ứng các sản phẩm lắp ráp, sang công đoạn cung ứng các linh kiện được sản xuất trong nước, từ công đoạn cung ứng các linh kiện điện tử tiêu dùng sang các sản phẩm công nghệ cao hàng đầu t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Nguyễn Bình Giang
2 PGS, TS Nguyễn Duy Lợi
Hà Nội - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận án là trung thực và chûa đûợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều đûợc tŕch ẫn và tham chiếu đ̀y đủ
Nghiên cứu sinh
Lê Việt Dũng
Trang 3MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vẽ, biểu đồ, sơ đồ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐÀI LOAN 8
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 8
1.2 Những giá trị của công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án 22
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 25
2.1 Khái quát về chuỗi cung ứng toàn c̀u 25
2.2 Tham gia chuỗi cung ứng toàn c̀u của ngành công nghệ thông tin 39
2.3 Bối cảnh hình thành và phát triển chuỗi cung ứng toàn c̀u ngành công nghệ thông tin ở Đông Á và cơ hội tham gia của các quốc gia trong khu vực 49
Chương 3: THỰC TIỄN THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA ĐÀI LOAN 63
3.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế khi Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn c̀u ngành CNTT 63
3.2 Các chính sách và biện pháp tham gia chuỗi cung ứng toàn c̀u của ngành CNTT Đài Loan 77
Trang 43.3 Quá trình tham gia vào chuỗi cung ứng toàn c̀u ngành công nghệ thông tin của
Đài Loan 91
3.4 Đánh giá việc tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghệ thông tin của Đài Loan 99
Chương 4: TRIỂN VỌNG THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH 121
4.1 Sự tham gia của ngành công nghệ thông tin của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn c̀u 121
4.2 Bài học kinh nghiệm từ Đài Loan 135
4.3 Kiến nghị chính sách cho Việt Nam 142
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CEPD Council for Economic Planning
and Development
Hội đồng lập kế hoạch và phát triển kinh tế
CM Contract manufacturer Nhà sản xuất chuyên làm gia
công
EMS Electronic manufacturing
services
Dịch vụ chế tạo điện tử
ERSO Electronics Research and
Service Organization
Viện công nghiệp điển tử
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài HSP
Hsinchu Science Park
Công viên khoa học Hsinchu
ICT Information and
MOC Ministry of Communications Bộ truyền thông
MOEA Ministry of Economic Affairs Bộ quan hệ kinh tế
NDF National Development Fund Quỹ Phát triển Quốc gia
NIES New Industrial Economy Nền kinh tế công nghiệp mới NSC National Science Council Hội đồng khoa học quốc gia OBM Original brand manufacturer Nhà sản xuất thương hiệu gốc ODM Original design manufacturer Nhà thiết kế gốc
OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Trang 6OEM Original equipment
Tập đoàn Quốc tế sản xuất chất bán dẫn
TSMC Taiwan Semiconductor
Manufacturing Co., Ltd
Công ty chế tạo sản phẩm bán dẫn
TSS Taiwan Startup Stadium Sân vận động của Startup Đài
Loan VEIA Vietnam electronic industries
association
Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam
WB World Bank Ngân hàng thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bản chất của các loại thành viên trong mạng sản xuất 44 Bảng 2.2 Top 15 quốc gia hàng đầu xuất khẩu hàng hoá điện tử trung gian trên thế giới (1991, 2008) 55
Bảng 3.1 Chi tiêu R&D của 20 doanh nghiệp công nghệ thông tin hàng đầu Đài Loan năm 2008 80 Bảng 3.2 FDI và tốc độ tăng trưởng thương mại trong các khu chế xuất Đài Loan, 1966-1986 (triệu USD) 82 Bảng 3.3 Phát triển kinh tế và hệ thống giáo dục đại học và dạy nghề trong các ngành công nghệ ở Đài Loan 88 Bảng 3.4 Giá trị thương hiệu của 10 thương hiệu nổi tiếng toàn cầu của Đài Loan trong lĩnh vực công nghệ thông tin năm 2015 99
Bảng 3.5 Thị phần thế giới của một số mặt hàng công nghệ thông tin phần mềm của Đài Loan năm 2015 102 Bảng 3.6 Các công ty con của một số hãng công nghệ thông tin nổi tiếng của Đài Loan ở Mỹ và Trung Quốc 105
Bảng 3.7 Thứ hạng của các doanh nghiệp sản xuất và đóng gói sản phẩm vi mạch Đài Loan năm 2014 108 Bảng 3.8 Mô hình Hàn Quốc và Đài Loan: tính hiệu quả của quy mô doanh nghiệp lớn và nhỏ trong phát triển công nghệ thông tin 116 Bảng 4.1 Xuất nhập khẩu công nghệ thông tin của Việt Nam giai đoạn 2011 -
2016 128
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Cấu trúc chiều dọc của một chuỗi cung ứng 28
Hình 2.2 Cấu trúc chiều ngang của một chuỗi cung ứng 29
Hình 2.3 Những yếu tố chi phối chuỗi cung ứng 32
Hình 2.4 Chuỗi cung ứng ngành công nghệ thông tin 41
Hình 3.1 Các tổ chức chủ yếu thúc đẩy sự phát triển công nghệ thông tin Đài Loan 68
Hình 3.2.Chi tiêu R&D cho các ngành công nghệ cao của Đài Loan (triệu TWD) 80 Hình 3.3 Quá trình tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghệ thông tin của Đài Loan 92
Hình 3.4 Số lượng linh kiện các hãng máy tính mua của các nhà sản xuất Đài Loan 97
Hình 3.5 Vị trí của Đài Loan trên thị trường vật liệu bán dẫn thế giới 100
Hình 3.6 Thị phần thế giới của một số mặt hàng công nghệ thông tin phần cứng của Đài Loan năm 2011-2014 101
Hình 3.7 Tham gia chuỗi cung ứng khu vực Đông Bắc Á của smartphone Đài Loan 103
Hình 3.8.Vai trò của các doanh nghiệp ICT Đài Loan trong hệ thống cung ứng máy tính bảng của ba hãng thương hiệu hàng đầu thế giới 104
Hình 3.9.Thứ hạng của các doanh nghiệp thiết kế sản phẩm vi mạch Đài Loan trong top 20 hãng thiết kế hàng đầu thế giới năm 2013 (Tốc độ tăng trưởng % và doanh thu triệu USD) 110
Trang 9Hình 3.10 Xuất khẩu sản phẩm công nghệ thông tin phần cứng của Đài Loan giai đoạn 2013-2019 114 Hình 4.1 Chuỗi cung ứng ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam 126
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành mũi nhọn hiện nay ở Việt Nam, chiếm tới 28,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước năm 2017 và đưa Việt Nam trở thành nước lớn thứ 14 trên thế giới về xuất khẩu sản phẩm điện từ lớn thứ 12 trên thế giới kể từ năm 2015 và lớn thứ 3 trong ASEAN Tuy nhiên, 95% kim ngạch xuất khẩu của ngành CNTT Việt Nam đang thuộc về khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Doanh ngiệp trong nước chỉ chủ yếu dừng ở khâu gia công, lắp ráp Sức lan toả và mối liên kết giữa doanh nghiệp ngành CNTT trong nước với các doanh nghiệp FDI còn rất yếu và vai trò của các doanh nghiệp trong nước thực
sự mờ nhạt, kể cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp phụ trợ cho ngành
Sự phụ thuộc rất lớn vào vốn và công nghệ nước ngoài đã khiến ngành CNTT Việt Nam sau nhiều năm phát triển vẫn tiếp tục như một “đứa trẻ chưa chịu lớn”, tiếp tục
lệ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, từ khâu cung cấp kinh kiện đến các khâu có giá trị gia tăng khác Mặc dù đang trở thành một trung tâm lắp ráp các sản phẩm CNTT trong khu vực Châu Á, nhưng Việt Nam vẫn chưa thể tiếp tục nâng cấp vị trí của mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu Điều này đặt ra một câu hỏi lớn: Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu và làm cách nào để cải thiện vị trí của mình trong chuỗi cung ứng?
Ở khu vực châu Á, Đài Loan là một trường hợp điển hình của việc tham gia thành công trong chuỗi cung ứng ngành CNTT toàn cầu Với các thương hiệu nổi tiếng của ngành CNTT như Quanta, Compal, Honhai, Inventec, Petatron, Wistron, Acer, Asus, HTC… Đài Loan đang nỗ lực trở thành người khổng lồ công nghệ cao trên thế giới, thay đổi hình ảnh từ một phân xưởng chuyên gia công cho các tập đoàn CNTT quốc tế, thành một trong những quốc gia sản xuất điện thoại thông minh và máy tính bảng hàng đầu thế giới, đứng đầu một số mạng sản xuất toàn cầu ngành CNTT Để tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng ngành CNTT toàn cầu, Đài Loan
đã hội tụ đủ các điều kiện cần thiết trong từng giai đoạn phát triển, từ công đoạn cung
Trang 11ứng các sản phẩm lắp ráp, sang công đoạn cung ứng các linh kiện được sản xuất trong nước, từ công đoạn cung ứng các linh kiện điện tử tiêu dùng sang các sản phẩm công nghệ cao hàng đầu thế giới với các sản phẩm như chất bán dẫn, sợi quang, máy tính xách tay, máy tính bảng… Tuy nhiên, trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, Đài Loan vẫn gặp phải nhiều hạn chế, đặc biệt là vẫn chưa tiến tới được khâu cuối cùng của chuỗi cung ứng một cách hiệu quả và bền vững Hầu hết các doanh nghiệp Đài Loan mới chỉ là những đối tác nhỏ trong chuỗi cung ứng CNTT của thế giới và chỉ sản xuất những thứ do các doanh nghiệp khác đặt hàng, mặc dù đã có nhiều doanh nghiệp Đài Loan có thương hiệu và tên tuổi
Là một nước đi sau, Việt Nam cần thiết học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia
và các nền kinh tế đi trước, trong đó có Đài Loan Các doanh nghiệp Việt Nam với xuất phát điểm thấp, chưa có nhiều kinh nghiệm tham gia nhiều vào chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT, nên rất khó khăn trong việc làm chủ công nghệ và cải thiện vị trí của mình trong chuỗi cung ứng Thông qua kinh nghiệm của Đài Loan, Việt Nam
có thể rút ra những bài học cụ thể, thiết thực để tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi cung
ứng toàn cầu ngành CNTT Do vậy, việc nghiên cứu đề tài "Tham gia chuỗi cung ứng
toàn c̀u ngành công nghệ thông tin: Kinh nghiệm của Đài Loan" là mang tính cấp
thiết và có giá trị khoa học và thực tiễn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của nghiên cứu này là làm sáng tỏ cách thức mà Đài Loan đã thực hiện để tham gia thành công vào các chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án triển khai một số nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
+ Hệ thống hoá và làm rõ luận cứ khoa học về chuỗi cung ứng toàn cầu, các điều kiện cần và đủ để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT
+ Phân tích các đặc điểm, chính sách, công cụ để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT
Trang 12+ Phân tích, đánh giá quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan; những chính sách biện pháp chủ yếu giúp ngành CNTT Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
+ Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của ngành CNTT Đài Loan khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
+ Rút ra bài học và kiến nghị chính sách cho Việt Nam
Để đáp ứng được các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án cần trả lời được một số câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau:
1) Chuỗi cung ứng toàn cầu có đặc điểm gì? Câu hỏi này cần được xem xét dưới góc độ chuỗi cung ứng toàn cầu có đặc điểm và cơ chế hoạt động ra sao để các nước đang phát triển có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu
2) Làm thế nào để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu? Câu hỏi này cần được xem xét dưới góc độ các nước muốn tham gia cần có những điều kiện cần và đủ nào, dùng chính sách và biện pháp nào để tham gia và nâng cấp vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu
3) Đài Loan đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT bằng cách nào và đã đạt được những thành công và hạn chế gì? Câu hỏi này được xem xét dưới góc độ Đài Loan đã thực hiện các biện pháp, chính sách như thế nào để ngành CNTT tham gia và nâng cấp vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu
4) Việt Nam học tập được gì từ kinh nghiệm Đài Loan trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT? Câu hỏi này được xem xét dưới góc độ các bài học kinh nghiệm từ phát triển ngành CNTT Đài Loan và từ quá trình tham gia chuỗi, nâng cấp vị trí chuỗi của ngành CNTT Đài Loan
5) Có gợi ý chính sách gì cho Việt Nam thay đổi vị trí chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT? Câu hỏi này được xem xét dưới góc độ kiến nghị chính sách cho Việt Nam sau khi nghiên cứu kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án này là ngành CNTT phần cứng của Đài
Trang 13Loan trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
Ngành công nghiệp CNTT bao gồm: CNTT phần cứng, CNTT phần mềm và quản lý số Tuy nhiên, do tài liệu nước ngoài về CNTT Đài Loan hạn chế, khó đo đếm giá trị và các phân đoạn của chuỗi cung ứng; hơn nữa hàng hoá CNTT phần mềm
là một loại hàng hoá đặc biệt, có các đặc điểm và cấu trúc, chủ thể tham gia chuỗi giá trị khác biệt hoàn toàn với hàng hoá CNTT phần cứng, nên tác giả luận án xin phép chỉ dừng lại đối tượng nghiên cứu là CNTT phần cứng của Đài Loan
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian: từ thập niên 1980 đến nay
+ Không gian: chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT ở Đài Loan, bao gồm: công nghiệp phần cứng, phần mềm, các dịch vụ khác
+ Nội dung: Các điều kiện cần và đủ để Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng, quá trình tham gia chuỗi cung ứng, cách thức tham gia, biện pháp chính quyền Đài Loan thực hiện để tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT, kết quả đạt được, bài học cho Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Từ thực tiễn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT của Đài Loan,
đề tài sẽ đánh giá triển vọng của ngành trong chuỗi cung ứng toàn cầu trong tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích hệ thống: Luận án sẽ sử dụng phương pháp này để phân tích sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan từ thập niên 1980 đến nay để làm rõ những chính sách, đặc trưng phát triển
Trang 14của chuỗi trong từng giai đoạn, từng ngành, tạo cơ sở cho việc rút ra bài học và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận án thu thập các công trình nghiên cứu
có liên quan đến việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT Đài Loan để phân tích, đánh giá, từ đó thấy được những thiếu hụt và khoảng trống trong những công trình nghiên cứu trước đó, từ đó tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện
- Phương pháp so sánh: Luận án sử dụng phương pháp so sánh giữa các tiểu ngành, các lĩnh vực, các giai đoạn trong phát triển chuỗi cung ứng ngành CNTT của Đài Loan Đồng thời, luận án cũng sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu hiệu quả tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT của Đài Loan với các nước trong khu vực
và trên thế giới nhằm làm rõ vai trò và vị trí của Đài Loan trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu
- Phương pháp chuyên gia: Luận án sẽ tiến hành tìm hiểu và lấy ý kiến của một số chuyên gia Việt Nam chuyên nghiên cứu thương mại, xuất khẩu hàng hoá CNTT, các chuyên gia nghiên cứu về kinh tế Đài Loan, Trung Quốc để tìm hiểu các bài học kinh nghiệm có thể rút ra cho Việt Nam
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đi sâu phân tích và làm rõ thực trạng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT Đài Loan, các chính sách, biện pháp của Đài Loan để ngành CNTT tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; từ đó đánh giá vị trí, thứ bậc, thành công và hạn chế khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan
Luận án đưa ra những điều kiện cần và đủ để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT ở Đài Loan, so sánh với Việt Nam, phân tích tầm quan trọng của việc nâng cấp chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Việt Nam; từ đó phân tích tác động của các nhân tố này đối với Việt nam trong giai đoạn hiện nay rất khác xa với giai đoạn Đài Loan thực hiện phát triển CNTT trước đây
Phân tích, đánh giá thực tiễn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan giúp làm sáng tỏ lý luận về chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT, giúp
Trang 15hiểu rõ hơn và vận dụng tốt hơn lý luận trong việc phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án mang ý nghĩa lý luận sâu sắc bởi luận án góp phần hệ thống hoá các cơ
sở lý luận về chuỗi cung ứng toàn cầu và việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT thông qua việc tiến hành thống nhất các khái niệm, phân loại chuỗi cung ứng và chủ thể tham gia chuỗi cung ứng, đưa ra các tiêu chí đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu; các chính sách và công cụ để tham gia và nâng cấp chuỗi cung ứng toàn cầu của các ngành công nghiệp, trong đó có ngành CNTT Luận án mang ý nghĩa thực tiễn cao bởi việc nghiên cứu sự tham gia và nâng cấp chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan sẽ giúp Việt Nam có thêm các bài học tham khảo và các kiến nghị chính sách thiết thực, giúp ngành CNTT Việt Nam tham gia hiệu quả vào chuỗi cung ứng toàn cầu
Với những đóng góp như vậy, Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan hoạch định chính sách, hoạt động thực tiễn, các tổ chức nghiên cứu, giảng dạy
và những ai quan tâm đến chủ đề này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu luận án gồm 4 chương:
Tên chương Giải quyết nhiệm vụ
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Tìm khoảng trống nghiên cứu và cách tiếp cận của đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án phản ánh những nội dung gì? Tác giả luận án kế thừa gì từ các công trình nghiên cứu trước đó?
Tính mới của luận án
Trang 16là gì? Tiếp cận theo hướng nào?
Chương 2 Cơ sở lý luận và
thực tiễn liên quan đến việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
Phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
Chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT dựa trên khung lý thuyết nào?
Ngành CNTT Đài Loan nằm đâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu khu vực Đông Á? Chương 3 Thực tiễn tham gia
chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT Đài Loan
Phân tích quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan,thực trạng tham gia, các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân
Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT từ năm nào? Bằng các chính sách gì? Đạt kết quả ra sao? Gặp hạn chế gì và đâu là nguyên nhân?
Chương 4 Triển vọng tham
gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT Việt Nam và một số kiến nghị chính sách
Phân tích thực trạng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Việt Nam, một số bài học và kiến nghị chính sách
từ kinh nghiệm Đài Loan
Việt Nam nằm ở đâu trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT? Gặp thuận lợi
và khó khăn gì khi tham gia chuỗi cung ứng?Kinh nghiệm Đài Loan đem lại bài học gì và kiến nghị chính sách gì cho Việt Nam
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU
NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐÀI LOAN
Nghiên cứu về chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay không phải là một chủ đề mới Chủ đề này đã được các nhà khoa học, học giả đặc biệt quan tâm và đã tiến hành nghiên cứu trong những năm gần đây Cùng với quá trình phát triển của đất nước, ngành CNTT cũng nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này mới chỉ chủ yếu tập trung đến vai trò của ngành CNTT đặt trong bối cảnh cả nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chưa đặt ngành CNTT trong chuỗi cung ứng toàn cầu, trong sự phân công chuyên môn hoá quốc tế Kinh nghiệm thành công của các nước có đặc điểm phát triển tương tự cũng chưa được đề cập nhiều, do đó các đề xuất giải pháp chính sách theo hướng tiếp cận này cũng còn nhiều thiếu sót Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng quá trình tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam chính là mục tiêu của luận án
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
Thứ nhất, nghiên cứu đến các vấn đề lý thuyết về chuỗi cung ứng toàn c̀u và đặc điểm của chuỗi
Lê Thị Ái Lâm chủ biên (2012) đã cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết về mạng sản xuất toàn cầu Tác giả cũng đưa ra phân tích hai ví dụ là mạng sản xuất toàn cầu trong ngành điện tử và ngành dệt may nhằm nhấn mạnh việc tham gia vào các mạng sản xuất toàn cầu là con đường nhanh và hiệu quả đi tới thịnh vượng của các doanh nghiệp cũng như quốc gia Cù Chí Lợi (2011) cũng đề cập khá chi tiết đến khái niệm, bản chất, loại hình, cấu trúc của các mạng sản xuất quốc tế Các tác giả đã đề xuất hàng loạt kiến nghị, giải pháp để Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu Nguyễn Thị Nhiễu (2007) đã đề xuất chiến lược tham gia mạng sản xuất quốc tế cho doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu dành phần lớn công việc vào phân tích bối cảnh và điều kiện mới của môi trường kinh doanh quốc tế và sự phát triển mới của các mạng sản xuất quốc tế/chuỗi giá trị toàn cầu, các hạn chế của Việt
Trang 18Nam, thay vì xác định cơ chế tham gia của các nước, nhất là nước đang phát triển, vào mạng sản xuất quốc tế Bùi Thái Quyên (2014) đã kiến nghị nhiều biện pháp để tham gia mạng Tuy nhiên, tác giả này mới chỉ dựa trên cơ sở thực tiễn với việc mô
tả về các mạng sản xuất khu vực mà không chỉ ra cơ sở lý luận của các biện pháp đó Bên cạnh đó, có một số công trình trong nước đã nghiên cứu về biện pháp cụ thể tham gia mạng sản xuất toàn cầu, song phần lớn lại chỉ tập trung nghiên cứu một vài biện pháp nhất định, chứ không nghiên cứu hệ thống biện pháp Cụ thể là:
- Trần Văn Tùng (2007) đã có những giới thiệu sơ lược về mạng sản xuất quốc
tế (trang 116-119) và thiên về mô tả sự phát triển của ngành điện tử và chế tạo ô tô ở một số nước Đông Á, hơn là trình bày cách mà các nước đó tham gia như thế nào Cuốn sách cũng không chỉ ra cơ sở lý luận và vạch ra khung chính sách tham gia
- Phạm Thị Thanh Hồng (2014), đã chỉ ra một số biện pháp hữu hiệu để tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu và nâng cao vị thế trong mạng, đó là phát triển các cụm liên kết ngành Song, không thấy nghiên cứu này đề cập có hệ thống đến các biện pháp khác
- Nguyễn Việt Khôi (2011) đã chỉ ra cách thức để một quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đó là thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty đa quốc gia và trở thành người cung ứng trong mạng sản xuất của các công ty này Song, không thấy nghiên cứu này đề cập có hệ thống đến các biện pháp khác
Ngoài ra, có một số công bố dưới dạng các bài báo khoa học ngắn đề cập đến kinh nghiệm của một vài nước Đông Á tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở một số ngành nhất định Đó là các công trình của Vũ Đức Thanh (2007), Trần Văn Tùng và
Vũ Đức Thanh (2007), Nguyễn Hoàng Ánh (2009) Các công trình này thuần túy mô
tả sự tham gia, chứ không đề cập đến chính sách, chiến lược để tham gia
Các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Heribert Dieter (2009) chỉ ra vai trò quan trọng của chính sách thương mại và các biện pháp tự do hóa thương mại Nghiên cứu cũng đề cập tới kinh nghiệm của châu Âu nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của thương mại xuyên biên giới và những lợi thế của mạng lưới xuyên quốc gia.Yusuf và cộng sự (2004) khảo sát các nguồn
Trang 19lực tăng trưởng kinh tế tại khu vực Đông Á Không chỉ đề cập tới nhiều vấn đề liên quan tới mạng lưới sản xuất toàn cầu ở nhiều ngành như công nghiệp điện tử, phụ tùng ô tô, vận tải; các nghiên cứu trong sách còn nêu lên những thách thức cũng như triển vọng phát triển của các doanh nghiệp trong khu vực Đông Á trong thời kỳ hội nhập kinh tế Đặc biệt hơn, những thách thức các nhà cung cấp tại khu vực này phải đối mặt khi chuỗi cung ứng toàn cầu phát triển cũng được chỉ ra ngay trong nghiên cứu thứ 2 của sách Krinda (2005) nhấn mạnh một điều: “Chừng nào quá trình sản xuất và phân phối còn được đặt ở mọi nơi trên thế giới thì chừng đó chuỗi cung ứng còn phải tiếp tục vận hành.” Tác giả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dự đoán nhu cầu khách hàng, tối ưu hóa vận chuyển hàng hóa và quản lý một mạng lưới
mở rộng; để làm được những điều này đầu tư vào minh bạch hóa chuỗi cung ứng, dự báo nhu cầu và phân tích dữ liệu và lên kế hoạch vận hành, tiêu thụ là rất cần thiết Susitar Asree (2010) đã nêu lên điểm quan trọng mấu chốt đối với các công ty hiện nay trong việc giảm thiểu tác động của những thách thức toàn cầu như sự bất ổn định
về công nghệ và kinh tế, sự quốc tế hóa, hay sự bảo hộ về sở hữu trí tuệ đó là việc chọn lựa thiết kế chuỗi cung ứng một cách chính xác Luận án cũng đánh giá các tác động và ảnh hưởng của những thách thức trên lên việc thiết kế chuỗi cung ứng
Wu (2010) phân tích những ảnh hưởng do sự tăng trưởng vượt bậc của Trung Quốc lên mạng lưới sản xuất khu vực Đông Á, đặc biệt trong lĩnh vực CNTT và truyền thông Cụ thể hơn, luận án phân tích những thay đổi trong nền công nghiệp CNTT và truyền thông của Trung Quốc đã định hình lại mạng lưới sản xuất tại khu vực này trong bối cảnh Nhật Bản đã từng nắm giữ vai trò chính một thời gian dài trước đó Tuy nhiên, trái với kỳ vọng ban đầu, kết thúc luận án tác giả vẫn đưa ra kết luận: vẫn còn quá sớm
để kết luận rằng trật tự thị trường lao động đã thay đổi và vị trí dẫn đầu của Trung Quốc
cả trên phương diện nguồn vốn FDI lớn hay sự cung cấp không ngừng các tiến bộ kỹ thuật cho thị trường Với các mối quan hệ quốc tế và trong khu vực phức tạp Trung Quốc đang theo đuổi hiện nay thì có ảnh hưởng rất lớn tới việc Trung Quốc trở thành nước dẫn đầu trong mạng lưới sản xuất khu vực Đông Á
Trang 20Bamber và cộng sự (2014) đã phân tích các yếu tố cụ thể ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các quốc gia đang phát triển khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, và
sự khác nhau của các yếu tố này trong 4 khu vực chính của nền kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng, chế tạo sản xuất và dịch vụ thuê ngoài Mặc dù hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu cho phép các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển tham gia vào thương mại quốc tế mà không cần phải hoàn thiện toàn bộ khả năng sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ, nhưng cũng sẽ không dễ dàng có được sự phát triển thương mại tích cực nếu không có các chính sách phù hợp để nâng cao năng lực sản xuất và bảo đảm tăng trưởng định mức Việc lựa chọn đúng các doanh nghiệp cung ứng nội địa có thể đáp ứng đủ những yêu cầu của chuỗi giá trị toàn cầu bao gồm năng lực sản xuất, cơ
sở hạ tầng và dịch vụ, môi trường kinh doanh, thương mại và chính sách đầu tư là rất cần thiết Báo cáo cũng chỉ ra sự cần thiết trong phân tích các dữ liệu chỉ số về chính sách thương mại để đạt được xuất phát điểm cần thiết cho những động thái giúp các quốc gia này tham gia và hưởng lợi từ chuỗi giá trị toàn cầu
Barrientos và cộng sự (2010) nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế và xã hội trong mạng lưới sản xuất toàn cầu Trong phân tích của mình, các tác giả đã đề cập tới việc một thách thức quan trọng trong việc nâng cao vị thế của cả doanh nghiệp và người lao động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu mà ở đó các doanh nghiệp dẫn đầu đóng vai trò đầu tàu Bài viết của các tác giả phát triển một khung xác định mối liên kết giữa tăng trưởng kinh tế của các doanh nghiệp và phát triển xã hội của người lao động Các nghiên cứu trong bài viết chỉ ra rằng tăng trưởng doanh nghiệp là tất nhiên nhưng chưa thực sự dẫn tới sự phát triển cho người lao động Các kịch bản khác nhau nhằm cân nhắc ở mức độ nào cả doanh nghiệp và người lao động đều được hưởng lợi trong quá trình phát triển và tham gia vào chuỗi đã được các tác giả đề ra
Oikawa (2008) nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu thực tiễn trong ngành công nghiệp ô tô và điện tử, cụ thể là cơ cấu phân phối giá trị quốc tế trong các nền kinh tế Đông Á và Mỹ Lý thuyết kinh doanh chính thống giải thích lợi nhuận từ thương mại, tuy nhiên phương thức tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhấn mạnh lợi ích bất bình đẳng của toàn cầu hóa đối với các đối tác thương mại Nghiên cứu dựa trên quan điểm này
Trang 21nhằm tìm ra nền kinh tế nào được hưởng lợi nhiều nhất và ít nhất trong mạng lưới sản xuất Đông Á, tập trung vào hai ngành công nghiệp chính là công nghiệp điện tử và sản xuất ô tô Hai ngành này đóng góp chính vào tăng trưởng kinh tế của khu vực này Đặc biệt tăng trưởng xuất khẩu của 2 ngành này tại khu vực Đông Á đã vượt xa mức trung bình trên thế giới và giành thị phần ổn định trong vài thập kỉ trở lại đây Kawakami (2008) tìm hiểu động lực học liên doanh nghiệp đã điều khiển tăng trưởng năng lực của các doanh nghiệp mới vận hành trong chuỗi giá trị toàn cầu Bằng việc mở rộng và thay đổi dựa trên mô hình của Gereffi, Humphrey và Sturgeon (2005), tác giả đã trình bày một bộ khung mà trong đó sự gia tăng năng lực của các đơn vị cung cấp được quyết định bởi sự tương tác trong chiến lược của đơn vị đó Dựa trên thực tế của ngành công nghiệp sản xuất máy tính notebook ở Đài Loan, nghiên cứu sẽ tìm ra
sự tương tác trong các chiến lược thuê ngoài tại các doanh nghiệp dẫn đầu tại các quốc gia phát triển là như thế nào, chiến lược học hỏi từ các đơn vị cung cấp Đài Loan, và chiến lược sản phẩm của các nhà cung cấp linh kiện hàng đầu đã tạo nên cuộc tăng trưởng bùng nổ trong ngành công nghiệp này từ nửa cuối những năm 1990 Qua đó, nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò chủ động của các doanh nghiệp trong việc quyết định nhịp độ và định hướng tăng trưởng của năng lực cung cấp
Gangnes và Van Assche (2010) đã nhận định tăng trưởng thương mại toàn khu vực Đông Á chủ yếu được đóng góp nhờ vào hoạt động sản xuất linh kiện nằm trong mạng lưới sản xuất điện tử toàn cầu của khu vực này Các dữ liệu chỉ ra rằng ngành sản xuất và kinh doanh hàng điện tử được chuyên môn hóa cụ thể là các linh kiện phức tạp được sản xuất tại các nước thu nhập tầm trung và cao, trong khi các quốc gia có thu nhập thấp hơn chịu trách nhiệm lắp ráp các sản phẩm giá trị gia tăng thấp hơn Mặc dù đã có sự tăng trưởng nhất định trong toàn khu vực, các quốc gia đang phát triển tại khu vực Đông Á vẫn phần lớn dựa vào thị trường tại các nước phát triển Điều này dẫn tới khi nhu cầu xuất khẩu ở các nước phương Tây sụt giảm vào năm 2008- 2009 do cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra, toàn khu vực Đông Á đã phải trải qua một cú shock mang tính dây chuyền
Trang 22T.J Sturgeon và M Kawakami (2010) đưa ra những bằng chứng về tầm quan trọng của chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử trong nền kinh tế thế giới và phân tích các ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế giai đoạn đó tới nền công nghiệp này Các bài học thực tế từ các công ty được đưa ra để minh họa cho việc năng lực cung cấp cho nhiều địa điểm đã phát triển như thế nào trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử Các kết quả nghiên cứu cho thấy những hạn chế trong quá trình nâng cấp mà các doanh nghiệp lớn thành công đã từng trải qua Bốn mô hình được các công ty này sử dụng để giải quyết các hạn chế đó là: (1) Sự mở rộng thị phần bằng cách sáp nhập các thương hiệu lớn đang đi xuống; (2) Sự chia tách của các phân khúc sản phẩm có nhãn hiệu từ việc thu gọn sản xuất; (3) Phối hợp thành công giữa việc thu gọn sản xuất và các sản phẩm đã có nhãn hiệu cho các nhà thầu với các khách hàng không trong ngành điện tử phần cứng; (4) Sự ra đời của các doanh nghiệp sản phẩm không dựa vào nhà máy và dựa vào chuỗi cung ứng toàn cầu đưa tới nguồn cung cấp đầu vào đa dạng
Escaith (2013) đã đề cập tới các giá trị gia tăng và sự phát triển của các chuỗi cung ứng quốc tế Nghiên cứu này trình bày về khái niệm thương mại giá trị gia tăng
đã thay đổi cách chúng ta hiểu về thương mại, không chỉ là thương mại mà còn là quan hệ phát triển và cách nó thay đổi chính sách phát triển Khái niệm này cũng được tác giả chứng minh đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển mà không thể dựa vào thị trường nội địa là chính, có thể vươn ra xuất khẩu đa dạng hóa các hoạt động bên ngoài hoạt động xuất khẩu truyền thống Chuỗi giá trị toàn cầu và hoạt động thương mại dựa trên giá trị gia tăng cũng đưa tới cơ hội mới chưa từng xuất hiện cho các quốc gia nhỏ đang phát triển
Chae và cộng sự (2005) đã tập trung vào ảnh hưởng của CNTT lên hợp tác liên
tổ chức Tập trung vào bốn khía cạnh của mối quan hệ các nhà cung cấp bán lẻ (niềm tin, sự độc lập, định hướng lâu dài và chia sẻ thông tin) để nghiên cứu ảnh hưởng giảm nhẹ của các mối quan hệ có sẵn giữa các đối tác lên hiệu quả của CNTT Shintaku và Park (2012) đã đề cập tới thực tế các nền công nghiệp mới nổi như Hàn Quốc, Đài Loan đang dần đuổi kịp Nhật Bản với những thành công vượt trội,
Trang 23trong khi các doanh nghiệp Trung Quốc trở thành công xưởng của thế giới Tuy nhiên, các công nghệ hàng đầu về công nghiệp hóa chất và thép vẫn nằm trong tay các doanh nghiệp Nhật Bản Trong những năm gần đây, sự phát triển mới đang mang tới những dấu hiệu thay đổi cho ngành công nghiệp của Nhật Bản khi các nhà sản xuất sản phẩm trung gian đang xây dựng thêm các cơ sở sản xuất tại Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc với sản phẩm màn hình LCD và các sản phẩm bán dẫn khác Các doanh nghiệp Nhật Bản theo đó lại phải tiếp tục đối mặt với áp lực phải giữ vững vị trí đặc biệt của mình trong mạng lưới sản xuất Đông Á Trong thị trường mở cạnh tranh hiện nay, không vị trí của quốc gia nào được đảm bảo sẽ giữ vững Việc thay đổi ngôi vương của Nhật Bản trong mạng lưới ngành CNTT bởi các đối thủ cạnh tranh đáng gờm khác còn cần phải được tiếp tục nghiên cứu và kiểm chứng
Thứ hai, nghiên cứu về thực trạng Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn c̀u ngành CNTT
Nghiên cứu về quá trình tham gia vào chuỗi cung ứng ngành CNTT của Đài Loan, chưa có nhiều công trình nghiên cứu do các nhà khoa học trong nước tiến hành Ngô Minh Thanh (2007) đề cập đến hoạt động FDI sôi nổi ở Đông Bắc Á, nhất là Trung Quốc, nhờ các công ty xuyên quốc gia và việc phát triển các mạng sản xuất của các công ty này Nghiên cứu này đề cập đến hoạt động FDI và hoạt động phân tán sản xuất của các công ty xuyên quốc gia ở Đông Bắc Á hơn là đề cập đến mạng sản xuất ở Đông Bắc Á Dương Minh Tuấn (2008) đã nêu sơ lược một vài đặc điểm của các mạng sản xuất quốc tế ở Đông Á Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đề cập
từ góc độ của tổ chức ngành Trong khi đó, cách tiếp cận hiện đại đối với mạng sản xuất để biết cách tham gia mạng sản xuất phải là cách tiếp cận kinh tế học không gian
và lý thuyết thương mại mới
Các nghiên cứu trực tiếp về thực trạng tham gia của ngành CNTT Đài Loan
trong chuỗi cung ứng toàn cầu chủ yếu thuộc về các công trình nghiên cứu nước
ngoài Trong đó có một số tác phẩm nổi bật như:
Giang Bỉnh Khôn (1995) phân tích các kỳ tích phát triển kinh tế cao của Đài Loan trong giai đoạn 1952-1989 ; sự phát triển và các chính sách kinh tế của Đài
Trang 24Loan bắt đầu từ năm 1990 Trong cuốn sách này, các chính sách liên quan đến phát triển CNTT trong giai đoạn đầu (1960-1990) được đề cập trong một số kế hoạch phát triển kinh tế 4 năm
Johnson Jr và cộng sự (2013) tập trung nghiên cứu về chiến lược hội nhập toàn cầu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Đài Loan để cạnh tranh trong ngành CNTT, khẳng định tầm quan trọng của một vài lực lượng kinh tế trong chiến lược hội nhập toàn cầu của các công ty này Ba kết quả được tìm ra qua nghiên cứu này đã mang tới thêm thông tin cho hiện trạng nghiên cứu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay
và cung cấp các sáng kiến quản lý Đầu tiên nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa các hoạt động cạnh tranh và sự hội nhập của các đơn vị, doanh nghiệp Thứ hai, trong bối cảnh ngành CNTT được toàn cầu hóa, không có tác động trực tiếp của hội nhập doanh nghiệp tới hiệu suất công việc Tuy nhiên vẫn có tác động trực tiếp lên ưu thế cạnh tranh dựa trên hiệu suất công việc
Tsai và Hung (2011) đã cho thấy sức cạnh tranh của ngành công nghiệp công nghệ cao của Đài Loan Các công ty vừa và nhỏ của Đài Loan tuy không được hưởng lợi nhiều từ quy mô của nền kinh tế Tuy nhiên, sự phát triển của ngành công nghệ cao ở Đài Loan đã chứng tỏ rằng chính sự thay đổi linh hoạt kịp thời là chìa khóa để cạnh tranh Nghiên cứu này của tác giả đưa ra các quá trình phát triển của ngành công nghiệp cao như OEM, ODM, OBM nhằm làm sáng tỏ chiến lược cạnh tranh của ngành công nghệ cao Đài Loan Tác giả cũng đưa ra các thách thức và triển vọng tương lai cho thị trường này
Ernst (1995) nghiên cứu về cơ hội và thách thức mới cho nền công nghiệp điện
tử Đài Loan - vai trò của hợp tác quốc tế, tác giả đã kết luận rằng thành công của Đài loan đến từ sự chuyên môn hóa một cách linh hoạt, các doanh nghiệp lớn đóng vai trò đầu tàu mũi nhọn Hiện nay với quy mô ngày càng lớn, việc duy trì ổn định sự linh hoạt này là hết sức quan trọng Các phương thức hợp tác quốc tế mới và sáng tạo có thể là chìa khóa cho lo ngại trên Theo tác giả các cơ hội mở ra cho Đài Loan như có thể dễ dàng liên kết với các doanh nghiệp cung cấp của Nhật Bản trong sản xuất màn hình và các bộ phận linh kiện máy tính khác Ngoài ra các doanh nghiệp Đài Loan cũng có thể
Trang 25thiết lập các mối quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp điện tử Nhật Bản để vượt qua nhược điểm trong sản xuất các linh kiện quan trọng của mình Mặt khác, các doanh nghiệp điện tử Nhật Bản kể từ năm 1992 đã lên kế hoạch đầu tư cho các dự án của mình tại Đài Loan Thặng dư thương mại song phương giữa Đài Loan và Nhật Bản do
đó cũng bước vào cuộc ganh đua Tuy nhiên các chính sách khôn ngoan của giới chức Đài Loan đã giúp gia tăng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp từ Nhật Bản Thứ tư, Đài Loan đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp cận thị trường trong khu vực Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam
World Technology Evaluation Centre (1997) đã chỉ ra rằng Chiến lược biến Đài Loan trở thành Trung tâm tài chính châu Á - Thái Bình Dương bao gồm nỗ lực tận dụng vị trí địa lý của Đài Loan, thị trường nội địa đang phát triển, lực lượng lao động được đào tạo, nguồn vốn dồi dào, khoa học công nghệ phát triển, kỹ năng quản lý hiện đại, mạng lưới thương mại toàn cầu và mối quan hệ văn hóa với Trung Quốc đại lục cũng như các quốc gia châu Á khác Kế hoạch đặt ra Đài Loan phải trở thành trung tâm của khu vực về sản xuất, vận tải biển và hàng không, trung tâm tài chính, công nghệ viễn thông và các hoạt động truyền thông Trong chiến lược này có sự đầu
tư nhất định cho công nghệ với nguồn vốn từ chính phủ rót xuống các bộ và ban ngành, tới các viện nghiên cứu, hoặc các chương trình nghiên cứu ở đại học
The Economist Intelligence Unit (2016) cho thấy ngành công nghệ Đài Loan đánh dấu thành công trên toàn cầu khi các công ty Đài Loan sản xuất ba phần tư số máy tính, một nửa số màn hình tinh thể lỏng, một phần tư các chất bán dẫn và một phần năm số điện thoại di dộng trên thế giới Trong một nghiên cứu toàn cầu về sức cạnh tranh của ngành CNTT, Đài Loan đã vươn lên vị trí thứ 2 và tăng liền 6 bậc trên tổng số 66 quốc gia và vùng lãnh thổ được nghiên cứu Ngành CNTT và truyền thông của Đài Loan cũng đã phát triển tới một quy mô dẫn tới sự đa dạng hóa căn bản Các doanh nghiệp lớn dần phân tách quy mô sản xuất để đi vào chiều sâu, chuyên môn hóa sản xuất, dẫn đến việc hình thành các cụm liên kết ngành, mang lại những lợi thế nhất định góp phần đưa Đài Loan trở thành một bạn hàng đáng tin cậy cho sự hỗ trợ
và tốc độ thương mại hóa nhanh chóng cho những sáng kiến về sản phẩm Ví dụ điển
Trang 26hình nhất là tập đoàn Acer, chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây đã vươn lên vị trí tập đoàn máy tính lớn thứ 3 trên thế giới về thị phần Doanh nghiệp này không còn sản xuất trong nội bộ mà đã chia các sản phẩm phụ trợ ra các công ty khác bao gồm cả công ty Wistron Wistron hiện đang sản xuất cho rất nhiều các công ty bao gồm cả các thương hiệu lớn trong lĩnh vực máy tính cá nhân Các công ty khác cùng lĩnh vực cũng đang theo lộ trình phát triển này Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này của Đài Loan cũng nằm trong số các doanh nghiệp dẫn đầu trên thế giới về sản phẩm tiết kiệm nhiên liệu và giảm thiểu khí thải các bon bao gồm cả các doanh nghiệp sản xuất đèn LED, và pin năng lượng mặt trời Cả hai lĩnh vực này đều nằm trong phân khúc phát triển nhanh nhất trong ngành công nghiệp điện tử của Đài Loan năm ngoái
Saxenian (2002) Nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết trong liên kết giữa các quốc gia và mạng lưới sản xuất toàn cầu Đài Loan, Ấn Độ và Trung Quốc đều đã nổi lên như những đầu tầu quan trọng trong ngành CNTT và truyền thông trong hai thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên các quốc gia này lại đi theo những hướng đi khác nhau Cộng đồng xuyên quốc gia phát triển của Đài Loan được cho rằng đi theo
mô hình và sự nâng cấp của cụm sản xuất địa phương, có liên hệ trực tiếp với thị trường và công nghệ từ thung lũng Silicon
Wang (1994) phân tích các chính sách phát triển CNTT của Đài Loan kể từ thập niên 1960 đến những năm đầu thập niên 1990, một số thành công đạt được của các chính sách này, trên cơ sở đó, đánh giá những bước tiến ban đầu của Đài Loan trong tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
Economic daily News (2013) phân tích quá trình chuyển dịch ngành CNTT của Đài Loan từ sản xuất linh kiện sang sản xuất các sản phẩm công nghệ cao cấp, đánh giá quá trình chuyển dịch này thông qua đầu tư R&D
Bureau of Foreign Trade, Taiwan (2013) giới thiệu các sản phẩm CNTT mới nhất của Đài Loan hiện nay, doanh thu xuất khẩu và thứ hạng toàn cầu của một số sản phẩm nổi tiếng
Trang 27Chen (2002) phân tích sự phát triển của mạng sản xuất toàn cầu dưới tác động của toàn cầu hóa và quá trình tham gia mạng toàn cầu của ngành CNTT Đài Loan tại
2 công ty chủ yếu là Mitac và TSMC
Liu và Shih (2013) phân tích sự chuyển đổi vai trò của Đài Loan trong chuỗi cung ứng toàn cầu ở các ngành công nghiệp chế tạo, trong đó có ngành CNTT Wang (2002) phân tích các chính sách phát triển công nghệ cao của Đài Loan
và sự thành lập Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp (ITRI) ở Đài Loan, vai trò của ITRI trong phát triển CNTT ở Đài Loan
Hung (2015) phân tích vai trò của ngành CNTT Đài Loan trong chuỗi cung ứng toàn cầu, cơ cấu các sản phẩm và thị phần của các ngành CNTT phần cứng và phần mềm, các chính sách cơ bản để các sản phẩm CNTT Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
Chen và cộng sự (2011) phân tích sự phát triển và triển vọng phát triển ngành CNTT Đài Loan, vai trò của chi tiêu R&D trong phát triển CNTT và một vài đánh giá rút ra từ việc tập trung chi tiêu R&D cho phát triển CNTT
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phần nào phân tích và đánh giá được quá trình phát triển của ngành CNTT của Đài Loan, sự chuyển đổi vị trí của Đài Loan trong chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT, những lợi thế và bất cập trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng này Các tài liệu này giúp tác giả luận án có cách nhìn và đánh giá tổng quan về chủ đề nghiên cứu Tuy nhiên, các phân tích và số liệu của những công trình trong và ngoài nước còn rời rạc, chưa cập nhật, chưa làm rõ được các vấn đề cần nghiên cứu Vì vậy, tác giả luận án sẽ tiếp tục làm rõ các vấn đề trên
Thứ ba, nghiên cứu liên quan tới giải pháp giúp Việt Nam nâng cao vị trí của ngành CNTT trong chuỗi cung ứng toàn c̀u
Thực trạng ngành CNTT Việt Nam, đặc biệt là việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu chưa thu hút được sự quan tâm, đánh giá từ các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế, mới chỉ có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước
Trang 28Năm 2006, Bọ̆ Bŭu chính Viễn thŏng đã cŏng bố “Nghiên cứu xây
dựng kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử tại Việt Nam giai đoạn 2010” với các kết quả phăn tích đánh giá kỹ lŭỡng ngành công nghiệp điện tử do
2006-Hiẹ̆p họ̆i Doanh nghiẹ̆p điẹ̆n tử thực hiẹ̆n năm 2006 và đề xuất các định hŭớng phát triển đến năm 2010
Năm 2008, Trường Đại học Ngoại thŭŏng có đề tài “Nghiên cứu chuỗi
giá trị toàn c̀u và khả năng tham gia của các doanh nghiệp ngành điện tử Việt Nam”,
đề tài cấp trường do TS Nguyễn Hoàng Ánh chủ nhiẹ̆m Nghiĕn cứu này chỉ ra
rằng, trong giai đoạn hiẹ̆n nay và sắp tới, Viẹ̆t Nam nĕn tặp trung vào cŏng đoạn sản xuất, là khău có thể tranh thủ sự hợp tác của các tặp đoàn điẹ̆n tử quốc
tế, chứ chŭa nĕn tham gia vào khău thiết kế, phăn phối của chuỗi giá trị Nguyễn Thanh Tuyên (2013) đã khái quát hiện trạng công nghiệp CNTT Việt Nam hiện nay, đưa ra được một số đánh giá của thế giới về công nghiệp CNTT Việt Nam cũng như một số đề xuất giải pháp phát triển ngành công nghiệp CNTT Việt Nam thời gian tới
Báo cáo “Chỉ số sẵn sàng cho ứng dụng và phát triển CNTT - truyền thông Việt
Nam năm 2013” của Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT và Hội tin học Việt
Nam đã đưa ra được những số liệu thống kê về thực trạng ứng dụng và phát triển CNTT - truyền thông ở Việt Nam, những đánh giá, xếp hạng về mức độ sẵn sàng ứng dụng CNTT - truyền thông vào hoạt động của các đơn vị hành chính, sự nghiệp, các ngân hàng thương mại, các tập đoàn, tổng công ty Đây là cơ sở quan trọng để so sánh mức độ thay đổi trong việc ứng dụng và phát triển CNTT - truyền thông giữa các đơn
vị qua từng năm, là nền tảng để xây dựng chính sách ứng dụng CNTT - truyền thông phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và kinh doanh
Báo cáo “Thông tin và số liệu thống kê về CNTT và truyền thông Việt Nam năm
2013” của Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT và Bộ Thông tin và Truyền thông cũng
đưa ra được những số liệu thống kê và những đánh giá của nước ngoài về thực trạng phát triển ngành CNTT Việt Nam hiện nay
Trang 29Lực Vũ (2014) đã gợi mở phần nào về hướng đi hiệu quả cho các doanh nghiệp CNTT trong nước Theo tác giả, trong những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp CNTT trong nước đã có sự tăng trưởng tốt (khoảng 30%) Nguyên nhân chủ yếu là
do chiến lược mở rộng đầu tư hiệu quả Các doanh nghiệp đã chú trọng hơn đến thị trường “toàn cầu hoá”, khai thác tốt thị trường nước ngoài nhằm bù đắp cho nhu cầu trong nước đang gặp nhiều khó khăn
Nguyễn Tấn Dũng (2013) đã cho thấy những đánh giá về ngành CNTT Việt Nam thời gian qua và định hướng chiến lược phát triển thời gian tới
Ngọc Lan (2008) cho thấy những khó khăn ngành công nghiệp điện tử Việt Nam đang phải đối mặt Theo tác giá, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành điện tử của Việt Nam chủ yếu là gia công, lắp ráp, hàm lượng giá trị gia tăng thấp nên khi các cam kết giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường bán lẻ, phân phối được thực hiện, các doanh nghiệp Việt Nam vấp phải sự cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp nước ngoài ngay tại thị trường nội địa Vì vậy, nếu doanh nghiệp trong nước muốn
tự sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh thì rất khó cạnh tranh do chưa có thương hiệu, nhưng nếu xác định tham gia sản xuất một cụm chi tiết nào đó của sản phẩm nhưng
ở quy mô cung cấp cho toàn cầu thì thương hiệu sẽ từng bước được nâng lên và bước đến các giai đoạn sản xuất khác Đây cũng là tiền đề để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành điện tử và CNTT
Mỹ Quyên (2013) đã chỉ ra sự thiếu đồng bộ trong phát triển ngành CNTT của Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua
Lê Hoàng (2014) đã nêu được một số tồn tại, khó khăn của ngành điện tử, CNTT Việt Nam thời gian qua, đồng thời chỉ ra một số định hướng phát triển ngành trong thời gian tới
Báo cáo “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả đầu tư công nghiệp CNTT Việt Nam giai đoạn 2011-2015” năm 2016 của Bộ thông tin truyền thông Việt Nam, Mã số 117-11-KHKT-QL đã nghiên cứu thực trạng phát triển ngành công nghiệp CNTT Việt Nam, những hạn chế về cơ chế chính sách đầu tư phát triển CNTT Việt Nam hiện nay
Trang 30và đề xuất những biện pháp tháo gỡ, phát huy mọi nguồn lực trong nước đầu tư trọng điểm đúng thế mạnh của ngành CNTT Việt Nam và phù hợp với xu thế hội nhập Báo cáo “Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông Việt Nam năm 2016” của Vụ CNTT, Bộ thông tin và truyền thông, năm 2017 đã cung cấp thực trạng và số liệu về phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông ở Việt Nam năm 2016; đánh giá kết quả, xếp hạng của Vietnam ICT Index 2016, nhằm giúp chúng ra hiểu được hiện trạng phát triển và ứng dụng CNTT ở Việt Nam, định hướng giải pháp phù hợp nhằm cải thiện việc ứng dụng và phát triển CNTT ở các bộ, ngành, địa phương trong những năm tiếp theo
Báo cáo “Sách trắng CNTT và truyền thông Việt Nam năm 2017” của Bộ thông tin và truyền thông; NXB thông tin và truyền thông năm 2017, phân tích thực trạng ứng dụng CNTT và sự phát triển CNTT ở Viẹt Nam trong năm 2017, trong đó bao gồm các lĩnh vực như hạ tầng CNTT, doanh nghiệp hoạ động trong ngành CNTT, thị trường CNTT, nguồn nhân lực trong ngành CNTT Cuốn sách cung cấp đầy đủ các
số liệu liên quan trực tiếp đến phát triển ngành CNTT ở Việt Nam năm 2017, giúp tác giả luận án có thêm luận chứng, luận cứ để phân tích thực trạng ngành CNTT Việt Nam hiện nay
Đỗ Hoàng Anh (2013) phân tích những yêu cầu phát triển CNTT ở Việt Nam trước bối cảnh phát triển cuộc cách mạng công nghệ mới; đổi mới tư duy của Đảng cộng sản Việt Nam về ứng dụng và phát triển CNTT; các kết quả đạt được và xu thế phát triển ngành CNTT ở Việt Nam; một số định hướng phát triển
Nhìn chung, các nghiên cứu về phát triển CNTT ở Việt Nam đã phản ứng được nhiều mặt chính sách, thực trạng và những thách thức trong phát triển CNTT ở Việt Nam Đây là các tài liệu có giá trị tham khảo cao
Tuy nhiên, ở tầm vĩ mô, các công trình nghiên cứu trên đây chưa đề cập đến vị trí, thứ hạng và sự tham gia của ngành CNTT Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu; những khó khăn và bất cập khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, cũng như các bài học tham khảo từ các nước trong khu vực, trong đó có Đài Loan Vì vậy, các đề
Trang 31xuất chính sách và giải pháp hỗ trợ ngành CNTT Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn chưa thuyết phục và thiếu tính khả khi
1.2 Những giá trị của công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án
1.2.1 Những giá trị của công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong phần lý thuyết, các công trình nghiên cứu trên đây đã phần nào làm rõ khái niệm về chuỗi cung ứng, ngành CNTT, chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT Các lý thuyết cơ bản liên quan đến chuỗi cung ứng hàng hoá, đặc điểm của chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT cũng được nhiều tác giả đi trước phân tích và đánh giá Đây là những giá trị nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa để xây dựng khung phâm tích và tiêu chí đánh giá chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT cả Đài Loan
Trong phần cơ sở thực tiễn, các công trình nghiên cứu trước đó đã làm rõ bối cảnh hình thành và phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT ở khu vực Đông
Á, một số nghiên cứu điển hình về việc tham gia chuỗi cung ứng này của các quốc gia trong khu vực Đây là những thông tin quan trọng để tác giả luận án hiểu được vị trí và thứ hạng của Đài Loan trong chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT, giúp tác giả luận án kế thừa tư liệu, tài liệu để hình thành cơ sở thực tiễn cho đề tài
Nghiên cứu về thực trạng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan có rất nhiều và đa dạng Các công trình nghiên cứu này cung cấp thông tin, đánh giá, luận cứ, luận chứng, giúp tác giả luận án có cơ sở để phân tích chính sách, thực trạng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan, những thành công và hạn chế trong việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan
Nghiên cứu về việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Việt Nam được trình bày qua nhiều báo cáo, sách, tài liệu nghiên cứu khác nhau, với những số liệu và cách tiếp cận khác nhau Các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về các biện pháp, chính sách phát triển ngành CNTT của Đài Loan, thực trạng phát triển của ngành CNTT Đài Loan, vai trò và vị trí của ngành CNTT Đài Loan trong nền kinh tế và trong thứ hạng toàn cầu Qua các nghiên cứu này, tác giả luận án có cơ sở để đánh giá thực trạng và vị trí của Việt Nam trong tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
Trang 321.2.2 Khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án
Thứ nhất, còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu về chuỗi cung ứng và đặc
điểm của chuỗi cung ứng trong ngành CNTT Các nghiên cứu của nhóm lý thuyết được liệt kê trên đây đã tiếp cận chuỗi cung ứng theo một hoặc số cách khác nhau Như đã liệt kê ở phần trên, các tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài nước có rất nhiều, nhưng các công trình này đã chưa trả lời thấu đáo các câu hỏi liên quan đến chuỗi cung ứng toàn cầu, chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT; đặc điểm của chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT; cơ chế hoạt động của chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT; điều kiện cần và đủ để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT; các chính sách và biện pháp chủ yếu để các nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT Các câu hỏi nhỏ này đã không được các công trình nghiên cứu trước đó giải quyết thấu đáo, thậm chí đã không có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào giải quyết thấu đáo cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT Đây chính là “khoảng trống” cần tiếp tục được nghiên cứu để hình
thành khung phân tích và tiêu chí đánh giá cho đề tài
Thứ hai, cách tiếp cận và quan điểm nghiên cứu về thực trạng tham gia chuỗi
cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan còn khác nhau Số liệu, tư liệu và những nhận định đánh giá còn khá rời rạc, đa quan điểm, chưa lô gic, chưa hệ thống
và chưa cập nhật về ngành CNTT của Đài Loan Không có một công trình nghiên cứu nào trả lời hoàn chỉnh các câu hỏi: Đài Loan đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu trong ngành CNTT bằng cách nào và đã đạt được những thành công và hạn chế gì? Đây là “khoảng trống” tiếp tục được nghiên cứu trong luận án để làm rõ những thành công và hạn chế trong tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của Đài Loan
Thứ ba, thiếu vắng các công trình nghiên cứu về bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam Đây là khoảng trống mà luận án tiếp tục nghiên cứu Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng phát triển ngành CNTT của Việt Nam, chính sách và các nhân tố ảnh hưởng, nhưng các công trình nghiên cứu trước đó đã không xác định rõ được mức độ tham gia của CNTT Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu, phân tích sâu các nhân tố tác động vào sự tham gia của CNTT Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn
Trang 33cầu Đây là nhiệm vụ vô cùng cần thiết , cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án
để có thể đưa ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các chính sách giải pháp cụ
thể, khả thi nhất để nâng cao hiệu quả của ngành CNTT Việt Nam trong chuỗi cung
ứng toàn cầu trong thời gian tới Đây cũng là dự kiến kết quả đóng góp thực tiễn của
luận án
Thứ tư, về mặt kỹ thuật, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra
các cơ sở số liệu rời rạc, chưa hệ thống, chưa cập nhật, từ nhiều nguồn khác nhau
với cách tiếp cận khác nhau Vì vậy nhiệm vụ của luận án là tiếp tục cập nhật các
số liệu, hệ thống hoá và logic các các số liệu, tư liệu theo các nhiệm vụ nghiên cứu
của luận án
1.2.3 Khung phân tích của đề tài
Dựa vào những kết quả kế thừa từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước, khoảng trống và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sẽ tiến hành theo khung phân tích
như sau:
Trang 34Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 2.1 Khái quát về chuỗi cung ứng toàn cầu
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
- Chuỗi cung ứng:
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng Wood và Tetlow cho rằng
“Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên (upstream) và liên kết dưới (downstream) bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng“ [42]
Ganesham và Harison (1995) cho rằng “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” [48]
Lambert, Stock và Alleam (1998) cho rằng “Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường” [58]
Mentzers và cộng sự (2001) cho rằng, chuỗi cung ứng là một tập hợp của ba thực thể hoặc nhiều hơn (có thể là pháp nhân hoặc thể nhân) liên quan trực tiếp đến dòng chảy qua lại của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nguyên liệu đến khách hang [60]
Chopra Sunil và Peter Meidl (2001) cho rằng, “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng” [40]
Như vậy, theo các định nghĩa đã trích dẫn và dựa theo nội dung luận án sẽ trình
bày dưới đây, có thể định nghĩa chuỗi cung ứng như sau: Chuỗi cung ứng (supply
chain) bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc một dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đ̀u từ nhà cung cấp đ̀u tiên đến
Trang 35khách hàng tiêu dùng cuối cùng Nói cách khác, chuỗi cung ứng một mặt hàng là một quá trình bắt đ̀u từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo ra sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng cuối cùng
- Chuỗi cung ứng toàn cầu:
Từ các định nghĩa trên, có thể định nghĩa Chuỗi cung ứng toàn cầu (global supply chain) được hiểu như sau:
Chuỗi cung ứng toàn c̀u (global supply chain) bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc một dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đ̀u từ nhà cung cấp đ̀u tiên đến khách hàng tiêu dùng cuối cùng trên phạm vi toàn c̀u Nói cách khác, chuỗi cung ứng toàn c̀u là một mạng lưới toàn c̀u khi một doanh nghiệp mua hoặc sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ từ nước ngoài, liên quan đến việc cung cấp, sản xuất và phân phối một hàng hoá hoặc dịch
vụ, bắt đ̀u từ nhà cung cấp đ̀u tiên đến khách hàng tiêu dùng cuối cùng trên phạm
vi toàn c̀u
- Phân biệt chuỗi cung ứng toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu:
OECD (2013) cho rằng: chuỗi giá trị toàn cầu là toàn bộ quá trình sản xuất hàng hoá, từ nguyên liệu thô cho tới thành phẩm, được thực hiện ở bất cứ nơi nào mà kỹ năng và nguyên liệu cần thiết để sản xuất đều có sẵn tại mức giá cả cạnh tranh cũng như đảm bảo chất lượng thành phẩm [64]
Chuỗi cung ứng toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu có sự khác nhau về mặt khái niệm Chuỗi cung ứng toàn cầu hàm ý đến tất cả các hoạt động liên quan đến sự kết nối các hoạt động thu mua, sản xuất, logistics của sản phẩm trên phạm vi toàn cầu; trong khi đó chuỗi giá trị liên quan đến một loạt các hoạt động sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm thông qua người tiêu dùng Chuỗi cung ứng liên quan đến quản trị các hoạt động của doanh nghiệp, để từ đó sản phẩm được di chuyển từ nơi này sang nơi khác, trong khi đó chuỗi gía trị liên quan đến quản trị kinh doanh của doanh nghiệp Mục đích quan trọng nhất của chuỗi cung ứng toàn cầu là hướng tới sự hài lòng của khách hàng, trong khi mục đích quan trọng nhất của chuỗi giá trị toàn cầu
là nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 36- Mạng sản xuất toàn cầu và chuỗi cung ứng toàn cầu:
Mạng sản xuất toàn c̀u là mạng lưới (hay hệ thống) các doanh nghiệp sản xuất,
dịch vụ ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới liên kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, cùng tham gia vào việc sản xuất, phân phối, cung cấp các dịch vụ bảo dưỡng, bảo hành trong quá trình sử dụng một sản phẩm Trong mạng lưới sản xuất, các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, nhưng vẫn có những doanh nghiệp đóng vai trò công ty mẹ, nắm vai trò chi phối về vốn, về khoa học - công nghệ, là người tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp trong mạng lưới để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh [21]
Mạng sản xuất toàn cầu là một khái niệm rộng hơn chuỗi cung ứng toàn cầu Một mạng sản xuất có thể bao gồm một hoặc nhiều chuỗi cung ứng Nếu như chuỗi cung ứng toàn cầu hàm ý đến tất cả các hoạt động mang tính chất kết nối thu mua, sản xuất, logistics trên phạm vi toàn cầu và mục đích cao nhất là đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng, thì mạng sản xuất toàn cầu liên quan nhiều đến công nghệ sản xuất, ví dụ như công nghệ mô-đun hóa, cho phép quá trình sản xuất có thể được phân chia thành các phân đoạn và phân tán các phân đoạn đó ở những địa điểm khác nhau Các nhà sản xuất khác nhau phân công nhau trong việc đảm đương mỗi phân đoạn Tập hợp các nhà sản xuất ấy tạo thành mạng sản xuất Mỗi sản phẩm, nhất là sản phẩm của ngành chế biến, chế tạo có thể có quá trình sản xuất và đòi hỏi công nghệ sản xuất khác nhau Vì thế, mạng sản xuất rất đa dạng về cấu tạo, hình thức, quy
mô, phạm vi Một mạng sản xuất có thể gồm một hoặc cả hai loại quan hệ, đó là quan
hệ nội bộ công ty (các chi nhánh, công ty con là thành viên của mạng) hoặc quan hệ liên công ty (các công ty độc lập là thành viên của mạng) Tuy nhiên, mạng sản xuất toàn cầu gắn liền với chuỗi cung ứng toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu [10]
2.1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
2.1.2.1 Cấu trúc chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng liên kết nhiều doanh nghiệp độc lập với nhau, mỗi doanh nghiệp
có một cấu trúc và tổ chức riêng bên trong tương ứng với đặc điểm hoạt động và mục
Trang 37tiêu riêng Trong thành phần tham gia chuỗi cung ứng đơn giản, bao gồm một công ty, nhà cung cấp và các khách hàng của công ty đó Những chuỗi cung ứng mở rộng chứa
ba nhóm thành viên: nhà cung cấp trong giai đoạn cuối ở đầu chuỗi, khách hàng cuối cùng nhất trong giai đoạn cuối của chuỗi và toàn bộ các công ty cung cấp dịch vụ giao
nhận, tài chính, tiếp thị và CNTT cho những công ty khác trong chuỗi cung ứng
Một chuỗi cung ứng bao gồm cấu trúc chiều dọc và cấu trúc chiều ngang Cấu trúc dọc của chuỗi được tính bằng số lượng các cấp/lớp (tier) dọc theo chiều dài chuỗi, khoảng cách theo chiều dọc được tính là khoảng cách từ doanh nghiệp trung tâm đến khách hàng cuối cùng Trong cấu trúc chiều dọc, các hoạt động trước nó (tính từ một doanh nghiệp dịch chuyển đến các nhà cung cấp nguyên vật liệu) được gọi là cấu trúc
ngược dòng; còn các hoạt động phía sau nó (tính từ một doanh nghiệp dịch chuyển
sản phẩm ra ngoài về phía khách hàng được gọi là cấu trúc xuôi dòng
Hình 2.1 Cấu trúc chiều dọc của một chuỗi cung ứng
Nguồn: Douglas M.Lambert, Martha Cooper, Pagh (1998), Sypply chain management: implementation issues and research opportunities, The international journal of logistics management, Vol 9, No 2
Chú thích cấu trúc chuỗi cung ứng
Ký hiệu Diễn giải Tier 1 suppliers nhà cung cấp cấp 1
Tier 1 customers khách hàng cấp 1
Initial supplier nhà cung cấp ban đầu
Tier 3 to n supplies từ nhà cung cấp cấp 3 đến nhà cung cấp cấp n Customers/End customers khách hàng cuối cùng
Tier 3 to n customers từ khách hàng cấp 3 đến khách hàng cấp n
Cấu trúc chiều ngang của chuỗi được tính bằng số lượng các doanh nghiệp ở mỗi cấp/lớp (tier) Sự sắp xếp các doanh nghiệp theo cấp/lớp (tier) cho phép nhận
Trang 38diện các doanh nghiệp trung tâm của chuỗi Ở nhiều chuỗi, khách hàng nhận thức doanh nghiệp trung tâm thông qua thương hiệu sản phẩm chuỗi đó mang lại, dù doanh nghiệp đó không thực hiện chức năng sản xuất và cũng không có tài sản cố định lớn
Hình 2.2 Cấu trúc chiều ngang của một chuỗi cung ứng
Nguồn: Douglas M.Lambert, Martha Cooper, Pagh (1998), Sypply chain
management: implementation issues and research opportunities, The international journal of logistics management, Vol 9, No 2
Chú thích cấu trúc chuỗi cung ứng
Tier 1 suppiers nhà cung cấp cấp 1
Tier 1 customers khách hàng cấp 1
Initial supplier nhà cung cấp ban đầu
Tier 3 to n supplies từ nhà cung cấp cấp 3 đến nhà cung cấp cấp n
Customers/End customers khách hàng cuối cùng
Tier 3 to n customers từ khách hàng cấp 3 đến khách hàng cấp n
Managed process links Mối liên kết dạng quản lý quá trình
Monitor process links Mối liên kết dạng giám sát quá trình
Not- Managed process links Mối liên kết dạng không quản lý quá trình
Not – member process links Mối liên kết dạng không phải thành viên
Focal company Doanh nghiệp trung tâm
Members of the focal
company’s supply chain
Các doanh nghiệp là thành viên trong chuỗi
Non-members of the focal
company’s supply chain
Các doanh nghiệp không phải thành viên trong chuỗi Trong cấu trúc chiều ngang của một chuỗi cung ứng, có bốn dạng liên kết giữa doanh nghiệp trung tâm và các thành viên khác, gồm:
Trang 39- Dạng 1: Mối liên kết dạng quản lý quá trình: doanh nghiệp trung tâm có mối liên kết và quản lý đối với các doanh nghiệp thành viên trong chuỗi trong các quá trình hoạt động mua và bán của lớp khách hàng và nhà cung cấp và khách hàng lớp 1
- Dạng 2: Mối liên kết dạng giám sát quá trình: Đối với các nhà cung cấp và khách hàng cấp 2 trở đi, mối liên kết của doanh nghiệp trung tâm là giám sát Tuy khó có ảnh hưởng trực tiếp tới các cấp/lớp thứ 2 trở đi nhưng doanh nghiệp trung tâm vẫn phải giám sát hoạt động của họ để đảm bảo các hoạt động sản xuất của mình Họ
có thể dùng ảnh hưởng để kéo nguồn nguyên liệu nhanh hơn từ phía nhà cung cấp và đẩy sản phẩm ra thị trường nhanh hơn thông qua “cánh tay nối dài”
- Dạng 3: Mối liên kết dạng không quản lý quá trình: Những lớp/cấp xe hơn, doanh nghiệp trung tâm thiếu khả năng giám sát, mối liên kết thường rất yếu và phải thông qua các doanh nghiệp trung gian
- Dạng 4: Mối liên kết không phải là thành viên: mối quan hệ giữa các doanh nghiệp trong chuỗi và các doanh nghiệp bên ngoài là mối mối liên kết không phải là thành viên
Dựa theo Lambert (1998)[58], Mentzer (2001)[60] đã đưa ra 3 loại liên kết trong chuỗi cung ứng, đó là: 1) Chuỗi cung ứng trực tiếp: chuỗi nội bộ doanh nghiệp, chỉ mối liên kết giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp và người tiêu dùng trung gian; 2) Chuỗi cung ứng mở rộng: chỉ mối liên kết xuôi dòng và ngược dòng của các sản phẩm, dịch vụ, thông tin và tài chính; 3) Chuỗi cung ứng cuối cùng: chỉ mối liên kết rất phức tạp và liên quan đến nhiều đối tác khác nhau bao gồm cả các nhà cung cấp nguồn tài chính, dịch vụ logistics và các đối tác nghiên cứu thị trường
2.1.2.2 Các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng
Trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc của chuỗi cung ứng, có thể nhận thấy một chuỗi cung ứng bao gồm nhiều chủ thể liên kết với nhau Thuật ngữ chuỗi cung ứng cho thấy một mối liên kết cung ứng sản phẩm dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và cuối cùng là khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng Một chuỗi cung ứng bao gồm các chủ thể tham gia cơ bản sau đây:
Trang 40- Nhà cung cấp: nhà cung cấp được xem như một thành viên bên ngoài, có năng
lực sản xuất không giới hạn Tuy nhiên, bởi những nhân tố không chắc chắn trong tiến trình chuyển phát, nhà cung cấp có thể sẽ không cung cấp nguyên liệu thô cho nhà sản xuất đúng lúc Nhà cung cấp có thể bao gồm cả nhà cung cấp nội địa và nhà cung cấp nước ngoài được nhà sản xuất lựa chọn tuỳ thuộc vào năng lực và uy tín cung ứng của họ
- Nhà sản xuất: bao gồm các nhà chế biến nguyên liệu ra sản phẩm, sử dụng
nguyên liệu và các sản phẩm gia công của các nhà sản xuất khác để làm nên sản phẩm Nhà sản xuất (hoặc nhà chế tạo) là những đơn vị trực tiếp làm ra sản phẩm Họ cũng
có thể sáng tạo ra những sản phẩm vô hình như âm nhạc, phần mềm, trò chơi giải trí hay những thiết kế Trào lưu phổ biến hiện nay là các nhà sản xuất loại sản phẩm hữu hình đang di chuyển đến các khu vực có chi phí nhân công rẻ hơn trên thế giới Ngày càng có nhiều nhà sản xuất ở các quốc gia phát triển đang tập trung sản xuất các sản phẩm và dịch vụ vô hình
- Nhà phân phối: là các doanh nghiệp mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản
xuất và phân phối sỉ các dòng sản phẩm đến khách hàng, còn được gọi là các nhà bán
sỉ Chức năng chính của các nhà bán sỉ là điều phối các giao động về cầu sản phẩm cho các nhà sản xuất bằng cách trữ hàng tồn và thục hiện nhiều hoạt động kinh doanh
để tìm kiếm và phục vụ khách hàng Nhà phân phối có thể tham gia vào việc mua hàng từ nhà sản xuất để bán cho khách hàng, đôi khi họ chỉ là nhà môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hang
- Nhà bán lẻ:là những người lưu trữ hàng hoá trong kho và bán với số lượng
nhỏ hơn đến khách hàng Họ luôn theo dõi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng Nhà bán lẻ quảng cáo sản phẩm cho khách hàng, và kết hợp giá cả hợp lý, sản phẩm đa dạng phong phú, dịch vụ tận tình chu đáo với sự thuận tiện để thu hút sự chú ý của khách hàng đối với sản phẩm của mình
- Khách hàng, người tiêu dùng: là bất kỳ các cá nhân nào thực hiện các hành vi mua và sử dụng sản phẩm Khách hàng có thể mua sản phẩm để sử dụng hoặc mua sản phẩm kết hợp với các sản phẩm khác rồi bán cho khách hàng khác