1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những vấn đề quyền đất trong Luật Nhân quyền Quốc tế

32 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 343,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu Lên đến một phần tư dân số thế giới được ước tính là không có đất, trong đó có 200 triệu người đang sống trong các vùng nông thôn,1 và khoảng 75% dân số thế giới đang sống trong cảnh bần cùng cơ cực (nhỏ hơn 1 đôlangày) sống trong các vùng nông thôn.2 Theo Cơ quan Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc (FAO), “không có đất nông thôn thường là dự báo tốt nhất của sự nghèo đói.”3 “Trong khi không phải là con đường duy nhất thoát khỏi cảnh bần cùng, bằng chứng phong phú cho thấy là lối đi vào đất đai có hiệu quả trong việc giúp đỡ các gia đình nông thôn tạo ra các thu nhập cao hơn” thông qua việc bán cây trồng và tiền tiết kiệm được khi gia đình nuôi bản thân từ đất trồng.4

Trang 1

Land Rights Issues in International

Human Rights Law

Elisabeth Wickeri*

Anil Kalhan**

Introduction

Up to one quarter of the world’s

population is estimated to be landless,

including 200 million people living in rural

areas,1 and approximately 75% of the

world’s population living in extreme poverty

(less than $1/day) live in rural areas.2

According to the Food and Agriculture

Agency of the United Nations (FAO), “rural

landlessness is often the best predictor of

poverty and hunger.”3 “While not the only

pathway out of poverty, ample evidence

suggests that access to land is effective in

helping rural households generate higher

incomes” through the sale of crops and the

money saved when the family feeds itself

from the land.4 Yet, even though “land

constitutes the main asset from which the

rural poor are able to derive a livelihood …

[m]illions of families, though they toil on the

land, do not enjoy ownership rights over it

Những vấn đề quyền đất trong Luật

Nhân quyền Quốc tế

Elisabeth Wickeri *Anil Kalhan **

mà từ đó người nghèo nông thôn có thể

Trang 2

and are considered landless.”5

The condition of landlessness

threatens the enjoyment of a number of

fundamental human rights Access to land is

important for development and poverty

reduction, but also often necessary for access

to numerous economic, social and cultural

rights, and as a gateway for many civil and

political rights However, there is no right to

land codified in international human rights

law

Land is a cross-cutting issue, and is

not simply a resource for one human right in

the international legal framework And yet,

while rights have been established in the

international legal framework that relate to

land access for particular groups (e.g

indigenous people and, to a more limited

extent, women), numerous rights are affected

by access to land (e.g., housing, food, water,

work), and general principles in international

law provide protections that relate to access

to land (e.g., equality and nondiscrimination

in ownership and inheritance), an explicit

consideration of the legal implications of

nhận được từ một sinh kế … hàng triệugia đình, mặc dù họ làm việc vất vả trênmảnh đất, không được hưởng quyền sởhữu qua nó và được coi là không có đất.”5

Điều kiện của không có đất đe dọa

sự hưởng thụ của một số nhân quyền cơbản Lối đi vào đất đai là quan trọng cho

sự phát triển và xóa đói giảm nghèo, màcòn thường cần thiết cho việc tiếp cậnđến quyền kinh tế, xã hội và văn hóađông đảo, và là một cổng vào cho quyềncông dân và chính trị Tuy nhiên, không

có quyền với đất đai được hệ thống hóatrong luật nhân quyền quốc tế

Đất đai là một vấn đề xuyên suốt,

và không chỉ đơn giản là một nguồn lựccho một quyền con người trong khuônkhổ pháp lý quốc tế Và tuy nhiên, trongkhi các quyền đã được thành lập trongkhuôn khổ pháp lý quốc tế mà nó có liênquan đến đất đai tiếp cận cho các nhóm

cụ thể (ví dụ như người dân bản xứ và,đến một mức độ hạn chế hơn, nhiều phụnữ), nhiều quyền bị ảnh hưởng bởi tiếpcận đất đai (ví dụ, nhà ở, thực phẩm,nước, công việc), và các nguyên tắcchung trong luật quốc tế cung cấp những

sự bảo vệ mà có liên quan đến tiếp cận

Trang 3

access to land for a broad range of human

rights is necessary

* Crowley Fellow, Leitner Center for

International Human Rights and Justice,

Fordham Law School

** Associate Professor of Law, Drexel

University Earle Mack School of Law

This paper builds upon research

conducted by Corey Calabrese, Fordham

Law School, J.D Candidate, Class of 2010

1 SECURE LAND RIGHTS FOR ALL,

UN-HABITAT GLOBAL LAND TOOL

NETWORK 4 (2008)

2

See Roy L Prosterman & Tim Hanstad,

Land Reform in the Twenty-First Century:

New Challenges, New Responses, 4

SEATTLE J SOC JUST 763, 763 (2006)

3 Centre on Housing Rights and

Evictions (COHRE), Housing and Property

Restitution for Refugees and Displaced

lý của việc tiếp cận đất đai cho một loạt

rõ ràng của các quyền con người là cầnthiết

* Crowley Fellow, Trung tâm Leitnercho Nhân quyền Quốc tế và Tư pháp,Trường Luật Fordham

** Phó Giáo sư Luật, Đại học DrexelTrường Luật Earle Mack

Bài viết này dựa trên nghiên cứu đượctiến hành bởi Corey Calabrese, TrườngLuật Fordham, J.D Candidate, Lớp 2010

1 QUYỀN ĐẤT BẢO ĐẢM CHOTẤT CẢ, MẠNG LƯỚI CÔNG CỤ ĐẤT

TRƯỜNG SỐNG 4 (2008)

2

Xem Roy L Prosterman & Tim Hanstad, cải cách đất trong thế kỷ hai mươi mốt: Những thách thức mới, các câu trả lời mới, 4 SEATTLE J SOC.

JUST 763, 763 (2006)

3 Trung tâm về Quyền Nhà ở và trụcxuất (COHRE), Nhà ở và Bồi thường tàisản cho những người tị nạn và người bịdời chỗ, 3-5 (2007), có sẵn tại

http://www.humanitarianreform.org/humanitarianreform/Portals/1/cluster%20appro

Trang 4

oPrinciplesHandbook2007.pdf

4 Alain De Janvry et al., Access to Land

and Land Policy Reforms, in ACCESS TO

LAND, RURAL POVERTY, AND PUBLIC

ACTION, 4 (Oxford Univ Press 2001)

5 Human Rights Council, Report of the

Special Rapporteur on adequate housing as a

component of the right to an adequate

standard of living, and on the right to

non-discrimination in this context, Miloon

Kothari¶ 67, U.N Doc A/HRC/7/16 (Feb.

13, 2008) [hereinafter 2008 Report of the

Special Rapporteur on adequate housing]

Access to Land and the Human Rights

Impact

Land ownership can be a vital source

of capital, which opens personal credit

markets, leads to investments in the land,

provides a social safety net, and transfers

wealth to the next generation.6 Beyond the

potential for a higher income, “[s]ecure

ach%20page/clusters%20pages/Protection/PinheiroPrinciplesHandbook2007.pdf

4 Alain De Janvry et al., Tiếp cận đất đai và những cải cách chính sách đất đai, trong TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI, CẢNH

BẦN CÙNG NÔNG THÔN, VÀ HÀNHĐỘNG CHUNG, 4 (Oxford Univ Press2001)

5 Hội đồng Nhân quyền, Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về nhà ở thỏa đáng như là một thành phần của quyền đến một mức tiêu chuẩn sống thỏa đáng, và trên quyền không có sự phân biệt trong bối cảnh này, Miloon Kothari¶ 67, UN Doc.

A/HRC/7/16 (13 tháng 2 năm 2008) [ởdưới đây năm 2008 Báo cáo của Báo cáoviên đặc biệt về nhà ở thỏa đáng]

Tiếp cận đất đai và tác động mạnh nhân quyền

Quyền sở hữu đất đai có thể là mộtnguồn quan trọng của vốn, mà mở ra cácthị trường tín dụng cá nhân, dẫn đầunhững việc đầu tư vào đất đai, cung cấpmột mạng lưới an toàn xã hội, và chuyển

sự giàu có đến thế hệ kế tiếp.6 Ngoài tiềm

ViệnNhân quyền và Kinh doanhInstitute for

Human Rights and Business

Trang 5

access to land provides a valuable safety net

as a source of shelter, food and income in

times of hardship, and a family's land can be

the last available resort in the instance of

disaster.”7 Moreover, access to land affects a

broad range of fundamental human rights In

both urban and rural areas, individuals rely

on the availability of adequate plots of land

for shelter and the availability of resources

In rural areas in particular, the realization of

the right to food is intimately tied to the

availability of land on which to grow crops

Additional rights, including the right to

water, the right to health, the right to work,

are all tied to access to land Identity,

particularly for indigenous groups,8 is also

tied to land In some domestic contexts,

recognition of citizenship is also attached to

ownership of land, limiting the ability of

landless individuals to travel and participate

in the political process.9

The problem of rural landlessness

continues to increase as land in rural areas

năng cho một thu nhập cao hơn, “bảođảm tiếp cận đất đai cung cấp một mạnglưới an toàn có giá trị như một nguồn chỗ

ẩn, thực phẩm và thu nhập trong nhữnglúc khó khăn, và đất của gia đình có thể làgiải pháp có sẵn cuối cùng trong trườnghợp của thảm họa.”7 Hơn nữa, tiếp cậnđất đai ảnh hưởng đến một loạt rõ ràngcủa các quyền con người cơ bản Ở cảnhững khu vực đô thị và nông thôn,những cá nhân dựa vào sự sẵn có của cácmiếng đất thỏa đáng đất để trú ngụ và sựsẵn có của các nguồn tài nguyên Trongcác khu vực nông thôn nói riêng, sự thựchiện các quyền thực phẩm được gắn bómật thiết với sự sẵn có của đất để pháttriển cây trồng Những quyền bổ sung,bao gồm quyền nước, quyền sức khỏe,quyền làm việc, tất cả đều gắn liền vớitiếp cận đất đai Tính đồng nhất, đặc biệtđối với các nhóm bản xứ,8 cũng gắn liềnvới đất đai Trong một số phạm vi nội địa,công nhận quyền công dân cũng được gắnliền với quyền sở hữu đất đai, hạn chếkhả năng của các cá nhân không có đất để

đi du lịch và tham gia vào quá trình chínhtrị.9

Vấn đề của không có đất nôngthôn tiếp tục tăng như đất ở các khu vực

Trang 6

comes under multiple pressures, including

population growth, fragmentation, land use

conversion, environmental degradation, and

the impact of natural disasters.10 Without

secure land rights, individuals and

communities live under the constant threat of

eviction, impacting a range of fundamental

human rights Tenure security in land or

secure usage rights in land, in the form of

formal legal, customary or religious rights,

can provide more predictability and secure

access to fundamental rights, including to

food, housing, water, and health The right to

housing and the prohibition against forced

evictions, both of which relate to land access,

have been defined in numerous international

documents, but the right to land, and the

broader implications of access to land in the

international human rights framework,

remains imprecise

Land Rights in the International Legal

Framework

The necessity of providing access to

land in order to facilitate the realization of

nông thôn xảy ra dưới áp lực nhiều, trong

đó có tăng trưởng dân số, sự vỡ tan từngmảnh, chuyển đổi sử dụng đất, sự làmgiảm môi trường, và tác động của nhữngthảm họa tự nhiên.10Nếu không có quyền

sử dụng đất đai bảo đảm, các cá nhân vàcộng đồng sống dưới mối đe dọa liên tụccủa sự lấy lại, tác động một loạt các nhânquyền cơ bản Sự bảo đảm đất phát canhtrong đất hoặc quyền sử dụng bảo đảmtrong đất, ở hình thức các quyền hợppháp, bộ luật theo tục lệ hoặc các quyềntôn giáo, có thể cung cấp thêm khả năng

dự báo và bảo đảm đến tiếp cận cácquyền cơ bản, bao gồm thực phẩm, nhà ở,nước, và sức khỏe Quyền nhà ở và sựngăn cấm dựa vào sự lấy lại ép buộc, cảhai đều liên quan đến quyền đến gần đấtđai, đã được xác định trong nhiều văn bảnquốc tế, nhưng quyền đất đai, và những ýnghĩa rộng lớn hơn của tiếp cận đất đaitrong khuôn khổ nhân quyền quốc tế, vẫnkhông chính xác

Quyền đất đai trong khuôn khổ pháp

lý quốc tế

Sự cần thiết của cung cấp tiếp cậnđất đai để làm cho thuận tiện cho việc

Trang 7

human rights has been considered in several

international principles and interpretive

documents,11but no

6See De Janvry, supra note 4 at 17.

7See id at 5; COHRE, supra note 3 at 3.

8

See discussion infra, Indigenous rights and

women’s rights.

9 See, e.g., Nepal Citizenship Act 2006,

art 8 (requiring the provision of a land or

tenancy certificate as in the application for a

citizenship certificate on the basis of birth in

Nepal) The need to provide a land or

tenancy certificate can be circumvented if

one is unavailable, and if the applicant can

provide three depositions from individuals

already owning citizenship certificates, but in

the context of landless communities, this is

impractical Similarly, in Nepal, citizenship

certificates are often required in order to

obtain tenancy certificates or to purchase

land, making land acquisition and the

acquisition of proof of citizenship all but out

of reach for individuals living in landless

communities in rural Nepal See LIZ

ALDEN WILY, LAND REFORM IN

NEPAL: WHERE IS IT COMING FROM

AND WHERE IS IT GOING? 120 (2009)

thực hiện các quyền con người đã đượcxem xét trong một số nguyên tắc quốc tế

và các văn bản diễn giải,11nhưng không

6 Xem De Janvry, chú thích ở trên 4 ở

9 Xem, ví dụ, Đạo luật Quyền công

dân Nepal năm 2006, nghệ thuật 8 (yêucầu sự chuẩn bị của một vùng đất hoặcgiấy chứng nhận đất thuê như trong đơnxin cho một giấy chứng nhận quyền côngdân trên nền tảng của sự ra đời trongNepal) Nhu cầu phải cung cấp một vùngđất hoặc giấy chứng nhận đất thuê có thể

bị phá vỡ nếu không có giá trị, và nếungười nộp đơn có thể cung cấp ba lờibằng chứng từ các cá nhân đã sở hữu giấychứng nhận quyền công dân, nhưng trongphạm vi của các cộng đồng không có đất,điều này là không thực tế Tương tự,trong Nepal, giấy chứng nhận quyền côngdân thường được yêu cầu để tồn tại giấychứng nhận đất thuê hoặc để mua đất,làm cho thu hồi đất và việc thu hồi củabằng chứng của quyền công dân mà tất cảnhưng ngoài với các cá nhân sống trong

Trang 8

10Id., at 2.

11 See, e.g., The Vancouver Declaration

on Human Settlements, UN Conference on

Human Settlements, Adopted June 11, 1976,

General Principles: Land; Voluntary

Guidelines of the Food and Agriculture

Organization of the United

International right to land is explicit in the

international legal framework Moreover, the

obligation of states towards individuals and

land access has not been given adequate

attention However, a review of the

international human rights framework12 as it

stands makes clear that while not wholly

defined, land rights are invoked in a number

of key areas, suggesting that further

consideration by the international community

is necessary

các cộng đồng không có đất trong Nepalnông thôn Xem LIZ ALDEN WILY,CẢI CÁCH ĐẤT TRONG NEPAL: NÓĐẾN TỪ ĐÂU VÀ ĐANG TỚI ĐÂU?

120 (2009)

10Id., tại 2.

11 Xem, ví dụ, Lời tuyên bốVancouver về những sự định cư conngười, Hội nghị Liên hiệp quốc về những

sự định cư con người, đã đư ợc thông quangày 11 tháng 6, 1976, Những nguyên tắcChung: Đất đai; Những nguyên tắc chỉđạo Tự nguyện của Tổ chức Nông nghiệpcủa Hoa Kỳ

Quyền quốc tế đối với đất đai là rõ ràngtrong khuôn khổ pháp lý quốc tế Hơnnữa, nghĩa vụ của các bang hướng về sựtiếp cận các cá nhân và đất đai vẫn chưađược quan tâm thỏa đáng Tuy nhiên, mộtviệc xem xét lại của khuôn khổ nhânquyền quốc tế12 như nó đứng làm rõ màtrong khi không định nghĩa toàn bộ,quyền sử dụng đất được gọi trong một sốlĩnh vực quan trọng, cho thấy xem xétthêm bởi cộng đồng quốc tế là cần thiết

Trang 9

Indigenous rights and women’s rights

Explicit rights to land have been

developed in two key areas of international

human rights law, the rights of indigenous

people and the rights of women Land access

and use is frequently tied to the spiritual,

cultural and social identities of peoples As

such, land rights have been more fully

developed in the sphere of indigenous rights

Convention 169 on Indigenous and

Tribal Peoples, which was adopted by the

International Labour Organization in 1989,13

is legally binding on States Parties and the

only binding international instrument related

to the rights of indigenous peoples The

Convention establishes the right of

indigenous peoples in independent countries

to “exercise control, to the extent possible,

over their own economic, social and cultural

development,” in a number of areas.14 The

Convention includes a section on land, and

requires States Parties to identify lands

traditionally occupied by indigenous peoples

and guarantee ownership and protection

rights.15 In essence, the “measures shall be

taken in appropriate cases to safeguard the

right of the peoples concerned to use lands

Quyền địa phương và quyền của phụ nữ

Quyền rõ ràng với đất đai đã đượcphát triển trong hai lĩnh vực quan trọngcủa luật nhân quyền quốc tế, các quyềncủa người dân bản xứ và các quyền củaphụ nữ Tiếp cận và sử dụng đất đaithường xuyên gắn liền với những tínhđồng nhất tinh thần, văn hóa và xã hộicủa dân tộc Như vậy, quyền sử dụng đất

đã được phát triển đầy đủ hơn trong phạm

vi của những quyền bản xứ

Công ước 169 về Dân tộc Bản xứ

và Bộ lạc, đã được thông qua bởi Tổ chứcLao động Quốc tế trong năm 1989,13 làràng buộc pháp lý về các quốc gia và vănkiện quốc tế ràng buộc duy nhất liên quanđến quyền của người dân bản xứ Côngước thành lập quyền của người dân bản

xứ ở các quốc gia độc lập để “thực hiệnkiểm soát, đến mức có thể, hơn phát triểnkinh tế, xã hội và văn hóa riêng của họ,”trong một số khu vực.14 Công ước baogồm một phần trên đất liền, và yêu cầucác quốc gia để xác định các vùng đấttruyền thống bị chiếm đóng bởi ngườidân bản xứ và đảm bảo quyền sở hữu vàbảo vệ.15 Về bản chất, “các biện pháp sẽđược thực hiện trong trường hợp cần thiết

để bảo vệ quyền của dân tộc có liên quan

Trang 10

not exclusively occupied by them, but to

which they have traditionally had access for

their subsistence and traditional activities.”16

The Convention also requires the provision

of legal procedures to resolve land claims,17

establishes rights over natural resources,18

protects against forced removal,19and

Nations (FAO), adopted 127th Session of the

FOA Council, November 2004, Guideline 8B

(Access to resource and assets: Land); see

also discussion, infra.

12 International humanitarian documents

also relate to land, displacement as a result of

internal and international conflict, and

circumstances under which restitution for

confiscated property may be appropriate The

role of land within the international

humanitarian framework is beyond the scope

of this paper, but further research in this area

is also encouraged See, e.g., protections

against the extensive destruction and

appropriation of property except where

justified by “military necessity” or the

“necessities of war.” Geneva Convention (I)

for the Amelioration of the Condition of the

Wounded and the Sick in Armed Forces in

sử dụng đất không độc quyền chiếm đóngbởi họ, nhưng mà họ đã có truyền thốngtiếp cận cho các hoạt động sinh kế vàtruyền thống.”16 Công ước cũng yêu cầu

sự chuẩn bị của các thủ tục pháp lý đểgiải quyết quyền đòi đất đai,17 thiết lậpcác quyền đối với các nguồn tài nguyênthiên nhiên,18 bảo vệ chống lại loại bỏ épbuộc,19và

Hoa Kỳ (FAO), được thông qua 127th

Hội nghị của Hội đồng FOA, tháng 11

năm 2004, Nguyên tắc chỉ đạo 8B (tiếp cận đến tài nguyên và những tài sản: Đất đai), xem thêm thảo luận, ở dưới.

12 Các văn bản nhân đạo quốc tế cũngliên quan đến đất đai, thay thế như mộtkết quả của cuộc xung đột nội bộ và quốc

tế, và những tình huống mà hoàn lại chotài sản bị tịch thu có thể thích hợp Vai tròcủa đất đai trong khuôn khổ nhân đạoquốc tế nằm ngoài phạm vi của bài viếtnày, nhưng nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh

vực này cũng được khuyến khích Xem, ví

dụ, những bảo vệ chống lại sự tàn phá

rộng lớn và sự chiếm đoạt tài sản trừ nơi

đã được chứng minh là đúng bằng “sựcần thiết về quân sự” hay “những sự cầnthiết của chiến tranh.” Công ước Geneva(I) cho Sự cải thiện Điều kiện của Những

Trang 11

the Field, Aug 12, 1949, art 50; Geneva

Convention (IV) relative to the Protection of

Civilian Persons in Time of War, Aug 12,

1949, art 147 Similarly, considerations

related to the restitution of the housing, land,

and property rights of displaced peoples

merits additional analysis, which will begin

with the Pinheiro Principles UN Principles

on Housing and Property Restitution for

Refugees and Displaced Persons (2005)

[Hereineafter “Pinheiro Principles”]

13

See International Labour Organization,

Convention 169, Indigenous and Tribal

Peoples Convention, opened for signature

người bị thương và Bệnh trong Lực lượng

Vũ trang trong Trận đánh, ngày 12 tháng

8 năm 1949, nghệ thuật 50, Công ướcGeneva (IV) liên quan đến Sự bảo vệ củaNgười dân trong Thời của Chiến tranh,ngày 12 tháng 8 năm 1949, nghệ thuật

147 Tương tự, những việc xem xét liênquan đến việc hoàn lại các quyền nhà ở,đất đai và tài sản của người dân di dờixứng đáng phân tích thêm, sẽ bắt đầu vớiNhững nguyên tắc Pinheiro Nguyên tắccủa Liên Hiệp Quốc về Nhà ở và Hoàn lạiTài sản cho Những người tị nạn và người

di dời (2005) [Ở dưới đây “PinheiroNguyên tắc”]

13

Xem Tổ chức Lao động Quốc tế,

Công ước 169, Công ước Người Bản xứ

và Bộ lạc, được ký ngày 27 tháng 6 năm

lex/convde.pl?C169 [ILO Công ước 169

Trang 12

18Id at art 15.

19Id at art 16.

establishes a right of return and

compensation for lost land through either

land (of at least equal quality and quantity) or

money.20

In 2007, the U.N General Assembly

adopted the Declaration on the Rights of

Indigenous Peoples, which states that

“indigenous peoples have the right to the

lands, territories and resources which they

have traditionally owned, occupied or

otherwise used or acquired.”21 The

Declaration, while not binding, states that

indigenous people have a right to own and

develop resources on their land, a right to

legal recognition of indigenous lands by

states, and a “right to redress for the

lands, territories and resources which they

have traditionally owned or otherwise

occupied or used, and which have been

confiscated, taken, occupied, used or

damaged.”22 Both the Convention and the

Declaration emphasize participatory dialogue

and the need for free, prior, and informed

consent with respect to decision-making

18Id ở nghệ thuật 15.

19Id ở nghệ thuật 16.

thiết lập một quyền của sự trả lại và bồithường cho đất bị mất thông qua hoặc đất(ít nhất là chất lượng và số lượng tươngđương) hoặc tiền.20

Năm 2007, Đại Hội đồng LiênHiệp Quốc đã thông qua Tuyên bố về Cácquyền của Người dân Bản xứ, trong đónói rằng “người dân bản xứ có quyền đếncác vùng đất, các vùng lãnh thổ và cácnguồn tài nguyên mà họ đã sở hữu truyềnthống, đã chiếm hoặc nếu không sử dụnghoặc mua lại.” 21 Tuyên bố, trong khikhông ràng buộc, nói rằng người dân bản

xứ có một quyền để sở hữu và phát triểncác nguồn tài nguyên trên đất của họ, mộtquyền được công nhận pháp lý của cácvùng đất bản xứ của các quốc gia, và một

“quyền để khôi phục cho các vùng đất,các vùng lãnh thổ và các nguồn tàinguyên mà họ đã sở hữu truyền thốnghoặc nếu không chiếm hoặc sử dụng, và

bị tịch thu, bị lấy, chiếm, sử dụng hoặcthiệt hại.”22 Cả Công ước và Tuyên bốnhấn mạnh cuộc đối thoại có tham gia và

Trang 13

about lands occupied by indigenous

peoples,23 especially where the relocation of

peoples from land is under consideration.24

Land rights are also invoked in the

international legal framework on women’s

rights The Convention on the Elimination of

all forms of Discrimination Against Women

(CEDAW) requires that State Parties “shall

ensure women the right to equal

treatment in land and agrarian reform as well

as in land resettlement schemes .”

CEDAW also provides that both spouses

must enjoy “[t]he same rights in respect

of the ownership, acquisition, management,

administration, enjoyment and disposition of

property” in marriage.25 Equal rights to

inherit, purchase, and dispose of property

also promote women’s rights more generally

While land rights are not explicitly

developed more fully in this Convention or

elsewhere in the core human rights treaties,

however, the human rights framework clearly

dictates that human rights be applied

non-discriminatorily and equally for all people

sự cần thiết cho sự tán thành tự do, trướctiên, và có nhiều tin tức với sự tôn trọng

để ra quyết định về vùng đất chiếm đóngcủa người dân bản xứ,23 đặc biệt nơi táiđịnh cư của người dân từ đất đang đượcxem xét.24

Quyền sử dụng đất cũng đư ợc việndẫn trong khuôn khổ pháp lý quốc tế vềcác quyền của phụ nữ Công ước về Xóa

bỏ mọi hình thức của Sự phân biệt Đốivới Phụ nữ (CEDAW) yêu cầu Các quốcgia “phải đảm bảo cho phụ nữ quyền để đối xử bình đẳng trong cải cách ruộngđất cũng như trong các kế hoạch tái định

cư đất .” CEDAW cũng cung cấp rằng

cả vợ chồng phải có được “các quyềnchung trong mối liên hệ của quyền sởhữu, mua lại, quản lý, điều hành, hưởngthụ và định đoạt tài sản” trong sự kếthôn.25 Quyền bình đẳng được thừa kế,mua, và định đoạt tài sản cũng thúc đẩyquyền của phụ nữ nói chung Trong khiquyền sử dụng đất không được phát triểnmột cách rõ ràng đầy đủ hơn trong Côngước này hoặc nơi khác trong các hiệp ước

về nhân quyền cơ bản, tuy nhiên, khuônkhổ nhân quyền ra lệnh rõ ràng rằng nhânquyền được áp dụng không có sự phânbiệt và bình đẳng cho tất cả mọi người

Trang 14

The right to housing

Within the international bill of human

rights—namely, the Universal Declaration of

Human Rights (UDHR), and the two binding

Covenants, the International Covenant on

Civil and Political Rights (ICCPR) and the

International Covenant on Economic, Social

and Cultural Rights (ICESCR)—a number of

articles are directly tied to rights to land The

UDHR and ICESCR protect the right to an

adequate standard of living; the UDHR and

ICCPR protect privacy and property rights

20Id at art 16.

21

United Nations, Declaration on the

Rights of Indigenous Peoples, art 26(1),

Sept 13, 2007, available at

http://www.un.org/esa/socdev/unpfii/docume

nts/DRIPS_en.pdf [Hereinafter Declaration

on the Rights of Indigenous Peoples] The

Declaration was adopted by the General

Assembly but is not legally binding on state

20Id ở nghệ thuật 16.

21Liên Hợp Quốc, Tuyên bố về quyềncủa Người dân Bản xứ, nghệ thuật 26

(1), 13 tháng 9 năm 2007, có giá trị tại

http://www.un.org/esa/socdev/unpfii/documents/DRIPS_en.pdf [Tuyên bố dưới đây

về Quyền của Người dân Bản xứ] Tuyên

bố này được thông qua bởi Đại Hội đồngnhưng không phải là ràng buộc pháp lý vềcác quốc gia

22Xem id ở nghệ thuật 26(2), 26(3) &

28

Trang 15

23See id at art 10, 28, 29, 32.

24See also discussion infra, “The Right to

Housing.”

25See id at art 16(h).

Numerous economic, social and

cultural rights in the UDHR and ICESCR are

intimately connected to access to land,

including the rights to housing, food, health,

and work.26 The right to adequate housing is

particularly relevant and land is a critical

element of fulfilling the right Indeed, “[l]and

is often a necessary and sufficient condition

on which the right to adequate housing is

absolutely contingent for many individuals

and even entire communities.”27

Housing is a fundamental human right

which has been included in numerous

international documents.28 Clarity on the

scope of the right to adequate housing has

been provided by two General Comments29

of the Committee on Economic, Social and

Cultural Rights, and also by the work of the

special rapporteur on the right to adequate

housing as a component of the right to an

adequate standard of living General

Nhà ở là một nhân quyền cơ bản

mà đã được bao gồm trong nhiều văn bảnquốc tế.28 Rõ ràng về phạm vi quyền nhà

ở tương xứng đã đư ợc cung cấp bởi haiLời bình luận Chung29của Ủy ban về Cácquyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, vàcũng bởi công việc của các báo cáo viênđặc biệt về quyền nhà ở tương xứng nhưmột thành phần của quyền một mức sốngtương xứng Lời bình luận Chung 4 về

Trang 16

Comment 4 on the Right to Adequate

Housing emphasizes that the right to housing

is not to be interpreted narrowly, but “should

be seen as the right to live somewhere in

security, peace and dignity.”30 The General

Comment outlines key elements to the right

to adequate housing, including availability of

services, habitability, location, and

affordability.31 Security of tenure and the

protection against forced eviction is often a

touchstone with respect to identifying where

the right to adequate housing is protected,

and these elements are also necessary with

respect to access to land

While the economic, social and

cultural rights protected under the ICESCR

are on their face most obvious in their

connection to land, the civil and political

rights in the UDHR and ICCPR should not

be ignored Article 17 of the UDHR states

that “(1) [e]veryone has the right to own

26

See, e.g., United Nations, Universal

Declaration of Human Rights (UDHR), art

23, 25, Dec 10, 1948, available at

http://www.un.org/Overview/rights.html#a25

[Hereinafter UDHR]; United Nations

Quyền nhà ở Tương xứng nhấn mạnhrằng quyền nhà ở không phải là để đượcgiải thích tỉ mỉ, nhưng “nên được xemnhư quyền để sống ở đâu đó trong antoàn, hòa bình và phẩm giá.”30 Lời bìnhluận Chung phác thảo các yếu tố quantrọng cho sự quyền nhà ở tương xứng,bao gồm sẵn có của các dịch vụ, sinhsống, địa điểm, và khả năng sống.31 Antoàn của sở hữu và bảo vệ đối với sự lấylại ép buộc thường là một tiêu chuẩn vớimối liên hệ đến việc xác định nơi quyềnnhà ở tương xứng được bảo vệ, và nhữngyếu tố này cũng cần thiết với mối liên hệđến tiếp cận đất đai

Trong khi các quyền kinh tế, xãhội và văn hóa được bảo vệ theo ICESCR

là trên khuôn mặt của họ rõ ràng nhấttrong sự liên quan của họ với đất, quyềncông dân và chính trị trong UDHR vàICCPR không nên bỏ qua Điều 17 củaUDHR nêu rằng “(1) mọi người có quyền

sở hữu

26

Xem, ví dụ, Liên Hiệp Quốc, Tuyên

ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR), nghệ

thuật 23, 25, 10 Tháng 12, 1948, có giá

http://www.un.org/Overview/rights.html

Ngày đăng: 08/05/2019, 07:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w