binh ở đội ấy"

Không chỉ phạt nặng Đỗ Bá Thố, vua Minh Mạng cũng ra lệnh xử tội

cả cấp trên của Bá Thố vì quản quân không nghiêm: "Viên chánh, phó quản cơ ở cơ ấy không biết xem xét cáo giác ra, chuẩn choét rõchức danh mỗi viên đều xử phạt lương 6 tháng để răn Lại chuẩn cho Bộ Hình đem chỉ dụ này sao ra nhiều bản cấp cho các vệ, cơ ở các thành hạt đem treo ở trại lính để được biết và lo răn sửa Nếu kẻnào còn dám theo lối làm bậy như trước, một khi bị phát giác ra, tấtphải trừng trị nghiêm ngặt không tha"

Giống như cha mình, sau khi lên ngôi, vua Thiệu Trị cũng có những biện pháp xử lý rất nghiêm tội đánh bạc và những kẻ cho mở sòng bạc Năm 1842, vua ra lệnh phạt nặng và xử “giảo giam hậu” - giam chờ ngày thắt cổ - đối với viên quan Phạm Công Đạt vì tội tổ chức đánh bạc trong quân đội

Ngay cả giai đoạn cuối của triều Nguyễn, khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, triều đình chỉ còn bù nhìn, các vua Nguyễn cuối cùng như Khải Định, Bảo Đại vẫn ra những chỉ dụ nghiêm cấm tội đánh bạc trong nước

b) Trước CMT8

Thực dân Pháp thực hiện chính sách “ Ngu dân” ra sức khuyến khíchcác hoạt động mê tín, dị đoan các tệ nạn xã hội do đó đánh bạc không có chế tài xử phạt

c) Sau CMT8 thành công đến nay

Sau khi cách mạng tháng tám thành công, chính quyền nhân dân còn non trẻ Nền kinh tế vốn đã nghèo nàn lạc hậu lại phải đối phó với những khó khăn chồng chất Trong tình hình xã hội cấp bách đó, Nhà nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh

168/SL ngày 14/4/1948 thể hiện đường lối cứng rắn, thái độ nghiêm khắc đối với tội phạm này, nhằm mục đích chặn tay địch và những phần tử thuộc giai cấp bóc lột, chưa bị thủ tiêu, dùng cờ bạc vào mục đích phá hoại, đầu độc, bóc lột nhân dân, làm cho một số

người sao lãng nhiệm vụ cách mạng

Qua từng thời kỳ cách mạng, đường lối xử lý đối với người phạm tội đánh bạc cũng thay đổi những các dấu hiệu cấu thành tội phạm vẫnkhông có gì thay đổi Bộ luật hình sự 1985 quy định tội đánh bạc, tổchức đánh bạc hoặc gá bạc trong cùng một điều luật (Điều 200) Bộ

Trang 11

luật hình sự Việt Nam 1999 quy định tội đánh bạc tại Điều 248, còn tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 249 Việc tách tội đánh bạc và tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thành hai điều luật riêng là nhằm cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với

người phạm tội do yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này Tội đánh bạc cũng được quy định tại Điều 248 BLHS năm

1999 sửa đổi bổ sung 2009 nâng mức xử lý hình sự đối với tội này

từ một triệu đồng lên hai triệu đồng và bỏ việc truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm dưới hai triệu đồng mà chỉ xử lý hình sự khi họ bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 BLHS chưa được xóa án tích mà còn vi phạm Đến bộ luật hình sự năm 2015 tội đánh bạc được quy định tạiĐiều 321 đã nâng mức độ xử lý hình sự từ hai triệu đồng lên năm triệu đồng

1.3 Nội dung quy phạm pháp luật liên quan đến vụ án

Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về Tội đánh bạc như sau:

“1 Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án

về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt

tù từ ba tháng đến ba năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù

từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”.

Theo quy định tại Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP, “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc”bao gồm:

a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;

Trang 12

b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;

c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

Điểm b khoản điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP Về một số quy định tại Điều 248 của Bộ luật hình sự:

Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình

sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích

mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó; c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;

d) Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật hình sự.

1.4 Đặc điểm của tội “Đánh bạc”

- Về chủ thể của tội phạm:

Trang 13

Chủ thể của tội phạm này không phải chủ thể đặc biệt, chỉ cần đến một độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này.

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này vì tội phạm này là tội phạm do cố ý và không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

Nếu số tiền hoặc tài sản dùng để đánh bạc có giá trị không lớn thì người có hành vi hành đánh bạc phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc và hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạchoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích

mà còn vi phạm thì mới là chủ thể của tội phạm này

- Về mặt khách thể của tội phạm

Cũng như đối với tội hành nghề mê tín, dị đoan, tội đánh bạc là tội xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, vì tội đánh bạc cũng là một tệ nạn của xã hội

- Về mặt khách quan của tội phạm

+ Hành vi khách quan:

Người phạm tội thực hiện hành vi đánh bạc bằng nhiều hình thức khác nhau Nếu trước đầy đánh bạc chủ yếu là bằng hình thức tổ tôm, xóc đĩa, bài tây thì bây giờ có rất nhiều hình thức đánh bạc như: chới số đề, cá độ bóng đá, chọi gà, cá độ đua ngựa, đua xe… thủ đoạn phạm tội cũng rất tinh vi

Theo điều văn của điều luật thì người có hành vi đánh bạc dưới bất

kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật đều bị coi là hành vi phạm tội Tuy nhiên, trong thực tế không phải cứ tham gia trò chơi nào được thua bằng tiền hay hiện vật đều bị coi là hành vi phạm tội Hiện nay các cơ quan, tổ chức có nhiều hình thức vui chơi giải trí có được thua bằng tiền hay hiện vật đều nhưng bị coi là hành

vi phạm tội đánh bạc như: chơi sổ xố, lô tô, casino… các trò chơi này đựơc Nhà nước cho phép nên không coi là hành vi phạm tội.+ Hậu quả:

Hậu quả của hành vi đánh bạc không phải là dấu hiệu bắt buộc và cũng không phải là yếu tố định khung hình phạt, mặc dù hành vi đánh bạc có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội như: do đánh bạc mà

Trang 14

tan cửa nát nhà, do đánh bạc mà dẫn đến các hành vi phạm tội khác như trộm cắp, cướp giật, cướp, cưỡng đoạt, cố ý gây thương tích, giết người, gây rối trật tự công cộng, tổ chức sử dụng trái phépchất ma tuý, cho vay lãi nặng v.v… Nhà làm luật không quy định hậu quả là yếu tố định tội hoặc yếu tố định khung hình phạt không phải vì không tháy trước được hậu quả do hành vi đánh bạc gây ra cho xã hội, mà hậu quả do hành vi đánh bạc gây ra hầu hết đã cấu thành tội phạm độc lập và tội phạm đó bao giờ cũng nguy hiểm hơntội đánh bạc Do đó, nếu hành vi đánh bạc mà dẫn đến những hành

vi phạm tội khác thì người phạm tội còn bị truy cứu về các tội phạm tương ứng

- Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi đánh bạc là do cố ý

2 Tóm tắt vụ án

Vào hồi 17h 40, ngày 18/8/2016 Công an huyện Mường Chà đã bắt quả tang Nguyễn Thị Dung tại gia đình Nguyễn Thị Dung tổ dân phố

7 đang ghi lô dề trái phép cho Nguyễn Văn Diệu ,sinh năm 1970 và

Tô Văn Tỉnh, sinh năm 1969 đều trú tại tổ dân phố 4, thị trấn MườngChà, huyện Mường Chà tang vật thu tại chỗ 4.740.000đ , 2 mảnh giấy ghi lô đề, 2 quyển sổ nhật ký có ghi số Lô đề, 1 máy tính CASIODJ240, quá trình xác minh làm rõ chiều ngày 18/8/2016 Nguyễn Thị Dung còn ghi lô đề cho Khoàng Thị Triệu trú tại tổ 13, thị trấn

Mường Chà Kiểm tra điện thoại di động của Dung có 01 tin nhắn của Tòng Thị Dong vào 5h55 phút chiều (tại thời điểm Dung bị bắt) gửi các số lô, đề cho Dung

Tại cơ quan điều tra Dung đã thừa nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình, Dung bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà truy

tố về tội Đánh bạc quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự và bị Tòa

án nhân dân huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên tuyên phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” Giao bị cáo cho UBND thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên giám sát Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo 500.000 đồng/ tháng (500.000 đồng x 12 tháng =6.000.000 đồng)

để sung quỹ Nhà nước Tịch thu sung quỹ 4.740.000 đ, 1 điện thoại

di động I phone, 1 máy tính CASIO JD240 Truy thu của bị cáo

280.000 đồng và 345.000 đồng của bà Khoàng Thị Triệu để sung quỹ nhà nước( là số tiền dùng vào việc đánh bạc)

Trang 15

Về những người có liên quan: Nguyễn Văn Diệu, Tô Văn Tỉnh,

Khoàng Thị Triệu cơ quan điều tra ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức cảnh cáo Đối với Tòng Thị Dong đã gửi tin nhắn các

số lô nhưng vào thời điểm đó Dung đã bị bắt nên Dung không xác nhận tin nhắn sau đó Dong đã dừng không chơi nữa do đó hành vi không cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra không xem xét về việc

xử lý trong vụ án

3 Hồ sơ vụ án (các giấy tờ có trong hồ sơ)

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 17 giờ 50 ngày

18 tháng 8 năm 2016 tại nhà chị Nguyễn Thị Dung tổ dân phố số

07, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

- Lệnh khám xét khẩn cấp của công an huyện Mường Chà - Cơ quan CSĐT khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Dung tại tổ dân phố số

07, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên ngày 18 tháng 8 năm 2016

- Biên bản khám xét khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Dung tại tổ dân phố số 07, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên vào hồi 19 giờ ngày 18 tháng 8 năm 2016

- Quyết định khởi tố vụ án hình sự của CA huyện Mường Chà -

Cơ quan CSĐT Số 33/QĐ ngày 30 tháng 8 năm 2016

- Quyết định phân công phó thủ trưởng Cơ quan điều tra trong việc điều tra vụ án hình sự CA huyện Mường Chà – Cơ quan CSĐT số36/QĐ ngày 30 tháng 8 năm 2016

- Quyết định phân công điều tra viên điều tra vụ án hình sự của Công an huyện Mường Chà - Cơ quan CSĐT Số 36/QĐ ngày 30

tháng 8 năm 2016

- Quyết định khởi tố bị can Nguyễn Thị Dung của Công an

huyện Mường Chà - Cơ quan CSĐT Số 41/QĐ ngày 30 tháng 8 năm 2016

- Đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Nguyễn Thị Dung của Công an huyện MC - Cơ quan CSĐT Số 41/ĐN ngày 30 tháng 8 năm 2016

- Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Viện trưởng VKSND huyện Mường Chà đối với Nguyễn Thị Dung của VKSND huyện Mường Chà Số 40/QĐ-VKS ngày 31 tháng 8 năm 2016

Trang 16

- Quyết định phân công kiểm sát viên thực hành quyền công tố

và kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND huyện Mường Chà Số 33/QĐ-VKS ngày 31 tháng 8 năm 2016

- Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thị Dung của Công

an huyện Mường Chà - Cơ quan CSĐT Số 05/QĐ ngày 30 tháng 8 năm 2016

- Thông báo về việc khám xét khẩn cấp Công an huyện Mường Chà - Cơ quan CSĐT Số 13/TB ngày 19 tháng 8 năm 2016

- TB v/v ADBP ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú CAHMC-

CQCSĐT Số: 41/TB ngày 30 tháng 8 năm 2016

- Biên bản bàn giao Người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm

đi khỏi nơi cư trú cho chính quyền địa phương của Công an huyện Mường Chà - Cơ quan CSĐT Vào hồi 10h 50 ngày 30 tháng 8 năm 2016

- BB giao nhận : QĐKTB; QĐPCCQTBC vào hồi 09 giờ 40 ngày 01tháng 9 năm 2016 tại Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên+ Biên bản giao nhận Quyết định khởi tố bị can Nguyễn Thị Dung + Biên bản giao nhận Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can Nguyễn Thị Dung

- Yêu cầu điều tra của VKSND huyện Mường Chà số 40/YC-KSĐT ngày 01 tháng 9 năm 2016

b) Tập tài liệu vật chứng, xử lý vật chứng:

- Biên bản kiểm tra điện thoại của Nguyễn Thị Dung vào hồi 22 giờ 05 phút ngày 18 tháng 8 năm 2016 tại CA huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

- Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, Biên bản kiểm tra điện thoại của Tòng Thị Dong, Khoàng Thị Triệu

Trang 17

- Biên bản niêm phong vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày

26 tháng 9 năm 2016 tại Công an huyện Mường Chà – Cơ quan CSĐT

- Lệnh + Phiếu nhập kho vật chứng Công an huyện Mường Chà – Cơ quan CSĐT Số: 28/LNK vào ngày 26 tháng 9 năm 2016

c) Tập tài liệu điều tra:

Bị can Nguyễn Thị Dung

- Bản tự khai của Nguyễn Thị Dung ( 2 bản)

- Biên bản ghi lời khai

+ Biên bản ghi lời khai của Nguyễn Thị Dung vào hồi 20 giờ 10 phút ngày 18 tháng 8 năm 2016 tại Công an huyện Mường Chà, tỉnhĐiện Biên

+ Biên bản ghi lời khai của Nguyễn Thị Dung vào hồi 01giờ ngày 19 tháng 8 năm 2016 tại CA huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

+ Biên bản ghi lời khai của Nguyễn Thị Dung vào hồi 15 giờ 20 phútngày 19 tháng 8 năm 2016 tại Công an huyện MC tỉnh Điện Biên.+ Biên bản ghi lời khai của Nguyễn Thị Dung vào hồi 14 giờ 20 phútngày 24 tháng 8 năm 2016 tại CA huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

- Biên bản hỏi cung bị can

+ Biên bản hỏi cung bị can Nguyễn Thị Dung vào hồi 10 giờ ngày 01tháng 9 năm 2016 tại Công an huyện Mường Chà

+ Biên bản hỏi cung bị can Nguyễn Thị Dung vào hồi 15 giờ 20 ngày

15 tháng 9 năm 2016 tại Công an huyện Mường Chà

+ Biên bản hỏi cung bị can Nguyễn Thị Dung vào hồi 8 giờ ngày 16 tháng 9 năm 2016 tại Công an huyện Mường Chà

+ Biên bản hỏi cung bị can Nguyễn Thị Dung vào hồi 14 giờ ngày 19tháng 9 năm 2016 tại Công an huyện Mường Chà

- Yêu cầu tra cứu của Công an huyện Mường Chà gửi đến phòng PV27 – Công an tỉnh Điện Biên tra cứu về tiền án, tiền sự quá trình hoạt động tội phạm từ trước đến nay của Nguyễn Thị Dung

- Danh bản, chỉ bản,trích lục tiền án tiền sự

+ Danh bản số 308 lập ngày 1/9/2016 tại Công an huyện Mường Chà của Nguyễn Thị Dung về việc Điều 428 ĐBQĐKTBC số 41 ngày

Trang 18

30/08/2016 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.

+ Chỉ bản số 308 lập ngày 01/9/2016 tại Công an huyện Mường Chàcủa Nguyễn Thị Dung về việc Điều 428 ĐBQĐKTBC số 41 ngày

30/08/2016 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

+ Trích lục tiền án, tiền sự của Nguyễn Thị Dung lập ngày 01 tháng

10 năm 2016 Công an tỉnh Điện Biên - Phòng hồ sơ gửi cho Công anhuyện Mường Chà, Điện Biên

- Lý lịch bị can Nguyễn Thị Dung

- Biên bản xác minh vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 16 tháng 9 năm 2016 tại tổ dân phố số 7, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

d) Tài liệu liên quan:

Người liên quan

- Nguyễn Văn Diệu: Bản tường trình; BB ghi lời

khai; Yêu cầu tra cứu; Lý lịch cá nhân; QĐ xử phạt hành chính

+ Biên bản ghi lời khai của Nguyễn Văn Diệu vào hồi 20 giờ 40 ngày

18 tháng 8 năm 2016 Tại Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

+ Biên bản ghi lời khai của Nguyễn Văn Diệu vào hồi 14 giờ 40 ngày

12 tháng 9 năm 2016 Tại Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

+ Yêu cầu tra cứu của CA huyện MC gửi đến phòng PV27 –Công an tỉnh Điện Biên tra cứu về tiền án, tiền sự quá trình hoạt động tội phạm từ trước đến nay của Nguyễn Văn Diệu

+ Lý lịch cá nhân của Nguyễn Văn Diệu

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn Diệu (theo thủ tục đơn giản) Công an huyện Mường Chà Số 19/QĐ –XPHC ngày

Trang 19

+ Biên bản ghi lời khai của Tô Văn Tỉnh vào hồi 9 giờ 20 ngày 02 tháng 9 năm 2016 Tại cơ quan Công an huyện Mường Chà.

+ Yêu cầu tra cứu của Công an huyện Mường Chà gửi đến phòng PV27 –CA tỉnh Điện Biên tra cứu về tiền án, tiền sự quá trình hoạt động tội phạm từ trước đến nay của Tô Văn Tỉnh

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Tô Văn Tỉnh (theo thủ tục đơn giản) của Công an huyện Mường Chà số 20/QĐ –XPHC ngày 23 tháng 9 năm 2016

- Khoàng Thị Triệu: Bản tường trình; BB ghi lời khai; Yêu cầu

tra cứu; Lý lịch cá nhân; QĐ xử phạt hành chính:

+ Biên bản ghi lời khai của Khoảng Thị Triệu vào hồi 10 giờ 21 ngày

19 tháng 8 năm 2016 Tại Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

+ Biên bản ghi lời khai của Khoàng Thị Triệu vào hồi 14 giờ 30 ngày

22 tháng 9 năm 2016 Tại Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

+ Yêu cầu tra cứu của Công an huyện Mường Chà gửi đến phòng PV27 – CA tỉnh Điện Biên tra cứu về tiền án, tiền sự quá trình hoạt động tội phạm từ trước đến nay của Khoàng Thị Triệu

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Khoàng Thị Triệu (theo thủ tục đơn giản) của Công an tỉnh Điện Biên Công an huyện MườngChà số 21/QĐ –XPHC ngày 23 tháng 9 năm 2016

- Tòng Thị Dong: BB ghi lời khai; Lý lịch cá nhân:

+ Biên bản ghi lời khai của Tòng Thị Dong vào hồi 14 giờ 45 ngày 19tháng 8 năm 2016 Tại Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên + Biên bản ghi lời khai của Tòng Thị Dong vào hồi 14 giờ 55 ngày

01 tháng 9 năm 2016 Tại Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

- Biên bản đối chất giữa Nguyễn Thị Dung và Khoàng Thị Triệu vào hồi 9 giờ 00 ngày 23 tháng 9 năm 2016 tại Công an huyện Mường Chà

- Giấy cam đoan của Nguyễn Thi Dung

Trang 20

- Đơn xin bảo lĩnh Nguyễn Thị Dung của:Nguyễn Công Định (emtrai Nguyễn Thị Dung) với lý do Nguyễn Thị Dung hiện đang nuôi 2 con còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi).

- Giấy khai sinh: Phạm Quỳnh Trang, Phạm Duy Long

+ Giấy khai sinh mang tên Phạm Quỳnh Trang Sinh ngày 29/3/2014 (con gái chị Dung)

+ Giấy khai sinh mang tên Phạm Duy Long Sinh ngày

12/3/2015(con trai chị Dung)

- Giấy ghi lô đề: 2 tờ giấy loại kẻ ngang A4 và 2 mảnh giấy 10,5x 6,5 ghi số đề

e) Tập tài liệu kết luận điều tra:

- Bản kết luận điều tra + BB giao nhận bản KLĐT

+ Bản kết luận điều tra vụ án hình sự của Công an huyện Mường Chà số 28/KLĐT ngày 30 tháng 9 năm 2016

+ Biên bản giao nhận Bản kết luận điều tra vụ án vào hồi 14 giờ 00 phút ngày của Công an huyện Mường Chà - Cơ quan CSĐT ngày 03 tháng 10 năm 2016

- Biên bản giao nhận hồ sơ vụ án cho VKSND huyện Mường Chà của CA huyện Mường Chà Cơ quan CSĐT

f) Tập tài liệu tố tụng:

- Biên bản hỏi cung:

+ Biên bản hỏi cung bị can Nguyễn Thị Dung(lần thứ nhất ) vào hồi

14 giờ 15 phút ngày 10 tháng 10 năm 2016

+ Biên bản hỏi cung bị can Nguyễn Thị Dung(lần thứ hai ) vào hồi

15 giờ 00 phút ngày 19 tháng 10 năm 2016

- Cáo trạng, Biên bản giao nhận cáo trạng:

Trang 21

+ Cáo trạng Viện trưởng VKSND của VKSND tỉnh ĐB VKSND huyện Mường Chà số 28/QĐ-VKS-HS ngày 20 tháng 10 năm 2016.

+ Biên bản giao nhận cáo trạng ngày 21 tháng 10 năm 2016 của VKSND huyện Mường Chà

- Quyết định+ Thông báo chuyển vật chứng:

+ Quyết định chuyển vật chứng ngày 20 tháng 10 năm 2016

+ Phiếu xuất kho vật chứng ngày 21 tháng 10 năm 2016 CAHMC CQCSĐT số 30/PXK

+ Biên bản giao nhận vật chứng CAHMC CQCSĐT giao cho Chi cục thi hành án DS huyện Mường Chà

- Thống kê tài liệu có trong hồ sơ:

- Biên bản giao nhận hồ sơ vụ án ngày 21 tháng 10 năm 2016 VKSND huyện Mường Chà giao cho TAND huyện Mường Chà

Trang 22

Giấy triệu tập Nguyễn Văn Diệu TANDHMC ngày 04 tháng 11 năm 2016

Giấy triệu tập Khoàng Thị Triệu TANDHMC ngày 04 tháng 11 năm 2016

Biên bản giao quyết định đưa vụ án ra xét xử vào hồi 16h ngày 04 tháng 11 năm 2016 TANDHMC

Biên bản giao giấy triệu tập bị cáo tại ngoại vào hồi 16h 10 ngày 04tháng 11 năm 2016 TANDHMC

Biên bản về việc mời trợ giúp viên pháp lý vào hồi 16 giờ 20 phút ngày 04 tháng 11 năm 2016 TANDHMC

Biên bản giao nhận Quyết định vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 04 tháng 11 năm 2016: QĐ đưa vụ án ra xét xử + Giấy triệu tập đương

sự giao cho Nguyễn Văn Diệu

Biên bản giao nhận Quyết định vào hồi 14giờ 15 phút ngày 04

tháng 11 năm 2016: QĐ đưa vụ án ra xét xử + Giấy triệu tập đương

sự giao cho Tô Văn Tỉnh

Biên bản giao nhận QĐ vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 04 tháng 11 năm 2016: QĐ đưa vụ án ra xét xử+ Giấy triệu tập đương sự giao cho Tòng Thị Dong

Biên bản giao nhận QĐ vào hồi 15h15 ngày 04 tháng 11 năm 2016 TANDHMC :QĐ đưa vụ án ra xét xử + Giấy triệu tập đương sự giao cho Khoàng Thị Triệu

Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa của Nguyễn Văn Diệu

Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa của Tô Văn Tỉnh

Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa của Khoàng Thị Triệu

Biên bản giao nhận chứng cứ của tòa án người giao Khoàng Thị Triệu

Biên bản nghị án của TANDHMC ngày 16 tháng 11 năm 2016

Trang 23

Biên bản giao nhận bản án của TANDHMC vào hồi 8h10 ngày 18 tháng 11 năm 2016 giao cho Tòng Thị Dong.

Biên bản giao nhận bản án của TANDHMC vào hồi 8h15 ngày 18 tháng 11 năm 2016 giao cho Nguyễn Văn Diệu

Biên bản giao nhận bản án của TANDHMC vào hồi 8h30 ngày 18 tháng 11 năm 2016 giao cho Tô Văn Tỉnh

Biên bản giao nhận bản án TANDHMC vào hồi 8h40 ngày 18 tháng

11 năm 2016 giao cho Nguyễn Thị Dung

Thông báo kết quả xét xử ngày 16 tháng 11 năm 2016 của

TANDHMC

Mục tài liệu trong hồ sơ

4 Cơ sở pháp lý giải quyết vụ án (hoặc quy trình giải quyết của cơ quan điều tra, … )

Lý lịch của bị can:

Họ và tên: Nguyễn Thị Dung, sinh năm 1983

HKTT và chỗ ở: Tổ dân phố số 7, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 9/12

Nghề nghiệp: Kinh doanh

Con ông: Nguyễn Văn Đình, sinh năm 1954

Con bà: Nguyễn Thị Phượng, sinh năm 1955

Đều trú tại: Tổ dân phố số 04, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Gia đình có 03 anh chị em, bị can là con thứ 2 trong gia đình

Chồng là: Chồng: Phạm Văn Thích – Sinh năm: 1977

Trú tại: Tổ dân phố số 7, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Có 4 con, con lớn nhất sinh năm 2000 con nhỏ nhất sinh năm 2015.Tiền án, tiền sự: Không có

Trang 24

Bị can không bị bắt tạm giữ, tạm giam mà được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú Hiện được tại ngoại tại địa

phương.Các con hiện nay còn nhỏ đang sống cùng bố mẹ

Tóm tắt quá trình hoạt động của bị can: Còn nhỏ sống phụ thuộc vào bố mẹ nuôi ăn học đến hết lớp 9/12 sau đó thôi học ở nhà lao động, sản xuất Năm 2001 xây dựng gia đình sinh sống tại Thái Bình Năm 2006 chuyển từ Thái Bình lên sinh sống tại thị trấn

Mường Chà cho đến nay

Ngày 18/8/2016 có hành vi đánh bạc (ghi lô, đề )trái phép bị Công

an huyện Mường Chà bắt giữ và khởi tố

Bản thân chưa có tiền án, tiền sự

b) Chứng cứ buộc tội:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 17 giờ 50 ngày 18 tháng 8 năm 2016 tại nhà chị Nguyễn Thị Dung tổ dân phố số 07, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Biên bản khám xét khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Dung tại tổ dân phố số 07, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên vào hồi 19 giờ ngày 18 tháng 8 năm 2016

Vật chứng thu giữ tại nhà Nguyễn Thị Dung 01 điện thoại I phone màu trắng, 05 mảnh giấy ( có 04 mảnh giấy loại A4, 01 mảnh loại giấy sách giáo án) đã viết số và chữ, 01 máy tính CASIO DJ240, số tiền 4.740.000đ dùng vào việc đánh bạc

Lời khai của người làm chứng

c) Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị Dung không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại điều 48 BLHS và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong quá trình điều tra bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có thân nhân tốt Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định điểm h, p khoản 1,2 Điều 46 BLHS đối với bị cáo

Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi 4 con nhỏ còn đang ăn học nên

muốn kiếm thêm thu nhập

Trang 25

đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều

249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”

Trong vụ án này có Nguyễn Văn Diệu, Tô Văn Tỉnh và Khoàng Thị Triệu do đánh bạc với số tiền nhỏ nên cơ quan điều tra ra quyết định

xử lý hành chính bằng hình thức cảnh cáo Đối với Tòng Thị Dong đãgửi tin nhắn các số lô nhưng vào thời điểm đó Dung đã bị bắt nên Dung không xác nhận tin nhắn sau đó Dong đã dừng không chơi nữa do đó hành vi không cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra

không xem xét về việc xử lý trong vụ án Ngoài ra Dung còn chơi lô,

đề với Kỳ và Tùng nhưng do Dung không biết lai lịch cụ thể của Kỳ

và Tùng, nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở đề điều tra, xác minh làm rõ

Điểm h, p khoản 1, 2 Điều 46 BLHS

Điều 31 BLHS

Khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Khoản 1 Điều 22 pháp lệnh

số 10/2009/ UBTVQH12 ngày 27/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốchội về lệ phí, án phí

Điểm a, b Khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày

29/6/2016, của Quốc hội về thực hiện và áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015,

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015

Điều 231, Điều 234/BLTTHS

Trang 26

e) Thời hạn điều tra vụ án: 2 tháng.

f) Biện pháp ngăn chặn

Bị cáo Nguyễn Thị Dung bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm

đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

g) Quy trình giải quyết vụ án của cơ quan tố tụng:

- Giai đoạn 1: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự:

Thẩm quyền giải quyết: Cơ quan Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

+ Điều tra vụ án hình sự:

Vào hồi 17h 40, ngày 18/8/2016 Công an huyện Mường Chà đã bắt quả tang Nguyễn Thị Dung tại gia đình Nguyễn Thị Dung tổ dân phố

7 đang ghi lô dề trái phép cho Nguyễn Văn Diệu ,sinh năm 1970 và

Tô Văn Tỉnh, sinh năm 1969 đều trú tại tổ dân phố 4, thị trấn MườngChà, huyện Mường Chà tang vật thu tại chỗ 4.740.000đ , 2 cáp ghi

lô đề, 2 quyển sổ nhật ký có ghi số Lô đề, 1 máy tính cầm tay.Cơ quan điều tra tiến hành bắt giữ 3 đối tượng trên và lập biên bản bắt người quả tang và lấy lời khai của các đối tượng Khám xét khẩn cấpnơi ở của Nguyễn Thị Dung và thu giữ tang vật

Sau đó Cơ quan CSĐT đã tiến hành điều tra vật chứng, điều tra về lýlịch và lấy lời khai của các đối tượng

+ Khởi tố:

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự: Theo quy định tại khoản 1, Điều

104 thì khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải

ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

Sau khi xác định đầy đủ dấu hiệu của tội phạm: “ Đánh bạc”

Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Chà ra quyết định khởi tố đối với Nguyễn Thị Dung

Trang 27

+ Quyết định truy tố bị cáo ra trước TAND huyện Mường Chà về tội “Đánh bạc”.

+ Cáo trạng Viện trưởng của VKSND huyện Mường Chà số VKS-HS ngày 20 tháng 10 năm 2016

+ Thẩm quyền giải quyết: TAND huyện Mường Chà

+Tiến hành xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Dung

+ Bản án của TAND huyện Mường Chà Số 04/2016/HSHS ngày 16 tháng 11 năm 2016

+ Thẩm quyền giải quyết: Cơ quan thi hành án

+ Thi hành bản án có hiệu lực trước Tòa

5 Quá trình giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền áp dụng pháp luật ở đơn vị thực tế

a)Thẩm quyền của đơn vị thực tế:

Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Căn cứ tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 có quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện, như sau:

“1 Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219,

221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự”.

b) Quá trình xét xử vụ án:

*) Trước khi mở phiên tòa xét xử Sơ thẩm

Trang 28

Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án vào ngày 21 tháng 10 năm 2016 của VKSND huyện Mường Chà giao thì ngay sau đó TAND đã ra Quyết định phân công xét xử sơ thẩm án hình sự Số 04/2016/QĐPC-TA và Quyết định đưa vụ án ra xét xử TANDHMC số 04/2016/HSST-QĐ Cũng như gửi Giấy triệu tập tới Tòa án đến bị cáo và những người cóliên quan Tòa án sẽ mời trợ giúp viên pháp lý nếu như bị cáo có yêucầu.

*) Phiên tòa xét xử Sơ thẩm

Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 16 tháng 11 năm 2016 Tòa án nhân dân huyện Mường Chà tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án của Nguyễn Thị Dung

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Chà mở phiên tòa để xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo: Nguyễn Thị Dung

Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Truy tố về tội: Đánh bạc

Theo cáo trạng Số: 28, ngày 20 tháng 10 năm 2016

- Những người tiến hành tố tụng:

+ Ông: Nguyễn Xuân Hoàng- Phó chủ tịch Hội nông dân huyện

Mường Chà, tỉnh Điện Biên

+ Ông: Khoàng Văn Hặc- Cán bộ hưu trí thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên,

+ Thư ký tòa án: Ông Thiều Tất Lơ- Cán bộ tòa án nhân dân huyện Mường Chà

+ Đại diện VKS huyện Mường Chà: Bà Nguyễn Thị Thu- Kiểm sát viên

- Những người tham gia tố tụng:

+ Bị cáo: Nguyễn Thị Dung

+ Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Văn Diệu (Vắng mặt tại phiên tòa có lý do)

Tô Văn Tỉnh(Vắng mặt tại phiên tòa có lý do)

Khoàng Thị Triệu(Vắng mặt tại phiên tòa có lý do)

Tòng Thị Dong( Có mặt tại phiên tòa)

Trang 29

+ Giai đoạn bắt đầu phiên tòa

+ Giai đoạn xét hỏi

+ Giai đoạn tranh luận

+ Giai đoạn nghị án và tuyên án

*) Kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm:

- Tòa án giao bản án cho bị cáo, những người có liên quan trong vụ

án và cơ quan có thẩm quyền

- Sau 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án không có kháng cáo, kháng nghị bản án được thi hành

6 Quan điểm của bản thân

Sau khi nghiên tìm hiểu hồ sơ vụ án, em nhận thấy:

- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật TTHS

Về thời gian giao nhận bản án, quyết định: đúng quy định

Về hình thức bản án, quyết định: đúng quy định

Về nội dung bản án, quyết định: đúng pháp luật

Phần tố tụng đã đầy đủ, đúng quy định, đúng quy trình

Phần chứng cứ có đủ cơ sở lập luận để truy tố bị cáo về tội “ Đánh bạc” theo quy định của pháp luật

Trong giai đoạn xét xử vụ án, Tòa án đã thực hiện các quyền hạn như quyết định phân công xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, nghị án, xét xử vụ án, kết thúc xét xử vụ án, đưa ra bản án có hiệu lực pháp luật

Tòa án lập bản án đã có kết quả xét xử Trong bản án đã ghi rõ đượcngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của phạm tội và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định phạm tội “Đánh bạc” của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ TNHS; nhân thân của bị can và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 Bản án được lập ngày 16/11/2016 ( Được quy định rõ tại điều 167 BLTTHS 2003)

Trang 30

Theo em, bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình

sự, có sức khỏe, có công việc tuy rằng do hoàn cảnh cần tiền để

nuôi các con ăn học muốn kiếm tiền nhưng lại là con đường kiếm tiền bất hợp pháp, biết rằng vi phạm pháp luật của Nhà nước nhưngvẫn đi vào con đường phạm tội Hành vi của bị cáo gây ra là hành vinguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất ổnđịnh về tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong nhân dân Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Đánhbạc” được quy định tại Khoản 1 Điều 248 – BLHS

Tuy hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi

đó đã trực tiếp xâm phạm vào trật tự công cộng; an toàn xã hội gâymất trật tự trị an trên địa bàn huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Nhưng xét thấy tính chất vụ án là ít nghiêm trọng bị cáo có nhân

thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi

cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội

mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.Quyết định của Hội đồng xét xử đã thể hiện được chính sách hình sự nhân đạo, tạo điều kiện có lợi cho bị cáo của Nhànước Tuy vậy, đối với những người có liên quan trong vụ án chỉ bị

xử phạt hành chính với mức phạt là cảnh cáo là quá nhẹ nhàng, vẫnnên có hình phạt nào đấy để răn đe tránh tái phạm, coi thường

pháp luật Để thấy sự nghiêm minh của pháp luật, xét xử đúng

người, đúng tội, đúng pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ,TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Trang 31

Các hội thẩm nhân dân:

Ông: Khoàng Văn Hặc – Cán bộ nghỉ hưu tại thị trấn Mường Chà,

huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Ông: Nguyễn Xuân Hoàng – Phó chủ tịch hội nông dân, huyện

Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Thiều Tất Lơ – Cán bộ

Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên

Đại diện Viên kiểm sát nhân huyện Mường Chà tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 11 năm 2016 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệnMường Chà, tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sựthụ lý số 04/2016/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2016, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Dung.

Tên gọi khác: Không.

Sinh năm 1983, tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố số 7, thị trấn Mường Chà, huyện MườngChà, tỉnh Điện Biên

Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố số 7, thị trấn Mường Chà, huyện MườngChà, tỉnh Điện Biên

Nghề nghiệp: Kinh doanh

Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: khôngTrình độ học vấn: 9/12

Tiền án, tiền sự: Không

Bố đẻ: Nguyễn Văn Đình Sinh năm:1954

Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Liên Sinh năm:1955

Chồng: Phạm Văn Thiết Sinh năm:1977

Con: Bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm2015

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú chođến nay có mặt tại phiên tòa

Trang 32

*Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1 Nguyễn Văn Diệu – SN: 1970 (có đơn xin vắng mặt tại phiên

tòa)

Địa chỉ: Tổ dân phố số 04, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà,tỉnh Điện Biên

2 Tô Văn Tỉnh – SN:1969(có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Tổ dân phố số 04, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà,tỉnh Điện Biên

3 Khoàng Thị Triệu – SN: 1957(có đơn xin vắng mặt tại phiên

tòa)

Địa chỉ: Tổ dân phố số 04, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà,tỉnh Điện Biên

4 Tòng Thị Dong – SN: 1979(có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ:Bản Na Pheo 2, xã Na Sang, huyện Mường Chà, tỉnh ĐiệnBiên

vi đánh bạc dưới hình thức ghi lô, dề trái phép tại nhà ở tổ dân phố

số 7, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà cho Nguyễn Văn Diệu,sinh năm 1970 và Tô Văn Tỉnh, sinh năm 1969 đều trú tại tổ dânphố số 4, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà Thu giữ của Dung

số tiền 4.740.000 đồng; 01 máy tính CASIO DJ240; 02 quyển sổ,trong sổ đều có các chữ, số, chữ ký và họ tên Nguyễn Thị Dung Thugiữ trong túi của Diệu một mảnh giấy loại giấy A4 kích thước 8,5 x5,5cm ghi các số: 01 x 50, 08.01.44-400, 08.01.44.75- 500, 44 x

300 và chữ ký, họ tên Nguyễn Thị Dung Thu giữ trong túi áo Tỉnhmột mảnh giấy loại giấy A4 kích thước 10,5cm x 6,5 cm ghi các số62,01 x50đ; 23,42,62,93 x 100; 32 x100; 572 x 100; 72 x100; 27 x

20 và chữ ký, họ tên Nguyễn Thị Dung

Trong quá trình điều tra Nguyễn Thị Dung khai nhận: Dung đã thamgia ghi lô, đề từ tháng 7/2016 đến khi bị bắt Dung là người trực tiếpghi và chơi lô, đề với những người khác, Dung không nhớ cụ thể

Trang 33

chơi với những ai, ở đâu với số tiền là bao nhiêu Có ngày Dungthắng, có ngày Dung thua nên không xác định được số tiền thu lợi.Hình thức chơi và tỷ lệ chi trả như sau: ghi lô, đề dựa vào kết quả sổ

số kiến thiết miền Bắc, mở thưởng hồi 18 giờ 30 phút hàng ngày Đềhai số hoặc ba số là lấy hai hoặc ba số cuối của giải đặc biệt, lô làlấy hai số cuối của tất cả các giải Tỷ lệ thắng đề hai số 1/70 lần đốivới người chi trả tiền mặt, tỷ lệ là 1/65 lần đối với người ghinợ( người chơi ghi 1000đ nếu thắng thì được 70.000đ hoặc65.000đ); tỷ lệ thắng đề ba số là 1/350 lần ( người chơi ghi 1000đnếu thắng thì được 350.000đ) Tỷ lệ thắng lô điểm là 01/22/80 đốivới người ghi trả tiền mặt, 01/23/80 đối với người ghi nợ ( người ghi

01 điểm = 22.000đ hoặc 23.000đ, nếu thắng sẽ được 80.000đ) Lôxiên hai tỷ lệ thắng 1/10 lần (người chơi ghi 1.000đ nếu thắng thìđược 10.000đ), lô xiên ba tỷ lệ thắng 1/40 lần đối với người ghi trảtiền mặt, tỷ lệ là 1/35 lần đối với người ghi nợ (người chơi ghi1.000đ nếu thắng thì được 40.000đ hoặc 35.000đ), lô xiên bốn tỷ lệthắng 1/100 lần (người chơi ghi 1.000đ nếu thắng thì được100.000đ), nếu trong kết quả sổ số ngày hôm đó có nhiều kết quảtrùng nhau thì tỷ lệ trả cho người chơi sẽ được nhân tương ứng với

số lần kết quả đó

Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 18/8/2016, Dung đang ở nhà có mộtngười bán hàng dong vào nhà Dung ghi hộ các số lô, đề cho mộtngười tên Kỳ với số tiền 2.500.000 đồng Đến khoảng 17 giờ, có mộtngười đàn ông tên Tùng vào ghi lô, đề với tổng số tiền là 1.710.000đồng Đến 17 giờ 15 phút bà Khoàng Thị Triệu, trú tổ dân số 13, thịtrấn Mường Chà gọi điện thoại cho Dung ghi các số: đề 04, 40, 12,

13, 39 mỗi số 5.000 đồng= 25.000 đồng; đầu 4 đuôi 4 (20 số) mỗi

số 10.000 đồng= 200.000 đồng; đầu 8 đuôi 8 (20 số) mỗi số 2.000đồng = 40.000 đồng, đầu 1 (10 số) mỗi số 5.000 đồng = 50.000đồng; các số 19, 91, 20 mỗi số 10.000 đồng = 30.000 đồng Tổng

số tiền bà Triệu ghi 345.000 đồng Nhưng Tùng, Kỳ và bà Triệu đềughi nợ chưa trả tiền cho Dung

Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày có Nguyễn Văn Diệu vào nhà hỏighi lô, đề, Dung xé một mảnh giấy trắng loại giấy A4, ghi cho Diệucác số: đề số 44 là các số 08.01.44.75 là 300.000 đồng; lô điểm số

01 là 50 điểm (01 điểm= 22.000đ)= 1.100.000 đồng Tổng số tiềnDiệu ghi 2.100.000 đồng, khi trả tiền do Diệu ghi nhiều nên Dungchỉ thu 2.000.000 đồng còn khuyến mại giảm cho Diệu 100.000đồng nhưng tính vào số đề Trong lúc Diệu đang ghi lô, đề thì Tô VănTỉnh cũng vào ghi lô, đề, Dung xé một mảnh giấy trắng loại giấy A4ghi các số lô, đề cho Tỉnh gồm: đề số 27 là 20.000 đồng, số 23, 42,

Ngày đăng: 10/05/2019, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w