1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu ôn thi tốt nghiệp trung cấp chính trị 2023- CN mác lênin

23 243 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 154,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các vấn đề chính trong phần chủ nghĩa Mác Lê Nin: 1. LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG, 2. CN DUY VẬT MÁC XÍT VỀ NHÀ NƯỚC, 3. NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH. Tài liệu vừa có nội dung lý thuyết của giáo trình, vừa có các câu hỏi bám sát các nội dung ôn taaopj và thảo luận trên lớp, theo định hướng của giáo viên.

Trang 1

CN DUY VẬT MÁC XÍT VỀ NHẬN THỨC

4 LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG

4.1 Bản chất của nhận thức

4.1.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, nhận thức là nhận thức trạng thái chủ quan của con người về sự vật, chứ không phải nhận thức chính bản thân sự vật Chủ nghĩa duytâm khách quan không phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người nhưng thường hay thần bí hóa quá trình nhận thức của con người; cho rằng khả năng nhận thức củacon người là do những lực lượng siêu nhiên đem lại cho con người chứ không phải của chính con người Chủ nghĩa duy vật trước Mác nhìn chung có quan niệm duy vật nhưnglại siêu hình về nhận thức Hơn nữa, họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

4.1.2 Quan niệm của chú nghĩa duy vật biện chứng

Quan niệm về bản chất nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn Điều này có nghĩa

là chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người và loài người

Thứ hai, chủ nghĩa duy vật biện chứng công nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Theo triết học duy vật biện chứng, không có cái gì mà con người không nhận

thức được, chỉ có cái mà con người chưa nhận thức được mà thôi

Thứ ba, nhận thức là quá trình biện chứng, có vận động biến đổi, phát triển, đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều hom, tò chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn nhưng

không có giới hạn cuối cùng

Thứ tư, nhận thức phải dựa ữên cơ sở thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích nhận thức, tiêu chuẩn kiểm tra chân lý.

Tóm lại, theo triết học duy vật biện chứng, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội cụ thể.

4.2 Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận

4.2.1 Khái niệm thực tiễn

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng thực tiễn là hoạt động nhận thức, hoạt động tinh thần Các nhà tôn giáo cho hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của những lực lượng siêunhiên là thực tiễn Có nhà triết học duy vật trước Mác cha hoạt động thực nghiệm khoa học là thực tiễn Đây là quan niệm đúng nhưng chưa đầy đủ

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho thực tiễn là hoạt động vật chất - cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Từ quan niệmnày của triết học duy vật biện chứng về thực tiễn, chúng ta thấy thực tiễn có ba đặc trưng sau:

Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ

vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng Ví dụ, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà; làm thủy lợi; đắp đê; càyruộng, v.v

Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo

người, và ưải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định

Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích - nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của

hoạt động thực tiễn

Có ba hình thức thực tiễn cơ bản: Một là, sản xuất vật chất Đó là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người Hai

là, những hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị - xã hội Chẳng hạn như đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp, míttinh, biểu tình, v.v

Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học Đây là hình thức đặc biệt, bởi lẽ, trong thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành

tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới Ba hình thức thực tiễn này liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định,hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất

4.2.2 Khái niệm lý luận

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tínhquy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù

Lý luận có những đặc trưng:

Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính lôgíc chặt chẽ.

Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Không có tri thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận.

Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật, hiện tượng.

4.2.3 Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

4.2.3.1 Vai trò của thực tiễn đối với lý luận

Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy

luật Trên cơ sở đó con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp “vật liệu” cho nhận thức Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức Ví dụ, chính đo đạcruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hi Lạp - La Mã cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago, v.v ra đời

Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Nói khác đi, chính thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức phải giải quyết Trên cơ sở đó thúc đẩynhận thức phát triển Ví dụ, dịch cúm gà H5N1 đặt ra cho nhân loại nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo vắc xin cho loại dịch cúm này

Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan của con người (ví dụ, thông qua sản xuất, chiến đấu những cơ quan cảm giác như thính giác, thị giác, v.v được rèn luyện) Các cơquan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hon, đúng đắn hon

Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quả hơn Ví dụ, kính thiên văn, hàn thử biểu, máy vi tính, v.v đều được sản xuất, chế tạotrong sản xuất vật chất Nhờ những công cụ, máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển

Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại Ngay từ thủa mông muội, để sống con người phải

tìm hiểu thế giới xung quanh, tức là để sống, con người phải nhận thức Nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhucầu thực tiễn

Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Nói khác đi, chính thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá giátrị của tri thức kết quả của nhận thức

Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng

Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý Bởi lẽ, chỉ có

thông qua thực tiễn, con người mới “vật chất hóa” được tri thức, “hiện thực hóa” được tư tưởng Thông qua quá trình đó, con người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm.Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạnlịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi phát triển.Cho nên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải đổi thay cho phù hợp Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông quathực tiễn

4.2.3.2 Vai trò của lý luận đối với thực tiễn

Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hêt sức to lớn đôi với hoạt

động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn

Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chủng đế tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng.

Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự giác, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo, chủ

động, tự giác hơn

4.2.3.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Phải có quan điếm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm thực tiễn yêu cầu:

Một là, nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát tò thực tiễn địa phương, ngành, đất nước.

Hai là, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành.

Ba là, phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện phát triển lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn

kiểm tra sự đúng sai của lý luận

Trong hoạt động thực tiễn phải chủ động ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm (khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn, coi thường,

hạ thấp lý luận) và bệnh giáo điều (khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường hạ thấp kinh nghiệm thực tiễn; hoặc vận dụng kinh nghiệm của ngườikhác, ngành khác, địa phương khác, nước khác không tính tới điều kiện thực tiễn cụ thể của mình)

Trong công tác, mỗi CB phải gương mẫu thực hiện phương châm “nói đi đôi với làm”, tránh nói một đằng, làm một nẻo; nói nhiều làm ít; nói mà không làm, v.v

Phân tích nội dung mối liên hệ biện chứng giữa lí luận và thực tiễn Rút ra ý nghĩa phương pháp luận

Liên hệ thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

1

Trang 2

Sự gắn kết giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn luôn là một đòi hỏi cấp bách và là một phương thức để mang đến thành công cho hoạt động của mỗi cánhân, của tổ chức và của một chính đảng Nhận thức đúng và giải quyết hợp lý mối quan hệ biện chứng tác động qua lại của lý luận và thực tiễn, dùng lý luận làm kim chỉ namcho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, thực tiễn phải là cơ sở, động lực của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý luôn là chìa khóa để để giải quyếtmọi vướng mắc trên con đường đi đến mục tiêu đã định Ngược lại, nhận thức không đúng và giải quyết không tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩagiáo điều, kinh viện và chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chủ quan duy ý chí, tất nhiên sẽ dẫn đến những thất bại mà đối với một chính đảng, sự thất bại đó có thể dẫn đến những hậuquả nghiêm trọng.

Trước hết, ta đi vào các khái niệm cơ bản:

Khái niệm thực tiễn:

Quan điểm trước Mác: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng thực tiễn là hoạt động nhận thức, hoạt động tinh thần Các nhà tôn giáo cho hoạt động sáng tạo ra vũ trụ củanhững lực lượng siêu nhiên là thực tiễn

Điđơrô (nhà triết học Pháp): hiểu chưa đầy đủ về thực tiễn, cho rằng thực tiễn là hoạt động thực nghiệm khoa học trong phòng thí nghiệm

Phoiơbắc (nhà triết học duy vật siêu hình người Đức): thực tiễn chỉ là những hoạt động bẩn thỉu của các con buôn

Hêghen (nhà triết học duy tâm khách quan người Đức): thực tiễn chỉ là khái niệm, tư tưởng thực tiễn chứ không phải bản thân thực tiễn với tư cách là hoạt động vật chất.Đây là quan niệm đúng nhưng chưa đầy đủ

Quan điểm Mácxít: Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho thực tiễn là hoạt động vật chất - cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xãhội Từ quan niệm này của triết học duy vật biện chứng về thực tiễn, chúng ta thấy thực tiễn có ba đặc trưng sau:

Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất - cảm tính Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ

vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng Ví dụ hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, đắp đê, cày ruộng,v.v…

Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo

người, và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định

Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt

động thực tiễn

Có ba hình thức thực tiễn cơ bản:

Một là, sản xuất vật chất Đó là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người.

Hai là, những hoạt động chính trị-xã hội Chẳng hạn như đấu tranh giải phóng dân tộc, mít tinh, biểu tình

Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học Đây là hình thức đặc biệt, bởi lẽ trong thực nghiệm khoa học, con người chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vận dụng

thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới

Ba hình thức thực tiễn này liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó, sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định, hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuấtvật chất

Khái niệm lý luận:

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận là hệ thống những tri thức, được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tínhquy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống, nguyên lý, quy luật, phạm trù

Lý luận có những đặc trưng :

Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính lô gic chặt chẽ.

Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Không có trí thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận.

Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất, hiện tượng.

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:

Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:

Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật, làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy

luật Trên cơ sở đó, con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp « vật liệu » cho nhận thức Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức Chính việc đo đạtruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hi Lạp - La Mã cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago ra đời

Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Nói cách khác, thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức giải quyết Trên cơ sở đó, nhận thức pháttriển

Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan cho con người Chẳng hạn, thông qua các hoạt động sản xuất, chiến đấu, sáng tạo nghệ thuật những cơ quan cảm giác như thínhgiác, thị giác được rèn luyện Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn

Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc cho con người nhận thức hiệu quả hơn như kính thiên văn, máy vi tính đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất vậtchất Nhờ những công cụ máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn Trên cơ sở đó, thúc đẩy nhận thức phát triển

Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại Ngay từ tưở mông muội, để sống, con người phải tìm

hiểu thế giới xung quanh, tức là để sống, con người phải nhận thức Nghĩa là ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầuthực tiễn

Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Nói khác đi, chính thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá giátrị của tri thức - kết quả của nhận thức

Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng

Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận Theo triết học duy vật biện chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý Bởi lẽ chỉ có

thông qua thực tiễn, con người mới vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng Thông qua quá trình đó, côn người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Phảihiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch

sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển Chonên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây, hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thựctiễn

Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:

Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động

thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn

Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng.

Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự giác, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo.

- Ý nghĩa phương pháp luận:

Phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm thực tiễn yêu cầu:

Một là, nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát từ thực tiễn của địa phương, của ngành và đất nước.

Hai là, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành.

Ba là, phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện phát triển lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn

kiểm tra sự đúng sai của lý luận

Trong hoạt động thực tiễn phải chủ động ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Nếu coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn thì sẽ dẫnđến sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều

Bệnh kinh nghiệm: là căn bệnh tuyệt đối hóa kinh nghiệm, nhận thức và hành động chỉ dựa vào kinh nghiệm, đề cao vai trò thực tiễn, hạ thấp lý luận, không chịu học hỏi đểvương lên, không coi trọng việc tổng kết thực tiễn để khái quát thành lý luận

Bệnh giáo điều: là căn bệnh tuyệt đối hóa lý luận, nhận thức và hành động chỉ dựa vào lý luận, coi thường và hạ thấp kinh nghiệm thực tiễn; hoặc vận dụng kinh nghiệmcủa người khác, ngành khác, địa phương khác, nước khác không tính đến điều kiện thực tiễn cụ thể của mình, coi lý luận là "chìa khóa vạn năng" cho tư duy và hành động, bấtchấp điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

Trong công tác, mỗi cán bộ phải gương mẫu thực hiện phương châm "nói đi đôi với làm", tránh nói một đằng, làm một nẻo; nói nhiều làm ít; nói mà không làm

Liên hệ thực tiễn cách mạng Việt Nam:

Trước đổi mới: Do chưa nhận thức đầy đủ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua

nhiều chặng đường, chưa gắn lý luận với thực tế điều kiện, hoàn cảnh ở nước ta nên đã chủ quan, nóng vội, bỏ qua những bước đi cần thiết Một trong những sai lầm trongchính sách của Đảng trong thời kỳ trước đổi mới là xuất phát từ căn bệnh giáo điều, xuất phát từ sự lạc hậu, yếu kém về lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa Sự yếu kém về lýluận làm cho chúng ta tiếp thu lý luận Chủ nghĩa Mác Lênin một cách giản đơn, phiến diện, cắt xén sơ lược, không đến nơi đến chốn, CNXH được hiểu một cách giản đơn, ấutrĩ Trong thời kỳ này, đã có lúc ta bắt chước rập khuôn mô hình CNXH ở Liên Xô trong việc thành lập các bộ ngành của bộ máy nhà nước Hoặc áp dụng máy móc theo họcthuyết của Mác về kinh tế là phải xóa bỏ tư hữu, do đó khi áp dụng vào nước ta, Đảng đã có biểu hiện nóng vội trong việc tiến hành cải tạo XHCN nhằm xóa tất cả các thànhphần kinh tế mà không thấy được vai trò quan trọng của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Đảng ta cũng vấp phải những sai lầm trong việc đề rachủ trương, đường lối, chính sách phát triển đất nước: Chủ trương tập trung cho công nghiệp hóa đất nước mà chủ lực là phát triển công nghiệp nặng mà không chú ý đến điều

2

Trang 3

kiện vật chất và lực lượng sản xuất của ta còn chưa tương xứng, với xuất phát điểm còn rất thấp từ một nền kinh tế lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chính, trình độ lực lượng sảnxuất không cao, sản xuất thủ công là chủ yếu Có thể nói việc bố trí cơ cấu kinh tế trước hết là sản xuất và đầu tư, chúng ta thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh,không tính đến điều kiện khả năng thực tế Sự nhận thức giản đơn, yếu kém trong việc vận dụng xơ cứng lý luận vào trong còn thể hiện ở việc hiểu và vận dụng chưa đúng cácquy luật khách quan đang tác động trong thời kỳ quá độ ở nước ta (quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, các quyluật sản xuất hàng hoá, quy luật thị trường ), quá nhấn mạnh một chiều vai trò của quan hệ sản xuất, của chế độ công hữu, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêucầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ Mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, quá tập trung quyền lực nhà nước, dùng kế hoạch pháplệnh để chỉ huy toàn bộ nền kinh tế đất nước, bao cấp trong phân phối làm cản trở sự sáng tạo, tạo nên sự bảo thủ trì trệ của đời sống xã hội.

Hậu quả của những sai lầm xuất phát sự nhận thức yếu kém về lý luận và xa rời thực tiễn đã làm cho đường lối chính sách của Đảng ta đề ra không phù hợp với thực tiễnnên đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội : nhiều vấn đề mấu chốt và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyết đầy đủ; đấtnước chưa có những thay đổi sâu sắc và triệt để trong phương thức phát triển; tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng; nhiệt tình lao động và năng lựcsáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn Nhìn tổng quát, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tếViệt Nam vận động thiếu năng động và kém hiệu quả Đại hội IV chưa xác định được những mục tiêu của chặng đường đầu tiên Cụ thể là trong 5 năm 1976 – 1980, đảng tachủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Đại hội V đã cụ thể hóa một bước đường lối kinh tế trongchặng đường trước mắt, đề ra những mục tiêu tổng quát, các chính sách lớn về kinh tế, xã hội nhưng trong chỉ đạo thực hiện đã không quán triệt đầy đủ các quy luật khách quan,chưa kiên quyết khắc phục tư tưởng nóng vội chủ quan và bảo thủ thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý kinh tế.Xét đến cùng, những sai lầm trên đây của Đảng ta xuất phát từ việc chưa quán triệt đầy đủ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn

Thời kỳ đổi mới: Nhận thức được những sai lầm trên, từ ĐH Đảng lần VI (1986), Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,

trong đó có mọi phương hướng đổi mới phải xuất phát từ thực tiễn như Văn kiện Đại hội VI của Đảng đã xác định “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hànhđộng theo quy luật khách quan” Đại hội VI đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm trong đó bài học thứ hai là "Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theoquy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng" Nền kinh tế hàng hóa nhiều thanh phần vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước từng bước được hình thành Đại Hội Đảng lần IX cũng đã nhấn mạnh “Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống

xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình có sẵn nào…” Những nhận định trên của Đảng chính là sự tiếp thu và vận dụngđúng đắn quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN phải lấy thực tế làm điểm xuất phát để xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ của cách mạng, kết hợp chặt chẽgiữa lý luận và thực tiễn để xác định chủ trương, chính sách Những biến đổi ấy vừa có ảnh hưởng tới Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn mà Việt Nam

có thể tham khảo với các mức độ khác nhau để lựa chọn con đường phát triển Xuất phát từ đặc điểm đó, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (năm 1991), Đảng đã nêu: chúng ta phải tiếp tục nâng cao ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộc đồng thời mở rộng quan hệ hợp tácquốc tế, tìm tòi bước đi, hình thức và biện pháp thích hợp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng làm một xã hội: do nhân dânlao động làm chủ, có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc, con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện pháttriển toàn diện cá nhân, các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.Sáu đặc trưng nêu trên thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta sẽ xây dựng Đại hội IX tiếp tục khẳng định "Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợiích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống của xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới,không sao chép bất cứ một mô hình sẵn có nào; đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Có những điều chỉnh, bổ sung và pháttriển cần thiết về chủ trương, phương pháp, biện pháp; tìm và lựa chọn những giải pháp mới, linh hoạt, sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời cơ, khắc phục sự trìtrệ, làm chuyển biến tình hình" Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tổng kết kinh nghiệm thành công và cả kinh nghiệm chưa thành côngtrong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và các nước khác, đặc biệt là những kinh nghiệm của những năm đổi mới, Đảng ta đã nêu ra những phương hướng cơ bảnxây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, gồm:

Một là, "xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tríthức làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nguyên kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích

Tổ quốc và của nhân dân"

Hai là, "phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằmtừng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân"

Ba là, "phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu Pháttriển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Kinh tế quốc doanh và kinh tế tậpthể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu"

Bốn là, "tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạotrong đời sống tinh thần xã hội Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựngmột xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao Chống tư tưởng, văn hóa phản tiến

bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội"

Năm là, "thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh.Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủnghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới"

Sáu là, "xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhândân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng"

Bảy là, "xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta" Hiện nay, công cuộc đổi mới ở nước ta càng đi vào chiều sâu, những biến đổi trên thế giới nhanh chóng, phức tạp, khó lường thì những vấn đềmới đặt ra ngày càng nhiều, trong đó có những vấn đề liên quan đến nhận thức về CNXH và con đường xây dựng CNXH Không ít vấn đề về nhận thức lý luận còn chưa đủ rõ;không ít vấn đề về thực tiễn, nhất là những vấn đề bức xúc nảy sinh từ cuộc sống, chưa được giải quyết kịp thời và tốt nhất

Trên cơ sở đó Văn kiện Đại hội IX tiếp tục chỉ rõ: “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bứcxúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa, bổ sung phát triển đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh với khuynh hướng, tư tưởng sai trái

Đại hội X tiếp tục khẳng định: "đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làmnền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng", "phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn", "đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựavào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới" Lý luận đổi mới ở nước ta ngày càng có vai trò quan trọng trongviệc tác động trở lại thực tiễn Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối chính sách của Đảng, choviệc quản lý của nhà nước Đại hội X đã chỉ ra: "Thường xuyên tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, dự báo tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước,cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Đại hội X đã đưa ra những phương hướng, giải pháp để phát triển lý luận, đó là: "phát hiện, ủng hộ và nhân rộng những nhân tố mới, qua thực tiễn làm sáng tỏ những vấn

đề mới, bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối", "chú trọng nâng cao tính khoa học, tính thực tiễn và sự mạnh dạn khám phá, sáng tạo trong công tác nghiên cứu khoa học,nghiên cứu lý luận Sớm xây dựng và ban hành quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận" Thực trạng hiện nay cho thấy không ít cán bộ đảng viên ta chưa thực sự quán triệtquan điểm thực tiễn, không bám sát thực tiễn, không thường xuyên tổng kết thực tiễn, tổ chức hoạt động thực tiễn cho nên việc triển khai lý luận chưa tốt, lý luận chưa được bổsung kịp thời để theo kịp với thực tiễn

Đại hội X đã chỉ ra biện pháp: "Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra"

Tóm lại, từ những phân tích trên cho thấy rõ phải coi trọng lý luận nhưng không được cường điệu vai trò của lý luận coi thường thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạtđộng cách mạng Cội nguồn của những đột phá tạo ra những bước tiến vượt bật của xã hội loài người có sự đóng góp của lý luận đích thực Tuy nhiên, lý luận phải gắn với thựctiễn, phải được kiểm tra, đúc kết, khái quát từ thực tiễn thông qua việc tổng kết thực tiễn Trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta khi đất nước nảy sinh những vấn đề cầnđược giải đáp về mặt lý luận, Đảng ta đã đứng trên quan điểm, phương pháp luận của CN Mác - Lênin và TT HCM để xem xét Hàng lọat các vấn đề từ kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội không thể giải quyết chỉ bằng lý luận mà đòi hỏi Đảng ta phải thực hiện thông qua thực tiễn, tổng kết thực tiễn, chỉ có như vậy công cuộc xây dựng CNXH của tamới giảm bớt chông gai, gập ghềnh

3

Trang 4

CN DUY VẬT MÁC XÍT VỀ NHÀ NƯỚC 2.2 Nhà nước

2.2.1 Nguồn gốc và bản chất của nhà nước

2.2.1.1 Nguồn gốc của nhà nước

Vấn đề nhà nước là một trong những vấn đề phức tạp nhất và bị các nhà tư tưởng của giai cấp bóc lột xuyên tạc nhiều nhất Các nhà tư tưởng của giai cấp bóc lột thống trịluôn tuyên truyền những tư tưởng xuyên tạc bản chất của nhà nước nhằm biện hộ cho sự thống trị chính trị của mình Trong thời kỳ cổ đại và trung cổ, họ tuyên truyền nhữngquan điểm mang tính chất thần bí, thần thánh, “siêu tự nhiên” của nhà nước Còn trong thời kỳ hiện đại, giai cấp tư sản lại ra sức tuyên truyền cho tính chất “siêu giai cấp” củanhà nước tư sản

Lý luận khoa học về nhà nước, về nguồn gốc và bản chất của nhà nước, chỉ có thể có được trên cơ sở những quan điểm biện chứng duy vật về sự phát triển xã hội.Theo quan điểm mácxít, xã hội không phải khi nào cũng có nhà nước Nhà nước ra đòi và tồn tại khi trong xã hội xuất hiện những mâu thuẫn giai cấp phát triển đến mứckhông điều hòa được

Xã hội cộng sản nguyên thủy không có giai cấp, nhà nước cũng chưa xuất hiện Đứng đầu các thị tộc, bộ lạc - những tổ chức xã hội thời kỳ này - là những tộc trưởng, hộiđồng các tộc trưởng Đó là những cơ quan quản lý xã hội còn rất đon giản và mang tính tự quản

Khi xã hội phân chia thành giai cấp, mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện Khẳng định điều đó, V.I.Lênin viết: “Nhà nước

là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thế điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thế điều hòa được”.

2.2.1.2 Bản chất của nhà nước

Nhà nước xuất hiện và tồn tại không phải do ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một giai cấp nào Trái lại, sự xuất hiện nhà nước là một tất yếu khách quan để “khốngchế những đối kháng giai cấp”, để làm “dịu” xung đột giai cấp, làm cho xung đột giai cấp diễn ra trong vòng “trật tự”; trật tự ấy hoàn toàn cần thiết để duy trì chế độ kinh tế,trong đó giai cấp này bóc lột giai cấp khác Nhà nước, “đó là sự kiến lập một “trật tự”, trật tự này hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức kia bằng cách làm dịu xung đột giai cấp”.Đương nhiên, trên cơ sở tất yếu nói trên, giai cấp lập ra và sử dụng nhà nước phải là giai cấp mạnh nhất, giai cấp giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế Nhờ có nhà nước, giaicấp này trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị Nhà nước, do đó về bản chất là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về mặt kinh tế

Nhà nước là công cụ thống trị chính trị giai cấp, nhưng trong thực tế, nó lại tồn tại như một công quyền, một quyền lực công cộng Vì vậy, nhà nước không chỉ mang tínhgiai cấp, mà còn mang tính xã hội; không chỉ có chức năng thống trị giai cấp mà còn có những chức năng xã hội Hon nữa, chức năng xã hội còn là cơ sở cho sự thống trị chínhtrị

Vì vậy, sẽ là mơ hồ nếu không thấy được tính chính trị, tính giai cấp của các chủ trương, chính sách và sự tác động can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế, văn

hóa, giáo dục, v.v Nhưng ngược lại, nếu quy các chức năng đa dạng của nhà nước về chức năng giai cấp, hoặc tuyệt đối hóa tính giai cấp, mà không thấy được tính xã hội, vai

trò tích cực sáng tạo của chức năng xã hội của nhà nước trong sự phát triển đất nước thì sẽ là cực đoan, phiến diện

Khi nhà nước nằm trong tay giai cấp đại biểu cho toàn thể xã hội trong thời đại của mình, nghĩa là trong tay giai cấp đang đóng vai trò tiến bộ và cách mạng, thì tính tíchcực của chức năng xã hội của nó biểu hiện càng rõ rệt

2.2.1.3 Các kiểu nhà nước trong lịch sử

Trong lịch sử xã hội có đối kháng giai cấp đã xuất hiện ba kiểu nhà nước: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản Mồi kiểu nhà nước lại có thể tồn tạidưới những hình thức khác nhau Nhà nước chủ nô có nhà nước chủ nô dân chủ, có nhà nước chủ nô quý tộc; nhà nước phong kiến có nhà nước phong kiến quân chủ phânquyền, có nhà nước quân chủ tập quyền Dưới chủ nghĩa tư bản hình thức nhà nước phổ biến là chế độ cộng hòa dân chủ tư sản Chế độ cộng hòa dân chủ tư sản - như V.I.Lênin

đã chỉ ra: “Xét về phương diện phát triển của xã hội trên toàn thế giới, đều là một bước tiến rất lớn” Song, nếu từ đó mà cho rằng, nhà nước dân chủ tư sản hiện nay không còn

là nhà nước giai cấp nữa thì lại là một sai lầm Khẳng định về vấn đề này, Ph.Ăngghen viết: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy cúa một giai cấp này dùng để trấn áp mộtgiai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ”

Như vậy, nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng dù tồn tại dưới hình thức nào - độc tài hay dân chủ, quân chủ hay cộng hòa - thì về bản chất nhànước vẫn là quyền lực chính trị của một giai cấp

2.2.2 Nhà nước vô sản - tính tất yếu và đặc điểm của nhà nước vô sản

2.2.2.1 Tính tất yếu của nhà nước vô sản

Học thuyết Mác-Lênin về nhà nước bác bỏ luận điểm của phái vô chính phủ cho rằng, sau khi lật đổ nhà nước tư sản thì xã hội không cần phải có nhà nước nữa, vì nhànước nào cũng là nguyên nhân gây ra tai họa Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng bác bỏ quan điểm cơ hội, hữu khuynh khi cho rằng, sau khi lật đổ nhà nước tư sản, sẽ thực hiện mộtnhà nước dân chủ phi giai cấp Khẳng định tính tất yếu của nhà nước vô sản, C.Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến

cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quậ độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thế là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”.

Sau khi cách mạng thành công, giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn còn cần có nhà nước của mình vì ba lý do sau:

Thứ nhất, xã hội còn phân chia giai cấp, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn còn tiếp tục, vẫn còn các lực lượng mưu toan phục hồi chế độ cũ, vẫn còn âm mưu xâm lược của các

thế lực đế quốc Giai cấp công nhân, nhân dân lao động cần có nhà nước của mình để trấn áp lực lượng phản cách mạng, trấn áp bọn phá hoại trật tự xã hội mới và bảo vệ tổquốc XHCN

Thứ hai, xã hội trong thời kỳ quá độ vừa thoát thai từ xã hội cũ, còn mang rất nhiều dấu vết của xã hội cũ Đe quản lý một xã hội như vậy, vẫn cần có sự cưỡng chế, cần

pháp luật, kỷ cương, nghĩa là cần có nhà nước, công cụ làm chủ của nhân dân

Thứ ba, xây dựng CNXH là sự nghiệp vĩ đại, khó khăn, phức tạp, nó đòi hỏi phải có một nhà nước do những người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản lập ra để

tổ chức quản lý công việc xây dựng xã hội mới Nhà nước kiểu mới đó chính là nhà nước vô sản

2.2.2.2 Những đặc điếm của nhà nước vô sản

Là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử, nhà nước vô sản có những đặc trưng cơ bản của nhà nước nói chung - công cụ trấn áp của một giai cấp với một giai cấp khác.Song, “chuyên chính” không phải là đặc trưng duy nhất của kiểu nhà nước này Nhà nước vô sản có các đặc trưng khác với các nhà nước của giai cấp bóc lột

Một là, lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một nhà nước của dân, do dân và vì dân Nó không còn là nhà nước của thiếu số thống trị đa số như trước đây, mà là nhà nước

của đa số thống trị thiểu số những kẻ chống lại lợi ích của nhân dân lao động Cơ sở xã hội và nòng cốt của nhà nước vô sản là liên minh công nhân, nông dân, trí thức, tức làliên minh giữa các giai cấp, tầng lớp lao động, trong đó giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo thông qua đội tiên phong chính trị của mình Trong nhà nước vô sản, mọiquyền lực đều thuộc về nhân dân Nhân dân lao động không những làm chủ về chính trị mà còn làm chủ về kinh tế, văn hóa, xã hội Đó là bản chất của nền dân chủ XHCN.Tính chất của dân, do dân, vì dân thể hiện thông qua nguyên tắc tổ chức, cơ chế hoạt động và pháp luật nhà nước

Hai là, lần đầu tiên trong lịch sử, đã ra đời một nhà nước mà chức năng chủ yếu nhất của nó không phải là bạo lực trấn áp mà là tổ chức xã hội V.I.Lênin chỉ rõ rằng:

“Chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực”, mà chủ yếu là thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội caohơn so với chủ nghĩa tư bản

Với hai đặc điểm trên, nhà nước vô sản không còn là nhà nước theo nguyên nghĩa mà là nhà nước “nửa nhà nước”

2.2.2.3 Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cẩ quyền lực nhà nước thuộc về

nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lực Nhà nước là thống nhất;

có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hộibằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiệnđầy đủ quyền dân chủ của nhân dân Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạothống nhất của Trung ương” Đó là nhà nước thuộc phạm trù nhà nước vô sản, nhà nước XHCN

Việc xây dựng nhà nước XHCN trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam là một tất yếu khách quan Tính tất yếu đó không chỉ bắt nguồn từ đặc điểm của thời đại ngày nay, thời

đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH, mà còn xuất phát từ thực tế và đòi hỏi của cách mạng Việt Nam, “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào

khác con đường cách mạng vô sản”.

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, xây dựng nhà nước XHCN là một quá trình, hon nữa đối với nước ta, đó là một quá trình lâu dài Nước ta quá độ lên CNXH không phải từmột nước tư bản phát triển, mà từ một xã hội tiền tư bản, bỏ qua chế độ tư bản; xây dựng chế độ dân chủ XHCN không phải từ chế độ dân chủ tư sản, mà từ chế độ dân chủnhân dân, hơn nữa từ một chế độ dân chủ nhân dân chủ yếu thích ứng với nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc và phục tùng nhiệm vụ giải phóng dân tộc Với xuất phát thấpnhư vậy, chúng ta không có khả năng tạo lập ngay được cơ sở kinh tế - xã hội đầy đủ cho CNXH, cho nhà nước XHCN Chính vì vậy, xây dựng nhà nước XHCN ở nước ta làmột quá Irình lâu dài, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng XHCN

Trong điều kiện nước ta hiện nay, áp đặt một chế độ dân chủ XHCN đầy đủ là không phù hợp Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hiện nay chúng ta chưa nên “pháthuy dân chủ đến cùng” “Phát huy dân chủ đến cùng” không phải là sự áp đặt một hình thức dân chủ cao trong điều kiện kinh tế và dân trí còn thấp kém, mà là “tìm kiếm”, “thử

nghiệm” và xây dựng những thiết chế, cơ chế nhà nước phù họp với điều kiện hiện nay, nhằm thực hiện một cách hữu hiệu quyền dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân.

Trong đổi mới, Đảng ta chủ trương dân chủ hóa xã hội, dân chủ hóa tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước Chủ trương đó không chỉ phản ánh đòi hỏi tất yếukhách quan của quá trình xây dựng nhà nước XHCN từ một đất nước chưa trải qua chế độ dân chủ tư sản, mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phải khắc phục tình trạng thiếu dân chủ

và dân chủ còn mang nặng tính hình thức trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta Một trong những lý do chủ yếu của tình trạng đó là do Nhà nước chưa thực sự tồn tạidưới hình thức chế độ dân chủ Do ảnh hưởng của chiến tranh và những nguyên nhân khác, thực chất Nhà nước ta còn mang nặng tính chất là một hệ thống quan liêu, mệnh lệnh

4

Trang 5

hành chính Vì vậy, dân chủ hóa tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước ở nước ta phải gắn liền với quá trình đổi mới căn bản tổ chức và hoạt động của Nhà nước Chủtrương từng bước xây dựng Nhà nước theo mô hình nhà nước pháp quyền XHCN, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới và xây dựng nhà nước XHCN ở Việt Nam.

Có thể nói trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta trước đây chưa sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền, nhưng xét theo các đặc trưng, những giá trị phổ biến củanhà nước pháp quyền thì đã được nhận thức và diễn đạt khá rõ nét trong các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 Đó chính là kết quả của việc vận dụng tưtưởng về nhà nước kiểu mới của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh

Bước vào đổi mới, nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng, cụ thể hơn và quyết tâm xây dựng nhà nước XHCN dưới hình thức nhànước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, trong chủ trương đổi mới nhà nước, đã manh nha một số nội dung về nhà nước pháp quyền Đó là sự khẳng định “quản lý nhà

nước bằng pháp luật, chứ không phải chỉ bằng đạo lý” “Phải quan tâm xây (lựng pháp luật Từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà

nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật” Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, trong quan điểm đổi mới nhà nước được bổ sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt

Nam thong nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó” Như vậy, qua hai nhiệm kỳ Đại hội của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi

mới nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng có những bước tiến quan trọng Tuy nhiên, chỉ đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII(1994) chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta mới được chính thức khẳng định Thuật ngữ nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được chính thức sử dụngtrong văn kiện quan trọng của Đảng

Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế đối với nước ta là điều mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm,vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm Vì vậy, cần thận trọng trong quyết định, cũng như tiến hành thực hiện Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng coi xây dựngnhà nước pháp quyền như một trong năm quan điểm cần quán triệt trong việc tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.Đen Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, qua tổng kết những thành tựu trong nghiên cứu lý luận, cũng như thực tiễn từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta,Đảng ta coi xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng là một nhiệm vụ có tính chiến lược và xuyên suốt, trong “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạtđộng của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế” Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp

tục khẳng định: “Đạy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ” tập trung vào ba nội dung lớn: một là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, trong

đó nhấn mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương; hai là, xây dựng đội ngũ CBCC trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; ba là, tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh

phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm

Trình bày nguồn gốc, bản chất của nhà nước; đặc điểm của nhà nước Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

Chú ý: Tùy câu hỏi có thể chọn trả lời ở từng nội dung phù hợp (Nếu câu hỏi về nhà nước nhưng ở các dạng khác nhau thì cũng chỉ có bấy nhiêu nội dung này).

- Xây dựng nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó Tuy nhiên, xét về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay vẫn còn rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết

Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng ta chính thức đưa vào văn kiện Đại hội VII của Đảng, nhưng tại Đại hội này Đảng ta mới chỉ xác định yêucầu phải xây dựng nhà nước pháp quyền và mới chỉ định hình được rằng, đó là nhà nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng bộ để quản lý mọi mặt đời sống xãhội Thì đến Đại hội VIII, Đảng ta lại xác định thêm tính “XHCN” cho nhà nước pháp quyền, tức là chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Từ Đại hội IX đến Đạihội X, Đảng ta tiếp tục chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và xác định bản chất của nhà nước, đó là của dân, do dân và vì dân

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định đặc trưng thứ bảy trong tám đặc trưng chủ yếu của xã hội XHCN mà chúng ta xây dựng là “xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”

- Một số khái niệm:

Nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị đặc biệt của quốc gia, một bộ máy làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiên chức năng quản lý nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp

thống trị đồng thời thiết lập, cũng cố, duy trì trật tự và ổn định xã hội

Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà tư tưởng trong lịch sử nhân loại là Nhà nước bảo đảm tính tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội, trong đó pháp

luật phải phản ánh ý chí chung, lợi ích chung của nhân dân; thực hiện và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân; trịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động củamình và yêu cầu công dân thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước thích hợp bảo đảm chủ quyền thuộc về nhân dân, tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền lập pháp, hành pháp,

tư pháp; ngặn chặn được sự tùy tiện, lạm quyền từ phía Nhà nước, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, kể cả vi phạm pháp luật của các cơ quan và công chức nhànước

Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước XHCN thực sực của dân, do dân, vì dân; tất cả các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp,

quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời, chịu trách nhiệm trước nhân dân

và sự giám sát của nhân dân

Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước gắn với một giai cấp (nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản, nhà nước XHCN) mà làhình thức tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm tổ chức hoạt động của nhà nước tuân thủ theo quy định của pháp luật, thực hiện được quản lý xã hội theo pháp luật, bảo đảmchủ quyền và quyền tự do, dân chủ của nhân dân

(Nguồn gốc) Vấn đề nhà nước là một trong những vấn đề phức tạp nhất và bị các nhà tư tưởng của giai cấp bóc lột xuyên tạc nhiều nhất Các nhà tư tưởng của giai cấp bóc

lột thống trị luôn tuyên truyền những tư tưởng xuyên tạc bản chất của nhà nước nhằm biện hộ cho sự thống trị chính trị của mình Trong thời kỳ cổ đại và trung cổ, họ tuyêntruyền những quan điểm mang tính chất thần bí, thần thánh, “siêu tự nhiên” của nhà nước Còn trong thời kỳ hiện đại, giai cấp tư sản lại ra sức tuyên truyền cho tính chất “siêugiai cấp” của nhà nước tư sản

Lý luận khoa học về nhà nước, về nguồn gốc và bán chất của nhà nước, chỉ có thể có được trên cơ sở những quan điểm biện chứng duy vật về sự phát triển xã hội Theoquan điếm mácxít, xã hội không phải, khi nào cùng có nhà nước Nhà nước ra đời và tồn tại khi trong xã hội xuất hiện những mâu thuẫn giai cấp phát triển đến mức không điềuhòa được Xã hội cộng sản nguyên thủy không có giai cấp, nhà nước cũng chưa xuất hiện Đứng đầu các thị tộc, bộ lạc - những tổ chức xã hội thời kỳ này - là những tộc trưởng,hội đồng các tộc trưởng Đó là những cơ quan quản lý xã hội còn rất đơn giản và mang tính tự quản

Khi xã hội phân chia thành giai cấp, mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện Khẳng định điều đó, V.I.Lênin viết: “Nhà nước

là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”.

(Bản chất) Nhà nước xuất hiện và tồn tại không phải do ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một giai cấp nào Trái lại, sự xuất hiện nhà nước là một tất yếu khách quan

để “khống chế những đối kháng giai cấp”, để làm “dịu” xung đột giai cấp, làm cho xung đột giai cấp diễn ra trong vòng “trật tự”; trật tự ấy hoàn toàn cần thiết để duy trì chế độkinh tế, trong đó giai cấp này bóc lột giai cấp khác Nhà nước, “đó là sự kiến lập một “trật tự”, trật tự này hợp pháp hóa và củng cố sự áp bức kia bằng cách làm dịu xung độtgiai cấp”.

Đương nhiên, trên cơ sở tất yếu nói trên, giai cấp lập ra và sử dụng nhà nước phải là giai cấp mạnh nhất, giai cấp giữ địa vị thống trị về mặt kinh tế Nhờ có nhà nước, giaicấp này trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị Nhà nước, do đó về bản chất là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về mặt kinh tế

Nhà nước là công cụ thống trị chính trị giai cấp, nhưng trong thực tế, nó lại tồn tại như một công quyền, một quyền lực công cộng Vì vậy, nhà nước không chỉ mang tínhgiai cấp, mà còn mang tính xã hội; không chỉ có chức năng thống trị giai cấp mà còn có những chức năng xã hội Hơn nữa, chức năng xã hội còn là cơ sở cho sự thống trị chínhtrị

Vì vậy, sẽ là mơ hồ nếu không thấy được tính chính trị, tính giai cấp của các chủ trương, chính sách và sự tác động can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế, vănhóa, giáo dục, v.v Nhưng ngược lại, nếu quy các chức năng đa dạng của nhà nước về chức năng giai cấp, hoặc tuyệt đối hóa tính giai cấp, mà không thấy được tính xã hội, vaitrò tích cực sáng tạo của chức năng xã hội của nhà nước trong sự phát triển đất nước thì sẽ là cực đoan, phiến diện

Khi nhà nước nằm trong tay giai cấp đại biểu cho toàn thể xã hội trong thời đại của mình, nghĩa là trong tay giai cấp đang đóng vai trò tiến bộ và cách mạng, thì tính tích cực của chức năng xã hội của nó biểu hiện càng rõ rệt

(Các kiểu NN trong lịch sử) Trong lịch sử xã hội có đối kháng giai cấp đã xuất hiện ba kiểu nhà nước: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư bản Mỗi kiểu

nhà nước lại có thể tồn tại dưới những hình thức khác nhau Nhà nước chủ nô có nhà nước chủ nô dân chủ, có nhà nước chủ nô quý tộc; nhà nước phong kiến có nhà nướcphong kiến quân chủ phân quyền, có nhà nước quân chủ tập quyền Dưới chủ nghĩa tư bản hình thức nhà nước phổ biến là chế độ cộng hòa dân chủ tư sản Chế độ cộng hòa dânchủ tư sản - như V.I.Lênin đã chỉ ra: “Xét về phương diện phát triển của xã hội trên toàn thế giới, đều là một bước tiến rất lớn” Song, nếu từ đó mà cho rằng, nhà nước dân chủ

tư sản hiện nay không còn là nhà nước giai cấp nữa thì lại là một sai lầm Khẳng định về vấn đề này, Ph.Ăngghen viết: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấpnày dùng để trấn áp một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ”

Như vậy, nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng dù tồn tại dưới hình thức nào - độc tài hay dân chủ, quân chủ hay cộng hòa - thì về bản chất nhà nước vẫn là quyền lực chính trị của một giai cấp

(Tính tất yếu của NN vô sản) Học thuyết Mác-Lênin về nhà nước bác bỏ luận điểm của phái vô chính phủ cho rằng, sau khi lật đổ nhà nước tư sản thì xã hội không cần

phải có nhà nước nữa, vì nhà nước nào cũng là nguyên nhân gây ra tai họa Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng bác bỏ quan điểm cơ hội, hữu khuynh khi cho rằng, sau khi lật đổ nhànước tư sản, sẽ thực hiện một nhà nước dân chủ phi giai cấp Khẳng định tính tất yếu của nhà nước vô sản, C.Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ

5

Trang 6

nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì

khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.

Sau khi cách mạng thành công, giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn còn cần có nhà nước của mình vì ba lý do sau:

Thứ nhất, xã hội còn phân chia giai cấp, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn còn tiếp tục, vẫn còn các lực lượng mưu toan phục hồi chế độ cũ, vẫn còn âm mưu xâm lược của các

thế lực đế quốc Giai cấp công nhân, nhân dân lao động cần có nhà nước của mình để trấn áp lực lượng phản cách mạng, trấn áp bọn phá hoại trật tự xã hội mới và bảo vệ tổ quốc XHCN

Thứ hai, xã hội trong thời kỳ quá độ vừa thoát thai từ xã hội cũ, còn mang rất nhiều dấu vết của xã hội cũ Để quản lý một xã hội như vậy, vẫn cần có sự cưỡng chế, cần

pháp luật, kỷ cương, nghĩa là cần có nhà nước, công cụ làm chủ của nhân dân

Thứ ha, xây dựng CNXH là sự nghiệp vĩ đại, khó khăn, phức tạp, nó đòi hỏi phải có một nhà nước do những người lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản lập ra để

tổ chức quản lý công việc xây dựng xã hội mới Nhà nước kiểu mới đó chính là nhà nước vô sản

(Đặc điểm của NN vô sản) Là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử, nhà nước vô sản có những đặc trưng cơ bản của nhà nước nói chung - công cụ trấn áp của một giai

cấp với một giai cấp khác Song, “chuyên chính” không phải là đặc trưng duy nhất của kiểu nhà nước này Nhà nước vô sản có các đặc trưng khác với các nhà nước của giai cấpbóc lột, đó là:

Một là, lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một nhà nước của dân, do dân và vì dân Nó không còn là nhà nước của thiểu số thống trị đa số như trước đây, mà là nhà nước

của đa số thống trị thiểu số những kẻ chống lại lợi ích của nhân dân lao động Cơ sở xã hội và nòng cốt của nhà nước vô sản là liên minh công nhân, nông dân, trí thức, tức làliên minh giữa các giai cấp, tầng lớp lao động, trong đó giai cấp công nhân đóng vai trò lãnh đạo thông qua đội tiên phong chính trị của mình Trong nhà nước vô sản, mọiquyền lực đều thuộc về nhân dân Nhân dân lao động không những làm chủ về chính trị mà còn làm chủ về kinh tế, văn hóa, xã hội Đó là bản chất của nền dân chủ XHCN.Tính chất của dân, do dân, vì dân thể hiện thông qua nguyên tắc tổ chức, cơ chế hoạt động và pháp luật nhà nước

Hai là, lần đầu tiên trong lịch sử, đã ra đời một nhà nước mà chức năng chủ yếu nhất của nó không phải là bạo lực trấn áp mà là tổ chức xã hội V.I.Lênin chỉ rõ rằng:

“Chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực”, mà chủ yếu là thực hiện được kiểu tổ chức lao động xã hội caohơn so với chủ nghĩa tư bản

Tóm lại, với hai đặc điểm trên, nhà nước vô sản không còn là nhà nước theo nguyên nghĩa mà là nhà nước “nửa nhà nước”

(Xây dựng NN pháp quyền ở VN hiện nay hoặc liên hệ) Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Nhà nước phục vụnhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sựphân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương” Đó là nhà nước thuộc phạm trù nhà nước vô sản, nhà nước XHCN

Việc xây dựng nhà nước XHCN trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam là một tất yếu khách quan Tính tất yếu đó không chỉ bắt nguồn từ đặc điểm của thời đại ngày nay, thời

đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH, mà còn xuất phát từ thực tế và đòi hỏi của cách mạng Việt Nam, “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” .

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, xây dựng nhà nước XHCN là một quá trình, hơn nữa đối với nước ta, đó là một quá trình lâu dài Nước ta quá độ lên CNXH không phải từmột nước tư bản phát triển, mà từ một xã hội tiền tư bản, bỏ qua chế độ tư bản; xây dựng chế độ dân chủ XHCN không phải từ chế độ dân chủ tư sản, mà từ chế độ dân chủnhân dân, hơn nữa từ một chế độ dân chủ nhân dân chủ yếu thích ứng với nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc và phục tùng nhiệm vụ giải phóng dân tộc Với xuất phát thấpnhư vậy, chúng ta không có khả năng tạo lập ngay được cơ sở kinh tế - xã hội đầy đủ cho CNXH, cho nhà nước XHCN Chính vì vậy, xây dựng nhà nước XHCN ở nước ta làmột quá trình lâu dài, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng XHCN

Trong điều kiện nước ta hiện nay, áp đặt một chế độ dân chủ XHCN đầy đủ là không phù hợp Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hiện nay chúng ta chưa nên “pháthuy dân chủ đến cùng” “Phát huy dân chủ đến cùng” không phải là sự áp đặt một hình thức dân chủ cao trong điều kiện kinh tế và dân trí còn thấp kém, mà là “tìm kiếm”, “thửnghiệm” và xây dựng những thiết chế, cơ chế nhà nước phù hợp với điều kiện hiện nay, nhằm thực hiện một cách hữu hiệu quyền dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân.Trong đổi mới, Đảng ta chủ trương dân chủ hóa xã hội, dân chủ hóa tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước Chủ trương đó không chỉ phản ánh đòi hỏi tất yếukhách quan của quá trình xây dựng nhà nước XHCN từ một đất nước chưa trải qua chế độ dân chủ tư sản, mà còn bắt nguồn từ yêu cầu phải khắc phục tình trạng thiếu dân chủ

và dân chủ còn mang nặng tính hình thức trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta Một trong những lý do chủ yếu của tình trạng đó là do Nhà nước chưa thực sự tồn tạidưới hình thức chế độ dân chủ Do ảnh hưởng của chiến tranh và những nguyên nhân khác, thực chất Nhà nước ta còn mang nặng tính chất là một hệ thống quan liêu, mệnh lệnhhành chính Vì vậy, dân chủ hóa tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước ở nước ta phải gắn liền với quá trình đổi mới căn bản tổ chức và hoạt động của Nhà nước Chủtrương từng bước xây dựng Nhà nước theo mô hình nhà nước pháp quyền XHCN, đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới và xây dựng nhà nước XHCN ở Việt Nam

Có thể nói trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta trước đây chưa sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền, nhưng xét theo các đặc trưng, những giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền thì đã được nhận thức và diễn đạt khá rõ nét trong các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 Đó chính là kết quả của việc vận dụng tư tưởng về nhà nước kiểu mới của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh

Bước vào đổi mới, nhận thức của Đảng ta về nhà nước pháp quyền ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng, cụ thể hơn và quyết tâm xây dựng nhà nước XHCN dưới hình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, trong chủ trương đổi mới nhà nước, đã manh nha một số nội dung về nhà nước pháp quyền Đó là sự khẳng định “quản lý nhà

nước bằng pháp luật, chứ không phải chỉ bằng đạo lý” “Phải quan tâm xây dựng pháp luật Từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà

nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật” Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, trong quan điểm đổi mới nhà nước được bổ sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt

Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó” Như vậy, qua hai nhiệm kỳ Đại hội của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi

mới nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng có những bước tiến quan trọng Tuy nhiên, chỉ đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta mới được chính thức khẳng định Thuật ngữ nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được chính thức sử dụng trong văn kiện quan trọng của Đảng

Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế đối với nước ta là điều mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm,vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm Vì vậy, cần thận trọng trong QĐ, cũng như tiến hành thực hiện Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng coi xây dựng nhànước pháp quyền như một trong năm quan điểm cần quán triệt trong việc tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ĐếnĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, qua tổng kết những thành tựu trong nghiên cứu lý luận, cũng như thực tiễn từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta, Đảng tacoi xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng là một nhiệm vụ có tính chiến lược và xuyên suốt, trong “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhànước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế” Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khắng

định: ‘Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ” tập trung vào ba nội dung lớn: một là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó nhấn mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đổi mới tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương; hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; ba là, tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng,

chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm

- Nhà nước bao giờ cũng được xây dựng trên những cơ sở lịch sử, kinh tế, văn hóa, truyền thống của một xã hội nhất định Nhà nước pháp quyền XHCN có nguồn gốc sâu

xa từ các quan điểm trong lịch sử về nhà nước pháp quyền, đồng thời xuất phát từ bản chất của chế độ, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể Vì vậy, xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam phải trên cơ sở kế thừa có phê phán và phát triển sáng tạo trong điều kiện mới

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đặt ra nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu thiết kế phù hợp với đặc điểm, truyền thống dân tộc và trình

độ phát triển của xã hội Đặc biệt, phải gắn với việc bảo tồn, phát huy các giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp truyền thống - hiện đại trong quản lý bao hàm cả xây dựng

và cải tạo, gạn lọc kế thừa và phát huy trên tinh thần đổi mới; khắc phục những lực cản về tư tưởng, tâm lý, tập quán thói quen của quá khứ đối với sự phát triển, phù hợp yêucầu của đất nước và thời đại để tạo nên sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn trong quản lý xã hội, góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Liên hệ cá nhân, trách nhiệm bản thân sau khi học trung cấp chính trị về vấn đề trên (Mỗi học viên tự trình bày theo đơn vị, bản thân của mình)

Qua phần học tập nghiên cứu về lịch sử nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của Nhà nước, và các vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta tại lớp trung cấpchính trị, đã cho tôi nâng cao thêm tầm hiểu biết về một nhà nước pháp quyền XHCN Việc hiểu biết những kiến thức trên đã cho tôi một suy nghĩ khác, bản thân phải tự họctập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để trở thành một người năng lực, phẩm chất; đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những tiêu cựckhác đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mang đậm nét dân tộc và nhân đạo

Đặc trưng và yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Liên hệ thực tiễn.

- Xây dựng nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó

Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng ta chính thức đưa vào văn kiện Đại hội VII của Đảng, nhưng tại Đại hội này Đảng ta mới chỉ xác định yêucầu phải xây dựng nhà nước pháp quyền và mới chỉ định hình được rằng, đó là nhà nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng bộ để quản lý mọi mặt đời sống xã

6

Trang 7

hội Thì đến Đại hội VIII, Đảng ta lại xác định thêm tính “XHCN” cho nhà nước pháp quyền, tức là chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Từ Đại hội IX đến Đạihội X, Đảng ta tiếp tục chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và xác định bản chất của nhà nước, đó là của dân, do dân và vì dân.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định đặc trưng thứ bảy trong tám đặc trưng chủ yếu của xã hội XHCN mà chúng ta xây dựng là “xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”

- Để thấy được những đặc trưng và yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và tìm ra phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, ta tìmhiểu khái niệm thế nào là nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền XHCN

Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà tư tưởng trong lịch sử nhân loại là Nhà nước bảo đảm tính tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội, trong đó pháp

luật phải phản ánh ý chí chung, lợi ích chung của nhân dân; thực hiện và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân; trịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động củamình và yêu cầu công dân thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước thích hợp bảo đảm chủ quyền thuộc về nhân dân, tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền lập pháp, hành pháp,

tư pháp; ngặn chặn được sự tùy tiện, lạm quyền từ phía Nhà nước, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, kể cả vi phạm pháp luật của các cơ quan và công chức nhànước

Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước gắn với một giai cấp (nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản, nhà nước XHCN) mà làhình thức tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm tổ chức hoạt động của nhà nước tuân thủ theo quy định của pháp luật, thực hiện được quản lý xã hội theo pháp luật, bảo đảmchủ quyền và quyền tự do, dân chủ của nhân dân

Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước XHCN thực sực của dân, do dân, vì dân; tất cả các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp,

quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời, chịu trách nhiệm trước nhân dân

và sự giám sát của nhân dân

Đặc trưng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trong những năm đổi mới vừa qua Đảng ta đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Từ nhận thức lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN có thể khái quát Nhà nước pháp quyền XHCN có những đặc trưng sau đây:

Một là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Hai là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội

Ba là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người; bảo đảm trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ cương, kỷ luật

Bốn là, Trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước

Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự giám sát và phản biện

xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Đó là Nhà nước thực hiện đường lối hòa bình, hữu nghị với nhân dân các dân tộc và các nhà nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi; đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước, hiệp ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn

Yêu cầu Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay phải đáp ứng các yêu cầu dưới đây:

Một là, Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, bảo đảm thực hiện ngày càng đầy đủ nền dân chủ XHCN Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Nhà nước phải đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm quyền làm chủ, quyền con người của nhân dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân

Hai là, Nhà nước có đủ năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội có hiệu quả, phát huy được mọi tiềm năng của dân tộc; đồng thời, tiếp thu hợp lý những thành tựu khoa học

- kỹ thuật, công nghệ mới của thế giới và những tinh hoa văn hóa của nhân loại

Ba là, Nhà nước có bộ máy gọn nhẹ, được tổ chức chính quy, có quy chế làm việc khoa học, bảo đảm kiểm tra, giám sát và điều hành được hoạt động của xã hội, cũng như hoạt động của bản thân bộ máy nhà nước

Bốn là, Nhà nước hoạt động trên cơ sở pháp luật, thực hiện quản lý xã hội theo pháp luật, giữ vững kỷ cương nhà nước và trật tự xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo

Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân phải trở thành định hướng, yêu cầu bao trùm toàn bộ tổ chức hoạt động của nhà nước, đồng thời là tráchnhiệm, của Đảng, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận và mọi công dân

Các yêu cầu nêu trên của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải được quán triệt trong quá trình đổi mới tổ chức hoạt động của Quốc hội, HĐND các cấp, trong cải cáchnền hành chính nhà nước, cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cũng như trong đổi mới cơ chế vận hành của Nhà nước

Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Thứ 1: Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân

Phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân là phương hướng và là mục tiêu bao trùm của nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam

Đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nhà nước ta Đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân còn là tiêu chí đánh giá tính chất nhà nước củadân, do dân, vì dân

Trong xây dựng Nhà nước: dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, Nhân dân tham gia bầu cử các đại biểu của mình vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp

Hai là, Nhân dân tham gia công việc quản lý nhà nước ở địa phương và cơ sở

Ba là, Nhân dân tham gia xây dựng, đánh giá các chủ trương, chính sách của Nhà nước Trung ương và chính quyền các cấp ở địa phương, góp ý kiến điều chỉnh, bổ sung,sửa chữa các chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tiễn

Bốn là, Nhân dân có quyền giám sát và chất vấn về hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước, các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân

Năm là, Nhân dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, phát hiện và đề nghị thanh tra, xử lý các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, các vụ việc vi phạm chính sách,luật pháp, đạo đức của cán bộ, công chức nhà nước

Sáu là, Nhân dân có quyền đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước và cán bộ, công chức có thẩm quyền phải công khai mọi hoạt động của mình, cung cấp thông tin kịp thờitheo quy định để dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra

Trong quản lý xã hội: việc phát huy dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện ở những nội dung và phương thức chủ yếu sau đây:

Một là, Tham gia quản lý xã hội bằng phương thức tự nguyện “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, huy động các nguồn lực nhằm giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội.Chẳng hạn: Huy động nhân, tài, vật lực để xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở (điện, đường, trường, trạm, chợ, nước sạch, các công trình vệ sinh, xử lý nước thải chăn nuôi,làng nghề…)

Hai là, Thông qua các tổ chức phi nhà nước, tham gia quản lý xã hội của các tổ chức xã hội, các hội đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội (các hội nghề nghiệp, các tôngiáo, Mặt trận và các tổ chức thành viên)

Ba là, kết hợp các tổ chức, các phong trào, các nguồn lực để phát triển KT-XH (Về kinh tế: giúp nhau làm kinh tế, hủ gạo tiết kiệm, heo đất, tiền bỏ ống, họ hụi, nuôi rẽ; Về

XH, tổ chức các thư viện gia đình, huy động các nguồn lực xây dựng nhà văn hoá thôn, xây dựng quỹ khuyến học, khuyến tài của dòng họ, của thôn, của xã …)

Thứ 2: Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật.

Phấn đấu hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính dân chủ, pháp chế, khoa học Đồng thời đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế mànhà nước đã tham gia ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập Trong đều kiện Đảng cầm quyền , phải bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xây dựng và tổ chứcthực hiện pháp luật

Phấn đấu đến năm 2020 xây dựng được hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng Công tác xây dựng phápluật đã được cụ thể hoá trong từng khoá, từng năm và từng kỳ họp Quốc hội

Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật phải được đẩy mạnh Các hoạt động tư vấn pháp lý, hoạt động luật sư,công chứng, giám định…nhằm đáp ứng yêu cầu của một nhà nước pháp quyền

Thứ 3: Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội

Xây dựng Quốc hội đảm bảo thực hiện được vai trò, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do Hiến pháp và luật quy định

Theo đó cần thực hiện các giải pháp sau đây:

7

Trang 8

Một là, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện các chức năng của Quốc hội.

Hai là, phát huy vai trò, trách nhiệm, nâng cao năng lực, bản lĩnh và nghiệp vụ hoạt động đại biểu của đại biểu QH

Ba là, tiếp tục kiện toàn các cơ quan của Quốc hội

Bốn là, tăng cường mối quan hệ giữa Quốc hội với nhân dân

Năm là, bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Quốc hội

Thứ 4: Đẩy mạnh cải cách hành chính.

Nền hành chính nhà nước chính là hoạt động thực hiện chức năng hành pháp, bao gồm hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước từ TW đến địa phương

Nền hành chính nhà nước là nơi cụ thể hoá chủ trương đường lối, chính sách , pháp luật của Đảng và Nhà nước

Hoạt động hành chính là bộ mặt của một nhà nước, của một địa phương Kết quả quản lý nhà nước gồm nhiều cơ quan nhưng hiệu quả cụ thể là thông qua hoạt động của cơquan hành chính, là cầu nối của Đảng, Nhà nước và nhân dân

Nền hành chính nhà nước đảm bảo hoạt động của nhà nước được thực hiện theo chương trình, kế hoạch đã dự kiến; xử lý các tình huống trong quản lý nhà nước nhằm đảmbảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội

Nội dung của cải cách hành chính:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế của nền hành chính

Hai là, cải cách thủ tục hành chính

Ba là, cải cách tổ chức bộ máy nhà nước hành chính

Bốn là, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Năm là, cải cách tài chính công

Sáu là, hiện đại hóa hành chính

Thứ 5, Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp

Hoạt động tư pháp chủ yếu là hai cơ quan: Toà án và Viện kiểm sát Trong truy tố và xét xử phải đảm bảo khách quan, vô tư, đúng người đúng tội, không để lọt tội phạm,không làm oan người vô tội

Cần thực hiện đồng bộ các phương hướng, giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động tư pháp

Hai là, đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp

Ba là, chấn chỉnh các tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp

Bốn là, đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đáp ứng về số lượng và chất lượng theo yếu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN

Thứ 6, Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Cần phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:

Một là, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công việc mà mình đảm nhiệm

Hai là, tận tâm, mẫn cán với công việc, thể hiện trách nhiệm và đạo đức công vụ trong khi thực hiện công việc được giao Có tinh thần hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp

Ba là, thực hiện đúng các quy định của pháp luật với ý thức tự giác và kỷ luật nghiêm minh, không làm điều gì trái với lương tâm và trách nhiệm công vụ

Bốn là, kính trọng, lễ phép với nhân dân; tôn trọng quyền con người, quyền công dân; gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân và khiêm tốn học hỏi nhân dân.Năm là, gương mẫu trong việc chấp hành đường lối chính sách, pháp luật; tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách, phong cách làm việc

Để có được đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, phải thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ sau đây:

Một là, xây dựng và thực hiện tốt chiến lược và quy hoạch cán bộ

Hai là, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Ba là, đổi mới cơ chế đánh giá, tuyển dụng cán bộ, công chức

Bốn là, đổi mới chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức đảm bảo thu nhập, đãi ngộ …

Năm là, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra giám sát cán bộ, công chức

Phải kết hợp chặt chẽ các khâu: quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, sắp xếp, điều động…cán bộ và người làm công tác cán bộ phải khách quan, vô tư.Thứ 7, Đẩy mạnh công tác đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước

Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:

Một là, đánh giá đúng thực trạng tình hình và kết quả đấu tranh với các căn bệnh nêu trên

Hai là, nhận thức đúng tầm quan trọng của cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước

Ba là, xác định đúng đắn quan điểm và thái độ trong đấu tranh chống quan liêu tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác

Bốn là, triển khai đồng bộ các giải pháp thích hợp trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước

Thứ 8, Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền thể hiện ở các nội dung:

Một là, đường lối, chính sách của Đảng là định hướng chính trị và nội dung hoạt đông của Nhà nước

Hai là, Đảng xác định những quan điểm, phương hướng, nội dung cơ bản

Ba là, Đảng lãnh đạo hoạt động bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp bảo đảm thật sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Bốn là, Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát

Năm là, Đảng lãnh đạo hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

Sáu là, Đảng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức

Phương thức lãnh đạo của Đảng là: Công tác tư tưởng, tổ chức và kiểm tra, thể hiện hai nhóm GP sau đây:

Thứ nhất, nhóm giải pháp chỉnh đốn:

Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính tư tưởng chính trị

Đổi mới các khâu trong công tác cán bộ (quy hoạch, đào tạo, đánh giá, sử dụng…)

Đẩy mạnh công tác xây dựng chính quyền, đoàn thể

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn

Thứ hai, nhóm giải pháp đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo:

Xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp làm việc giữa Đảng với Nhà nước

Tăng cường công tác kiểm tra, bảo vệ nội bộ của Đảng

Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác cán bộ trong bộ máy nhà nước

Liên hệ thực tiễn

Từ năm 1919, tại điều 7 trong 8 Yêu sách của nhân dân An Nam, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật” Tuy nhiên, cụm từ

“Nhà nước pháp quyền XHCN” lần đầu tiên được sử dụng tại Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (11- 1991) Những nội dung đặc trưng của NNPQXHCN Việt Nam từng bước

được làm rõ và khẳng định Những đặc trưng cơ bản của NNPQXHCN Việt Nam được xác định ở những nội dung chủ yếu sau: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân trong đó nền tảng là khối đại đoàn kết toàn dân tộc với nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức; Nhà nước hợp hiến, quản lý và điềuhành xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức và tăng cường pháp chế XHCN; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợpgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; Nhà nước

do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Trong quá trình nhận thức ngày càng rõ hơn vị trí, vai trò của pháp luật, Đảng ta đã sử dụng khái niệm “nhà nước pháp quyền” và từng bước xác định rõ ràng, cụ thể nhữngyêu cầu, đặc trưng phù hợp với các đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của nước ta, nhất là những đặc điểm đó được đặt trong bối cảnh của thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ chỗ sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau như: “Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam”; “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”; “Nhà nướcpháp quyền Việt Nam”; “Nhà nước pháp quyền XHCN”; “Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” đến nay, trong các văn kiện chính thức của Đảng đã thống nhất sửdụng khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”

Quá trình hình thành quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về NNPQXHCN cũng chính là quá trình nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, học thuyếtMác - Lênin về nhà nước nói riêng cho phù hợp với đặc điểm cụ thể và định hướng phát triển của xã hội Việt Nam Có thể khẳng định, những quan điểm cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin về nhà nước được Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng ngày càng nhuần nhuyễn, sáng tạo và hiệu quả trong quá trình xây dựng và hoàn thiệnNNPQXHCN ở Việt Nam

Trong những năm qua, thực hiện đường lối của Ðảng, việc xây dựng NNPQXHCN đã được đẩy mạnh, đạt được kết quả tích cực, tổ chức bộ máy Nhà nước ngày càng đượchoàn thiện hơn, phương thức hoạt động của Nhà nước được đổi mới; Nhà nước quản lý chủ yếu bằng luật pháp, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách và các

8

Trang 9

nguồn lực của Nhà nước, giảm bớt các mệnh lệnh hành chính can thiệp vào các lĩnh vực kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốthơn yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Công tác xây dựng pháp luật được tăng cường, hoạt động của Quốc hội trong lĩnh vực giám sát tình hình và kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhànước được đẩy mạnh, chất lượng được nâng cao hơn Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Chính phủ từng bước được sắp xếp, điều chỉnh theo hướng tinh gọn; các bộ quản lý đa ngành,

đa lĩnh vực được thành lập với những chức năng, nhiệm vụ được điều chỉnh, đổi mới, tập trung vào lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý vĩ mô, giải quyết những vấn đề lớn, quantrọng, tách khỏi quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Cải cách hành chính được chú trọng, nhất là ở những lĩnh vực có quan hệ tới đời sống của nhân dân

và hoạt động của doanh nghiệp, bước đầu đạt được một số kết quả Cải cách tư pháp được đẩy mạnh Tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp được đổi mới Tổ chức bộmáy chính quyền địa phương các cấp được củng cố, kiện toàn, chất lượng, hiệu quả hoạt động từng bước được nâng lên Việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức được quan tâm

Tuy nhiên, công tác xây dựng NNPQXHCN còn chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý đất nước Năng lực xây dựng thể chế còn hạn chế, hệ thống luậtpháp, cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, thống nhất Công tác điều hành, tổ chức thực thi pháp luật có những mặt còn yếu Tổ chức bộ máy ở một số cơ quan nhà nước còn chưahợp lý, chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới củađất nước Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra, còn nhiều thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnhvực còn yếu Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác, tình trạng án tồn đọng, án bị hủycòn nhiều Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi Sựnghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước ta trong thời kỳ mới đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nhiệm vụ xây dựngNNPQXHCN

- Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là tất yếu khách quan đối với Việt Nam Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng, đây là sự nghiệp dài lâu của toàn Đảng, toàndân, bởi vì trong việc này còn ngổn ngang nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải giải quyết cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn Những vấn đề đó không phải dễ gì một sớmmột chiều mà giải quyết được Để đạt tới một nhà nước pháp quyền XHCN theo đúng nghĩa của nó cần có sự nỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước, sự đầu tư về trí tuệ, sứcngười, sức của, của toàn xã hội

Liên hệ cá nhân, trách nhiệm bản thân sau khi học trung cấp chính trị về vấn đề trên (Mỗi học viên tự trình bày theo đơn vị, bản thân của mình)

Qua phần học tập nghiên cứu về đặc trưng, yêu cầu và phương hướng để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta tại lớp trung cấp chính trị, đã cho tôi nâng caothêm tầm hiểu biết về một nhà nước pháp quyền XHCN Việc hiểu biết những kiến thức trên đã cho tôi một suy nghĩ khác, bản thân phải tự học tập và làm theo tấm gương đạođức Hồ Chí Minh để trở thành một người năng lực, phẩm chất; đồng thời, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những tiêu cực khác đáp ứng yêu cầu xây dựngnhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mang đậm nét dân tộc và nhân đạo

Phân tích phương hướng phát huy dân chủ bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Liên hệ thực tiễn.

- Xây dựng nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó

Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng ta chính thức đưa vào văn kiện Đại hội VII của Đảng, nhưng tại Đại hội này Đảng ta mới chỉ xác định yêu cầu phải xây dựng nhà nước pháp quyền và mới chỉ định hình được rằng, đó là nhà nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng bộ để quản lý mọi mặt đời sống xã hội Thì đến Đại hội VIII, Đảng ta lại xác định thêm tính “XHCN” cho nhà nước pháp quyền, tức là chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Từ Đại hội IX đến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và xác định bản chất của nhà nước, đó là của dân, do dân và vì dân

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định đặc trưng thứ bảy trong tám đặc trưng chủ yếu của xã hội XHCN mà chúng ta xây dựng là “xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”

- Để tìm ra phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, ta tìm hiểu khái niệm thế nào là nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền XHCN

Nhà nước pháp quyền theo quan điểm của các nhà tư tưởng trong lịch sử nhân loại là Nhà nước bảo đảm tính tối thượng của pháp luật trong đời sống xã hội, trong đó pháp

luật phải phản ánh ý chí chung, lợi ích chung của nhân dân; thực hiện và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân; trịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động của mình và yêu cầu công dân thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước thích hợp bảo đảm chủ quyền thuộc về nhân dân, tổ chức thực hiện có hiệu quả quyền lập pháp, hành pháp,

tư pháp; ngặn chặn được sự tùy tiện, lạm quyền từ phía Nhà nước, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, kể cả vi phạm pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước

Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước gắn với một giai cấp (nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản, nhà nước XHCN) mà là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước, bảo đảm tổ chức hoạt động của nhà nước tuân thủ theo quy định của pháp luật, thực hiện được quản lý xã hội theo pháp luật, bảo đảm chủ quyền và quyền tự do, dân chủ của nhân dân

Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước XHCN thực sực của dân, do dân, vì dân; tất cả các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp,

quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời, chịu trách nhiệm trước nhân dân

và sự giám sát của nhân dân

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là một sự nghiệp lâu dài của toàn Đảng, toàn dân Để đạt tới một nhà nước pháp quyền XHCN, Đảng đãđưa ra một số phương hướng sau đây:

Một là, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

Ba là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội

Bốn là, đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp

Sáu là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.Bảy là, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước

Tám là, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Qua 8 phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nêu trên, ta đi sâu vào phân tích phương hướng “phát huy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân.”

Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, là mục tiêu và động lực của sự phát triển đất nước Vì vậy, trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng phát huy dân chủ trong mọi tổ chức, hoạt động; đặc biệt là quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân.

Xây dựng Nhà nước, thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là phương hướng, đồng thời là mục tiêu bao trùm trong hoạt động xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta hiện nay

Thực hiện dân chủ, tôn trọng và bảo đảm trên thực tế quyền dân chủ và làm chủ của nhân dân là vấn đề có ý nghĩa sống còn không chỉ đối với Nhà nước mà chúng ta đangxây dựng để trở thành Nhà nước pháp quyền, đối với tăng cường uy tín và mở rộng ảnh hưởng của Đảng Cộng sản cầm quyền trong xã hội mà còn là nhân tố QĐ thành côngcủa sự nghiệp đổi mới, cách mạng XHCN và xây dựng CNXH ở Việt Nam Mặt khác, phát huy dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân còn thể hiện bản chất ưu việtcủa chế độ ta, là thước đo, là tiêu chí đánh giá tính chất của dân, do dân, vì dân trong tổ chức hoạt động của Nhà nước ta trên thực tế

Trong xây dựng Nhà nước: dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân ta được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, Nhân dân tham gia bầu cử các đại biểu của mình vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp

Hai là, Nhân dân tham gia các công việc quản lý nhà nước ở địa phương và cơ sở

Ba là, Nhân dân tham gia xây dựng, đánh giá chủ trương, chính sách của Nhà nước Trung ương và chính quyền các cấp ở địa phương, góp ý kiến điều chỉnh, bổ sung, sửachữa các chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực tiễn

Bốn là, Nhân dân có quyền giám sát và chất vấn về hoạt động của các cơ quan, tổ chức nhà nước, các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân

Năm là, Nhân dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, phát hiện và đề nghị thanh tra, xử lý các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, các vụ việc vi phạm chính sách,luật pháp, đạo đức của cán bộ, công chức nhà nước

Sáu là, Nhân dân có quyền đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước và cán bộ, công chức có thẩm quyền phải công khai mọi hoạt động của mình, cung cấp thông tin kịp thờitheo quy định để dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra

Trong lĩnh vực xây dựng Nhà nước, quyền dân chủ và làm chủ của nhân dân được thực hiện bằng phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Ở cơ sở, dân chủ vàquyền làm chủ của dân còn phải được thực hiện bằng các hoạt động tự quản trong cộng đồng với những thỏa thuận tự nguyện không trái với pháp luật hiện hành và được toànthể cộng đồng thông qua

Trong quản lý xã hội: Việc phát huy dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện ở những nội dung và phương thức chủ yếu sau đây:

Một là, Nhân dân tham gia quản lý xã hội bằng phương thức tự nguyện, dựa vào những thể chế đã được ban hành, kết hợp với Nhà nước đồng thời Nhà nước dựa vào dân

để cùng nhau huy động và phối hợp các nguồn lực nhằm giải quyêt các vấn đề trong đời sống xã hội, gắn với lợi ích, nhu cầu của nhân dân, nhất là ở cơ sở Đây là cơ chế “Nhànước và nhân dân cùng làm” đã thể hiện sinh động và có hiệu quả trong thực tiễn cuộc sống

9

Trang 10

Hai là, Nhân dân tham gia quản lý xã hội thông qua các tổ chức, thiết chế phi nhà nước Đó là các đoàn thể, các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị và các tổchức khác mang tính xã hội, tự nguyện, tự quản, tự QĐ với những hình thức hoạt động đa dạng, linh hoạt, hỗ trợ cho các công việc quản lý của Nhà nước, giải quyết các vấn đề

xã hội phát sinh trong đời sống cộng đồng

Ba là, Nhân dân tham gia quản lý xã hội bằng sự kết hợp, phối hợp các tổ chức, các phong trào, các nguồn lực để thể hiện phát triển kinh tế - văn hóa, xây dựng môi trường

xã hội lành mạnh, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, ổn định chính trị - xã hội, tổ chức đời sống văn hóa, xây dựng đạo đức lối sống

Liên hệ thực tiễn:

Ở nước ta hiện nay, dân chủ trở thành mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới Vấn đề dân chủ ngày càng có tầm quan trọng to lớn trong quá trình phát triển kinh tế

-xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Những thành tựu của quá trình dân chủ hóa đang góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Đồng thời, toàn Đảng, toàn dân ta cũng đang nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức trong quá trình dân chủ hóa, văn minh hóa một xã hội đang phấn đấu vươn tớihiện đại hóa

Dư luận quan tâm một thực trạng xã hội phổ biến là: Hiện nay, ít người quan tâm đến việc phát huy quyền dân chủ, mà nặng chú ý những gì có lợi trực tiếp cho bản thân.Cán bộ có chức có quyền do động cơ, lối sống cá nhân mà vi phạm dân chủ, dọa nạt, ức hiếp, trù dập, trả thù những người dân tố cáo sai phạm Những người này rất sợ dânchủ, tìm cách né tránh dân chủ Bởi vì, thực hiện dân chủ thì họ không dễ dàng qua mặt quần chúng để “thủ lợi” cho cá nhân và nhóm Trong các tầng lớp quần chúng cũng cónhững người chỉ chăm chắm lo cho cái tôi bé nhỏ, sinh ra co lại, trùm chăn an phận, sống theo kiểu “mũ ni che tai, đèn nhà ai nhà ấy rạng”, “chuyện ai kệ ai, mặc gai trướcmắt”, từ đó sinh ra hiện tượng lối sống vô cảm Do đó, sức mạnh đoàn kết cộng đồng dần dần yếu đi, thậm chí bị triệt tiêu Một số vụ thấy người hàng xóm, người trong cơquan, đơn vị bị ức hiếp quá đáng, nhưng không ai ra mặt can thiệp, chuyện ai người ấy gánh, phận ai người đó chịu, đấu tranh - tránh đâu Hoặc không ít người biết rõ: “Họ mấtchất cộng sản rồi đấy, nhưng dây vào họ làm gì, chỉ sinh phiền toái, chẳng phải đầu cũng phải tai” Tâm lý sợ bị trù dập, sợ trả thù, hoặc tâm lý tự ti nên không dám lên tiếng rấtphổ biến và tai hại Có những cán bộ, đảng viên biết sai, có hại cho dân, mất uy tín của Đảng, nhưng vì cái lợi cho bản thân mà vẫn cố tình nói và làm sai, bao che cho cái sai.Thực hiện quyền dân chủ, đấu tranh vì nền dân chủ thực sự rất cần bản lĩnh, dũng khí, chính kiến rõ ràng Chính mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần phát huy quyền dânchủ của mình Mặc kệ những đau khổ, thiệt thòi, oan khốc của người khác; mặc kệ vi phạm dân chủ một cách trắng trợn, tưởng như được an toàn cho bản thân, gia đình, nhưngđến lúc nào đó cái oan khổ sẽ đến với chính mình

- Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là tất yếu khách quan đối với Việt Nam Để thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Nhà nước phảinhận thức đúng, đầy đủ về quyền làm chủ của nhân dân Xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật , cơ chế thực thi dân chủ; tạo lập các yếu tố, các tiền đề kinh tế - xã hội thựcthi dân chủ Nhà nước có biện pháp nâng cao dân trí, phát triển văn hóa dân chủ, cung cấp thông tin, định hướng phát triển đất nước Xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vữngmạnh, xã hội hóa các giá trị, năng lực của tập thể, cá nhân Định rõ nội dung, hình thức, biện pháp, bước đi… trong thực hiện dân chủ

Người dân cần được tạo điều kiện để hiểu biết sâu rộng, nắm chắc quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo Hiến pháp, pháp luật Người dân được bảo vệ khi bị trù dập do đãmạnh dạn đấu tranh thực hành quyền dân chủ vì mục đích chung Đồng thời cần quan tâm khuyến khích người dân khi thụ hưởng quyền dân chủ phải có trách nhiệm đấu tranh

và vận động nhau xây dựng tốt đời sống văn hóa ở khu dân cư, sẵn sàng và trực diện đấu tranh với mọi hành vi sai trái, vi phạm dân chủ

Dân chủ càng đi vào lòng người, được thực thi sâu rộng thì càng tạo nguồn sức mạnh vô biên để xây dựng vững chắc thể chế chính trị do Đảng lãnh đạo, cũng là thiết thựcnâng cao khả năng lãnh đạo, sức chiến đấu, uy tín và độ bền vững của một đảng cầm quyền

Liên hệ cá nhân, trách nhiệm bản thân sau khi học trung cấp chính trị về vấn đề trên (Mỗi học viên tự trình bày theo đơn vị, bản thân của mình)

Qua phần học tập nghiên cứu về phương hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đặc biệt là phương hướng dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, đã giúpcho tôi hiểu biết và có trách nhiệm đóng góp một phần nhỏ nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Bản thân phải tự học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh, rèn luyện đạo đức, quan điểm tư tưởng, có lập trường kiên định, nhận thức đúng đắn và sâu sắc về mối quan hệ Đảng lãnh đạo với thực thi dân chủ Đấu tranh khôngkhoan nhượng với những hiện tượng lợi dụng quyền dân chủ để làm cản trở việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, lợi dụng dân chủ, mượn “con bàidân chủ” để chống lại Đảng, Nhà nước, chống chế độ XHCN

10

Ngày đăng: 09/05/2019, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w