1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở việt nam thực trạng và giải pháp

116 164 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả chọn mô hình nghiên cứu sự gắnbó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả sự gắn bó trong công việcnhư là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức làm xói mòn

Trang 1

NGUYỄN ANH TUẤN

HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU

ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số ngành: 60340102

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.TRẦN ANH DŨNG

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 02 năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

Tôi chân thành biết ơn và xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ của thầy giáohướng dẫn và các anh chị, cô chú liên quan đến ngành đánh bắt hải sản xa bờ đavui vẻ cung cấp thông tin khảo sát, các thông tin trích dẫn trong Luận văn đađược chỉ rõ nguồn gốc giúp cho việc thực hiện hoàn thành Luận văn này

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Anh Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy TS.Trần Anh Dũng, người

đa tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề cương, tìmkiếm tài liệu, chỉ dẫn giới thiệu tham quan khảo sát các nơi có ngư dân sống về nghềđánh bắt cá cho đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành biết ơn quý thầy cô Trường Đại học Công nghệ Thànhphố Hồ Chí Minh đa truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong chương trìnhcao học

Xin chân thành cảm ơn các anh chị, cô chú chủ tàu cá, đại diện tàu cá, ngưphủ; Sở Nông nghiệp và Phát riển nông thôn TP.HCM, Sở Tài Chính TP.HCM,Ban Quản lý Trung tâm Thủy sản thành phố nơi tôi công tác, Cảng cá Nhật Lệtỉnh Quảng Bình, Cảng cá Hòn Rớ, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa,Cảng cá Tắc Cậu tỉnh Kiên Giang, Cảng cá Trần Văn Chiểu, Trần Đề tỉnh SócTrăng, Cảng cá Cát Lở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Cảng cá Mỹ Tho, tỉnh TiềnGiang; Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành phố

Hồ Chí Minh, Chi cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnhKiên Giang; Công ty TNHH Chế biến Thủy hải sản Lộc Biển, thành phố ĐàNẳng, Công ty TNHH Chế biến Thủy hải sản Hải Vương, Công ty TNHH Thủyhải sản Hải Long, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa…

Cuối cùng tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình cá c anh chị , cô chú và bạn

bè đa giúp đỡ, động viên tinh thần cho tôi, giúp tôi kiên trì hoàn tất bài Luận văn có

ý nghĩa giai đoạn hiện nay và sau này

Học viên thực hiện Luận văn

Nguyễn Anh Tuấn

Trang 4

TÓM TẮT

Việt Nam có bản đồ hình chữ S, với mặt tiền là Biển Đông mênh mông, từ baođời nay, hàng trăm ngàn ngư dân ven biển các tỉnh, thành trong cả nước đa gắn bócuộc sống với đảo xa, với biển cả trên những con tàu đánh bắt hải sản

Nguồn lợi thủy hải sản phong phú, đa dạng ẩn chứa trong lòng biển, là nguồn mưusinh từ ngàn đời nay của ngư dân Nhưng cũng chính biển là nơi thử thách vô cùngkhắc nghiệt, thậm chí cướp đi mạng sống biết bao người khi cuồng phong, bao tố nổilên Nên, mỗi con tàu khi rời bến ra khơi mang theo niềm hy vọng, sự mến thương,nỗi nhớ nhung và cả những lo toan của biết bao người thân trên đất liền Cơ cực vàmất mát, nhiều khi phải trả giá bằng mạng sống, nhưng từ bao đời nay, nỗi khát khaovươn ra khơi của ngư dân tồn tại hiển nhiên như không khí để thở, như một phần máuthịt không thể tách rời

"Thuyền là nhà, biển cả là quê hương", " Thuyền lưới là vũ khí, ngư dân là chiếnsỹ", "Cát vàng, sóng xanh, buồm nâu, máu đỏ", "Tất cả vì miền Nam ruột thịt", "Vững tay chèo, chắc tay súng"! Đó là những khẩu hiệu khắc trên đá, trên đảo, trên cácbờ biển thời chiến mà ngư dân các làng chài xứ biển đa thuộc lòng Những khẩu hiệutrên thể hiện lòng yêu nước, yêu biển cháy bỏng, quyết tâm đánh giặc bảo vệ biển trờiTổ quốc của nhân dân nói chung và ngư dân nói riêng

Sau khi nghiên cứu các lý thuyết, sự hạn chế về nghiên cứu tới các yếu tố ảnhhưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân Tác giả chọn mô hình nghiên cứu sự gắnbó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả sự gắn bó trong công việcnhư là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức làm xói mòn sự gắn bó của một người -Maslach và cộng sự (2001), kết hợp lý thuyết động viên để đưa ra mô hình nghiên cứucác yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân, đề tài này tập trung

nghiên cứu sáu yếu tố sau: 1 Khen thưởng và phúc lợi, 2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quả ly, 3 Môi trường làm việc 4 Công bằng về chính sách, 5 Công bằng về hỗ trợ, 6 Đặc điểm công việc.

Trang 5

Giải pháp nâng cao hoạt đông bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ

- Duy trì và tăng cường khen thưởng phúc lợi nâng cao sự gắn bó và khả năngbám biển của ngư dân

- Tăng cường sự hỗ trợ của nhà quản lý, định hướng phát triển nghề cá để ngưdân gắn bó và bám biển lâu dài

- Môi trường làm việc, ngư trường đánh bắt được ổn định về an ninh chính trị

và thiên tai giúp ngư dân thuận lợi gắn bó và bám biển lâu dài

- Hội nghề cá Việt Nam quan tâm có đề xuất kiến nghị kịp thời đến cơ quanchức năng để hỗ trợ ngư dân an tâm bám biển

- Kiến nghị Chính phủ cụ thể hóa chủ trương quy hoạch, định hướng phát triểnnghề cá đánh bắt xa bờ đi vào thực tiển có hiệu quả để ngư dân an tâm ra khơi bámbiển

Hoạt động bám biển = B0 + B1 * môi trường làm việc + B2 * Hỗ trợ của nhà tổ

chức, quản lý + B3 * khen thưởng và phúc lợi + B4 * công bằng về chính sách + B5 * công bằng về phân phối + B6 * đặc điểm công việc

Hoạt động bám biển = B0 + B1 * môi trường làm việc + B2 * Hỗ trợ của nhà tổ

chức, quản lý + B3 * khen thưởng và phúc lợi + B4 * công bằng về chính sách + B5 * công bằng về phân phối + B6 * đặc điểm công việc

Trang 6

Vietnam has the map shaped like S, along with the East Sea large and wide , sincemany generations passed, hundreds of thousands of fishermen who live along thecoast of provinces and cities in the nation they have locked their lives with distantislands, with the sea on boats for catching fish and sea products

Sources of sea products and aquatic products are abundant, diverse, they are hidden

in the sea beds , are also the source of livelihood for hundreds of generations until now

of fishermen However, the sea itself is an extremely harsh challenge , even it takesaway the lives of so many people when storms, tempests arise Therefore, each boatand ship each time it leaves the harbor for the open sea bringing along with it the hope,love, nostalgia and worrying of so many people on the mainland

Destitute life and loss , at times the price was paid even with human lives ,however for many generations until now, the desire to reach out to the open sea offishermen exist evidently as the air for breathing , as parts of blood and flesh of thebody that they cannot be separable

" Boat is home , sea is home country ", " Boat and fish-net are weapon, fishermenare fighting soldiers ", " Yellow sand , blue waves , brown sail , red blood "," All forthe blood- related South ", " Firm is the arms for rowers , firm is the hands ongun"! Those are slogans that were carved on the stones and rocks, on the islands, onthe coast in the war time that fishermen already memorized The above slogans showtheir patriotism, passionate love of the sea that is burning, the determination to fightagainst the enemy defending sea and skies of the Fatherland of the people in generaland of fishermen in particular

After studying the theories , the limitations on research to the factors that to stick

to run the sea of fishermen The author selects the model of research on otherconnections starting from documents on exhaustion in which is the description of thelocking to work as clear contrast of exhaustion that erodes the locking of a man to seawork - Maslach and his partners (2001), combining the theory of encouragement in

Trang 7

order to put forward a model of study on factors that to stick to run the sea offishermen , this paper concentrates on the study of six factors as follows: 1 Rewardsand welfare, 2 Supports from Organizers , Managers , 3 The working environment 4.Justice on Policy , 5 Justice in supporting , 6 The working features.

Solutions to enhance to work closely with the sea of fishermen who have boats that catching fish distant from shore

- Maintain and strengthen the rewards/ bonus and benefits and enhance theconnection the locking to job and ability to stay close to the sea of fishermen ;

- Strengthen the support from managers, orienting to develop the fishery so thatfishermen locked to stack to the sea on long term basis ;

- Working environment, fishing ground for catching are stabilized concerningpolitical security and natural calamity in order to help fishermen to be convenient inlong term locking and sticking to the sea

- Propose to Vietnam Fisheries Society to pay attention to and also proposing tofunctional agencies to support them in time

- Propose to The Vietnamese Government should concretize the policy on planningand directing fishing boats and ships that operate far from shore in an effective way sothat fishermen could have peace in mind to go out to the sea attached to the sea

PH L C Ụ Ụ

The factors that to stick to run the sea  = B0 + B1 * working environment 

+ B2 * Supports from Organizers, Managers + B3 *rewards and welfare + B4 * Justice on Policy + B5 * justice in distribution + B6 * working features

The factors that to stick to run the sea  = B0 + B1 * working environment 

+ B2 * Supports from Organizers, Managers + B3 *rewards and welfare + B4 * Justice on Policy + B5 * justice in distribution + B6 * working features

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

ABSTRACT v

PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xii

DANH MỤC CÁC BẢNG xiii

DANH MỤC CÁC HÌNH xiv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tổng quan nghiên cứu và điểm mới của đề tài 1

2 Lý do và tính cấp thiết chọn đề tài 2

3 Mục tiêu, nôi dung và phương pháp nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Kết cấu của luận văn 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BÁM BIỂN, ĐÁNH BẮT XA BỜ ………15

1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 15

1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa về sự gắn bó 15

1.1.2 Lý thuyết động viên 17

1.1.2.1 Thuyết động viên 17

1.1.2.2.Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow 18

1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của người lao động 19

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân 20

1.2.1 Khen thưởng và phúc lợi 20

Trang 9

1.2.2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quản lý 21

1.2.3 Môi trường làm việc 22

1.2.4 Công bằng về chính sách 22

1.2.5 Công bằng về phân phối 23

1.2.6 Đặc điểm công việc 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC XA BỜ Ở VIỆT NAM – CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ 24

2.1 Thực trạng về các đoàn tàu cá khai thác xa bờ ở Việt Nam 24

2.2 Thông tin nhân khẩu học của những người tham gia khảo sát 33

2.3 Tinh lọc thang đo 38

2.3.1 Kiểm định đánh giá độ tin cậy của thang đo 38

2.3.2 Phân tích nhân tố EFA 39

2.3.3 Phân tích nhân tố đối với biến độc lập 40

2.3.4 Phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc 43

2.4 Phân tích hồi quy tuyến tính 45

2.5 Kiểm định giả thuyết 47

2.6 Kiểm định sự khác biệt theo các đặc tính cá nhân đến hoạt động bám biển của ngư dân 49

2.6.1 Khác biệt về giới tính 49

2.6.2 Khác biệt về độ tuổi 49

2.6.3 Khác biệt về vị trí công tác 50

2.6.4 Khác biệt về thâm niên 50

2.7 Thống kê mô tả cho các biến quan sát của từng yếu tố 51

Trang 10

2.8 Kết luận 52

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN CÓ TÀU ĐÁNH BẮT XA BỜ 55

3.1 Định hướng dài hạn phát triển nghề cá khai thác xa bờ ở Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020 55

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt xa bờ 56

3.2.1 Duy trì và tăng cường khen thưởng phúc lợi nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngư dân 56

3.2.2 Tăng cường sự hỗ trợ của nhà quản lý, định hướng phát triển nghề cá để ngư dân gắn bó và bám biển lâu dài 57

3.2.2.1 Giải pháp nâng cao trọng tải phương tiện, trang hiết bị hiện đại, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ thuật đánh bắt 57

3.2.2.2 Hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc phục vụ tàu đánh bắt xa bờ 58 3.2.2.3 Quan tâm hỗ trợ đồng bộ các tỉnh giáp biển giúp ngư dân ra khơi bám biển 59

3.2.2.4 Nâng cao chất lượng dịch vụ của các Cảng cá, Khu chế biến Thủy hải sản 60

3.2.2.5 Nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến thủy hải sản công nghệ cao.61 3.2.2.6 Phát triển nguồn nhân lực 62

3.2.2.7 Môi trường làm việc, ngư trường đánh bắt được ổn định về an ninh chính trị và thiên tai giúp ngư dân thuận lợi gắn bó và bám biển lâu dài 63

3.3 Kiến nghị 66

3.3.1 Kiến nghị Hội nghề cá Việt Nam 66

3.3.2 Kiến nghị Chính phủ 66

3.3.2.1.Tổ chức lại khai thác chế biến Thủy hải sản trên biển khơi 66

Trang 11

3.3.2.2.Chính sách quan tâm đến ngư dân sống bằng nghề biển 673.3.2.3.Tổ chức lại dịch vụ, hậu cần phục vụ khai thác hải sản 67TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Tài liệu tham khảo

2 Văn bản pháp luật

3 Mạng Internet

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Tham khảo nghiên cứu định tính

Phụ lục 2: Khảo sát tàu cá đánh bắt hải sản xa bờ

Phụ lục 3: Số tàu cá, sản lượng, trị giá Thủy hải sản xuất khẩu

Phụ lục 4: Thông tin mẫu nghiên cứu

Phụ lục 5: Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo (lần1)

Phụ lục 6: Phân tích nhân tố (EFA) đối với biến độc lập

Phụ lục 7: Phân tích nhân tố (EFA) đối với biến phụ thuộc

Phụ lục 8: Kiểm định thang đo sau khi phân tích nhân tố đối với biến độc lập(lần 2)

Phụ lục 9: Phân tích hồi quy

Phụ lục 10: Phân tích hồi quy sau khi loại biến

Phụ lục 11: Phân tích biệt số

Phụ lục 12: Kiểm định sự khác biệt về độ tuổi với hoạt động bám biển

Phụ lục 13: Khác biệt về vị trí công tác

Phụ lục 14: Kiểm định sự khác biệt về thâm niên nghề cá đối với hoạt độngbám biển của ngư dân

Trang 12

Phụ lục 15: Thống kê mô tả 03 biến độc lập ảnh hưởng nhiều đến hoạt độngbám biển của ngư dân

Trang 13

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- CBTHS: Chế biến Thủy hải sản

- DN: doanh nghiệp

- DNCBTHS: Doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản

- GTGT: Giá trị gia tăng

- MMTB: Máy móc thiết bị

- NK: Nhập khẩu

- TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

- Vasep: Hiệp hội nghề cá Việt Nam

- XK: Xuất khẩu

Trang 14

DANH MỤC CÁC BẢNG

122039

Trang 15

Đánh bắt với mắt lưới nhỏBiểu đồ đại diện tàu cá Biểu đồ về giới tínhBiểu đồ về công suất tàu cáBiểu đồ về ngư trường khai thácBiểu đồ cảng cá thương xuyên cặp bếnBiểu đồ tàu chuyển hàng về cặp cảngBiểu đồ về thâm niên nghề cá

Biểu đồ về độ tuổiBiểu đồ về trình độ

Mô hình hoạt động bám biển của ngư dân, sau khi phân tích nhân tố

Trung tâm Thủy sản TP.HCM đang triển khai đầu tư tại

xa Bình Khánh, huyện Cần Giờ, TP.HCM

91925262833343435353636373744

61

Trang 16

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tổng quan nghiên cứu và điểm mới của đề tài

Quốc gia biển đầu tiên được biết đến trong lịch sử là Phoenicia ở Tây Nam Á.Quốc gia biển tiếp theo là Hy Lạp cổ đại, sau đó là La Ma Tiếp theo La Ma làngười Viking ở Bắc Âu Từ thời trung đại trở đi là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, HàLan, Anh, hiện nay là Mỹ Ở Châu Á, Nhật Bản từng là quốc gia biển trong giaiđoạn từ sau chiến tranh Nhật-Nga đến 1945

Quốc gia biển thì không nhiều, nhưng nghề biển ở Châu Á thì nhiều hơn Vìthế khi nào thì mới có thể nói rằng châu Á có tiềm năng về các đoàn tàu khai thác

xa bờ ở khu vực Châu Á? Nói cách khác cần có tiêu chí phân biệt sự tồn tại củanhững yếu tố về nghề khai thác hải sản xa bờ khu vực Châu Á

Tiêu chí định lượng này cũng đa được các nhà nghiên cứu Nhật Bản sử dụngkhi định nghĩa “làng chài” Sakurada Katsunori (1953) định nghĩa làng chài là “làng

cư trú của những người theo ngư nghiệp , hoặc là làng cư trú bao gồm cả nhữngngười theo ngư nghiệp và những người sinh sống trong mối quan hệ trực tiếp haygián tiếp với những người theo ngư nghiệp” Takeuchi Toshimi (1958) định nghĩa

làng chài là “xa hội làng xóm được tạo nên bởi những người sinh sống chủ yếu bằng

nghề thủy sản” [dẫn theo Chu Xuân Giao 2008: 401] Theo hướng này, YabuuchiYoshihiko (1958) và Takakuwa Morihumi (1976) đưa ra tiêu chuẩn là một làng sẽđược coi là làng chài nếu tổng số nhân khẩu lao động theo ngư nghiệp trong làng là20% (trở lên) [dẫn theo Chu Xuân Giao 2008: 402] Cần chú ý là tỷ lệ 20% laođộng ngư nghiệp này chắc là phải cộng thêm với số nhân khẩu phụ thuộc (cha mẹ,

vợ con) mà họ nuôi sống nữa mới đạt đến tiêu chuẩn “sinh sống chủ yếu bằng nghềthủy sản”

Tổng số tàu cá trên thế giới ước tính khoảng 4,36 triệu chiếc (năm 2010),trong đó, Châu Á đóng góp khoảng 3,18 triệu phương tiện (chiếm 73% tổng số tàuthuyền), tiếp theo là Châu Phi (11%) Châu Mỹ La tinh và vùng Ca-ri-bê (8%),Châu Âu và Bắc Mỹ tương đương nhau, khoảng 3% Trong tổng số tàu thuyền trên,

Trang 17

có khoảng 3,23 triệu phương tiện đánh bắt cá biển (chiếm 74% số tàu thuyền),phương tiện đánh bắt cá nội địa khoảng 1,13 triệu Điều này chứng tỏ số tàu thamgia khai thác nguồn lợi thủy sản nội địa là khá lớn, chiếm 26% Theo thống kê, sốtàu khai thác thủy sản nội địa ở Châu Phi chiếm 42%, Châu Á (26%), Mỹ La tinh vàCa-ri-bê (21%) Trên phạm vi toàn cầu, có khoảng 60% số lượng phương tiện đượctrang bị động cơ (năm 2010) và 69% số tàu đánh bắt hải sản được trang bị động cơ,

và 36% số phương tiện đánh bắt thủy sản nội địa được lắp máy

Việt Nam hiện có 27.988 chiếc tàu cá có công suất từ 90cv trở lên vươn ra xabiển khơi đánh bắt hải sản, với bờ biển dài 3.260 km của 28 tỉnh thành trong cảnước giáp biển Nhiều năm qua, nhận thấy tầm quan trọng cũng như dự báo vềnhững khó khăn của nghề đi biển, từ Chính phủ cho đến các địa phương và toàn xahội đa có những chính sách, những động thái tiếp sức, khuyến khách ngư dân vươnkhơi bám biển Trước những khó khăn của lao động nghề đi biển, cho nên đề tàinghiên cứu hoạt động bám biển của ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ, nghiêncứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển để đưa ra một số giải pháp vàkiến nghị, trong đó có hỗ trợ về vốn đóng mới phương tiện, lắp thiết bị hiện đại chotàu, tặng ngư dân lưới cụ, chính sách phúc lợi xa hội và khen thưởng…

2 Lý do và tính cấp thiết chọn đề tài

Hoạt động khai thác hải sản được hình thành từ rất sớm, gắn liện với lịch sửcủa xa hội, nhưng nghề khai thác hải sản của Việt Nam đến cuối những năm 80 củathế kỷ trước vẫn là nghề khai thác thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ Thủy hải sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp pháttriển đất nước Việt Nam đa gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đây là cơhội lớn để mở rộng thị trường và cạnh tranh bình đẳng với các nước xuất khẩu cùngcác mặt hàng hải sản Sản phẩm hải sản của nước ta nhìn chung đa đáp ứng đượccác yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh và an toàn thực phẩmcủa các nước trong khu vực và trên thế giới Khoa học, Công nghệ ngày càng pháttriển nhanh và mạnh, đa và đang tạo cơ hội cho việc áp dụng vào hoạt động nghiên

Trang 18

cứu nguồn lợi, dự báo ngư trường, dò tìm đàn cá và trang bị các công cụ hỗ trợ chohoạt động khai thác hải sản, thực hiện cơ giới hóa các khâu trong sản xuất.

Vì thế phát triển thủy sản được triển khai rộng khắp từ những vùng ven biểnđến các hải đảo xa xôi và bao quát cả vùng biển đặc quyền kinh tế trên biển, gópphần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự an ninh và chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.Việt Nam tham gia vào Công ước Luật biển 1982, Công ước có hiệu lực năm 1994 Hiện nay, việc khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ thiếu kiểm soát đang khiếnnguồn lợi này dần cạn kiệt, một số loài hải sản trở nên khan hiếm Để khai thác thủysản ven bờ, nhiều ngư dân vẫn sử dụng những công cụ đánh bắt không đúng quyđịnh về kích thước mắt lưới, có nơi còn sử dụng các phương tiện khai thác hủy diệt(chất nổ, xung điện, chất độc) Bảo vệ nguồn lợi thủy sản là bảo vệ tài nguyên tựnhiên có giá trị kinh tế cao nhưng với cường độ khai thác như hiện nay thì khả năngtái tạo của nguồn lợi thủy sản là khó khăn, đe dọa sự sinh tồn của nhiều loài thủysản, nguồn lợi này trở nên cạn kiệt Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số ngày càng nhanh,trong khi nguồn lợi thủy sản ven bờ có hạn khiến việc giải quyết công ăn việc làm

và thu nhập cho bà con ngư dân cũng là vấn đề nan giải Do đó, giải pháp cho tìnhhình trên là phát triển loại hình đánh bắt xa bờ vừa giúp bảo vệ tài nguyên thủy sảnven bờ vừa giúp phát triển kinh tế

Thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng ra Quyết định số834/QĐ-BNN-TCTS ngày 17/4/2012 phân bổ bổ sung 157 tàu cá được lắp đặt thiếtbị kết nối vệ tinh thuộc Dự án MOVIMAR cho 18 tỉnh ven biển gồm Quảng Ninh,Hải Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Ngai, Bình Định,Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Càmau, Kiên Giang và lực lượng Bộ đội Biên phòng Hiện đa cung cấp cho 3.000 tàu

cá được lắp đặt thiết bị kết nối vệ tinh cho các địa phương có biển Tuy nhiên, đánhbắt xa bờ còn tồn tại nhiều vấn đề khó khăn cần tháo gỡ

Một là: khai thác thủy sản vẫn là khâu yếu nhất trong ba trụ cột là khai thác,

nuôi trồng và chế biến Đánh bắt xa bờ chỉ đóng góp khoảng 20% tổng kim ngạchxuất khẩu thủy sản hằng năm Có thể nói lực lượng, trình độ và năng lực đánh bắt

Trang 19

xa bờ của Việt Nam còn thua thế giới, các nước trong khu vực Cụ thể là các điềukiện cơ sở hạ tầng như cảng cá, chợ cá, tàu thuyền, nơi tránh trú bao đều hạn chế.Trong khi việc đánh bắt xa bờ của các nước đa bỏ qua tàu gỗ, thay bằng tàu sắt, tàubằng vật liệu composite cùng với thiết bị hiện đại để vươn ra đại dương thì ViệtNam vẫn ra khơi bằng tàu gỗ rất nhiều và công nghệ đánh bắt chậm thay đổi.

Hai là: số lượng tàu đánh bắt xa bờ có thể nhiều lên nhưng chất lượng chưa

được cải thiện tương ứng Việt Nam đa có nhiều chính sách cho vay đóng tàu đánhbắt xa bờ nhưng cách quản lý không đáp ứng yêu cầu Việc đánh bắt xa bờ đòi hỏiđầu tư công nghệ cao, cải tiến liên tục và có chiến lược phát triển cụ thể

Để có được những đội tàu đánh bắt xa bờ ngang tầm khu vực và thế giới ViệtNam nên chọn lọc, xem xét học hỏi kinh nghiệm, thu hút đầu tư và hợp tác với cácnước bên ngoài như Nga, Tây Ban Nha Ngoài ra, việc hỗ trợ ngư dân bám biển là

vô cùng cần thiết để giúp ngư dân yên tâm đi biển Việc tổ chức bộ máy quản lý nhànước về thủy sản nói chung, nghề cá nói riêng cũng hết sức quan trọng Tăng cườnglực lượng kiểm ngư để kiểm soát tàu cá trong nước và nước ngoài là hết sức cầnthiết Tiếp theo là các giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân theo định hướng hạnchế đánh bắt gần bờ, ưu tiên cho đánh bắt xa bờ Việc tổ chức cộng đồng đánh cá làrất quan trọng đối với nghề cá, thông qua tổ chức cộng đồng mới có thể thực hiệntốt nhất các hoạt động về tiêu chuẩn hóa, về quản lý, kiểm soát bảo vệ nguồn lợi Hiện nay, cơn sốt khan hiếm lao động nói chung và lao động cho nghề cá lanrộng ở nhiều vùng biển Mỗi chuyến biển, chủ tàu bỏ ra hàng trăm triệu đồng chiphí ban đầu; còn lao động cũng mong đánh được tôm, cá Vậy nhưng, trong năm

2013 lại thêm một năm thất bát của nghề biển, có thể nói là năm mất mùa nhất trongvòng 50 năm qua, nên nhiều ngư dân và chủ tàu lâm vào cảnh khó khăn Theo nhiềungư dân, cứ hễ thu nhập của các chuyến biển giảm sút là ngay lập tức có nhiều bạnthuyền lại dịch chuyển đi nơi khác, làm những công việc khác Mặt khác tiền côngcủa lao động biển thường phụ thuộc vào từng chuyến biển, nên chủ tàu khó chắcchuyện ổn định thu nhập cho các lao động, do đó sợi dây liên kết giữa họ khó bềnvững Chính vì tính chất bấp bênh này khiến chủ tàu cá khó giữ chân bạn thuyền

Trang 20

Nếu nhà nước hỗ trợ ngư dân vốn liếng, đóng tàu lớn, làm ăn lớn, nâng cao thunhập… cho lao động nghề biển thì họ mới yên tâm bám biển.

3 Mục tiêu, nôi dung và phương pháp nghiên cứu

- Mục tiêu của đề tài

Thứ nhất: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của

ngư dân có tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Việt Nam

Thứ hai: đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động bám biển

của ngư dân

Thứ ba: kiểm tra xem có sự khác biệt về sự gắn bó và khả năng bám biển

của ngư dân theo một vài đặc tính riêng của gia đình sống về nghề cá (giới tính, độtuổi, thâm niên trong nghề, vị trí công tác, trình độ)

Để thực hiện bốn mục tiêu này, đề tài nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi sau:Hoạt động bám biển của ngư dân (có tàu) đánh bắt xa bờ ở Việt Nam như thếnào?

Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân?

Phạm vi và đối tượng khảo sát

Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động

bám biển của ngư dân hiện có tàu đánh bắt xa bờ ở Việt Nam

Đối tượng khảo sát gồm: Ngư dân tham gia đánh bắt xa bờ chủ yếu là Chủ tàu

và một số Cảng cá, Doanh nghiệp Chế biến Thủy hải sản có tàu cá

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng đểgiải quyết vấn đề nghiên cứu thông qua việc khảo sát 920 ngư dân có tàu đánh bắthải sản xa bờ (bao gồm hộ cá thể, cảng cá, doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản cótàu cá)

Trang 21

Dữ liệu thu thập được xử lý bằng SPSS cùng với các công cụ thống kê mô tả,kiểm định trung bình, kiểm định thang đo với Cronbach Alpha, phân tích nhân tốkhám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính

Phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu này làphương pháp phân tích nhân tố và hồi quy tuyến tính

Cách thức thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi cá nhân đại diện Người đượckhảo sát đa được tiếp cận và giới thiệu tóm tắt về mục đích của nghiên cứu cũng nhưlợi ích của nó Để người được khảo sát dễ trả lời, cuộc khảo sát cũng được tiến hànhgửi bảng câu hỏi qua email, bưu điện nhờ bến, cảng cá gửi trực tiếp chủ tàu và trực tiếpkhảo sát tại bến cá, cảng - chợ cá, doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản có tàu cá

- Thiết kế câu hỏi, thang đo

Nghiên cứu định tính

Đây là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, được thực hiện để điều chỉnh thang đo vàbổ sung các biến quan sát Phương pháp này được thực hiện bằng cách phỏng vấn

sâu (n=10) theo một nội dung đa được chuẩn bị trước (xem phụ lục 1).

Các thông tin cần thu thập: Xác định xem người được phỏng vấn hiểu về nhu

cầu của ngư dân công việc đánh bắt ngoài khơi đối với biển thế nào? Theo họ,yếu tố nào làm cho ngư dân gắn bó và tạo động lực bám biển để giữ lấy công việcnhiều hơn? Kiểm tra xem người được hỏi có hiểu đúng ý câu hỏi hay không? Cóđiều gì mà bảng câu hỏi chưa được đề cập đến, cần bổ sung gì trong nội dung cáccâu hỏi? ngôn ngữ trình bày trong bảng câu hỏi có phù hợp hay chưa?

Đối tượng phỏng vấn: Dựa vào mối quan hệ cảng cá, ngư dân, doanh

nghiệp CBTHS phỏng vấn 08 ngư dân, 01 lanh đạo phòng quản lý tàu cá cập

cảng, 01 lanh đạo phòng phụ trách thu mua (xem phụ lục 1).

Trang 22

Kết quả nghiên cứu sơ bộ này là cơ sở hoàn chỉnh câu hỏi sau khi phỏngvấn 10 nhân vật am hiểu về nghề cá giúp cho việc thiết kế bảng câu hỏi đểđưa vào nghiên cứu chính thức.

Nghiên cứu định lượng

Đây là giai đoạn nghiên cứu chính thức với phương pháp thu thập thông tinbằng cách gử i phiếu, điền thông Tin thông qua bảng câu hỏi khảo sát Dữ liệuthu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 20 Sau khi ma hoá và làm sạch

dữ liệu, sẽ trải qua các bước sau:

Đầu tiên là đánh giá độ tin cậy các thang đo: Độ tin cậy của các thang đo đượcđánh giá bằng hệ số Cronbachalpha, qua đó các biến không phù hợp sẽ bị loại bỏnếu hệ số tương quan biến–tổng (Correcteditem–total correlation) nhỏ hơn 0.3 vàthang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy nếu hệ số Cronbach Alpha lớnhơn 0.6 Tiếp theo, phương pháp phân tích nhân tố EFA được dùng để kiểm định giá trịkhái niệm của thang đo Các biến có trọng số thấp (<0.5) sẽ bị loại và thang đo chỉchấp nhận khi tổng phương sai trích >0,5 Các dữ liệu quan sát đủ điều kiện về độ tincậy và giá trị hợp lệ được sử dụng để kiểm tra mô hình nghiên cứu lý thuyết Trongnghiên cứu này, hồi quy bội được dùng để ước tính và đánh giá ảnh hưởng của đặcđiểm công việc, khen thưởng và phúc lợi, nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, quản

lý, nhận thức về sự công bằng về chính sách, nhận thức về sự công bằng về phânphối đối với sự gắn bó của người lao động đối với công việc, để họ bám giữ việc lâudài

Nghiên cứu cũng tiến hành kiểm định trung bình tổng thể để xem liệu có khácbiệt giữa những độ tuổi, công suất tàu hay thâm niên nghề cá của ngư dân về mứcđộ ảnh hưởng của những nhân tố đó đến mức độ gắn bó của người lao động haykhông Tiếp theo là phân tích nhân tố để kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệtcủa các biến thành phần Các biến có hệ số tải nhân tố (factorloading) nhỏ hơn 0,5

sẽ bị loại Thang đo sẽ được chấp nhận khi tổng phương sai trích lớn hơn hoặcbằng 50% vàeigenvalue có giá trị lớn hơn 1 Sau đó tiến hành kiểm định các giả

Trang 23

thuyết của mô hình và mức độ phù hợp tổng thể của mô hình Mô hình hồi quy đabiến và kiểm định với mức ý nghĩa 5%.

Cuối cùng kiểm định T-test và phân tích ANOVA (Analysisofvariance) nhằmtìm ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của một vài nhóm cụ thể đối với hoạt độngbám biển của ngư dân Nghiên cứu sẽ so sánh kết quả giữa các mức độ đồng ý củamỗi nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó và khả năng bám biển của ngư dân đối vớibiển để tìm hiểu xem có bất kỳ khoảng trống nào giữa mong đợi của ngư dân đến

sự gắn bó và khả năng bám biển hay không Căn cứ vào kết quả đó, nghiên cứu sẽ rút

ra kết luận về những yếu tố Chính phủ nên quan tâm nhiều hơn để nâng cao mức độgắn bó và khả năng bám biển của ngư dân

Quy trình nghiên cứu

Trang 24

Nghiên cứuđịnh tính

N = 10

Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu cơ sở lý thuyết, pháp lý

về liên quan hoạt động bám biển

Khảo sát phỏng vấnbảng câu hỏi

Phỏng vấn bằng câu hỏi

Thu thập thông tin

Hình 1: Quy trình nghiên cứu

Dựa vào tình hìnhthực tế của tàu cá

Trang 25

Phương pháp chọn mẫu

Trong nghiên cứu này, khảo sát được thực hiện theo phương pháp thuận tiệntổng số bản câu hỏi phát ra là 920 trên tổng số 28.424 chiếc tàu đánh bắt hải sản xabờ đa được đăng ký hoạt động , mẫu khảo sát gồm 31 câu hỏi được trả lời hoàn chỉnh,đựơc kiểm tra về độ tin cậy và khả năng dùng được 800 phiếu của 800 đại diện tàu

cá Kích thước mẫu này được coi là đạt yêu cầu trong nghiên cứu khoa học xa hội(n ≥ 50 + 8 × m, m là số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1989) và đáp ứngcác yêu cầu của SPSS trong xử lý dữ liệu

Thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi

Bản câu hỏi (Phụ lục 2) được thiết kế dựa trên nền tảng lý thuyết đa nêu.Các

câu hỏi được xây dựng dưới dạng các câu hỏi nhiều lựa chọn Thang đo năm điểmLikert đa được sử dụng cho các câu hỏi

Thành phần của thang đo

Tất cả các biến quan sát trong các thành phần đều sử dụng thang đo Likert 5điểm,với sự lựa chọn từ 1 đến 5, người được hỏi có quyền chọn 1 trong 5 bậc thang

đo mà họ cảm nhận được, như sau:

Hoạt động bám biển của ngư dân: Một thang đo năm mục được thiết kế cho

nghiên cứu này để đo lường mức độ hoạt động của người lao động với công việc,với tổ chức Các mục được liệt kê để đánh giá sự hiện diện về mặt tâm lý củanhững người tham gia khảo sát về sự gắn bó hoạt động với tổ chức Một mục mẫu

Trang 26

cho hoạt động bám biển của ngư dân: “Một trong những điều tâm đắc và thú vị nhấtđối với tôi là việc tham gia vào những điều xảy ra trong tổ chức, trong công việcnhiều rủi ro mang nhiều ý nghĩa này ”

Khen thưởng và phúc lợi: Được đo bởi thang đo bốn mục thiết kế cho nghiên

cứu này Những người tham gia được yêu cầu chỉ ra mức độ đồng ý khi họ nhận

được kết quả khác nhau từ việc họ làm tốt công việc của mình

Nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, nhà quản ly: Được đo bằng năm mục

của khảo sát nhận thức về sự hỗ trợ từ nhà tổ chức, quản lý với những đặc tínhkiểm soát, quản lý về mức độ an toàn phương tiện, trang thiết bị, dịch vụ tiếp ứngngoài khơi xa đất liền, cảng – chợ cá nơi cập bến sau thời gian khai thác, mua bánhải sản, nhà máy chế biến thủy hải sản thu mua từ các tàu đánh bắt hải sản tiêu thụxuất khẩu và nội địa để giúp ngư dân giảm bớt tổn thất, tăng thu nhập

Công bằng về chính sách: Được đo bởi thang đo bốn mục được sử dụng để đo

sự công bằng về thực hiện chính sách ưu đai đầu tư Những người tham gia yêu cầuchỉ ra mức độ đồng ý khi họ nhận được kết quả khác nhau khi nhận được sự côngbằng tích cực từ phía chính quyền về thủ tục chính sách ưu đai đầu tư ngành nghề mà

họ xem là chưa tốt

Công bằng về phân phối: Được đo bởi thang đo năm mục được sử dụng để đo

sự công bằng về phân phối thu nhập, Chính phủ giảm thuế nghề cá nhiều hơn cácnghề khác, cảm nhận của ngư dân được chia sẽ công việc ngoài khơi nhiều rủiro.Tạo động lực gắn bó, tăng khả năng bám biển giữ công ăn việc làm,ngoài ra còncó ý nghĩa bảo vệ vùng biển tổ quốc

Đặc điểm công việc: Được đo bởi bốn mục mỗi mục tương ứng với một đặc

tính công việc cốt lõi công việc của họ là truyền thống, đánh bắt hải sản ở biển khơimang về bán làm thực phẩm chủ yếu cho con người

Trang 27

Bảng 1: Tổng hợp các thang đo được mã hóa

1/ Khen thưởng ngư dân có thành tích bám biển ktpl12/ Chăm lo gia đình ngư dân có người hy sinh bám biển ktpl23/ Có chính sách quan tâm gia đình truyền thống gắn bó với biển ktpl3

1/ Trang thiết bị dò tìm luồng cá, dự báo thời tiết hiện đại httcql12/ Hỗ trợ giá dầu, bảo hiểm tài sản và con người ra khơi đánh bắt httcql23/ Đào tạokỹ thuật đánh bắt cung ứng lao động cho tàu cá httcql34/ Đăng ký, đăng kiểm an toàn kỹ thuật phương tiện nhanh chóng đảm

5/ Xây dựng cảng chợ cá, khu chế biến THS tập trung, tạo điều kiện tiêu

thụ giá tốt và ổn định

httcql5

4/ Ngư trường đánh bắt nhiều hải sản phải đi xa hơn, rủi ro nhiều hơn mtlv4

1/ Chính sách hỗ trợ đầu tư phương tiện, MMTB đánh bắt phù hợp cbcs12/ Chính sách hỗ trợ đến ngư dân được thực hiện công bằng cbcs2

Trang 28

4/ Chính sách khuyến khích khai thác, chế biến, xuất khẩu phù hợp cbcs4

1/ Miễn giảm thuế tàu đánh bắt hải sản xa bờ cbpp12/ Miễn giảm thuế doanh nghiệp thu mua nguyên liệu hải sản từ tàu

đánh bắt xa bờ

cbpp2

3/ Miễn giảm thuế XK đối với mặt hàng hải sản đánh bắt xa bờ cbpp34/ Miễn giảm thuế cảng chợ cá, khu chế biến THS tập trung cbpp4

1/ Nghề đánh bắt hải sản xa bờ là nghề truyền thống ddcv12/ Công việc đánh bắt xa bờ là ở ngoài biển khơi ddcv23/ Nghề đánh bắt xa bờ ngư dân thường ở ngoài khơi ddcv34/ Tàu đánh bắt xa bờ mang lại thực phẩm cho con người ddcv4

1/Tôi (chúng tôi) gắn bó với nghề cá truyền thống lâu đời gbbb12/ Tôi (chúng tôi) rất tự hào là ngư dân của nước Việt Nam gbbb23/ Tôi (chúng tôi) sống bằng nghề cá cũng làm giàu như bao nghề khác gbbb34/ Tôi (chúng tôi) đoàn kết thành đội tàu ra khơi bám biển gbbb45/ Tôi (chúng tôi) cam kết sẽ gắn bó và bám vùng biển Việt Nam lâu dài gbbb5

5 Kết cấu của luận văn

Phần mở đầu: nêu lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu và nội

dung phương pháp nghiên cứu một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu,khai thác xa bờ ở khu vực Châu Á, các doanh nghiệp chế biến thủy hải sản ở ViệtNam, các cảng cá ở Việt Nam, một số văn bản pháp lý

Trang 29

Chương 1: Cơ sở lý luận hoạt động bám biển của ngư dân

Chương 2: Thực trạng hoạt động bám biển của ngư dân ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động bám biển của ngưdân có tàu đánh bắt xa bờ ở Việt Nam

Trang 30

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ BÁM BIỂN, ĐÁNH BẮT XA BỜ 1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Một số khái niệm, định nghĩa về sự gắn bó

Trong những năm gần đây, đa có rất nhiều sự quan tâm đến sự gắn bó của người lao động đối với tổ chức Nhiều người đa tuyên bố rằng sự gắn bó của người lao động dự báo kết quả lao động, thành công của tổ chức và các kết quả tài chính (Bates, 2004; Baumruk, 2004; Richman, 2006) Đồng thời, có báo cáo cho rằng sự gắn bó của người lao động đang suy giảm và có một sự không gắn bó sâu sắc trong người lao động ngày nay (Bates, 2004; Richman, 2006)

Khái niệm về sự gắn bó của người lao động đóng một vai trò trung tâm trongbối cảnh kinh doanh toàn cầu khi tổ chức cố gắng để tối ưu hóa sức mạnh trí tuệvốn có trong lực lượng lao động đa dạng hiện nay Sự gắn bó của người lao độngđại diện cho một nguồn lực bền vững có khả năng thúc đẩy cho sự thành công và lợithế cạnh tranh của tổ chức Các tổ chức tích cực theo đuổi mức độ gắn bó nhiều hơncủa người lao động để tăng năng suất, khơi dậy nguồn năng lượng tích cực trongvăn hóa doanh nghiệp cũng như để nâng cao danh tiếng của tổ chức trong ngành vàtrong cộng đồng hoạt động kinh doanh rộng lớn hơn

Sự gắn bó của người lao động (employee engagement) đa trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rai và phổ biến (Robinson và cộng sự, 2004) Tuy nhiên, hầu hết những gì đa được viết về sự gắn bó của người lao động chỉ có thể được tìm thấy trong các tạp chí thực hành nơi mà cơ sở của nó ở trong thực tế hơn là lý thuyết

và nghiên cứu thực nghiệm Theo ghi nhận của Robinson và cộng sự (2004), đa có chút ngạc nhiên khi nghiên cứu và thực nghiệm về một chủ đề mà đa trở nên khá phổ biến Kết quả là, sự gắn bó của người lao động có diện mạo hơi khác

Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, sự gắn bó của người lao động còn được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và các định nghĩa và cách đo lường thường giống như những thuật ngữ nổi tiếng như sự tận tâm đối với tổ chức (Organizational commitment) và hành vi công dân trong tổ chức, trong một quốc gia

Trang 31

(Organizational citizenship behavior) (Robinson và cộng sự, 2004) Thông thường,

sự gắn bó của người lao động được định nghĩa là sự gắn bó về cảm xúc và trí tuệ đốivới tổ chức (Baumruk, 2004; Richman, 2006; Shaw, 2005) hoặc những nỗ lực tự phátcủa người lao động trong công việc của họ (Frank và cộng sự, 2004)

Trong các tài liệu học thuật, nhiều định nghĩa đa được cung cấp Kahn (1990, trang 694) định nghĩa sự gắn bó cá nhân là “sự tự khai thác bản thân của chính các thành viên trong tổ chức trong công việc của họ; trong sự gắn bó, người lao động sử dụng và thể hiện bản thân qua vật chất, nhận thức và tình cảm trong công việc” Cánhân không có sự gắn bó thường có xu hướng “tách rời bản thân và công việc; trongviệc không gắn bó, người lao động rút ra và bảo vệ bản thân qua vật chất, nhận thức

và tình cảm trong công việc” Như vậy, theo Kahn (1990, 1992), sự gắn bó có nghĩa là

sự hiện diện của tâm lý khi nắm giữ và thực hiện vai trò tổ chức

Rothbard (2001, trang 656) cũng xác định sự gắn bó như sự hiện diện tâm lý nhưng đi xa hơn khi nói rằng nó bao gồm hai thành phần quan trọng: sự chú tâm và

sự say mê Sự chú tâm đề cập đến việc “có nhận thức và dành thời gian để suy nghĩ

về một vai trò nào đó”, trong khi sự say mê có nghĩa là “hăng say trong một vai trò

và đề cập đến cường độ tập trung của một người vào một vai trò nào đó”

Những nhà nghiên cứu về sự kiệt sức (burnout) xác định sự gắn bó như là sự đối lập hoặc sự tương phản tuyệt đối của sự kiệt sức (Maslach và cộng sự, 2001).Theo Maslach và cộng sự (2001), sự gắn bó được đặc trưng bởi năng lượng, sự tham gia và hiệu quả làm việc, đối lập trực tiếp với ba chiều của sự kiệt sức đó là hoài nghi, kiệt sức và không hiệu quả Nghiên cứu về sự kiệt sức và sự gắn bó đa tìm thấy rằng các chiều cốt lõi của sự kiệt sức (mệt mỏi và hoài nghi) và sự gắn bó (đầy sinh lực và sự cống hiến) là đối lập với nhau (Gonzalez-Roma và cộng sự, 2006)

Schaufeil và cộng sự (2002, trang 74) định nghĩa sự gắn bó như là “một trạngthái tâm lý liên quan đến công việc, tích cực và sẵn sàng làm việc được đặc trưngbởi sự cống hiến, năng lượng và sự say mê” Họ còn cho rằng sự gắn bó không phải làmột trạng thái tạm thời và cụ thể, mà đúng hơn, nó là “một trạng thái nhận thức tình

Trang 32

cảm lan tỏa và liên tục, không tập trung vào bất kỳ đối tượng, cá nhân, sự kiện hoặchành vi cụ thể nào” (trang 74).

Sự gắn bó cũng khác với sự tham gia trong công việc (Job involvement).Theo May và cộng sự (2004), sự tham gia trong công việc là kết quả của sự đánh giá về mặt nhận thức về khả năng đáp ứng nhu cầu của công việc và gắn liền với hình ảnh của chính mình Sự gắn bó phải thấy được người lao động thực hiện các công việc của họ Hơn nữa, sự gắn bó liên quan đến việc chủ động sử dụng cảm xúc và hành vi để bổ sung cho nhận thức May và cộng sự (2004, trang 12) cũng cho rằng “sự gắn bó có thể được dùng như một tiền đề cho sự tham gia trong công việc, trong đó các cá nhân có sự gắn bó nhiều hơn trong vai trò của mình sẽ đồng nhất với công việc của họ”

Tóm lại, Sự tận tâm của nhà nước cũng liên quan đến hoạt động ở chỗ nó đềcập đến thái độ của ngư dân và sự ràng buộc đối với đất nước của họ Sự gắn bókhông phải là một thái độ, nó là mức độ mà một cá nhân chú ý và say mê trong việcthể hiện vai trò của họ Và trong khi hành vi công dân trong cả nước liên quan đếnhành vi tự nguyện và phi chính thức trong việc giúp ngư nghiệp mang tính chất bảo

vệ tổ quốc vùng biển tiêu điểm của sự gắn bó là việc thể hiện vai trò chính thức củamột người chứ không phải là phụ giúp hay hành vi tự nguyện

1.1.2 Lý thuyết động viên

Trang 33

được xây dựng trên cơ sở lý thuyết tâm lý học, lý thuyết của Herzberg (1976) đượcxây dựng trên cơ sở kiến thức thực tế của người lao động Trên cơ sở khảo sát,Herberg đa chia thành hai mức độ: mức độ thứ nhất, làm việc một cách bìnhthường: nếu những biện pháp là nhân tố duy trì không được thỏa man, nhân viên sẽbất man và làm việc kém hăng hái Nhân tố duy trì là thỏa man những nhu cầu bậcthấp; mức độ thứ hai, làm việc một cách hăng hái khi được động viên bằng nhữngbiện pháp gọi là nhân tố động viên: nếu không có, họ vẫn làm việc một cách bìnhthường Nhân tố động viên là thỏa man những nhu cầu bậc bậc cao và duy trì sựthỏa man Việc động viên người lao động đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng đồngthời cả hai nhóm nhân tố duy trì và nhân tố động viên, không thể chú trọng mộtnhân tố nào cả.

1.1.2.2 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow

Trong hệ thống lý thuyết quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầucủa Abraham Maslow là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn A Maslowcho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của conngười được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng.Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau:

Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh ly: là những nhu cầu đảm

bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống vàcác nhu cầu của cơ thể khác

Những nhu cầu an toàn và an ninh: là các nhu cầu như an toàn, không bị đe

doạ, an ninh, chuẩn mực, luật lệ…

Những nhu cầu xã hội: là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè,

xa hội…

Những nhu cầu tự trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác,

được người khác tôn trọng, địa vị…

Những nhu cầu tự thể hiện: là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng

tạo, hài hước…

Trang 34

Hình 1.1 : Tháp nhu cầu của Maslow

1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó của người lao động

Trong nghiên cứu thực nghiệm để kiểm tra mô hình của Kahn (1990), May và cộng sự (2004) thấy rằng sự có ý nghĩa, sự an toàn và sự sẵn sang liên quan đáng kể đến sự gắn bó Họ cũng thấy rằng việc làm thú vị hóa công việc và vai trò phù hợp

là những yếu tố dự báo tích cực của sự có ý nghĩa; khen thưởng, đồng nghiệp và động viên khuyến khích của người giám sát là những yếu tố dự báo tích cực về sự

an toàn trong khi tuân thủ các quy tắc của đồng nghiệp và sự tự ý thức là những yếu

tố dự báo tiêu cực Nguồn lực có sẵn là một yếu tố dự báo tích cực của sự sẵn sàng

Trang 35

về mặt tâm lý trong khi sự tham gia vào các hoạt động bên ngoài là một yếu tố dự báo tiêu cực

Một mô hình sự gắn bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả

sự gắn bó trong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức, trong đólưu ý rằng sự kiệt sức liên quan đến việc xói mòn của sự gắn bó với công việc củamột người (Maslach và cộng sự, 2001) Theo Maslach và cộng sự (2001), sáu lĩnhvực của đời sống - công việc dẫn đến sự kiệt sức và sự gắn bó là khối lượng côngviệc, sự kiểm soát, khen thưởng và ghi nhận, cộng đồng và hỗ trợ xa hội, nhận thức về

sự công bằng, và giá trị Họ cho rằng sự gắn bó với công việc được liên kết với mộtkhối lượng công việc có thể chịu đựng được, ý thức về sự lựa chọn và kiểm soát,ghi nhận và khen thưởng thích hợp, một cộng đồng làm việc có sự hỗ trợ, công bằng

và công lý, và công việc có ý nghĩa và giá trị Giống như sự kiệt sức, sự gắn bó dựkiến được mong muốn là sẽ làm trung gian liên kết giữa sáu yếu tố đời sống côngviệc và những kết quả làm việc khác nhau

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân

Sau khi nghiên cứu các lý thuyết, sự hạn chế về nghiên cứu tới các yếu tố ảnhhưởng đến sự gắn và khả năng bám biển của ngư dân Tác giả chọn mô hình nghiêncứu sự gắn bó khác xuất phát từ tài liệu về sự kiệt sức trong đó mô tả sự gắn bótrong công việc như là sự tương phản rõ ràng của sự kiệt sức làm xói mòn sự gắn bócủa một người - Maslach và cộng sự (2001), kết hợp khái niệm về khả năng thựchiện của triết học để đưa ra mô hình nghiên cứu hoạt động bám biển của ngư dân,

đề tài này tập trung nghiên cứu sáu yếu tố sau: 1 Môi trường làm việc, 2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quả ly, 3 Khen thưởng và phúc lợi 4 Công bằng về chính sách, 5 Công bằng về phân phối, 6 Đặc điểm công việc.

Bảng 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bám biển của ngư dân

Hoạt động bám biển của ngư dân = B0 + B1 * môi trường làm việc + B2 * hỗ

trợ của nhà tổ chức, quản lý + B3 * khen thưởng và phúc lợi + B4 * công bằng về chính sách + B5 * công bằng về phân phối + B6 * đặc điểm công việc

Hoạt động bám biển của ngư dân = B0 + B1 * môi trường làm việc + B2 * hỗ

trợ của nhà tổ chức, quản lý + B3 * khen thưởng và phúc lợi + B4 * công bằng về chính sách + B5 * công bằng về phân phối + B6 * đặc điểm công việc

Trang 36

1.2.1 Khen thưởng và phúc lợi

Cũng trong điều kiện của lý thuyết trao đổi xa hội, khi người lao động tin rằngnhà tổ chức, nhà quản lý của họ và lo lắng cho họ, họ có khả năng đáp lại bằng cách

cố gắng thực hiện nghĩa vụ của mình đối với tổ chức bằng cách ngày càng trở nêngắn bó hơn, làm cho họ tăng thêm khả năng bám biển để có việc làm nuôi sống giađình Nếu được Nhà nước có chính sách quan tâm chăm lo những người thân của

họ, khi ra khơi đánh bắt gặp chuyện rủi ro, thì họ cũng an tâm hơn khi làm việc ởmôi trường khó khăn và huy hiểm

1.2.2 Hỗ trợ của nhà tổ chức, nhà quản lý

Đảm bảo các tàu đánh bắt hải sản luôn ở trạng thái an toàn, có đầy đủ cáctrang thiết bị an toàn cho người và tàu (phao cứu sinh, thiết bị thông tin liên lạc, );mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên; khai báo với chính quyền và Đồn Biên phòngnơi cư trú về hô hiệu và tần số liên lạc của tàu

Tàu thuyền khi ra, vào cảng, bến đậu phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ khaibáo; phải thông báo cụ thể ngư trường đang hoạt động (vị trí, tọa độ) cho cơ quanquản lý thủy sản và thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết trong quá trình hoạtđộng trên biển

Phương tiện đánh bắt thủy hải sản đóng bằng gỗ từ thời xa xưa, đến nay chỉphù hợp đối với các con tàu đánh bắt gần bờ, gỗ dùng để đóng tàu ngày càng hiếm,kỹ thuật đóng tàu sắt lớn an toàn, giá thành thấp so với tàu gỗ Đăng ký cấp sốphương tiện tàu đánh bắt thủy hải sản để Nhà nước theo dõi, quản lý và đăng kiểm

an toàn kỹ thuật theo Quy phạm của Cục Đăng kiểm Việt Nam

Dịch vụ hậu cần nghề cá: Trong nỗ lực nâng cao hiệu quả nghề khai thác hải

sản, chính quyền địa phương cùng với bà con ngư dân đa cho ra đời nhiều loại hìnhdịch vụ hậu cần nghề cá trên biển như dịch vụ cứu nạn cứu hộ, vận chuyển sảnphẩm… có nhiệm vụ chuyên chở sản phẩm từ biển vào bờ để giao cho các nhà máychế biến Dịch vụ bao tiêu tiêu thụ sản phẩm trực tiếp và môi giới trong mua bánsản phẩm tại các Cảng cá trong nước Dịch vụ cung ứng nhiên liệu tham gia vận

Trang 37

chuyển xăng dầu, nước đá từ đất liền ra biển cung cấp cho các tàu đang hoạt động

xa bờ Dịch vụ sửa chữa nhanh là lực lượng có tay nghề sửa máy nổ, vá lưới, sửatàu hư hỏng…

Doanh nghiệp chế biến Thủy hải sản (DNCBTHS): là nơi tiếp nhận nguyên

liêu sau thu hoạch khai thác thủy hải sản, trong đó nghề đánh bắt hải sản cung cấpcho các nhà máy chế biến xuất khẩu, làm giá trị gia tăng sản phẩm đánh bắt, chia sẻlợi nhuận với ngư dân Tàu đánh bắt xa bờ quyết định sản lượng nguyên liệu, Doanhnghiệp chế biến hải sản quyết định lợi nhuận cho danh nghiệp của họ và cho tàuđánh bắt hải sản Ngành chế biến Thủy hải sản thay đổi máy móc thiết bị sản xuấtsạch, công nghệ tiên tiến để đáp ứng với thị trường và quy chuẩn quốc gia chongành chế biến Thủy hải sản tại Việt Nam

Cảng - Chợ cá địa phương kết hợp với khu CBTHS: là nơi tập trung cho tàu

đánh bắt ngoài khơi hoặc tàu trung chuyển về cập bến lên hải sản, chợ giao dịchmua bán giữa ngư dân với doanh nghiệp chế biến, thương lái các chợ lậu cận, cungcấp dịch vụ tiện ích hỗ trợ doanh nghiệp và ngư dân Khu chế biến thủy sản giốngnhư một khu công nghiệp chuyên ngành Thủy hải sản, hệ thố hạ tầng kỹ thuật, trạm

xữ lý nước thải tập trung…

1.2.3 Môi trường làm việc

Môi trường làm việc là ở ngoài biển khơi, ngư dân lên tàu ra đến ngư trườngngoài xa đánh bắt hải sản, khối lượng công việc ngoài khơi đơn độc, nhiều khó khăn

và nguy hiểm Nghề cá là nghể nhiều rủi ro, thách thức nhưng rất thú vị khi trúng vụ

và đòi hỏi ngư dân phải yêu nghề, yêu biển Mỗi chuyến ra khơi từ hơn một thángsau đó quay về đất liền thăm gia đình, công việc nặng nhọc, khó khăn hàng ngàycủa ngư dânđa trở nên bình thường như bao nghề khác Rừng vàng biển bạc, ngưtrường gần bờ ngày cạn kiệt do khai thác quá mức, ngư trường xa bờ là mục tiêucủa Chính phủ xây dựng chiến lược biển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030,định hướng cho ngư dân phát triển ngành đánh bắt hải sản xa bờ là rất phù hợp vớingư dân

Trang 38

1.2.4 Công bằng về chính sách

Chính sách khuyến khích ưu đai đầu tư được cụ thể hóa đúng đường lối chủtrương của Đảng và Nhà nước, đúng địa chỉ, đúng nội dung của ngành, xử lýnghiêm khi có tiêu cực xảy ra và công bằng đối với ngư dân vùng biển Sự côngbằng là một trong các điều kiện gắn bó của Maslach và cộng sự (2001), khi ngườilao động có nhận thức về sự công bằng trong tổ chức cao, có nhiều khả năng họcảm thấy có nghĩa vụ đáp lại công bằng đó trong cách thức họ thực hiện vai trò của

họ bằng cách gắn bó nhiều hơn, tạo động lực làm tăng thêm khả năng bám biển vìcuộc sống và bảo vệ tổ quốc

1.2.5 Công bằng về phân phối

Khi chính sách phân phối của Chính phủ liên quan đến ngành đánh bắt xa bờ

sẽ tạo cho ngư dân, nhà kinh doanh hải sản do ngư dân đánh bắt nhận thức được quathuế suất Thuế Giá trị gia tăng (GTGT), Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN),Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNCN) Khoản thu nhập từ giảm miễn thuế họ có thểsang sẻ nhau về lợi nhuận để tàu đánh bắt ra khơi liên tục mang về hải sản cho nhàmáy chế biến không ngừng xuất khẩu mang ngoại tệ về cho đất nước Từ việc giảmmiễn thuế giúp cho ngư dân nhận thức được sự quan tâm của Chính phủ thể hiệnbằng vật chất, họ sẽ có ý thức làm gì để gắn bó với nghề cá lâu dài và cố gắng bámbiển vùng lanh hải của Việt Nam

1.2.6 Đặc điểm công việc

Nghề đánh bắt xa bờ là nghề truyền thống, công việc đánh bắt là ở ngoài biểnkhơi, sản phẩm của công việc này là mang về cho người dân hải sản giàu chất dinhdưỡng Do đó có nhiều ngư dân làm việc trên biển khơi hơn nữa đời người vì yêunghề, yêu biển, yêu quê hương đất nước nơi sinh ra, lớn lên với nghề cá cha truyềncon nối

Tóm tắt Chương 1

Chương 1 đa đưa ra một số khái niệm về sự gắn bó, các lý thuyết liên quanđến nhu cầu cá nhân, thuyết động viên, thuyết mong đợi, thuyết về sự công bằng

Trang 39

Theo mô hình Maslach và cộng sự (2001), sáu lĩnh vực của đời sống - côngviệc dẫn đến sự kiệt sức và sự gắn bó là khối lượng công việc, sự kiểm soát, khenthưởng và ghi nhận, cộng đồng và hỗ trợ xa hội, nhận thức về sự công bằng và giá trị.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC XA BỜ Ở VIỆT NAM – CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG HOẠT ĐỘNG BÁM BIỂN CỦA NGƯ DÂN

CÓ TÀU ĐÁNH BẮT HẢI SẢN XA BỜ

2.1 Thực trạng về các đoàn tàu cá khai thác xa bờ ở Việt Nam

Hoạt động khai thác hải sản được hình thành từ rất sớm, gắn liền với lịch sửcủa xa hội, nhưng nghề khai thác hải sản của Việt Nam đến cuối những năm 80 củathế kỷ trước vẫn là nghề khai thác thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ Đến năm 1985, cả nước có 29.203 tàu thuyền máy với tổng công suất là456.796 cv, bình quân 19 cv/chiếc; gần 30.000 tàu thuyền thủ công

Tuy nhiên, từ năm 1991 tới nay, số lượng tàu thuyền máy tăng nhanh, sốthuyền thủ công giảm dần Nhất là từ sau năm 1997, khi có chủ trương phát triểnkhai thác xa bờ và ổn định khai thác vùng ven bờ, thời điểm bắt đầu triển khaichương trình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu đánh bắt xa bờ, tỷ trọng tàu thuyềncông suất lớn trên 90 CV tăng đáng kể

Tính đến 31 tháng 12 năm 2011, cả nước có gần 130 ngàn tàu cá các loại,trong đó loại tàu cá lắp máy < 20 CV là 65 ngàn chiếc (50%), lắp máy từ 20 ≤ 50CVcó 28 ngàn chiếc (21,84%), từ 50 ≤ 90 CV có 9,5 ngàn chiếc (7,3%) và lắp máy từ90CV trở lên có 27.224 chiếc (20,84%), tăng 55,23% so với năm 2009

Trong năm 2011, tàu thuyền được đóng mới đa có những bước cải tiến, hoànthiện về mặt chất lượng cũng như độ an toàn của con tàu Nhiều tàu đóng mới trangbị công suất trên 1.000 CV như tàu lưới kéo của các tỉnh Quảng Bình, Quảng ngai,Bình Định, Kiên Giang, Bến Tre, Bà Rịa Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận, cá

Trang 40

biệt có tàu làm nghề câu mực của thành phố Đà Nẵng cũng đa trang bị máy có công

suất 1000 CV (xem phụ lục 3).

Nhiều tàu xa bờ đóng mới, cải hoán hoặc sửa chữa đa sử dụng vật liệucomposite bọc xung quanh tàu nâng độ cứng vững, kín nước đảm bảo an toàn khitàu hoạt động trên biển

Công tác bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch trong khai thác thủy sản ngàycàng được quan tâm, nhiều tàu đa trang bị hầm bảo quản sản phẩm bằng công nghệxốp thổi (Polyurethan) thay cho xốp ghép truyền thống

Sự hiện diện dân sự của lực lượng tàu thuyền và ngư dân trên các vùng biển đagóp phần giữ vững chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo của Tổ quốc Trước nhữngnăm của thập niên 90 của thế kỷ trước tàu thuyền nước ngoài thường xuyên xâmphạm vùng biển Việt Nam để khai thác trộm thủy sản, nhất là vùng biển Vịnh BắcBộ và vùng biển Tây Nam Bộ

Ngày nay, khi đội tàu khai thác xa bờ phát triển, có mặt thường xuyên trênkhắp vùng đặc quyền kinh tế, tình trạng tàu thuyền nước ngoài vị phạm vùng biểnViệt Nam khai thác trộm thủy sản giảm đáng kể

Ngày đăng: 09/05/2019, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w