Với mục đích nghiên cứu Xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV. được xác định cụ thể như trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau đây: Hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài: kỹ năng, KNTC, HĐTN, sinh viên sư phạm, hoạt động HSV. Xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV. Khảo sát thái độ của sinh viên sư phạm về các biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN được tích hợp trong hoạt động HSV. Khảo sát mức độ hỗ trợ của các biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN tích hợp trong hoạt động Hội.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TÍCH HỢP TRONG
HOẠT ĐỘNG HỘI SINH VIÊN
TP.HCM, 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TÍCH HỢP TRONG
HOẠT ĐỘNG HỘI SINH VIÊN
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Th.S Đinh Quỳnh Châu
TP.HCM, 2018
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
LỜI CAM ĐOAN 5
LỜI CẢM ƠN 6
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
MỞ ĐẦU 9
1 Lí do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 11
5 Giả thuyết nghiên cứu 11
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
7 Các phương pháp nghiên cứu 11
8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 13
9 Cấu trúc đề tài 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KNTC HĐTN CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TÍCH HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG HỘI SINH VIÊN 14
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 14
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước 14
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 16
1.2 Lý luận về xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV 18
1.2.1 Lý luận về kỹ năng và KNTC 18
1.2.2 Lý luận về HĐTN 25
1.2.3 Lý luận về Hoạt động của HSV Việt Nam 37
1.2.4 Lý luận về sinh viên sư phạm 42
1.2.5 Lý luận về xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 61
Trang 4Chương 2: XÂY DỰNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KNTC HĐTN CHO SINH
VIÊN SƯ PHẠM TÍCH HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG HỘI SINH VIÊN 62
2.1 Các nguyên tắc xây dựng biện phép rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV 62
2.2 Xây dựng nội dung hướng dẫn thực hiện biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong các hoạt động của HSV 63
2.2.1 Mục đích, ý nghĩa 63
2.2.2 Nội dung các bài tập 64
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 102
Chương 3: ĐÁNH GIÁ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KNTC HĐTN CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TÍCH HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA HSV 103
3.1 Mục đích và phương pháp nghiên cứu: 103
3.1.1 Mục đích nghiên cứu: 103
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu 103
3.2 Khách thể nghiên cứu: 106
3.3.Kết quả nghiên cứu đánh giá mức độ cần thiết rèn luyện 12 kỹ năng tổ chức HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong các hoạt động của HSV……… 107
3.4 Đánh giá mức độ cần thiết và khả thi về nội dung hướng dẫn thực hiện 9 bài tập rèn luyện KNTC trò chơi cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV 112
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 120
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121
1.Kết luận 121
2 Kiến nghị 123
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
PHỤ LỤC 128
Phụ Lục 1 128
Phụ lục 2 162
Phụ lục 3 166
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Nhóm nghiên cứu cam đoan đề tài: “Xây dưng biện pháp rèn luyện kỹ năng tổ chức
hoạt động trải nghiệm cho sinh viên Sư phạm tích hợp trong hoạt động Hội sinh viên” là
công trình khoa học do nhóm nghiên cứu thực hiên
Các số liệu và kết quả trình bày trong đề tài nghiên cứu là trung thực và chưa từng được công bố ở bất kì một công trình nghiên cứu nào
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 04 năm 2018
Nhóm nghiên cứu
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài “Xây dựng biện pháp rèn luyện kỹ năng tổ chức hoạt động trải
nghiệm cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động Hội sinh viên” nhóm nghiên cứu
xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô - giảng viên khoa Tâm lý học đã giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho chúng tôi trong suốt thời gian qua Đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Th.S Đinh Quỳnh Châu - người đã hướng dẫn, quan tâm, tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành đề tài này
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn đến các chuyên gia Th.S Đỗ Tất Thiên, Th.S Lê Minh Huân, Th.S Nguyễn Văn Hiến đã có những lời góp ý, nhận xét để đề tài hoàn thiện hơn Đồng thời, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các bạn sinh viên trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, các bạn cán bộ Hội sinh viên đã tham gia thực hiện khảo sát, đánh giá tính cần thiết và khả thi của các biện pháp trong đề tài Cuối cùng, nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn thân thương đến gia đình, các anh chị, bạn bè đã động viên, hỗ trợ nhóm nghiên cứu rất nhiều trong quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài
Nhóm nghiên cứu
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Trang 8106
2 Bảng 3.2
Đánh giá chung mức độ cần thiết của 12 KNTC HĐTN cho sinh viên Sư phạm tích hợp trong các hoạt động của Hội sinh viên
107
3 Bảng 3.3
Đánh giá chi tiết mức độ cần thiết của 12 KNT HĐTN cho sinh viên Sư phạm tích hợp trong các hoạt động của Hội sinh viên
109
4 Bảng 3.4
Đánh giá chung mức độ cần thiết về Nội dung
5 Bảng 3.5 Đánh giá chi tiết mức độ cần thiết của 9 bài tập 113
6 Bảng 3.6 Đánh giá chung mức độ khả thi về 9 bài tập 115
7 Bảng 3.7 Đánh giá chi tiết mức độ khả thi về Nội dung
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 về mục tiêu
tổng quát có nêu rõ: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn
diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập” Để thực hiện được những mục tiêu trên, mặt bằng dân trí phải được nâng cao nhằm
cung cấp những nguồn lực có đầy đủ về mặt đạo đức và năng lực cho xã hội Những giá trị về đạo đức nghề nghiệp của các nguồn nhân lực được hình thành không chỉ ở những giờ học trên lớp mà còn phải được rèn luyện, củng cố và phát triển thông qua các hoạt động giáo dục, trong đó không thể thiếu HĐTN
Ngày 27/07/2017 Ban chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã thông qua dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của ban Phát triển chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Sau khi bảng dự thảo đã được Ban Phát triển chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã nghiêm túc tiếp thu để chỉnh sửa, hoàn thiện trên cơ sở ý kiến góp ý của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản lý, các tầng lớp nhân dân và ý kiến của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình tổng thể (lần 2) Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể HĐTN là một hoạt động giáo dục bắt buộc và chiếm 105 tiết học trong một năm dành cho cả 3 khối lớp (chiếm từ 9.38% đến 10.35% của tổng số tiết học trong một năm) Không chỉ được xếp thành 1 môn học riêng biệt, HĐTN cũng được đưa vào lồng ghép vào trong các môn học nhằm giúp học sinh hiểu và biết liên hệ, vận dụng những kiến thức đã được học vào cuộc sống Vì thế các bạn sinh viên sư phạm - các nhà giáo trong tương lai cần chuẩn bị cho mình những kỹ năng và kiến thức cần thiết để có thể tổ chức các HĐTN cho học sinh của mình sau này
Trong học kỳ II năm 2016-2017 trường ĐHSP TP.HCM cũng đã bắt đầu mở các lớp dạy Kỹ năng thiết kế và tổ chức HĐTN cho các sinh viên sư phạm Một điều cần lưu ý là
Trang 10kỹ năng không thể hình thành ngay lập tức chỉ trong một vài tiết giảng lý thuyết, nhưng được hình thành từ sự lặp đi lặp lại, sự rèn luyện nhóm các hành động nhất định nào đó,
mà ở đây chính là hành động thiết kế và tổ chức HĐTN Một câu hỏi đặt ra, làm sao để sinh viên thật sự có được kỹ năng thiết kế và tổ chức HĐTN chỉ với vài chục tiết học lý thuyết trên lớp? Vì thế sinh viên sư phạm cần có một sân chơi để có thể thực hành và rèn luyện kỹ năng thiết kế và tổ chức HĐTN
Một trong những sân chơi bổ ích cho các bạn sinh viên đó chính là các hoạt động của HSV Đây là một sân chơi giúp rèn luyện cho các bạn sinh viên nhiều kỹ năng trong cuộc sống rất hiệu quả Hiện nay các hoạt động của HSV khá nhiều và thường xuyên được tổ chức trong một năm học Nhưng người mà đứng ra tổ chức cho các bạn sinh viên trải nghiệm không ai khác là Cán bộ hội trong BCH Liên Chi hội, còn các bạn sinh viên
là người được trải nghiệm Vậy có được thỏa mãn không khi tất cả các bạn sinh viên hệ
Sư phạm đều cần có kĩ năng tổ chức HĐTN cho sự nghiệp giảng dạy sau này
Nhu cầu được rèn luyện KNTC HĐTN của sinh viên sư phạm đang cao, cùng với đó
là thực trạng nhà trường vẫn chưa có học phần về tổ chức HĐTN để đáp ứng nhu cầu của sinh viên
Vì vậy, việc “xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động Hội sinh viên” là cần thiết Trên cơ sở đó nhằm giải quyết
những hạn chế kể trên, tác động đến nhận thức, mang lại đổi mới lâu dài và đáp ứng yêu cầu học tập của sinh viên Bên cạnh đó, còn phù hợp với thực tiễn trong sự đổi mới của nền giáo dục hiện nay
Sinh viên hệ sư phạm trường ĐHSP TP.HCM
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV
Trang 114 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biện pháp rèn luyện KNTC
HĐTN theo hình thức trò chơi được tích hợp trong các hoạt động của HSV trường ĐHSP
TP HCM
- Về khách thể: Đề tài chỉ nghiên cứu trên 160 sinh viên hệ sư phạm trường ĐHSP
TP.HCM
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Đa số sinh viên sư phạm đánh giá các biện pháp được đưa ra là cần thiết và khả thi
- Các biện pháp đưa ra hỗ trợ việc hình thành KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu được xác định cụ thể như trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài: kỹ năng, KNTC, HĐTN, sinh viên sư phạm, hoạt động HSV
- Xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV
- Khảo sát thái độ của sinh viên sư phạm về các biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN được tích hợp trong hoạt động HSV
- Khảo sát mức độ hỗ trợ của các biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN tích hợp trong hoạt động Hội
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 12Phân tích, tổng hợp, phận loại, hệ thống, mô hình hóa các văn bản, tài liệu khác nhau về: kỹ năng, KNTC, HĐTN, hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh viên sư phạm, hoạt động HSV
Sắp xếp các thông tin, lý thuyết đã thu thập được để tạo thành một hệ thống cơ sở lý luận đầy đủ, chặt chẽ và logic về các vấn đề trên
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.2 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lí những dữ kiện thu thập được, phục vụ cho việc phân tích số liệu cũng như đảm bảo tính khách quan của quá trình nghiên cứu
- Thống kê mô tả: tính tổng, trị số trung bình, tần số, tỉ lệ phần trăm
- So sánh kết quả giữa các mặt khác nhau trong cùng một chỉ báo nghiên cứu
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
a Mục đích
Thu thập thông tin trực tiếp và sử dụng thông tin để xây dựng và hoàn thiện các biện pháp cho phù hợp với sinh viên sư phạm trường ĐHSP TP.HCM qua đánh giá của
chuyên gia, giảng viên, cán bộ HSV về “Các biện pháp rèn luyện kĩ năng tổ chức HĐTN
cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV”
Trang 13b Cách tiến hành
Sử dụng hình thức phỏng vấn với câu hỏi mở soạn sẵn về các biện pháp rèn luyện
kỹ năng tổ chức HĐTN qua hình thức trò chơi cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV
Đối tượng phỏng vấn:
- Phỏng vấn một số sinh viên đang học tập tại trường ĐHSP TP.HCM
- Phỏng vấn các cán bộ HSV
- Phỏng vấn chuyên gia Tâm lý - giáo dục
8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Các biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm tích hợp trong hoạt động HSV làm phong phú thêm các hình thức hoạt động Hội cũng như hỗ trợ công tác đào tạo kỹ năng tổ chức các HĐTN cho sinh viên của trường ĐH SPTP.HCM Đề tài tạo
ra sản phẩm ứng dụng hiệu quả và thiết thực cho công cuộc đổi mới giáo dục nói chung
và việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nói riêng Cuối cùng, sản phẩm này có thể hoàn thiện và chuyển giao sau nghiệm thu
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KNTC HĐTN CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM TÍCH HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG HỘI SINH VIÊN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Việc nghiên cứu quá trình rèn luyện KNTC nhằm hình thành năng lực nghề nghiệp cho những người giáo viên tương lai nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng luôn được quan tâm nghiên cứu Trong đó, nghiên cứu về KNTC hoạt động giáo dục là hướng nghiên cứu được phát triển từ đầu thế kỷ XX trở lại đây
Theo tác giả N.D Lê-vi-tốp, A.V.Pe-trop-xki, kỹ năng có hai loại: Kỹ năng bậc thấp
và kỹ năng bậc cao Kỹ năng bậc thấp được hình thành lần đầu tiên qua các hoạt động đơn giản, là cơ sở để hình thành kỹ xảo Kỹ năng bậc cao là kỹ năng được nảy sinh sau khi đã có các tri thức [21], [29]
Đến năm 1961, N.V Cu-dơ-min-na trong công trình nghiên cứu “Hình thành các
năng lực sư phạm” đã xác định năng lực sư phạm cần có của người giáo viên, mối quan
hệ giữa năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ, giữa năng khiếu sư phạm và bồi dưỡng năng khiếu sư phạm thành năng lực sư phạm [5]
Đầu những năm 60, vấn đề rèn luyện NVSP mới trở thành hệ thống lý luận với công
trình nghiên cứu mang tên “Bàn về kỹ năng sư phạm” của O.A Ap-đu-li-na Trong công
trình nghiên cứu này, tác giả đã nêu rõ từng loại kỹ năng sư phạm của người giáo viên và phân tích tỉ mỉ những kỹ năng chung và kỹ năng chuyên biệt trong hoạt động giảng dạy
và hoạt động giáo dục [2]
Vào những năm 70, có nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức lao động khoa học và tối ưu hóa quá trình dạy học đã được tiến hành Đó là các công trình nghiên cứu của N.I
Bôn-đư-rep, Iu.K.Babanxki…Đặc biệt công trình nghiên cứu của X.I.Ki-xê-gôp: “Hình
thành các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học” [19], trong đó đã
nêu ra hơn 100 kỹ năng NVSP, trong đó tập trung 50 kỹ năng cần thiết nhất, được phân chia luyện tập theo từng thời kì thực tập sư phạm cụ thể Công trình này đồng thời nghiên cứu sự hình thành kỹ năng sư phạm cho người học dưới góc độ là một quá trình tổ chức trong nhà trường sư phạm và chia quá trình này thành năm giai đoạn Sự phân chia quá
Trang 15trình hình thành kỹ năng thành năm giai đoạn chỉ mang tính chất định hướng, sự hình thành một kỹ năng cụ thể không nhất thiết phải trải qua tất cả các giai đoạn trên
Các nhà Xã hội học, Tâm lý học phướng Tây đã đi sâu nghiên cứu về KNTC, lãnh đạo Nổi bật là các tác giả: Mc.Call & Lombardo, R.Balke, G.Couurtois, a.Makenzic,
W.Benis,…Trong cuốn “Leadership in organization” (Người lãnh đạo trong một tổ
chức) của tác giả G.A.Yulk đã đưa ra những KNTC đặc trưng của một người lãnh đạo thành công, đó là: Thông minh, sáng tạo, khôn khéo, kỹ năng nhận thức tốt, kỹ năng nói hoạt bát, thông thạo về các phương diện xã hội, có sức thuyết phục,… Tác giả Amakenric
với cuốn sách “Cạm bẫy thời gian” đã phân tích các KNTC hoạt động và nhấn mạnh đến
kỹ năng lập kế hoạch và kỹ năng làm chủ thời gian, khẳng định đây là hai kỹ năng chìa khóa [25] Ở các nước như Canada và Hoa Kỳ, Australia…, người ta dựa trên các thành tựu của tâm lý học hành vi và tâm lý học chức năng để tổ chức rèn luyện các kỹ năng
thực hành giảng dạy cho giáo sinh, sinh viên Trong báo cáo “Khoa học và nghệ thuật
đào tạo giáo viên” của nhóm Phitelta kapkar cho thấy hệ thống đào tạo giáo viên ở các
nước phương Tây chú ý hình thành vững chắc các kỹ năng cơ bản của các hành động giảng dạy ngay khi giáo sinh, sinh viên học từng học phần lý thuyết [44]
Còn những nhà Tâm lý học Xô viết cũng chú ý nhiều đến KNTC hoạt động Đó là các nghiên cứu của N.V.Cudơmina, A.G.Côvaliôv, P.M.Kecgientxev, L.I.Umanxki,
A.N.Lutoskin, L.T.Tiuptia Tài liệu “Những nguyên lý của công tác tổ chức” của
P.M.Kecgientxev đã nghiên cứu về công tác tổ chức ở mức độ khái quát nhất Trong tài liệu, ông đã nêu lên cụ thể 7 yếu tố cơ bản của công tác tổ chức và đến nay vẫn được coi
là những yếu tố nền tảng trong việc tổ chức hoạt động [27] Trong cuốn “Tâm lý học về
công tác của Bí thư chi đoàn”, L.I.Umanxki và A.N.Lutoskin đã nêu lên cấu trúc của
hoạt động tổ chức bao gồm 9 hành động được sắp xếp theo trình tự từ mở đầu đến khi kết thúc hoạt động Những bước tiến hành đó được mô tả khá đầy đủ, chi tiết, có thể vận dụng trong công tác tổ chức các hoạt động tập thể [43]
Tại “Hội thảo về canh tân việc đào tạo bồi dưỡng giáo viên các nước Châu Á và
Thái Bình Dương” được tổ chức tại SEOUL hàn quốc cũng đã xác định rõ tầm quan
trọng của việc hình thành tri thức và các kỹ năng sư phạm cho sinh viên trong quá trình đào tạo [12]
Trang 16Tóm lại, vấn đề về kỹ năng và KNTC hoạt động được rất nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu, còn về vấn đề HĐTN và hoạt động HSV lại bị hạn chế vì hai vấn đề này còn khá mới mẻ
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Qua quá trình nghiên cứu lịch sử giáo dục Việt Nam cho thấy vấn đề KNTC, HĐTN
và hoạt động HSV đã được rất nhiều nhà giáo dục nghiên cứu
- Nghiên cứu về kỹ năng và KNTC
Với vấn đề này, có những công trình nghiên cứu về hệ thống kỹ năng hoạt động sư
phạm như trong giáo trình “Giáo dục học tập 2” của nhóm tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ
Hoạt đã đề cập đến hai hệ thống kỹ năng nền tảng như: KNTC, kỹ năng thiết kế, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nhận thức…và hệ thống các kỹ năng chuyên biệt như: Kỹ năng giáo dục, kỹ năng giảng dạy, kỹ năng tự học, kỹ năng xã hội và kỹ năng nghiên cứu khoa học [26]
Năm 1995, tác giả Nguyễn Hữu Dũng với đề tài: “Hình thành kỹ năng sư phạm cho
sinh viên sư phạm” Trong đề tài này, tác giả đã chỉ ra được một số cơ sở lý luận khoa
học về kỹ năng sư phạm và vai trò của việc hình thành nó trong quá trình đạo tạo của sinh viên sư phạm nói chung [9]
Một số luận văn sau đại học của các tác giả Nguyễn Thị Oanh, Vũ Thị Nguyệt đã nghiên cứu về rèn luyện KNTC hoạt động giáo dục từ đó hệ thống thành các kỹ năng hoạt động ngoài giờ lên lớp như: Kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng thiết kế chương trình, kỹ năng thực hiện triển khai, kỹ năng kiểm tra đánh giá hoạt động
Tác giả Trần Quốc Thành nghiên cứu “KNTC trò chơi của chi đội trưởng chi đội
thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh” [34] Đây là một trong những công trình nghiên cứu
đầu tiên ở Việt Nam đã vận dụng lý luận về kỹ năng, KNTC để nghiên cứu KNTC một hoạt động cụ thể - hoạt động trò chơi của thiếu nhi
Nhìn chung ở Việt Nam những công trình nghiên cứu về KNTC, các hoạt động thuộc lĩnh vực khoa học giáo dục còn chưa nhiều Nhưng tất cả các nghiên cứu trên đã góp phần làm phong phú thêm những ứng dụng của lý luận về KNTC vào từng lĩnh vực hoạt động cụ thể
- Nghiên cứu về tổ chức HĐTN
Trang 17Ngày 13/9/1958 trong buổi nói chuyện với hội nghị cán bộ giáo dục toàn quốc, Bác
Hồ đã nêu lên thông điệp:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Giáo dục đã được Đảng và nhà nước ta cực kì quan tâm và chú trọng đầu tư và phát triển Trong Điều lệ nhà trường phổ thông ban hành tháng 6/1976, tại điều 7 có nêu:
“Việc giảng dạy và giáo dục được tiến hành thông qua các hoạt động giảng dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể Các mặt hoạt động đó phải cùng tiến hành, bổ sung cho nhau theo một kế hoạch thống nhất, trong đó phải coi trọng hình thức giảng dạy trên lớp” Và tại khoản 3, điều 7 viết về hoạt động tập thể, cho thấy nhờ có hoạt
động tập thể đã góp phần giáo dục ý thức chính trị, khả năng công tác độc lập của người học, góp phần củng cố, mở rộng kiến thức, phát triển năng khiếu, giúp hình thành và phát triển nhân cách toàn diện
Tại khoản 3, điều 10 xác định: “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho
người học tham gia với mức độ thích hợp, là nhằm củng cố những tri thức đã học được, bồi dưỡng tình cảm đối với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội, góp phần xây dựng địa phương và rèn luyện người học về ý thức và năng lực làm chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng Ngoài các hoạt động trên đây, cần tổ chức thêm những hoạt động ngoại khóa khác như thể dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục thêm phong phú”
Về vấn đề tổ chức HĐTN, Nghiên cứu về “hình thức tổ chức các hoạt động TNST
trong nhà trường phổ thông” của Bùi Ngọc Diệp cho biết HĐTN rất đa dạng và mang
tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội Về phương pháp và hình thức tổ chức, các HĐTN có thể được tổ chức như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, hoạt động tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,…[6]
Trang 18Một công trình khác là đề tài cấp cơ sơ “Nghiên cứu phát triển năng lực thiết kế
chương trình HĐTN cho giáo viên phổ thông” của Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn
Thị Hằng Hai tác giả đã phân tích 4 phương pháp tổ chức hoạt động TNST, đó là: Phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp sắm vai, phương pháp trò chơi và phương pháp làm việc nhóm Với từng phương pháp, các tác giả đã chỉ rõ ý nghĩa, tính hiệu quả trong triển khai tổ chức và các bước tiến hành cụ thể [7]
Tóm lại, vấn đề kỹ năng, KNTC và tổ chức HĐTN được rất nhiều nhà Tâm lý học,
xã hội học…trong nước quan tâm và nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về nội dung KNTC HĐTN cho sinh viên sư phạm
và hình thành các kỹ năng đó thông qua việc tích hợp với các hoạt động của HSV Vậy nên cần hình thành cho sinh viên các biện pháp tương ứng để rèn luyện kỹ năng đó Đây chính là một khoảng còn bỏ trống, chưa được đề cập tới trong các nghiên cứu mà đề tài cần phải tập trung giải quyết để góp phần nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng NVSP
cho sinh viên sư phạm trong bước đường trở thành “Người nhà giáo tương lai” sau này
1.2 Lý luận về xây dựng biện pháp rèn luyện KNTC HĐTN cho sinh viên sƣ phạm tích hợp trong hoạt động HSV
1.2.1 Lý luận về kỹ năng và KNTC
1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là một vần đề được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trong và ngoài nước quan tâm Trong lịch sử nghiên cứu các vấn đề về kỹ năng, đã có nhiều tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau về vấn đề này, nhưng tổng kết lại có hai quan điểm về kỹ năng như sau:
- Quan điểm thứ nhất:
Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, hành động hay hoạt động Đại diện cho loại quan niệm này là các tác giả: V.V Tsebuseva, A.V Cruchetxki, V.S Cudin, A.G Covaliop, Trần Trọng Thủy
V.A Kruchetxki cho rằng “kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được
con người nắm vững từ trước đó” [20]
V.S Cudin và A.G Covaliop cho rằng “kỹ năng là phương thức thực hiện hành
động thích hợp với mục đích và điều kiện hành động” [23] Theo tác giả này, kết quả của
Trang 19hành động không đơn giản là cứ năm vững cách thức hành động mà phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà quan trọng nhất là năng lực con người
Tác giả Trần Trọng Thủy cũng cho rằng “kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động,
con người nắm được các hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng” [39]
Theo quan niệm trên, kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm rõ Người có kỹ năng hoạt động trong lĩnh vực nào đó là người đã nắm vững tri thức về hoạt động, thực hiện đúng thứ tự các bước, các thao tác hành động Các tác giả đều không nhấn mạnh đến kết quả đạt được của hoạt động
- Quan điểm thứ hai:
Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người Đó là quan niệm của các tác giả: N.Đ Levitov, X.I Kixengof, K.K Platonov, Xavier Roegiers, Kevin Barry, Ken King, Trần Quốc Thành, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng, Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Văn Đồng,…
A.V Petrovxki cho rằng “Năng lực sử dụng các dữ liệu, các tri thức hay kinh
nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát triển những thuộc tính bản chất của các
sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi
là kỹ năng” [29]
Theo N.Đ Levitôv, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay hành động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có chiếu cố đến những điều kiện nhất định [1] Ông nhận định kỹ năng có liên quan đến thực tiễn và càng liên quan mật thiết đến việc áp dụng tri thức vào thực tiễn Cùng với đó, tác
giả X.I Kixengof cũng cho rằng “kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác hay
một hoạt động nào đó phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng cách thức đúng đắn,
có chú ý đến những điều kiện nhất định” [1] Theo ông, kỹ năng được diễn ra dưới sự
kiểm tra của ý thức Kỹ năng đòi hỏi việc sử dụng kinh nghiệm và tri thức nhất định nào
đó trong các hành động thực và có kết quả phù hợp với nhiệm vụ ban đầu đề ra.Vậy nên nếu thiếu những điều này, không thể hình thành kỹ năng
K.K Platonov và G.G Golubev, hai tác giả này cho rằng: “Kỹ năng là năng lực của
người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng” [8] K.K Platonov còn nhấn mạnh đến
Trang 20tính linh hoạt, mềm dẻo của kỹ năng Theo ông người có kỹ năng không chỉ hành động
có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt kết quả tương tự trong những điều kiện khác
Theo từ điển Tâm lí học của tác giả Vũ Dũng: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có
kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương đương Ở mức độ kỹ năng, công viêc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục, và còn phải tập trung chú ý căng thẳng Kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [10]
Từ điển tâm lí học (1983) của Liên Xô cũ có định nghĩa: “Kỹ năng là giai đoạn
giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới - cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng tri thức đó, nhưng còn chưa đạt tới mức độ kỹ xảo” [15]
Trong từ điển Tâm lí học của A.M Colman cho rằng: “kỹ năng là sự thông thạo,
hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định, cụ thể là một cách thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành” [15]
Từ điển Giáo dục học có định nghĩa: “kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành
động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hoạt động ấy cho dù có là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ”
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một
hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [32]
Tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng: “Kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức
đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể” [11]
Đa số các tác giả Việt Nam như Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Thạc, Hoàng Anh… cũng có quan niệm cho rằng kỹ năng là khả năng của con người sử dụng các kiến thức và kĩ xảo của mình một cách có kết quả trong quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Muốn có kĩ năng trước hết cần nắm vững tri thức về các thao tác cấu thành hành động và cần có những kinh nghiệm đã có phù hợp
Trang 21Tác giả Đặng Thành Hưng đã có quan điểm mới về vấn đề kĩ năng Dựa trên các nghiên cứu về khoa học tâm lý và khoa học giáo dục, tác giả đã khẳng định kỹ năng phải
là những hành động thực tiễn chứ không phải là khả năng tiềm ẩn, không phải là những
hành vi tự động hóa của con người “Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện tự
giác dựa trên những tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học – tâm lý khác của cá nhân (chủ thể có kĩ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tích cực cá nhân…để đạt được kết quả theo mục đích , tiêu chí đã định hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định” [16] Tác giả đã nhấn mạnh kỹ năng phải là cái có thật,
đã được thực hiện chứ không phải khả năng có thể ở mỗi cá nhân Tác giả Đặng Thành Hưng đã chỉ rõ bản chất của kỹ năng chính là những hành vi, hành động được cá nhân thực hiện tự giác và thành công xét theo những yêu cầu, quy tắc, tiêu chuẩn nhất định Vì
kỹ năng là một dạng hành động nên kỹ năng bao gồm một hệ thống các thao tác hay kỹ thuật cấu thành hành động, trình tự thực hiện các thao tác, quá trình điều chỉnh hành động
và nhịp độ, cơ cấu thời gian thực hiện hành động
Như vậy, khác với quan điểm thứ nhất, các tác giả theo quan điểm thứ hai, xem kỹ năng không chỉ đơn thuần là kỹ thuật thao tác, hành động mà nó còn là biểu hiện của năng lực, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, nhờ có tính mềm dẻo mà con người có thể sáng tạo trong hoạt động thực tiễn Về thực chất hai quan điểm này không phủ định nhau, sự khác biệt chỉ ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kỹ năng cũng như những thuộc tính của chúng Từ các phân tích trên, chúng tôi nhận thấy để phát triển và rèn luyện kỹ năng về một lĩnh vực hoạt động nào đó cần hội tụ đầy
+ Sau khi thực hiện kỹ năng phải đạt được kết quả theo mục tiêu đặt ra
+ Có thể đạt kết quả trong những điều kiện, hoàn cảnh đã thay đổi
Trang 22Trong đề tài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu cho rằng: Kỹ năng là năng lực thực
hiện một hoạt động nào đó trong một thời gian và điều kiện nhất định thông qua việc vận dụng kinh nghiệm và tri thức đã có
Khi xem xét kỹ năng cần lưu ý một vài điều sau:
+ Mặt kỹ thuật của hành động được hiểu là kỹ năng Kỹ năng bao giờ cũng được gắn với một hành động cụ thể
+ Để xác định tính đúng đắn và phát triển của kỹ năng, ta xét trên những tính chất sau: sự thành thạo, tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính đúng đắn,
+ Kỹ năng là sản phẩm của quá trình hành động Là kết quả của sự kết hợp những kiến thức, kinh nghiệm mà con người góp nhặt được từ cuộc sống từ đó ứng dụng vào thực tiễn, để đạt được những mục đích đề ra
1.2.1.2 Khái niệm KNTC hoạt động
Muốn có kỹ năng và phát triển kỹ năng chúng ta phải được rèn luyện và đào tạo thường xuyên trong lĩnh vực hoạt động tương ứng Hoạt động của con người chỉ có hiệu quả khi nó được tiến hành một cách có tổ chức, một cá nhân hoạt động có hiệu quả phải biết tự sắp xếp, bố trí kế hoạch hoạt động một cách hợp lý Một nhóm người hay một tập thể muốn hoạt động chung đạt được mục tiêu đề ra lại càng cần có tổ chức Tổ chức đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và chất lượng của hoạt động Lenin
rất coi trọng vấn đề “hiệu ứng tổ chức”, người cho rằng: “liệu một trăm có mạnh hơn
một nghìn không? Có chứ, khi mà một trăm được tổ chức lại, tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên mười lần?” Qua đó cho ta thấy rằng, vấn đề tổ chức hoạt động và KNTC hoạt động
được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Theo L.I.Umanxki: “KNTC hoạt động
là khả năng của người tổ chức làm việc có hiệu quả trong những tình huống khác nhau”
[43] Tác giả Kegienter P.M nghiên cứu về “Những nguyên tắc trong công tác tổ chức”
đã nêu ra các kỹ năng chủ đạo của tổ chức hoạt động là: KNTC tập thể và các mối quan
hệ trong tập thể; kỹ năng lập kế hoạch công việc; Kỹ năng thống nhất công việc của cá nhân và của tập thể ; Kỹ năng kiểm tra, đánh giá; Kỹ năng tính toán phương thức tổ chức
và chỉ thị kịp thời [27] Còn theo tác giả Trần Quốc Thành “KNTC là sự thực hiện có
hiệu quả một hệ thống hành động của một hoạt động chung nào đó bằng cách vận dụng những tri thức về hoạt động đó, thống nhất hành động của mọi người nhằm đạt được mục đích chung trong những điều kiện cho phép” [18]
Trang 23Như vậy, các tác giả cùng thống nhất quan điểm KNTC hoạt động là sự vận dụng tri thức tổ chức vào thực tiễn hoạt động Tri thức tổ chức bao gồm những hiểu biết về công tác tổ chức, hiểu rõ mục đích, nhu cầu của hoạt động, đặc biệt cá nhân hay tập thể tham gia hoạt động, các quy tắc, các bước tổ chức, cách phối hợp, thương lượng nhau…Trên
cơ sở đó, con người vận dụng những tri thức tổ chức, kết hợp với những hiểu biết, kinh nghiệm về hoạt động để tổ chức hoạt động đạt hiệu quả mong muốn, kể cả trong những điều kiện hoat động đã bị thay đổi Và đó chính là có KNTC hoạt động
Dựa trên cơ sở khái niệm về kỹ năng, về tổ chức và quan niệm của các tác giả về
KNTC, nhóm nghiên cứu cho rằng: KNTC là cách thức của con người khi thực hiện
các hoạt động trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động, nhằm thỏa mãn động cơ, mục đích của cá nhân đó
Hình thành kỹ năng là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học trong
và ngoài nước quan tâm Mỗi tác giả, mỗi trường phái có những quan điểm khác nhau nhưng đều thống nhất rằng, kỹ năng được hình thành trong hoạt động Kỹ năng được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao
G Theodorson (1969) cho rằng “ban đầu kỹ năng chỉ mới là các thao tác đơn lẻ
chưa hoàn thiện, trong quá trình rèn luyện, hành động trở nên nhanh chóng, chính xác
và sau đó trở thành kỹ xảo [18]
K.K Platonov và G.G Golubev đưa ra 5 giai đoạn phát triển kỹ năng như sau:
- Giai đoạn 1: Kỹ năng còn rất sơ đẳng khi chủ thể vừa mới ý thức được mục đích
và tìm kiếm phương thức hành động dưới dạng “thử và sai”
- Giai đoạn 2: Kỹ năng đã có, nhưng chưa đầy đủ
- Giai đoạn 3: Kỹ năng đã phát triển, song còn mang tính riêng lẻ
Trang 24- Giai đoạn 4: Kỹ năng phát triển ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các thao tác kỹ thuật, phương thức thực hiện để đạt được mục đích
- Giai đoạn 5: Kỹ năng tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo, vừa sáng tạo trong
sử dụng kỹ năng ở những điều kiện khác nhau [13]
Các tác giả V.A Cruchetxki, N.Đ Levitov, A.V Petrovxki, Phạm Minh Hạc, Trần Quốc Thành cho rằng, quá trình hình thành kỹ năng trải qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động
- Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu
- Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đề ra [18]
Tác giả Vũ Dũng cũng đưa ra quan điểm quá trình hình thành kỹ năng gồm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Người học lần đầu làm quen với vận động và lần đầu lĩnh hội nó Sự học vận động bắt đầu từ việc phát hiện các thành phần của vận động - tập hợp các thành
tố vận động, trình tự thực hiện và mối liên kết của chúng Việc làm quen này diễn ra trên
cơ sở người học được xem trình diễn lại, thuật lại, giảng giải và quan sát một cách trực quan quá trình thực hiện vận động Pha tiếp theo của giai đoạn thứ nhất đòi hỏi nhiều nỗ lực - người học phải lặp lại vận động nhiều lần để nắm được bức tranh bên trong của vận động Đồng thời học bản mã hóa những tín hiệu từ các mệnh lệnh Việc tích lũy “những
từ điển chuyển mã” là một trong những sự kiện quan trọng nhất của giai đoạn này Cần
phải lặp đi lặp lại nhiều lần để người học có thể tìm được“bảng mã” trong bất kỳ phương
án nào của vận động, kể cả khi có sự lệch chuẩn
- Giai đoạn 2: Giai đoạn tự động hóa vận động Ở đây các thành phần chủ đạo của vận động được giải phóng từng phần hoặc hoàn toàn khỏi sự quan tâm đến nó thoát khỏi
sự kiểm soát của ý thức và sự “thoát khỏi” này có thể và cần có sự trợ giúp
- Giai đoạn 3: Diễn ra sự “mài bóng” kỹ năng nhờ quá trình ổn định hóa và tiêu
chuẩn hóa Trong quá trình ổn định hóa, kỹ năng đạt được tính bền vững và không bị phá hủy trong bất kỳ tình huống nào Còn trong quá trình tiêu chuẩn hóa kỹ năng dần được định khuôn nhờ lặp đi lặp lại vận động nhiều lần [10]
Tóm lại, mỗi tác giả, mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra cho mình một quá trình hình thành kỹ năng bao gồm các giai đoạn riêng Nhưng nhìn chung, quá trình hình thành kỹ
Trang 25năng đều trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn nhận thức, giai đoạn làm thử và giai đoạn luyện tập Do đó, quá trình hình thành KNTC hoạt động cũng trải qua ba giai đoạn như sau:
- Giai đoạn nhận thức: Người tổ chức hoạt động phải nhận thức được ý nghĩa và
tầm quan trọng của hoạt động đó, xác định được vai trò của bản thân từ đó hình thành trách nhiệm với công việc và nhiệm vụ của mình Đồng thời phải không ngừng tôi luyện
và rèn luyện thêm các tri thức về các KNTC đầy đủ và hệ thống thông qua việc trải nghiệm và học hỏi kinh nghiệm từ những thế hệ đi trước để có thêm vốn kiến thức phong phú hơn
- Giai đoạn làm thử: người tổ chức thực hiện hành động dựa trên kiến thức đã được
trang bị và kinh nghiệm vốn có
- Giai đoạn luyện tập: Giúp người tổ chức hoạt động hình thành được những kỹ
năng chuyên biệt, biết vận dụng sáng tạo trong những tình huống khác nhau Đồng thời hình thành thêm được những kinh nghiệm mới chỉ có ở bản thân chủ thể người đứng ra tổ chức, nó được xem như một bước trưởng thành nhất định của riêng cá nhân đó
Ngoài ba giai đoạn chủ chốt trên, nhóm nghiên cứu bổ sung thêm một giai đoạn tiếp theo, tiếp nối với ba giai đoạn trên đó là:
- Giai đoạn nhận xét và tự đánh giá: Cần có những nhận xét khách quan và chủ
quan về sự tổ chức, sự phân chia, hiệu quả của hoạt động sau một chuỗi hoạt động được diễn ra Từ đó điều chỉnh lại cách thức tổ chức hoạt động, cách thức hướng dẫn sao cho những lần diễn ra hoạt động sau này được tổ chức thành công hơn, tránh mắc phải những sai lầm trước đó, cải thiện và khắc phục những khuyết điểm, hình thành kinh nghiệm cá nhân một cách tích cực
Trong khuôn khổ đề tài, nhóm nghiên cứu thống nhất với 3 giai đoạn hình thành
kỹ năng của nhóm các tác giả V.A Cruchetxki, N.Đ Levitov, A.V Petrovxki, Phạm Minh Hạc, Trần Quốc Thành
- Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động
- Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu
- Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt
được mục đích đề ra
1.2.2 Lý luận về HĐTN
1.2.2.1 Định nghĩa HĐTN
Trang 26Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được bộ giáo dục và đào tạo công bố
ngày 27/07/2017 “HĐTN là các hoạt động giáo dục bắt buộc, trong đó học sinh dựa trên
sự huy động tổng hợp kiến thức và kỹ năng từ nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội, tham gia hoạt động hướng nghiệp và hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này như: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp, năng lực thích ứng với những biến động trong cuộc sống và các
kỹ năng sống khác” [35]
Với chương trình giáo dục mới, mục tiêu giáo dục đã được thay đổi, chuyển từ việc
chú trọng trang bị nội dung kiến thức cho học sinh sang việc “Giúp người học làm chủ
kiến thức phổ thông; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời;
có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại” [6] Một nền giáo dục mới chú trọng đến việc trang bị cho người học các phương
pháp, kỹ năng trên nền tảng các kiến thức chuyên môn để giúp cho người học phát triển năng lực của mình, những năng lực hoạt động và năng thực tiễn chứ không phải một nền giáo dục chú trọng việc tiếp cận những nội dung lý thuyết khô khan
Bên cạch đó phương pháp giáo dục cũng được đổi mới, áp dụng các phương pháp tích cực hóa người học, khơi gợi tinh thần tự giác, chủ động, sáng tạo, khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập và tao điều kiện tối đa để mọi học sinh đều tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới HĐTN đóng vai trò rất quan trọng và chính hoạt động này giúp tạo nên sự khác biệt lớn giữa chương trình giáo dục phổ thông hiện hành và chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới Theo tác giả Đinh Thị Kim
Thoa “HĐTN giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến
thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân” [47] HĐTN trong chương trình giáo dục phổ thông mới có
vị trí và vai trò giống như hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong chương trình giáo
Trang 27dục phổ thông hiện hành tuy nhiên về nội dung, nhiệm vụ, chức năng, yêu cầu và phương thức được đổi mới hoàn toàn
Theo tác giả Bùi Ngọc Diệp, “HĐTN (sáng tạo) là hoạt động giáo dục trong đó
từng học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các
kĩ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng của cá nhân” [6]
Còn theo tác giả Ngô Thị Tuyên “HĐTN trong nhà trường cần được hiểu là hoạt
động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm
và phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề” [47]
Trong kỷ yếu hội thảo HĐTN sáng tạo trong trường phổ thông, tác giả Đinh Thị
Kim Thoa cho rằng: “HĐTN (sáng tạo) là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm
và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiêm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống mà nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và chuyển hóa dần thành năng lực” [35]
Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu cho rằng: HĐTN là hoạt động giáo dục,
có động cơ, đối tượng, hành động cụ thể Qua trải nghiệm thực tiễn, người học tích lũy được kiến thức, kinh nghiệm, hình thành tình cảm và ý chí nhất định
1.2.2.2 Đặc điểm của HĐTN
Từ định nghĩa nêu trên cho thấy rằng hoạt động trải nghiệm tạo cơ hội cho người học:
Có thể huy động các kiến thức và kỹ năng đã được học để tham gia vào các HĐTN thực tiễn đời sống; tham gia một cách trọn vẹn vào các khâu của quá trình hoạt động, từ việc thiết kế, chuẩn bị hoạt động cho đến việc thực hiện và đánh giá kết quả của hoạt động; được trải nghiệm, bày tỏ những quan điểm, ý tưởng sáng tạo và lựa chọn ý tưởng cho
Trang 28hoạt động; thể hiện và tự khẳng định bản thân, tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân cũng như của nhóm và các bạn dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục Thông qua HĐTN người học có thể tích lũy cho mình những kinh nghiệm và phát triển những kỹ năng, các hình thức học tập khác không thể mang lại Và trong quá trình tìm hiểu, nhóm nghiên cứu thấy rằng HĐTN có những đặc điểm sau:
- HĐTN mang tính tích hợp và phân hóa cao
Một khi hoạt động tiềm năng được xác định, nó có thể được thiết kế riêng để có thể trải nghiệm đầy đủ Đầu tiên, xác định vấn đề cần được giải quyết hơn là những thông tin
cần nhớ (Wurdinger, 2005 “Một vấn đề hoặc câu hỏi phải được gắn chặt với các hoạt
động, dự án và những trải nghiệm dựa trên thực tiễn Điều này giúp đảm bảo rằng sự kết hợp giữa suy nghĩ và hành động diễn ra trong một tiến trình học tập” [36]
Cần có sự tích hợp giữa những kinh nghiệm trước và kinh nghiệm sau Những kinh nghiệm trước là những HĐTN bằng chính bản thân của người tham gia hoạt động trong khi những kinh nghiệm sau là kết quả của những kinh nghiệm được trải nghiệm trước đó
Như vậy, cần thiết có “sự kết hợp giữa kinh nghiệm trước và kinh nghiệm sau trong cùng
một nội dung/ hoạt động”
- HĐTN là chương trình giáo dục bắt buộc có phân hoá và bao gồm các chương trình như sau:
+ Chương trình trải nghiệm hoạt động sinh hoạt hành chính nhà trường (Bắt buộc) + Chương trình HĐTN định hướng cá nhân (Bắt buộc)
+ Chương trình HĐTN giáo dục tổng hợp (Tự chọn bắt buộc)
+ Chương trình hoạt động câu lạc bộ (Tự chọn phân hoá) [35]
- HĐTN được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng
HĐTN có thể được chia thành hai loại: trải nghiệm dựa vào thực tế và trải nghiệm dựa vào thực tiễn
Trải nghiệm dựa vào thực tiễn là hình thức học tập trải nghiệm đươc ưa thích nhất
và lâu đời nhất, được đưa vào sử dụng trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục bậc Đại học từ những năm 1930 Học tập trải nghiệm dựa vào thực tiễn tiêu biểu bao gồm thực tập sinh, thực tập, giáo dục công tác, và học tập theo dạng vừa làm vừa học (Lewis và Williams, 1994) Như vậy, nhìn chung HĐTN này đã được các nhà giáo dục của ta quan tâm và sử dụng như một phương thức hỗ trợ cho công tác và học tập
Trang 29- Trải nghiệm là quá trình học tích cực, hiệu quả và sáng tạo
Tính sáng tạo của HĐTN là chính nó tạo nên những kinh nghiệm học tập có tính chất kết hợp liên môn, đa ngành, đa lĩnh vực, phản ánh được và vận dụng sáng tạo vào giải quyết những vấn đề của thế giới thực khi tham gia vào các hoạt động xã hội, các tổ
chức “học tập trải nghiệm gắn với thuyết học tập kiến tạo” và “kết quả của quá trình
học tập từ thực tiễn là đa dạng và không thể dự đoán được” Mỗi người học sẽ có sự lựa
chọn giải quyết vấn đề khác nhau với những tình huống hoạt động khác nhau Cuối cùng, người học trải nghiệm kiểm soát được lời nói – họ có thể xác định vai trò cảm xúc học tập, cũng như phản hồi cách thức họ lĩnh hội kiến thức mới
Học tập trải nghiệm cũng có thể được xác định bằng những phẩm chất mà nó chuyển tải vào người học Nhưng người học trải nghiệm thành công phải sẵn sàng đổi mới nhận thức của chính mình Họ có thể đưa ra lý do cho chính bản thân và cũng có thể giải thích cho sự thành công của mình Họ có mục đích thực hiện những nhiệm vụ cụ thể
và có kỹ năng tự quản lý cần thiết để thực hiện công việc thành công khi làm việc một mình và trong nhóm Những người học trải nghiệm không những nhận thức được những quy luật kiểm soát tính kỷ luật hoặc cách thức hoạt động mà còn sẵn sàng lắng nghe và
có khả năng làm việc với người khác có quan điểm khác nhau [35]
- HĐTN đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: GV chủ nhiệm lớp, GV bộ môn, Cán bộ Đoàn, Tổng phụ trách Đội, Ban Giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân và đoàn thể trong xã hội [36]
- HĐTN giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được
1.2.2.3 Vai trò của HĐTN
HĐTN là hoạt động tự chọn bắt buộc dành cho tất cả học sinh từ lớp 1 đến lớp 12, là hoạt động giúp học sinh vận dụng những tri thức, kiến thức, kỹ năng đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống HĐTN chính là cầu nối giữa những kiến thức các môn học tại nhà trường với thực tiễn cuộc sống một cách có
tổ chức, có định hướng một cách cụ thể và rõ ràng nhằm góp phần giúp hình thành và củng cố năng lực, phẩm chất và nhân cách của người học Giúp nuôi dưỡng và phát triển đời sống tình cảm, ý chí, động lực hoạt động, tích cực hóa bản thân nơi người học
Trang 30HĐTN được xem như bộ phận quan trọng của chương trình giáo dục phổ thông mới Bên cạnh các môn học truyền thống HĐTN làm cho nội dung của chương trình giáo dục phổ thông mới không bị bó hẹp trong sách vở, lý thuyết khô khan mà gắn liền với thực tiễn đời sống xã hội Được xem như là con đường kết nối giữa lý thuyết với thực tiễn, giúp tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động góp phần phát triển phẩm chất,
tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá tri, kỹ năng sống, niềm tin đúng đắn ở học sinh, hình thành những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại; là con đường để phát triển toàn diện nhân cách học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục phổ thông mới ở Việt Nam HĐTN cùng với các môn học khác được coi là một phương pháp học giúp làm tăng giá trị cho bản thân người học Đó là một quá trình trong đó người học trực tiếp tham gia vào các loại hình hoạt động và giao lưu phong phú, đa dạng Người học tự biến đổi mình,
tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh Quan niệm này làm vai trò của người dạy (nhà giáo dục) phải thay đổi: họ trở thành người hỗ trợ, hướng dẫn, trọng tài, cố vấn nhằ m phát huy cao độ tính năng động chủ quan của người học Qua đó giúp người học hình thành và phát triển nhân cách một cách hài hòa và toàn diện [22]
HĐTN giúp người học trong quá trình trải nghiệm thể hiện được giá trị của bản thân mình, thiết lập được các quan hệ giữa cá nhân với tập thể, với các cá nhân khác, với môi trường học và môi trường sống Sự trải nghiệm có ý nghĩa sẽ huy động tổng thể các giá trị của cá nhân từ cảm xúc đến ý thức và hành động Sự trải nghiệm huy động toàn bộ năng lực hành động, sự liên kết trách nhiệm của bản thân với xã hội [22]
Môi trường học tập tương tác trong đó có sự gắn kết giữa nhận thức với cảm xúc xã hội và hành vi của người học trong những tình huống học tập sống động Quá trình học tập được diễn ra sôi động và có ý nghĩa trong môi trường học tập, có sự tương tác, người học có thể học tập lẫ n nhau, người này có thể học tập kinh nghiệm của người khác, giá trị của mỗi cá nhân đều được thể hiện và được điều chỉnh để thích ứng và điều phối với nhau, với môi trường học [22]
1.2.2.4 Các giai đoạn của HĐTN
Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã nêu định hướng về các HĐTN cho các cấp học như sau:
Trang 31- Ở giai đoạn giáo dục cơ bản trong chương trình giáo dục THPT, chương trình HĐTN tập trung vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kỹ năng sống Thông qua HĐTN học sinh được bước vào cuộc sống xã hội, được tham gia các đề
án, dự án, các hoạt động thiện nguyện, hoạt động lao động, cũng như tham gia các loại hình câu lạc bộ khác nhau,… Bằng HĐTN của bản thân, mỗi học sinh vừa là người tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình, tích cực hóa, khám phá, điều chỉnh bản thân và biết cách tổ chức hoạt động, cuộc sống, làm việc có kế hoạch, trách nhiệm Mỗi học sinh bắt đầu xác định năng lực, sở trường, chuẩn bị một số năng lực cơ bản cho người lao động tương lai và người công dân có trách nhiệm [35]
- Ở giai đoạn định hướng nghề nghiệp, chương trình HĐTN được tổ chức gắn với nghề nghiệp tương lai chặt chẽ hơn, hình thức câu lạc bộ nghề nghiệp phát triển mạnh hơn Học sinh sẽ được đánh giá về năng lực, hứng thú và được tư vấn để lựa chọn và định hướng nghề nghiệp Ở giai đoạn này, chương trình có tính phân hóa và tự chọn cao Học sinh được trải nghiệm với các ngành nghề khác nhau dưới các hình thức khác nhau [36]
1.2.2.5 HĐTN và mục tiêu giáo dục
- Mục tiêu giáo dục chung
HĐTN giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp thông qua các chủ đề hoạt động gắn với những nội dung cụ thể về bản thân, quê hương, đất nước, con người HĐTN giúp học sinh có cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, phát triển đời sống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam [22]
- Mục tiêu giáo dục các cấp học
+ Mục tiêu giáo dục tiểu học
HĐTN ở cấp tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành các kỹ năng sống cơ bản, thói quen sinh hoạt tích cực trong cuộc sống hằng ngày, nề nếp học tập ở nhà cũng như ở trường; biết tuân thủ các nội quy, quy định; bắt đầu có định hướng tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân; hình thành những hành vi giao tiếp, ứng xử có văn hoá; có ý thức làm
Trang 32việc nhóm, ý thức tham gia hoạt động lao động, hoạt động xã hội, hoạt động phục vụ cộng đồng; bước đầu biết cách tổ chức một số hoạt động đơn giản, làm quen và hình thành hứng thú với một số nghề gần gũi với cuộc sống của học sinh [22]
+ Mục tiêu giáo dục trung học cơ sở
HĐTN, hướng nghiệp ở trung học cơ sở giúp học sinh tiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng sống cơ bản, thói quen tích cực, nề nếp học tập, hành vi ứng xử văn hoá ở tiểu học Ở trung học cơ sở, HĐTN, hướng nghiệp tập trung hơn vào phát triển phẩm chất trách nhiệm của cá nhân: trách nhiệm trong học tập, trách nhiệm với gia đình, cộng đồng; giúp học sinh hình thành năng lực tự đánh giá và tự điều chỉnh, năng lực giải quyết vấn đề; hình thành các giá trị của cá nhân; tham gia tích cực các hoạt động lao động; tham gia phục vụ cộng đồng phù hợp với lứa tuổi; biết tổ chức công việc một cách khoa học; có hứng thú, hiểu biết về một số lĩnh vực nghề nghiệp, xây dựng được kế hoạch học tập hướng nghiệp và có ý thức rèn luyện những phẩm chất cần có của người lao động tương lai [22]
+ Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông
HĐTN, hướng nghiệp ở trung học phổ thông giúp mỗi cá nhân khẳng định được giá trị riêng, phù hợp với chuẩn mực đạo đức chung; giúp học sinh thể hiện tình yêu đất nước, con người, trách nhiệm công dân, bằng việc làm, hành động cụ thể, thiết thực và bằng các hoạt động cống hiến xã hội, phục vụ cộng đồng HĐTN, hướng nghiệp ở trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục hoàn thiện những phẩm chất và năng lực chung của chương trình giáo dục Đó cũng chính là những phẩm chất và năng lực cơ bản của người lao động tương lai và người công dân toàn cầu Học sinh định hướng được nghề nghiệp dựa trên hiểu biết về nghề, nhu cầu thị trường lao động, sự phù hợp của nghề được lựa chọn với năng lực và hứng thú của cá nhân; xây dựng được kế hoạch đường đời; có khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới [22]
Trang 33học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà máy… ở xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế, từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em [22]
Nội dung tham quan, dã ngoại có tính giáo dục tổng hợp đối với học sinh như: giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử, truyền thống của Đảng, của Đoàn, của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể được tổ chức ở nhà trường phổ thông là: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lich sử, văn hóa; Tham quan các công trình công cộng, nhà máy, xí nghiệp; Tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề; Tham quan các Viện bảo tàng; Dã ngoại theo các chủ đề học tập; Dã ngoại theo các hoạt động nhân đạo…[22]
- Trò chơi
Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với học sinh nói riêng Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà chơi” [22]
Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của HĐTN như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyền tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong cách nhanh nhẹn,…[22]
Ngoài ra, còn có hoạt động thực tế, thực đia, cắm trại
b Hình thức có tính Thể nghiệm
- Diễn đàn
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người lớn khác có liên quan Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực Thông qua diễn đàn, học sinh có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi,
đề xuất của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng
Trang 34của các em Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau Vì vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý kiến của mình một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè và những người khác Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh [22]
Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho học sinh được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định mình Qua các diễn đàn, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và những người lớn có liên quan nắm bắt được những băn khoăn, lo lắng và mong đợi của các em về bạn bè, thầy cô, nhà trường và gia đình,… tăng cường cơ hội giao lưu giữa người lớn và trẻ em, giữa trẻ em với trẻ em và thúc đẩy quyền trẻ em trong trường học Giúp học sinh thực hành quyền được bày tỏ ý kiến, quyền được lắng nghe và quyền được tham gia,… đồng thời giúp các nhà quản lí giáo dục và hoạch định chính sách nắm bắt, nhận biết được những vấn đề mà học sinh quan tâm từ đó có những biện pháp giáo dục và xây dựng chính sách phù hợp hơn với các
em [22]
- Giao lưu
Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để cho học sinh được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó Qua đó, giúp các em có tình cảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách Hoạt động giao lưu [22] có một số đặc trưng sau:
+ Phải có đối tượng giao lưu Đối tượng giao lưu là những người điển hình, có những thành tích xuất sắc, thành đạt trong các lĩnh vực nào đó, thực sự là tấm gương sáng
để học sinh noi theo, phù hợp với nhu cầu hứng thú của học sinh
+ Thu hút sự tham gia đông đảo và tự nguyện của học sinh, được học sinh quan tâm
và hào hứng
+ Phải có sự trao đổi thông tin, tình cảm hết sức trung thực, chân thành và sôi nổi giữa học sinh với người được giao lưu Những vấn đề trao đổi phải thiết thực, liên quan đến lợi ích và hứng thú của học sinh, đáp ứng nhu cầu của các em
Trang 35Với những đặc trưng trên, hoạt động giao lưu rất phù hợp với các HĐTN theo chủ
đề Hoạt động giao lưu dễ dàng được tổ chức trong mọi điều kiện của lớp, của trường
- Hội thi
Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình tổ chức HĐTN
Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức Hội thi/cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh, thi kể chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi học sinh thanh lịch,… có nội dung giáo dục về một chủ đề nào đó Nội dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ chức dưới hình thức hội thi/cuộc thi Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thi mới hấp dẫn [22]
- Sân khấu hóa
Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình diễn chính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả [22]
Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để học sinh đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lí tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung nào của cuộc sống Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của học sinh được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho học sinh rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng
Trang 36phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết đinh và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết tình huống và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống,…[22]
c Hình thức có tính tham gia lâu dài
- Câu lạc bộ
Câu lạc bộ là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với thầy
cô giáo, với những người lớn khác Hoạt động của CLB tạo cơ hội để học sinh được chia
sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của học sinh như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp ảnh, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết đinh và giải quyết vấn đề,… CLB là nơi để học sinh được thực hành các quyền trẻ em của mình như quyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin,…[22]
Thông qua hoạt động của các CLB, nhà giáo dục hiểu và quan tâm hơn đến nhu cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em CLB hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì và có thể được tổ chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: CLB học thuật; CLB thể dục thể thao; CLB văn hóa nghệ thuật; CLB võ thuật; CLB hoạt động thực tế; CLB trò chơi dân gian,…
Ngoài ra còn có hoạt động dự án, nghiên cứu khoa học
d Hình thức có tính Cống hiến xã hội
- Hoạt động nhân đạo
Hoạt động nhân đạo là hoạt động tác động đến trái tim, tình cảm, sự đồng cảm của học sinh trước những con người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Thông qua hoạt động nhân đạo, học sinh biết thêm những hoàn cảnh khó khăn của người nghèo, người nhiễm chất độc da cam, trẻ em mồ côi, người tàn tật, khuyết tật, người già cô đơn không nơi nương tựa, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những đối tượng dễ bi tổn thương trong cuộc sống,… để kịp thời giúp đỡ, giúp họ từng bước khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, vươn lên hòa nhập với cộng đồng Hoạt động nhân đạo giúp các em học sinh
Trang 37được chia sẻ những suy nghĩ, tình cảm và giá trị vật chất của mình với những thành viên trong cộng đồng, giúp các em biết quan tâm hơn đến những người xung quanh từ đó giáo dục các giá trị cho học sinh như: tiết kiệm, tôn trọng, chia sẻ, cảm thông, yêu thương, trách nhiệm, hạnh phúc,…[22]
Hoạt động nhân đạo trong trường phổ thông được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Hiến máu nhân đạo; Xây dựng quỹ ủng hộ các bạn thuộc gia đình nghèo,
có hoàn cảnh khó khăn; Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam; Quyên góp cho
trẻ em mổ tim trong chương trình “Trái tim cho em”; Quyên góp đồ dùng học tập cho
các bạn học sinh vùng cao; Tổ chức trung thu cho học sinh nghèo vùng sâu, vùng xa…
- Các hoạt động chiến dịch
Hoạt động chiến dịch là hình thức tổ chức không chỉ tác động đến học sinh mà tới
cả các thành viên cộng đồng Nhờ các hoạt động này, học sinh có cơ hội khẳng định mình
trong cộng đồng, qua đó hình thành và phát triển ý thức “mình vì mọi người, mọi người
vì mình” Việc học sinh tham gia các hoạt động chiến dịch nhằm tăng cường sự hiểu biết
và sự quan tâm của học sinh đối với các vấn đề xã hội như vấn đề môi trường, an toàn giao thông, an toàn xã hội,… giúp học sinh có ý thức hành động vì cộng đồng; tập dượt cho học sinh tham gia giải quyết những vấn đề xã hội; phát triển ở học sinh một số kĩ năng cần thiết như kĩ năng hợp tác, kĩ năng thu thập thông tin, kĩ năng đánh giá và kĩ năng ra quyết định Mỗi chiến dịch nên mang một chủ đề để định hướng cho các hoạt động như: Chiến dich giờ trái đất; Chiến dịch làm sạch môi trường xung quanh trường học; Chiến dịch ứng phó với biến đổi khí hậu; Chiến dịch bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng ngập mặn; Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn; Chiến dịch tình nguyện hè, Chiến dịch ngày thứ 7 tình nguyện… Để thực hiện hoạt động chiến dịch được tốt cần xây dựng kế hoạch để triển khai chiến dịch cụ thể, khả thi với các nguồn lực huy động được và học sinh phải được trang bị trước một số kiến thức, kĩ năng cần thiết để tham gia vào chiến dịch [22]
1.2.3 Lý luận về Hoạt động của HSV Việt Nam
1.2.3.1 Khái niệm HSV Việt Nam
HSV Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của sinh viên Việt Nam Trải qua các giai đoạn cách mạng HSV Việt Nam đã tập hợp đông đảo sinh viên, phát huy truyền thống yêu nước, tự hào dân tộc, cùng các tổ chức thanh niên khác có những đóng góp
Trang 38xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, HSV tiếp tục phát huy truyền thống, trí tuệ và sức trẻ của sinh viên Việt Nam vì dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc và
sự tiến bộ của tuổi trẻ [42]
HSV Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản
lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Hội là thành viên của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và HSV quốc tế [42]
1.2.3.2 Nhiệm vụ của HSV Việt Nam
- Đoàn kết, khuyến khích, giúp đỡ hội viên, sinh viên trong học tập và rèn luyện,
hoàn thành nhiệm vụ của người sinh viên, góp phần xây dựng nhà trường vững mạnh
- Giáo dục lý tưởng, truyền thống đạo đức, lối sống và ý thức pháp luật cho Hội
viên, sinh viên
- Phản ánh nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên; tham gia đề xuất các chủ trương, chính sách liên quan đến sinh viên Tổ chức các hoạt động thiết thực chăm lo đời sống
vật chất, tinh thần và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp, chính đáng của sinh viên
- Đoàn kết, phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các tổ chức sinh viên trên thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội [42]
1.2.3.3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của HSV Việt Nam
HSV Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động Hội hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và HSV quốc tế HSV Việt Nam có tư cách pháp nhân, trụ sở Trung ương Hội đặt tại Thủ đô Hà Nội [42]
Nội dung cơ bản của nguyên tắc [42] đó là:
- Tất cả các sinh viên tham gia vào tổ chức và các hoạt động của Hội trên cơ sở tự
nguyện
Trang 39- Bàn bạc, hiệp thương, thống nhất khi quyết định các nội dung, kế hoạch công tác của Hội, khi chọn cử Ban Chấp hành HSV, Ban Thư ký, các chức danh lãnh đạo của Hội
ở các cấp và đại biểu đi dự Đại hội, Hội nghị đại biểu Hội cấp trên
- Các thành viên có trách nhiệm đề xuất, bàn bạc dân chủ đề thống nhất chương trình hoạt động của Hội, đồng thời đóng góp nhân lực, tài chính để thực hiện chương
trình đã hiệp thương thống nhất
1.2.3.4 Vị trí, vai trò, mối quan hệ của HSV Việt Nam
a Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam:
HSV là một tổ chức quần chúng của Đảng nằm trong hệ thống các đoàn thể chính trị
- xã hội HSV góp phần tích cực vào việc phổ biến, tổ chức và động viên sinh sinh viên thực hiện tốt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Đảng lãnh đạo HSV thông qua sự định hướng chính trị và vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, sự quản lý của Nhà nước [42]
HSV hoạt động ở cấp nào thì đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng cấp đó
b Đối với Nhà nước:
Nhà nước quản lý HSV thể hiện bằng việc cho phép HSV Việt Nam được thành lập, hoạt động trong phạm vi cả nước; đồng thời tạo điều kiện cần thiết để HSV các cấp hoạt động và phát triển; xem xét và có biện pháp đáp ứng những đề nghị của HSV xuất phát từ những nguyện vọng chính đáng của sinh viên, thực hiện các chính sách đối với sinh viên theo tinh thần dân chủ, hướng dẫn và quản lý hoạt động của HSV các cấp theo quy định của luật pháp [42]
Các hoạt động của HSV nhằm góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu đào tạo của nhà trường, quản lý sinh viên và phối hợp chăm lo đời sống, bảo đảm quyền lợi của sinh viên [42]
HSV cấp nào đặt dưới sự lãnh đạo và quản lý của chính quyền cấp đó
c Đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh:
Vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đối với HSV Việt Nam được thể hiện [42] như sau:
- Các cấp bộ Đoàn trực tiếp giúp sinh viên và các cấp Hội lập ra tổ chức HSV Coi xây dựng HSV là công tác của các cấp bộ Đoàn Tổ chức Đoàn định kỳ làm việc với Ban Chấp hành Hội, cho ý kiến chủ trương công tác lớn của Hội, công tác nhân sự của Hội
Trang 40- Các cấp bộ Đoàn giới thiệu những cán bộ Đoàn, đoàn viên có năng lực, được sinh viên tín nhiệm để tham gia vào cơ quan lãnh đạo của Hội và làm hạt nhân trong phong trào Hội (Đối với các chức danh của các cấp bộ Hội phải là Ủy viên Ban Thường vụ Đoàn cùng cấp trở lên) Đồng thời những cán bộ Hội có uy tín, năng lực là đoàn viên, đảng viên trẻ được Hội giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Đoàn cùng cấp Thông qua hoạt động, HSV bồi dưỡng bồi dưỡng nâng cao nhận thức về Đoàn cho các hội viên và giới thiệu hội viên ưu tú để Đoàn xét kết nạp
- Đoàn Thanh niên có trách nhiệm hỗ trợ HSV các cấp về cơ sở vật chất, trang thiết
bị và điều kiện để hoạt động; đồng thời phối hợp chặt chẽ trong mọi hoạt động đảm bảo hạt nhân chính trị của tổ chức Đoàn, tôn trọng tính độc lập và các phương thức sinh hoạt riêng của mỗi tổ chức nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của từng tổ chức, cùng hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình
- Đoàn viên là Hội viên có nhiệm vụ nắm vững nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đoàn, của Hội, mối quan hệ giữa Đoàn và Hội Chủ động gương mẫu thực hiện có hiệu quả các hoạt động chung và hoạt động của HSV góp phần tuyên truyền giáo dục lý tưởng của Đoàn và phát hiện sinh viên tích cực để giới thiệu với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
d Đối với các đoàn thể:
HSV Việt Nam là thành viên tập thể của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Liên hiệp sinh viên quốc tế và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Căn cứ điều kiện nhu cầu cụ thể mà HSV cử đại diện tham gia các tổ chức của Hội Liên hiệp Sinh viên Quốc tế, tham gia Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp Phối hợp và cụ thể hóa những chủ trương công tác của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vào hoạt động của HSV [42]
e Đối với sinh viên:
HSV là người đại diện và chăm lo những quyền lợi hợp pháp chính đáng của sinh viên Hội phát biểu tiếng nói đại diện của sinh viên với Đảng, nhà nước, các ngành các cấp, với nhà trường và đề xuất những vấn đề cần giải quyết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp chính đáng của sinh viên Ở các trường, HSV được quyền cử đại diện vào các Hội đồng nhà trường như: Hội đồng thi đua khen thưởng và kỉ luật, Hội đồng xét học bổng và các Hội đồng khác của trường…để xem xét giải quyết các vấn đề liên quan đến sinh viên