Không như các chương trình không sử dụng kiểu tệp mà học sinh đã học trước đó thì chỉ cần gõ đầy đủ nội dung một chương trình sách giáo khoa viết thì nó sẽ chạy được và thế là có thể xem
Trang 1SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO SÓC TRĂNG
TRƯỜNG THPT NGÃ NĂM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH KIỂU TỆP TRÊN PASCAL DÀNH CHO HỌC SINH
LỚP 11
HUỲNH THỊ HẢO
`
Tháng 3 năm 2017
Trang 2MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 3
1.1 Lí do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Tính mới của đề tài 5
Phần 2: NỘI DUNG 7
2.1 Cơ sở lí luận 7
2.1.1 Pascal và kiểu tệp văn bản 7
2.1.2 Thao tác với tệp 7
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 12
2.3 Biện pháp tiến hành 13
2.3.1 Ghi dữ liệu vào tệp 13
2.3.2 Đọc dữ liệu từ tệp 18
2.3.3 Bài tập vận dụng: 24
2.4 Thực nghiệm và kết quả thực hiện 27
Phần 3: KẾT LUẬN 31
3.1 Kết luận chung 31
3.2 Đề xuất, kiến nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
PHỤ LỤC 1 BÀI TẬP THỰC HÀNH 34
PHỤ LỤC 2 BÀI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 42
Trang 3Phần 1 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Pascal là một môn học không hề dễ đối với tất cả mọi người, không nhiều học sinh yêu thích môn học này Tuy nhiên với học sinh, việc học ngôn ngữ lập trình Turbo Pascal là khởi đầu cho việc tiếp cận ngôn ngữ lập trình bậc cao, qua đó giúp các em hình dung được sự ra đời, cấu tạo, hoạt đông cũng như ích lợi của các chương trình hoạt động trong máy tính, các máy tự động… Qua đó các em có thêm một định hướng, một niềm đam mê về tin học, về nghề nghiệp mà các em chọn sau này
Trong quá trình giảng dạy môn tin học 11 tôi đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho bản thân qua từng tiết dạy và luôn mong muốn học sinh có thể vận dụng hiệu quả máy tính để phục vụ cho việc tiếp thu kiến thức cho bản thân Vì vậy với điều kiện phòng máy nhà trường hiện có tôi đã luôn tạo điều kiện cho các em học tập trực quan trên máy tính không chỉ các tiết thực hành mà còn cả đa số các tiết lí thuyết Tuy nhiên ở chương V Tệp và thao tác với tệp, sẽ rất khó cho học sinh trong việc tự mình thực hành được một bài tập về kiểu tệp nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên bởi sách giáo khoa chưa làm rõ nhiều vấn đề và cũng không hướng dẫn học sinh thực hành Bởi việc chạy được một chương trình có sử dụng kiểu tệp phải đảm bảo nhiều yếu tố đi kèm Không như các chương trình không sử dụng kiểu tệp mà học sinh đã học trước đó thì chỉ cần gõ đầy đủ nội dung một chương trình sách giáo khoa viết thì nó sẽ chạy được và thế là có thể xem kết quả còn với kiểu tệp thì không Để cho học sinh có thể hiểu được sâu sắc một số vấn đề cơ bản khi làm việc với kiểu tệp và tạo hứng thú cho các em ở nội dung này tôi đã tìm hiểu, xây dựng và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm “Hướng dẫn thực hành kiểu tệp trên Pascal dành cho học sinh lớp 11”
Trang 41.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài tôi muốn hướng đến là giúp học sinh có thể thực thực hành một cách hiệu quả các bài tập cơ bản về kiểu tệp văn bản mà cụ thể là có thể
viết chương trình trên máy tính để ghi dữ liệu vào tệp, đọc dữ liệu từ tệp
Nhiệm vụ của đề tài là hướng dẫn người học giải quyết được các vấn đề xung quanh việc dùng Pascal để: Khởi tạo một tệp, ghi dữ liệu của các lần thực hiện chương trình vào tệp, ghi thêm dữ liệu vào tệp đã có nội dung, đọc dữ liệu kiểu xâu trên một dòng, đọc dữ liệu kiểu xâu của cả tệp, đọc dữ liệu kiểu số, đọc dữ liệu từ tệp có nội dung là kiểu xâu và kiểu số,…
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về các thao tác đọc/ghi kiểu tệp văn bản trong Pascal của chương trình tin học 11 Bên cạnh tệp có cấu trúc thì việc giới thiệu cho các em kiến thức về kiểu tệp văn bản đã làm cho việc dạy và học trở nên nhẹ nhàng hơn
Cần nhấn mạnh là sách giáo khoa không hướng dẫn thực hành bài tập về kiểu tệp nên gây rất nhiều khó khăn cho việc dạy và học về kiểu dữ liệu này Vì thế nhiệm vụ trọng tâm của đề tài là hướng dẫn các em đọc dữ liệu từ tệp đã có nội dung và ghi dữ liệu vào tệp đồng thời hướng dẫn các em khởi tạo một tệp văn bản bàng cách ghi trực tiếp trên phần mềm soạn thảo văn bản hay ghi bằng pascal
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo
dục trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm cho ta những tài liệu sống về thực tiễn giáo dục để có thể khái quát nên những qui luật nhằm chỉ đạo tổ chức quá trình giáo dục được tốt hơn Phương tiện để quan sát chủ yếu là tri giác trực tiếp
- Phương pháp điều tra: thể hiện qua việc tác động trực tiếp của người
nghiên cứu vào đối tượng nghiên cứu thông qua câu hỏi để có những thông tin cần thiết cho công việc của mình
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: là phương pháp thu nhận thông tin về
sự thay đổi số lượng, chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo
Trang 5dục do giáo viên tác động đến bằng một số câu hỏi và bài tập kiểm tra Thực nghiệm sư phạm là so sánh kết quả tác động của giáo viên lên một nhóm lớp - gọi
là nhóm thực nghiệm - với một nhóm lớp tương đương không được tác động (dạy, giáo dục theo cách bình thường vẫn được giáo viên phổ thông sử dụng) - gọi
là nhóm đối chứng Tuy nhiên vì trong năm học này tôi chỉ dạy Tin học 11 ở lớp 11T nên đây là nhóm đối chứng (khi chưa tác động) và vừa là nhóm thực nghiệm (sau khi đã tác động)
- Phương pháp thống kê: sau khi thực nghiệm kết quả cần được xử lí bằng
toán học thống kê Qua bảng thống kê sẽ phản ánh được một cách chi tiết kết quả đạt được qua quá trình thực nghiệm Từ đó người nghiên cứu có thể đánh được vấn
đề mình đang nghiên cứu và đưa ra phương pháp dạy học tốt hơn
- Phương pháp so sánh: dùng để đối chiếu giữa các vấn đề nghiên cứu nhằm
làm bật lên tác dụng của cách thực hiện đối với từng vấn đề Qua đó giúp người học hiểu rõ hơn nội dung được lĩnh hội Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã trình bày theo hình thức: chương trình trên Pascal, kết quả trên màn hình, nội dung trên tệp được ghi hoặc đọc (tất cả đều được chụp từ màn hình nhằm mục đích giúp người đọc dễ phân biệt và so sánh)
- Phương pháp phân tích: ở mỗi vấn đề được nghiên cứu tôi đã sử dụng
phương pháp phân tích để làm rõ nội dung Phương pháp phân tích là đặc biệt quan trọng và đó chính là chìa khóa để mở ra những kiến thức mới nhưng dễ tiếp thu hơn
1.5 Tính mới của đề tài
Đề tài nhằm hướng dẫn học sinh lớp thực hành các bài tập đơn giản về kiểu tệp văn bản trên Pascal, giúp các em giải quyết được 2 thao tác cơ bản đối với tệp
là đọc và ghi tệp Những điều này sách giáo khoa chỉ nói chung chung, chưa cụ thể
rõ ràng và cũng không hướng dẫn học sinh thực hành bài tập về kiểu tệp (cách khởi tạo một tệp để đọc, ghi thêm dữ liệu vào tệp, ghi tất cả input và output của các lần
Trang 6thực hiện chương trình vào tệp, cách để kiểm tra kết quả đọc được từ tệp hay kiểm tra kết quả ghi tệp,…) Những vấn đề trên sẽ được trình bày trong đề tài này
Trang 7Phần 2: NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Pascal và kiểu tệp văn bản
Pascal do Niklaus Wirth phát triển dựa trên Algol năm 1970 Pascal là tên nhà toán học và triết học người Pháp Blaise Pascal Cho đến nay Pascal vẫn được dùng để giảng dạy về lập trình trong nhiều trường trung học và đại học trên thế giới Đó là ngôn ngữ cho phép mô tả thuật toán thuận tiện
Trong chương trình tin học 11 học sinh được làm quen với Pascal Trong đó kiểu tệp văn bản là một trong những nội dung được đề cập đến Tệp văn bản là tệp
mà dữ liệu được ghi dưới dạng các kí tự theo mã ASCII Trong tệp văn bản, dãy kí
tự được kết thúc bởi kí tự xuống dòng hay kí tự kết thúc tệp tạo thành một dòng Tất cả các dữ liệu thuộc các kiểu dữ liệu mà học sinh đã được học đều được lưu trữ trên bộ nhớ trong (RAM) và do đó dữ liệu sẽ bị mất khi tắt máy Với một số bài toán có khối lượng dữ liệu lớn, có yêu cầu lưu trữ để xử lí nhiều lần, cần có kiểu dữ liệu tệp (file) Với lợi ích của kiểu tệp được đề cập ở trên thì việc sử dụng được kiểu tệp một cách thành thạo trong quá trình lập trình là một điểu thật sự quan trọng
và cần thiết
2.1.2 Thao tác với tệp
Qua quá trình tìm hiểu từ sách giáo khoa tin học 11, sách giáo viên tin học
11, quyển “Phương pháp giải các bài toán trong tin học” của thạc sĩ Trần Đức Huyên tôi xin trình bày những kiến thức cơ bản về kiểu tệp văn bản để hỗ trợ cho học sinh trong quá trình giải (thực hành) các bài toán đơn giản về kiểu dữ liệu này
2.1.2.1 Khai báo kiểu tệp văn bản
Khai báo biến tệp để sau đó có thể thực hiện các thao tác với tệp thông qua
biến tệp
Cú pháp khai báo: var <biến tệp>: text;
Ví dụ: var f: text;
Trang 8ổ đĩa, danh sách các thư mục liên tiếp cách nhau bởi dấu đường dẫn (\), cuối cùng
là tên tệp:
<ổ đĩa>:\<tên thư mục>\<tên thư mục>\ \<tên thư mục>\<tên tệp>
Độ dài lớn nhất của tên tệp là 79 kí tự Đặc biệt khi tên tệp là xâu rỗng (độ dài xâu bằng 0) thì biến tệp được gắn cho tên tệp vào/ra chuẩn Các tệp vào ra chuẩn được quy định tương ứng với thiết bị nào là tùy thuộc vào sự mở rộng của mỗi chương trình dịch Pascal, nhưng thường quy định tệp input chuẩn là bàn phím, tệp output chuẩn là màn hình
Trang 9Ví dụ: assign(f,‟e:\tong2so.doc‟);
rewrite(f);
2.1.2.4 Ghi dữ liệu vào tệp
Việc ghi dữ liệu vào tệp giống như ghi dữ liệu ra màn hình Câu lệnh dùng thủ tục ghi có dạng:
Write(<biến tệp>,<danh sách kết quả>);
hoặc
Writeln(<biến tệp>,<danh sách kết quả>);
Trong đó, danh sách kết quả gồm một hoặc nhiều phần tử Phần tử là biến đơn hoặc biểu thức (số học, quan hệ hoặc lôgic) hoặc hằng xâu Trường hợp có nhiều phần tử thì các phần tử được ngăn cách bởi dấu phẩy Khi hai kết quả liền nhau cùng là kiểu số thì thì cần xen vào giữa hai kết quả này một kết quả trung gian
là hằng kí tự dấu cách Ví dụ, write(f, x,„ „,y) Trong đó f là biến tệp, x và y là hai biểu thức số Trước khi gọi thủ tục này, tệp tương ứng với biến tệp phải là đang
mở Thủ tục write sẽ ghi lần lượt các kết quả theo danh sách kết quả vào tệp kể từ
vị trí hiện thời của con trỏ tệp
2.1.2.5 Ghi thêm dữ liệu vào tệp đã có nội dung
Đây là một nội dung mới không được đề cập trong chương trình sách giáo khoa nhưng tôi nghĩ nó thật sự cần thiết trong nhiều tình huống cụ thể
Để ghi thêm dữ liệu vào tệp đã có nội dung ta dùng thủ tục append có cú pháp:
append(<biến tệp>);
Ví dụ: append(f);
Sau khi gọi thủ tục append thì tệp sẽ sẵn sàng để ghi dữ liệu mới vào
Lưu ý: Trong cùng một chương trình nếu muốn ghi thêm dữ liệu thì không thể đồng thời sử dụng thủ tục rewrite và append vì khi dùng rewite nội dung tệp sẽ
bị xóa (nếu tệp đã có nội dung) Vì vậy mục đích ghi thêm dữ liệu mới vào sẽ không được thực hiện như ý muốn
Trang 102.1.2.7 Đọc dữ liệu từ tệp
Cú pháp đọc tệp văn bản:
Read(<biến tệp>, <danh sách biến>);
Hoặc
Readln(<biến tệp>, <danh sách biến>);
Ví dụ: read(f, x, y); hoặc readln(f, x, y);
Thủ tục read ghi xong con trỏ tệp không xuống dòng tiếp theo, thủ tục readln ghi xong con trỏ tệp xuống đầu dòng tiếp theo
Danh sách biến là một hoặc nhiều tên biến đơn Trong trường hợp nhiều biến thì các biến cách nhau bằng dấu phẩy.Các dữ liệu cần đọc trong tệp gán vào danh sách biến phải lần lượt có kiểu tương ứng với kiểu của biến trong danh sách biến Nếu sai kiểu thì chương trình mắc lỗi Lỗi này thường gặp khi biến có kiểu số, dữ liệu đọc được lại là kiểu xâu
Ví dụ: tệp docdulieu.txt chỉ có một dòng là tin hoc 11
Trang 11read(f, s, x);
writeln(s);
writeln(x);
readln end
Chương trình mắc lỗi “Invalid numberic format” vì sau khi đọc được s = „tin ho‟ , tiếp theo đọc dữ liệu cho x thì mắc lỗi thì mắc lỗi vì „c‟ không là dạng số Nếu thay lại khai báo s:string[7] hoặc string[8] thì chương trình không mắc lỗi khi thực hiện đọc tệp, kết quả trên màn hình là
Với biến kiểu xâu, thủ tục read sẽ đọc các kí tự trên một dòng vào biến (loại trừ các kí tự đánh dấu hết dòng hoặc hết tệp) Số kí tự đọc vào biến xâu bằng độ dài
đã khai báo của xâu
Với biến kiểu nguyên hoặc thực, thủ tục read sẽ không đọc dấu cách, dấu tab hoặc dấu xuống dòng đứng trước xâu chữ số Nếu xâu chữ số không phù hợp với kiểu của biến tương ứng thì xuất hiện lỗi vào/ra (I/O) Trong trường hợp ngược lại, giá trị kiểu số tương ứng của xâu chữ số sẽ được gán cho biến Lệnh read tiếp theo
sẽ sẽ được bắt đầu bằng dấu cách, dấu tab, hoặc kí tự hết dòng và chúng cũng lại được bỏ qua Những dấu này vạch định cho các xâu chữ số
2.1.2.8 Đóng tệp
Cú pháp: close(<biến tệp>);
Trong cú pháp, biến tệp đã được gắn với một tệp đang mở bằng reset, rewrite hoặc append ở thời điểm trước đó để mở tệp Sau lệnh close, tệp gắn với biến tệp được hoàn thành cập nhật và sau đó được đóng lại Chương trình trả lại quyền quản
lí tệp cho hệ điều hành Nếu thực hiện ghi dữ liệu vào tệp mà không đóng tệp thì không có dữ liệu nào được ghi hoặc chỉ ghi được một phần vào tệp, nguyên nhân
Trang 12do các dữ liệu chứa trong bộ nhớ đệm chưa chuyển kịp vào đĩa thì chương trình đã
bị ngắt
2.1.2.9 Một số hàm và thủ tục chuẩn thường dùng trong thao tác tệp
Hàm EOF: trả lại giá trị true nếu con trỏ tệp ở vị trí cuối tệp, ngược lại trả giá trị false
Hàm EOL: nếu con trỏ tệp ở vị trí cuối dòng thì trả về giá trị true, ngược lại trả giá trị false
Vì vậy nếu muốn đọc dữ liệu của cả một dòng hay của cả tệp ta sẽ cần dùng đến một trong hai hàm này Việc áp dụng sẽ được trình bày trong phần đọc dữ liệu
từ tệp trong đề tài này
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Trường THPT Ngã Năm là một ngôi trường thuộc vùng nông thôn của tỉnh Sóc Trăng, đa phần học sinh không có máy tính cá nhân để hỗ trợ cho việc học nên học sinh chủ yếu thực hành tin học tại phòng máy của nhà trường Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến khả năng tự rèn luyện cũng như kiến thức về tin học của các
em Bên cạnh đó đối với học sinh 11 việc học Pascal là một nỗi “nhọc nhằn” với đa
số học sinh của trường Trong quá trình giảng dạy tại trường qua các năm tôi nhận thấy chỉ có rất ít học sinh thích và học được Pascal
Qua khảo sát các lớp tôi đã từng dạy qua nội dung mà đề tài đang nghiên cứu thì có đa số học sinh không biết viết một chương trình đơn giản để ghi dữ liệu vào một tệp và đọc dữ liệu từ tệp đó rồi ghi kết quả đọc được ra màn hình Các em chỉ biết cú pháp khai báo, gắn tên tệp, các thao tác với tệp cùng các ví dụ riêng lẻ mà không hệ thống lại được thành một chương trình hoàn chỉnh được
Nguyên nhân là do:
- Thời lượng phân phối chương trình không đủ để vừa cho học sinh học lý thuyết và thực hành ngay sau đó;
Trang 13- Nội dung sách giáo khoa không có bài tập thực hành cho nội dung này đồng thời cũng không nêu ra các yếu tố để một chương trình có sử dụng kiểu tệp chạy được trên máy;
- Phần mở rộng của các tệp ghi trong sách giáo khoa xa lạ với học sinh Do
đó, nếu chạy được chương trình thì không biết cách để kiểm tra kết quả;
- Thiếu kiến thức căn bản để viết một chương trình đơn giản;
- Không có niềm đam mê dành cho môn học
2.3 Biện pháp tiến hành
Giáo viên giới thiệu các kiến thức cơ bản về kiểu tệp văn bản trong Pascal (đã được trình bày ở phần cơ sở lí luận) Vì đây là bài học có nhiều nội dung mới nên khó tránh khỏi việc học sinh không theo kịp bài do đó giáo viên phô tô cho mỗi học sinh một bản
Sau khi trình bày xong phần lý thuyết, giáo viên phát cho mỗi học sinh một phiếu bài tập thực hành kiểu tệp văn bản (phụ lục 1) Vì học sinh chưa từng thực hành một bài tập nào về kiểu dữ liệu này nên với từng ví dụ giáo viên nhắc lại kiến thức và yêu cầu học sinh xem lại lý thuyết đồng thời đặt các câu hỏi gợi mở, các câu hỏi yêu cầu học sinh so sánh các vấn đề mà dễ gây nhầm lẫn cho các em Trong quá trình thực hành giáo viên yêu cầu học sinh ghi vào phiếu bài tập mỗi khi hoàn thành xong một bài Cụ thể biện pháp tiến hành hướng dẫn thực hành các bài tập như sau:
2.3.1 Ghi dữ liệu vào tệp
2.3.1.1 So sánh thủ tục ghi dữ liệu ra màn hình và thủ tục ghi tệp
Học sinh có thể dễ dàng trả lời thông qua việc so sánh cú pháp giữa 2 thủ tục này Giống nhau: đều dùng tên thủ tục là write hoặc writeln, các phần tử của danh sách kết quả; khác nhau: thủ tục ghi tệp có thêm biến tệp
Tuy nhiên giáo viên cần nhấn mạnh cho học sinh nội dung sau: nếu muốn ghi dữ liệu vào tệp trên nhiều hàng thì cần dùng thủ tục writeln (ghi xong xuống
Trang 14dòng để chuẩn bị ghi tiếp dòng sau) Điều này tương tự như ghi dữ liệu ra màn hình
Để làm rõ những nội dung về gắn tên tệp, so sánh việc ghi dữ liệu ra màn hình và ghi tệp tôi đã đưa ra vài tập ví dụ 1 như sau:
Ví dụ 1 Hãy viết chương trình trên Pascal tính tổng của 2 số (ghi kết quả
ra màn hình đồng thời ghi 2 số nhập từ bàn phím và tổng của chúng vào tệp
“e:\tong2so.doc”)
Giáo viên yêu cầu học sinh viết một chương trình nhập 2 số từ bàn phím, tính tổng của chúng và xuất kết quả ra màn hình Sau đó mới bổ sung vào các câu lệnh để ghi giá trị của 2 biến đã nhập, kết quả tổng của chúng
Sau đó, giáo viên cần mở tệp đã ghi xem nội dung cần ghi vào tệp có thực
sự được ghi vào tệp chưa (tệp ở đây là tong2so.doc) đồng thời yêu cầu các em so sánh nội dung đã được ghi trên tệp này và nội dung được ghi ra màn hình
Chương trình trên Pascal:
Trang 15close(f);
readln
end
Kết quả sau khi thực hiện chương trình
Nội dung được ghi vào tệp „e:\tong2so.doc‟
Như vậy, nếu muốn ghi nhiều dòng dữ liệu vào tệp thì cứ thêm thủ tục Writeln(<biến tệp>,<danh sách kết quả>);
2.3.1.2 Ghi vào tệp tất cả dữ liệu của các lần thực hiện chương trình
Do đó tôi nhận thấy giải quyết vấn đề này là thực sự cần thiết
Câu hỏi thứ nhất học sinh có thể trả lời được như sau: tệp chỉ ghi kết quả của lần thực hiện chương trình sau cùng Vì sau mỗi lần thực hiện chương trình thủ tục rewrite(f) lại được gọi, điều đó có nghĩa là nội dung đã ghi trên tệp sẽ được xóa
để sẵn sàng cho việc ghi dữ liệu mới
Trang 16Câu hỏi thứ hai mới là một vấn đề quan trọng cần được làm rõ bởi ta dùng kiểu tệp để lưu lại nội dung của các lần thực hiện chương trình để có thể sử dụng về sau nhưng với kiến thức mà sác giáo khoa cung cấp không đủ để giải quyết vấn đề này nên sẽ cần sự trợ giúp của giáo viên Để có thể ghi thêm nội dung vào tệp ta sử dụng thủ tục append(<biến tệp>) Thủ tục này sẽ thay thế cho thủ tục rewrite(<biến tệp>) trong chương trình Chú ý rằng thủ tục append(<biến tệp>) chỉ thay thế thủ tục rewrite(<biến tệp>) khi ta đã thực hiện chương trình có rewrite(<biến tệp>) ít nhất một lần để máy tính khởi tạo tệp cần ghi
Ví dụ 2 Ghi tất cả dữ liệu của các lần thực hiện chương trình ở ví dụ 1 vào tệp
Trang 17Kết quả thực hiện chương trình ở lần muốn ghi thêm dữ liệu:
Kết quả ghi tệp (sau 2 lần thực hiện chương trình):
Kể từ đây nếu muốn ghi thêm thì chỉ cần thực hiện chương trình thêm một lần nữa Với kiến thức vừa nêu chúng ta có thể ghi được input, outut của các bài tập trước đây vào tập Ví dụ như bài toán giải phương trình bậc nhất, bậc hai,…
2.3.1.3 Ghi thêm dữ liệu vào tệp đã được khởi tạo trước đó
Nếu ta đã khởi tạo một tệp trên đĩa và nhập nội dung trực tiếp từ chương trình ứng dụng tạo tệp hoặc khởi tạo một tệp rỗng thì việc ghi thêm dữ liệu vào nó
sẽ được thực hiện như thế nào?
Câu trả lời là chỉ cần dùng thủ tục append sau thủ tục assign rồi dùng thủ tục write(<biến tệp>, <danh sách kết quả>) để ghi dữ liệu vào tệp
Ví dụ 3 Ghi thêm dữ liệu vào tệp, dữ liệu này độc lập với dữ liệu đã khởi tạo trước đó
Nội dung tệp đã được khởi tạo trước đó bằng cách nhập trực tiếp trên Notepad (hoặc khởi tạo một tệp rỗng):
Trang 18Chương trình sử dụng thủ tục ghi thêm append(<biến tệp>):
2.3.2.1 Đọc dữ liệu kiểu xâu trên một dòng vào một biến
Với biến xâu thủ tục read sẽ đọc các kí tự trên một dòng vào biến (loại trừ các kí tự đánh dấu hết dòng hoặc hết tệp) Số kí tự đọc vào biến xâu tối đa bằng độ dài đã khai báo của biến xâu
Trang 19Kết quả đọc được ghi ra màn hình:
Từ kết quả đọc được này ta nhận thấy chỉ đọc được dòng đầu tiên của tệp
2.3.2.2 Đọc dữ liệu kiểu xâu của cả tệp
Ví dụ 5 Đọc toàn bộ dữ liệu của tệp “e:\gv.txt” ở ví dụ 3
Chương trình trên Pascal:
program vd5;
uses crt;
var f:text; {khai bao bien tep f}
str:string; {khai bao bien xau str co do dai toi da 255 ki tu} begin
Trang 20clrscr;
assign(f,'e:\gv.txt'); {gan ten tep}
reset(f); {mo tep de doc}
while not eof(f) do
readln(f,str); {doc du lieu vao bien str}
writeln(str); {ghi ket qua doc duoc ra man hinh} end;
close(f); {dong tep}
readln
end
Kết quả đọc được và được xuất ra màn hình:
Ta so sánh kết quả này và nội dung đã ghi vào tệp ở ví dụ 3 là hoàn toàn phù hợp Về tác dụng của câu lệnh while – do được sử dụng ở chương trình trên: trong khi con trỏ tệp chưa đến cuối tệp thì lần lượt từng hàng dữ liệu sẽ được đọc vào biến str bằng câu lệnh readln(f, str) và kết quả đọc được lần lượt được ghi ra màn hình từng hàng bằng câu lệnh write(str)
Nếu chương trình sau thay đổi theo 2 trường hợp này thì điều gì xảy ra? Trường hợp 1
Read(f, str); {doc du lieu vao bien str}
Writeln(str); {ghi ket qua ra man hinh}
Trường hợp 2
Read(f,str); {doc du lieu vao bien str}
Trang 21Write(str); {ghi ket qua doc duoc ra man hinh}
GV cần yêu cầu học sinh lưu lại chương trình và sau đó thử sửa chương trình theo 2 trường hợp trên, quan sát kết thực hiện và cho nhận xét
Ở trường hợp 1 Máy đọc được dữ liệu nhưng không ghi được kết quả ra màn hình Ở trường hợp 2 Máy đọc được dữ liệu và ghi kết quả đọc được trên cùng một hàng Vì vậy để kết quả đọc được xuất hiện trên màn hình giống như hình thức được ghi trong tệp thì cần viết câu lệnh như chương trình đã viết ban đầu (tức có thêm kí tự ln)
2.3.2.3 Đọc dữ liệu kiểu số
Với biến kiểu nguyên hoặc thực, thủ tục read sẽ không đọc dấu cách, dấu tab hoặc dấu xuống dòng đứng trước xâu chữ số Nếu xâu chữ số không phù hợp với kiểu của biến thì sẽ xuất hiện lỗi vào/ra (I/O) Trong trường hợp ngược lại, giá trị kiểu số tương ứng của xâu chữ số sẽ được gán cho biến Lệnh read tiếp theo sẽ được bắt đầu bằng dấu cách, dấu tab hoặc kí tự hết dòng và chúng cũng lại được bỏ qua Những dấu này vạch định cho các xâu chữ số Ví dụ sau sẽ làm rõ vấn đề này
Ví dụ 6 Đọc xâu chữ số từ tệp vd6.txt có nội dung sau và ghi kết quả đọc được ra màn hình:
Trang 22begin
clrscr;
assign(f,'e:\vd6.txt'); {gan ten tep}
reset(f); {mo tep de doc}
read(f, x,y,z,t,v); {lan luot doc du lieu vao cac bien} write(x,y,z,t,v); {xuat ket qua doc duoc ra man hinh} close(f); {dong tep}
var f:text; {khai bao bien tep f}
x:integer; {khai bao bien x co kieu nguyen}
begin
clrscr;
assign(f,'e:\vd6.txt'); {gan ten tep}
reset(f); {mo tep de doc}
while not eof(f) do {trong khi con tro tep chua tro toi cuoi tep thi lam cong viec sau} begin
read(f,x); {doc du lieu vao bien x}
write(x); {ghi ket qua doc duoc ra man hinh}