1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vấn đề lý luận và thực tiễn

15 353 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 28,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vấn đề lý luận và thực tiễnTuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vấn đề lý luận và thực tiễnTuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vấn đề lý luận và thực tiễnTuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vấn đề lý luận và thực tiễnTuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vấn đề lý luận và thực tiễnTuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 1

MỞ ĐẦU

Kết hôn là hiện tượng xã hội có tính tự nhiên nhằm mục đích xác lập quan

hệ vợ chồng, cùng nhau xây dựng gia đình, nuôi dạy con, phát triển kinh tế Xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình, từ quan niệm gia đình là tế bào của xã hội mà Đảng và nhà nước luôn giành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề hôn nhân

và gia đình, đề ra những chủ trương, thể chế hóa bằng pháp luật đường lối, chính sách của Đảng, bắt buộc mọi công dân khi kết hôn phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Độ tuổi kết hôn chính là một trong những điều kiện quan trọng mà nam nữ phải tuân thủ khi kết hôn, là thước đo cho sự phát triển của con người, đảm bảo khả năng họ có thể thực hiện sứ mạng của mình là xây dựng gia đình và phát triển xã hội Vì vậy để tìm hiểu rõ hơn quy định của pháp luật về đề độ tuổi kết hôn, nhóm chúng em xin phân tích đề

tài: “Tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014- vấn đề lý luận

và thực tiễn”.

NỘI DUNG

I/ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Kết hôn

1.1 Khái niệm kết hôn

Kết hôn là một trong ba cơ sở hình thành gia đình Kết hôn là trạng thái pháp lý thể hiện sự liên kết của nam và nữ trong quan hệ vợ chồng Sự liên kết đặc biệt này phải được Nhà nước thừa nhận bằng một sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý- đó là đăng ký kết hôn Như vậy kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân và là cơ sở hình thành gia đình

Trong đời sống hôn nhân và gia đình sự xác lập quan hệ hôn nhân được gọi là kết hôn Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Kết hôn là việc nam, nữ chính thức lấy nhau thành vợ, chồng.” Có rất nhiều quan điểm về khái niệm kết hôn,

Trang 2

tuy nhiên đến Luật Hôn nhân và gia đình( HN và GĐ) 2014, khái niệm kết hôn được quy định tại khoản 5 điều 3: “ Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ

vợ chồng với nhau theo quy định của luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn.”

Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý được tiến hành tại cơ quan nhà nước

có thẩm quyền nhằm xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ, khi hai bên nam

nữ tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn

1.2 Điều kiện kết hôn

Điều kiện kết hôn có thể hiểu là những yêu cầu của pháp luật thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật buộc người kết hôn phải tuân thủ, nhằm thiết lập những cuộc hôn nhân phù hợp với lợi ích của người kết hôn, lợi ích gia đình

và xã hội Việc kết hôn sẽ được nhà nước thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật khi tuân thủ các điều kiện kết hôn Nếu vi phạm các điều kiện kết hôn thì việc kết hôn không có giá trị pháp lí

Việc pháp luật đặt ra các điều kiện kết hôn nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên, hướng đến xây dựng hôn nhân bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ, gia đình hạnh phúc, bền vững

Điều kiện kết hôn được quy định tại điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Điều 8 Điều kiện kết hôn

1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

Trang 3

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

1.3 Bản chất và ý nghĩa của kết hôn

1.3.1 Bản chất của kết hôn

Thứ nhất, kết hôn là một quyền tự nhiên cơ bản của con người được pháp

luật ghi nhận và bảo vệ

Thứ hai, kết hôn là cơ sở để tạo dựng gia đình, góp phần duy trì và thúc

đẩy sự phát triển của xã hội loài người

Thứ ba, kết hôn là cơ sở pháp lí để nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của người kết hôn Thông qua sự kiện đăng kí kết hôn, nhà nước kiểm soát được việc tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn, thực hiện quản lí nhà nước về kết hôn nhằm đảm bảo cho việc kết hôn được xác lập phù hợp với lợi ích gia đình và xã hội

1.3.2 Ý nghĩa của kết hôn

Mục đích của kết hôn là xác lập quan hệ vợ chồng Sau khi kết hôn vợ chồng gắn bó với nhau có quyền và nghĩa vụ với nhau cùng nhau xây dựng gia đình, sinh đẻ, nuôi dạy con cái sự phát triển và tồn tại bền vững của hôn nhân phụ thuộc vào tình cảm và tinh thần trách nhiệm của vợ chồng, của con cái

Kết hôn có vai trò quan trọng trong xã hội hiện nay, mọi người đều có quyền kết hôn như nhau và đã được cụ thể hóa trong văn bản pháp luật trong nước và văn bản quốc tế Kết hôn giữa nam và nữ thuộc các dân tộc khác nhau trên thế giới góp phần hiểu biết các văn hóa phong tục, tập quán ở mọi nơi trên thế giới vì thế mà tất cả các nền văn hóa trên thế giới đều vinh danh, tôn trọng,

Trang 4

chúc mừng và ca ngợi vì đó là tượng trưng cho thiên liêng trong cuộc sống tình yêu và gia đình

Trên cơ sở pháp lý kết hôn được xem coi như một bản hợp đồng ràng buộc hai con người cùng với của cải, thu nhập, trách nhiệm và cuộc sống của họ được pháp luật thừa nhận và hợp đồng này chỉ bị hủy bỏ khi hai người ly hôn còn dưới góc độ xã hội nhờ có kết hôn dẫn đến có cuộc hôn nhân nhờ vậy những đứa trẻ được ra đời có cha và mẹ và là nền tảng của gia đình mối quan hệ giữa

bố mẹ và con cái

Việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa hai bên nam nữ không chỉ nhằm thỏa mãn những nhu cầu tình cảm cá nhân mà còn thể hiện trách nhiệm của người kết hôn đối với việc tạo lập gia đình Kết hôn tạo cơ sở vững bền về mặt pháp lý cho

vợ chồng cũng như những lúc gặp bất lợi như ly hôn, các vấn đề chia tài sản, nuôi con, cấp dưỡng… đảm bảo quyền và nghĩa vụ của vợ chồng Kết hôn đã làm phát sinh quan hệ hôn nhân mà quan hệ hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình, gia đình ra đời tồn tại và phát triển trước hết là Nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ về mặt pháp lý giữa họ

2 Độ tuổi kết hôn

2.1 Khái niệm về độ tuổi kết hôn

Theo từ điển Luật học thì “Tuổi kết hôn là độ tuổi pháp luật quy định cho phép nam nữ được quyền kết hôn” Kết hôn là quyền của công dân, kết hôn hay

không, kết hôn với ai và kết hôn khi nào do nam nữ tự quyết định Tuy nhiên khi kết hôn, công dân phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn Một trong những điều kiện mà nam nữ phải tuân thủ khi kết hôn là độ tuổi kết hôn Con người chỉ ý thức được việc kết hôn và có khả năng thực hiện các trách nhiệm của gia đình khi họ phát triển đến mức độ nhất định về thể chất và ý thức

xã hội Độ tuổi là thước đo của sự phát triển của con người, đảm bảo khả năng

họ có thể thực hiện sứ mệnh của mình là xây dựng gia đình và phát triển xã hội

Trang 5

Nam, nữ kết hôn là xác lập quan hệ hôn nhân Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình, gia đình có các chức năng xã hội cơ bản là chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế Gia đình thực hiện tốt các chức năng

xã hội hay không phụ thuộc vào ý chí, tinh thần trách nhiệm và khả năng nhận thức của mỗi thành viên trong gia đình, trong đó có ý nghĩa và quan trọng là vợ chồng Trên cơ sở đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của hôn nhân, căn

cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người và khả năng nhận thức của cá nhân, khả năng tự đảm bảo duy trì cuộc sống cũng như căn cứ vào các điều kiện kinh tế xã hội nên pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều quy định tuổi kết hôn tối thiểu có khác nhau

Ở Việt Nam dưới thời phong kiến với quan niệm nam nữ lấy vợ lấy chồng

là để sinh đẻ con cái nhằm duy trì nòi giống do vậy xác định tuổi lấy vợ lấy chồng chủ yếu dựa trên khả năng sinh sản của con người Có luật quy định tuổi kết hôn tối thiểu rất sớm: Nữ 14, nam thì 16 (Bộ luật Gia Long) Pháp luật thời

kỳ Pháp thuộc tuổi kết hôn tối thiểu của nam và nữ đã tăng lên: Nữ 15 tuổi, nam

18 tuổi, Bộ luật Giản yếu quy định nam 16, nữ 14 tuổi được kết hôn Tuy vậy, trong những trường hợp đặc biệt có lý do chính đáng thì có thể miễn tuổi kết hôn Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay pháp luật nhà nước ta quy định tuổi kết hôn đối với nữ là 18, nam là 20 tuổi không thay đổi và mang tính ổn định

So với các nước phương Tây, quy định về độ tuổi kết hôn có sự khác biệt đáng kể trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới Hầu hết các nước phương Tây là các nước công nghiệp phát triển do đó độ tuổi trưởng thành về tâm sinh lí của nam nữ sớm hơn so với ở Việt Nam Vì thế, tuổi kết hôn đối với nam và nữ được quy định thấp hơn, dao động trung bình ở khoảng cách hai tuổi so với Việt Nam Một số nước còn cho phép người chưa thành niên kết hôn nhưng phải có

sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp như Nga, Nhật Bản và hầu hết các bang của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

2.2 Cơ sở của việc quy định độ tuổi kết hôn

Trang 6

Theo điểm a Khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình 2014 ghi nhận

điều kiện về độ tuổi kết hôn của hai bên nam nữ: “ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên,

nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” Có thể thấy quy định độ tuổi kết hôn có sự chênh lệch

giữa nam và nữ, thời điểm bắt đầu tuổi thành niên của nam thường chậm hơn

nữ, tuổi dậy thì của nữ giới ở Việt Nam hiện nay thường bắt đầu vào khoảng

12-13 tuổi, trong khi nam 14-15 tuổi Các chuyên gia y tế cũng chỉ ra rằng sự phát triển và hoàn thiện tâm sinh lí ở nam và nữ có sự khác nhau Quy định độ tuổi kết hôn giữa nam và nữ như hiện nay không phải là quy định thể hiện sự bất bình đẳng giới mà dựa trên những cơ sở khoa học, căn cứ vào sự phát triển và hình hành tâm sinh lí của nam và nữ Bởi vậy quy định về độ tuổi kết hôn chênh lệch theo hướng nam lớn hơn nữ là hợp lí

So với các quy định về độ tuổi kết hôn trước đó, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã nâng độ kết hôn của nam và nữ lên cao hơn, vì theo các quy định trước đây chỉ cần bước sang tuổi 18 đối với nữ và 20 tuổi đối với nam là có thể kết hôn, thì theo pháp luật hiện nay, nam phải từ đủ 20 tuổi, nữ phải từ đủ 18 tuổi mới được phép kết hôn

Việc quy định độ tuổi kết hôn được xây dựng dựa trên hai cơ sở là cơ sở khoa học và cơ sở xã hội

Thứ nhất, về cơ sở khoa học Nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân để thực

hiện chức năng cơ bản của gia đình là sinh đẻ để duy trì nòi giống Các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học đã chỉ ra rằng phải đạt đến độ tuổi này thì nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân và sinh con mới đảm bảo được sự “ưu sinh” Bởi vì, đến độ tuổi này nam và nữ mới phát triển toàn diện về tâm sinh lí Một nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản đã kết luận: Các bà mẹ sinh con trước 18 tuổi thường hay gặp các vấn đề sức khỏe Những đứa con của các cặp hôn nhân xác lập quan hệ trước tuổi luật định hay mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, sức đề kháng yếu, tỉ lệ tử vong sau khi sinh sau cao gấp nhiều lần so với sinh con ở tuổi vị thành niên Có thể thấy việc xác lập hôn nhân trước 18 tuổi dẫn đến tính ổn định, an toàn và trách nhiệm đều không đảm bảo Chính vì lẽ đó,

Trang 7

việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu dựa trên cơ sở khoa học sẽ góp phần duy trì nòi giống đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và trí tuệ cho thế hệ đời sau

Thứ hai, về cơ sở xã hội Ngoài cơ sở khoa học, tuổi kết hôn còn được

xem xét dựa trên các khía cạnh như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa

Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, với truyền thống coi trọng gia đình, người Việt Nam hình thành thói quen lấy vợ, chồng sớm theo quan niệm “nữ thập tam, nam thập lục” Từ đó, phong tục này ảnh hưởng đáng kể đến đời sống hôn nhân của con người Việt Nam Cho đến nay, các vùng nông thôn Việt Nam vẫn ít nhiều bị ảnh hưởng bởi tâm lí này Chính vì vậy quy định độ tuổi như hiện nay thể hiện sự hài hòa giữa cơ sở khoa học với cơ sở xã hội, đảm bảo để điều kiện kết hôn về độ tuổi mang tính thực thi Phải đến độ tuổi này nam, nữ mới trưởng thành về mặt nhân cách, tham gia lao động, tạo thu nhập để duy trì và phát triển gia đình

2.3 Ý nghĩa của việc quy định độ tuổi kết hôn

Kết hôn là bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống mỗi người, có ảnh hưởng đến xã hội Do đó về độ tuổi kết hôn được pháp luật quy định cụ thể và chặt chẽ, nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân trong xã hội một cách thống nhất, góp phần xây dựng xã hội tiến bộ, văn minh Tuổi kết hôn còn có vai trò đặc biệt quan trọng, là điều kiện để nam nữ có đủ cơ sở pháp lý để đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là căn cứ để cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đăng kí kết hôn và là điều kiện để xác định hôn nhân hợp pháp Nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đạt độ tuổi theo quy định thì được xác định là vi phạm về độ tuổi kết hôn

Có thể thấy rằng, trong Hôn nhân độ tuổi có một vị trí đặc biệt quan trọng Vì vậy việc quy định “ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”, quy định này trước hết nhằm dảm bảo sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với sức khỏe của nam, nữ, đảm bảo nam

Trang 8

nữ có thể đảm đương trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong gia đình, đồng thời còn đảm bảo con cái sinh ra khỏe mạnh cả về thể chất lẫn trí tuệ

Độ tuổi 20 đối với nam và 18 tuổi đối với nữ được coi là những độ tuổi mà con người có những suy nghĩ chín chắn, trưởng thành để quyết định kết hôn với nhau

Pháp luật chỉ quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu mà không quy định độ tuổi kết hôn tối đa Là bởi vì Pháp luật Hôn nhân và Gia đình đề cao sự tự do lựa chọn người kết hôn và độ tuổi kết hôn theo nguyện vọng của họ khi đủ tuổi Khi đến tuổi Luật định, nam nữ kết hôn vào tuổi nào tùy theo hoàn cảnh, điều kiện,

sở thích của mỗi người Điều này cũng xuất phát từ việc đề cao nguyên tắc hôn nhân tự nguyện Pháp luật không quy định độ tuổi tối đa vì nếu quy định tuổi kết hôn tối đa sẽ hạn chế sự tự nguyện lựa chọn của nam nữ Một mặt pháp pháp luật đặt ra quy tắc xử sự chung cho mọi người, mặt khác vẫn thể hiện tính mềm dẻo, không cứng nhắc khi áp đặt cho mọi người đến độ nào đó thì phải kết hôn Nam nữ sẽ vẫn được tự do, tự nguyện lựa chọn thay vì bị pháp luật áp đặt sẽ vào đặt vào tình thế vội vàng, do đó cuộc sống hôn nhân cũng khó có thể đảm bảo hạnh phúc lâu dài và tiến bộ

Việc tính tuổi tròn, nam từ đủ 20, nữ từ đủ 18 sẽ tránh vận dụng tùy tiện các quy định về độ tuổi kết hôn Trước đây, chỉ cần bước sang tuổi 18 đối với nữ

và 20 tuổi đối với nam là được phép kết hôn, điều đó sẽ dễ dàng tạo ra những khe hở nhất định để các bên kết hôn vi phạm điều kiện về độ tuổi

II CƠ SỞ THỰC TIỄN

1 Thực trạng việc thực hiện quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn ở nước

ta hiện nay

1.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn

Việc thực hiện quy định về độ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã có những mặt tích cực trong việc áp dụng như:

Trang 9

Thứ nhất, việc quy định như vậy rõ ràng phản ánh sự phù hợp với mức

độ phát triển tâm sinh lý của con người Việt Nam, dựa trên cơ sở khoa học và cơ

sở xã hội xác đáng

Nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân để thực hiện chức năng cơ bản của gia đình là duy trì nòi giống Đến độ tuổi này, nam và nữ mới đạt sự phát triển hoàn thiện Một số nghiên cứu chỉ ra rằng: Các bà mẹ sinh con trước tuổi 18 thường hay gặp các vấn đề về sức khỏe Đó chẳng phải là tình trạng đáng báo động sao?

Không những thế, việc quy định độ tuổi như vậy còn gắn liền với khả năng phát triển về tư duy nhận thức, gắn với mức độ độc lập, tự chủ của chủ thể

để thực hiện các chức năng gia đình

Thứ hai, việc tính tuổi tròn như Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (nam từ

đủ 20, nữ từ đủ 18) sẽ tránh vận dụng tùy tiện các quy định về độ tuổi kết hôn Trước đây, chỉ cần bước sang tuổi 18 đối với nữ và 20 tuổi đối với nam là được phép kết hôn, điều đó dễ dàng tạo ra những kẽ hở nhất định để các bên kết hôn

vi phạm điều kiện về độ tuổi

Bên cạnh đó thực tiễn thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay cũng chỉ ra rằng việc tảo hôn vẫn diễn ra ở nhiều nơi Theo Luật hôn nhân và gia đình hiện hành thì tảo hôn được hiểu là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc

cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, biện pháp về pháp luật hiện nay mới chỉ tập trung vào trường hợp kết hôn trước tuổi luật định Đối với trường hợp này, khi có yêu cầu, toà án sẽ xem xét và có thể sử dụng chế tài xử huỷ việc kết hôn trái pháp luật Trong khi đó, những trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước tuổi luật định, không đăng kí kết hôn mới thực sự là “tảng băng chìm” mà hiện nay chúng ta chưa có các biện pháp can thiệp thoả đáng Nhà nước không công nhận những cuộc hôn nhân này nhưng những đứa trẻ vẫn ra đời, các gia đình như vậy vẫn tồn tại trong đời sống

xã hội

1.2.Thực trạng thực hiện quy địnhcủa pháp luật về tuổi kết hôn hiện nay

Mặc dù độ tuổi kết hôn tối thiểu theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 được đánh giá là khá phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam, tuy nhiên tình trạng vi phạm điều kiện kết hôn về độ tuổi vẫn xảy ra tương đối phổ biến Cụ thể là tình trạng kết hôn ở độ tuổi vị thành niên vẫn tiếp tục diễn ra trong suốt thời gian qua

Trang 10

Theo kết quả thống kê điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2015 cho thấy, cả nước có khoảng 2,2% nam giới và 9,2% nữ giới trong độ tuổi 15 – 19 đã từng kết hôn Số liệu cho thấy hiện tượng kết hôn sớm

có cả ở nam và nữ vị thành niên, tuy nhiên tình trạng này xảy ra ở nữ vị thành niên nhiều hơn Đồng thời, tình trạng này xảy ra ở khu vực nông thôn phổ biến hơn so với khu vực thành thị Cụ thể, trong độ tuổi 15 – 19, tỷ trọng nam thanh niên đã từng kết hôn ở nông thôn và thành thị tương ứng là 2,8% và 0,9%; tỷ trọng nữ thanh niên đã từng kết hôn ở nông thôn và thành thị tương ứng là 11,3% và 4,7% Có thể thấy, tỷ lệ ở khu vực nông thôn cao gấp gần 3 lần khu vực thành thị

Mức độ kết hôn của nhóm vị thành niên cũng có khác biệt đáng kể theo từng vùng Theo xu hướng chung, tình trạng này xảy ra phổ biến ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên cao hơn so với các khu vực khác Đây là những vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cư trú và cũng là vùng có mức

độ công nghiệp hóa, kinh tế kém phát triển hơn so với các vùng khác, được xem

là những nhân tố dẫn đến mức kết hôn ở tuổi vị thành niên vùng cao Ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc có khoảng 7,5% số nam và 20,7% số nữ trong độ tuổi 15 – 19 đã từng kết hôn Trái lại, tỷ trọng nam, nữ vị thành niên đã kết hôn thấp nhất thuộc về vùng Đồng bằng sông Hồng (lần lượt khoảng 0,5% và 5,9%), bởi vì đây là vùng dân cư, kinh tế năng động, có tỷ trọng dân số trẻ tương đối cao

Việc kết hôn sớm ở độ tuổi vị thành niên đã phần nào làm hạn chế cơ hội học tập, hạn chế đi các cơ hội được đào tạo và có được công việc ổn định Tình trạng này cũng dẫn đến việc mang thai sớm khi cơ thể chưa phát triển toàn diện, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ em Tình trạng kết hôn sớm cũng làm tăng nguy cơ bạo lực gia đình và các dạng bạo lực trên cơ sở giới và vô số những hệ lụy khác

2 Nguyên nhân việc thực hiện không đúng quy định pháp luật về độ tuổi kết hôn

* Nguyên nhân khách quan:

Do ảnh hưởng của những quan niệm, thành kiến, phong tục tập quán lạc hậu Ở nước ta có những tục lệ, nghi lễ đã ăn sâu vào đời sống cộng đồng và có sức ảnh hưởng nhất định qua nhiều thế hệ người Việt Nam Các quan hệ hôn

Ngày đăng: 09/05/2019, 10:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w