NNĐT đang nổi lên như một xu thế ngày càng được nghiên cứu vàthực hành rộng rãi ở các quốc gia phát triển cũng như các nước đang phát triển.Các chủ đề liên quan đến NNĐT ngày càng xuất h
Trang 1-TRƯƠNG QUỐC SỬ
TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
HƯỚNG ĐẾN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MANG BẢN SẮC ĐỊA PHƯƠNG
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUY HOẠCH VÙNG VÀ ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2-TRƯƠNG QUỐC SỬ
TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ HƯỚNG ĐẾN QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
MANG BẢN SẮC ĐỊA PHƯƠNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
CHUYÊN NGÀNH: QUY HOẠCH VÙNG VÀ ĐÔ THỊ
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nêu trong luận án chưa từng được công bố trước đây Luận án có sử dụng một
số tài liệu và hình ảnh của các tác giả và được ghi chú trích dẫn trong mục tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về tính xác thực của các kết quả nghiên cứu trong luận án.
Trang 4Phú Hưng, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành được luận án này.
Tôi cũng xin trân trọng cám ơn:
- Ban Giám Hiệu – Viện đào tạo sau đại học – Khoa kiến trúc – Phòng Hành chính tổng hợp – Phòng Tổ chức nhân sự và quý Thầy Cô thân hữu ở Trường Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận án.
- Các Anh, Chị đồng nghiệp, bạn bè đã góp ý và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận án.
- Gia đình của tôi đã động viên, chia sẻ để tôi có thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận án.
Trang 58 Các nghiên cứu liên quan và vấn đề còn tồn tại 13
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN NNĐT TRÊN THẾ
GIỚI, Ở VIỆT NAM VÀ TẠI CÁC ĐÔ THỊ ĐBSCL
1.1 KHÁI QUÁT VỀ KHÔNG GIAN NNĐT Ở CÁC ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1 Lược sử quá trình hình thành và phát triển không gian NNĐT 161.1.2 Một số mô hình không gian NNĐT tiêu biểu 201.1.3 Các xu hướng phát triển không gian NNĐT 24
1.2 TÌNH HÌNH CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NÔNG NGHIỆP Ở CÁC
ĐÔ THỊ VIỆT NAM
1.2.1 Tình hình các mô hình nông nghiệp trong đô thị 301.2.2 Tình hình chung về đất nông nghiệp trong cấu trúc đô thị 35
1.3 HIỆN TRẠNG VỀ KHÔNG GIAN NÔNG NGHIỆP Ở ĐÔ THỊ
ĐBSCL
1.3.1 Một số mô hình nông nghiệp trong đô thị 37
Trang 61.3.2 Tác động của quá trình đô thị hóa 421.3.3 Hiện trạng không gian nông nghiệp trong đô thị - Nhìn từ góc độ
1.4 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ LUẬN ÁN, LUẬN VĂN
NGHIÊN CỨU THEO HƯỚNG CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Các công trình khoa học về nông nghiệp đô thị 47
1.5 SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NÔNG NGHIỆP
KHOA HỌC VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NNĐT Ở ĐBSCL
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học 54
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NNĐT Ở ĐBSCL
2.2.1 Quan điểm - lý luận và lý thuyết về tổ chức không gian NNĐT
hướng đến quy hoạch phát triển đô thị bền vững 572.2.2 Lý luận và lý thuyết tổ chức không gian NNĐT tạo bản sắc địa
2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỂ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NNĐT Ở ĐBSCL
2.3.1 Thực tiễn về bối cảnh vùng ĐBSCL 712.3.2 Thực tiễn về đô thị ở ĐBSCL 77
2.4 CƠ SỞ VỀ KHÔNG GIAN VÀ TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NNĐT Ở ĐBSCL
2.4.2 Cơ sở tổ chức không gian NNĐT ở ĐBSCL 87
2.5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỔ CHỨC KHÔNG GIAN NNĐT TRÊN
Trang 7Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 ĐỀ XUẤT NHỮNG QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC
CHUNG VỀ QUY HOẠCH TỔNG THỂ – TỔ CHỨC VÀ TẠO HÌNH KHÔNG GIAN NNĐT Ở ĐBSCL
3.3 ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ GIẢI PHÁP QUY HOẠCH
TỔNG THỂ - GIẢI PHÁP TỔ CHỨC VÀ GIẢI PHÁP TẠO HÌNH
KHÔNG GIAN NNĐT Ở ĐBSCL
3.3.1 Định hướng chung về giải pháp quy hoạch tổng thể không gian
nông nghiệp trong cấu trúc đô thị 1143.3.2 Định hướng chung về giải pháp tổ chức không gian NNĐT trong
3.3.3 Định hướng chung về giải pháp tạo hình không gian NNĐT mang
3.4 ĐỀ XUẤT CÁC MÔ HÌNH KHÔNG GIAN NNĐT Ở ĐBSCL
3.4.1 Đề xuất mô hình không gian NNĐT trong không gian tổng thể đô
Trang 83.4.5 Đề xuất mô hình không gian NNĐT trong không gian xanh đô thị 1313.4.6 Đề xuất mô hình không gian NNĐT trên đất nông nghiệp trong cấu
3.5 ÁP DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: TỔ CHỨC KHÔNG GIAN
NNĐT HƯỚNG ĐẾN ĐÔ THỊ SEN Ở TP CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
3.5.1 Định hướng quy hoạch chung TP Cao Lãnh đến năm 2030, tầm
3.5.2 Quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc chung về quy hoạch tổng thể- tổ
chức và tạo hình không gian đô thị Sen ở TP Cao Lãnh 1363.5.3 Định hướng chung cho quy hoạch tổng thể - giải pháp tổ chức và
tạo hình không gian Sen ở TP Cao Lãnh 137
3.6 BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.6.1 Bàn luận về những điều kiện để NNĐT trở thành động lực mới cho
3.6.2 Bàn luận về việc tích hợp hoạt động NNĐT trong các không gian
chức năng tạo hình ảnh mới hướng đến đô thị mang bản sắc sinh
3.6.3 Bàn luận những nghiên cứu tiếp theo để tổ chức không gian NNĐT
trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị ở ĐBSCL từ lý thuyết
Trang 9Nông nghiệp đô thị
Đô thị hóa nông nghiệpBiến đổi khí hậu
Bộ Xây DựngCảnh quan đô thị sản xuất liên tụcĐồng bằng sông Cửu Long
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp củaLiên Hiệp Quốc
Hệ thống thông tin địa lýTrung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (Canada)Diễn đàn hợp tác kinh tế Đồng bằng sông Cửu LongNghiên cứu sinh
Nông nghiệp công nghệ caoPhát triển bền vững
Quy hoạch xây dựng
Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tếThành phố
Chương trình Định cư của Liên Hiệp QuốcChương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: Tổng hợp quan điểm, lý luận phổ biến về NNĐT
Bảng 2.1: Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tiêu chí phân loại đô thị
Bảng 2.2: Các loại đất đai thích hợp cho hoạt động nông nghiệp trong đô
thị
Sơ đồ III.2: Không gian chức năng tổng thể đô thị
Sơ đồ III.3: Không gian khu ở trong đô thị
Sơ đồ III.4: Không gian khu trung tâm trong đô thị
Sơ đồ III.5: Không gian khu công nghiệp trong đô thị
Sơ đồ III.6: Không gian hệ thống cây xanh trong đô thị
Tổng quan về không gian NNĐT trên thế giới
Một số mô hình không gian NNĐT theo xu hướng gia tăng giátrị mới cho đô thị trên thế giới
Một số mô hình không gian NNĐT theo xu hướng gia tăng giátrị mới cho đô thị trên thế giới – Một số kết luận ban đầu.Tình hình chung về không gian nông nghiệp ở các đô thị ViệtNam
Một số mô hình nông nghiệp trong đô thị ở một số thành phốlớn và các thành phố khác ở Việt Nam
Hiện trạng về không gian nông nghiệp tại các đô thị ĐBSCL Hiện trạng không gian nông nghiệp trong đô thị nhìn từ quyhoạch không gian đô thị
-Một số mô hình nông nghiệp trong đô thị ở một số đô thị vùngĐBSCL
Trang 11Chương 2
Hình II.1: Phương pháp luận nghiên cứu, Lý luận tổ chức không gian
NNĐT ở ĐBSCL – Một số quan điểm và lý luận cơ bản.Hình II.2: Tổng hợp các lý thuyết phát triển đô thị bền vững có bao gồm
yếu tố NNĐT
Hình II.3: Lý luận và lý thuyết tổ chức không gian NNĐT tạo bản sắc địa
phương cho đô thị
Hình II.4: Cơ sở thực tiễn để tổ chức không gian NNĐT ở ĐBSCL
-Điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL
Hình II.5: Cơ sở thực tiễn để tổ chức không gian NNĐT ở ĐBSCL
-Điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội
Hình II.6: Cơ sở thực tiễn để tổ chức không gian NNĐT ở ĐBSCL
-Điều kiện kinh tế nông nghiệp
Hình II.7: Cơ sở thực tiễn để tổ chức không gian NNĐT ở ĐBSCL
-Điều kiện thực tiễn về đô thị (sơ đồ phân bố)
Hình II.8: Cơ sở thực tiễn để tổ chức không gian NNĐT ở ĐBSCL
-Điều kiện thực tiễn về đô thị (phân loại tiểu vùng)
Hình II.9: Cơ sở thực tiễn để tổ chức không gian NNĐT ở ĐBSCL - Vấn
đề BĐKH, nước biển dâng và tác động của đô thị hoá
Hình II.10: Cơ sở về không gian NNĐT ở ĐBSCL
Hình II.11: Cơ sở về tổ chức không gian NNĐT ở ĐBSCL
Hình II.12- II15: Bài học kinh nghiệm tổ chức không gian NNĐT ở một số
đô thị trên thế giới
Hình II.16- II17: Bài học kinh nghiệm tổ chức không gian NNĐT ở một số
đô thị Việt Nam
Chương 3
Hình III.1: Đề xuất quan điểm, mục tiêu và nguyên tắc chung về QHTT-tổ
chức và tạo hình không gian NNĐT ở ĐBSCL
Trang 12Hình III.2: Đề xuất không gian NNĐT thích hợp đối với không gian tổng
Hình III.5: Đề xuất không gian NNĐT thích hợp đối với không gian công
nghiệp trong đô thị
Hình III.6: Đề xuất không gian NNĐT thích hợp đối với không gian cây
xanh trong đô thị
Hình III.7: Đề xuất không gian NNĐT thích hợp đối với không gian nông
nghiệp trong cấu trúc đô thị
Hình III.8: Định hướng chung về giải pháp quy hoạch tổng thể không gian
nông nghiệp trong cấu trúc đô thị ở ĐBSCL
Hình III.9: Định hướng chung về giải pháp tổ chức không gian NNĐT
trong các khu chức năng đô thị ở ĐBSCL
Hình III.10: Định hướng chung về giải pháp tạo trục không gian NNĐT -
cảnh quan cửa ngõ đô thị
Hình III.11: Định hướng chung về giải pháp tạo không gian mở NNĐT –
cảnh quan đặc trưng của đô thị
Hình III.12: Định hướng chung về giải pháp tạo không gian giải trí trong
khu ở đô thị
Hình III.13: Định hướng chung về giải pháp tạo hình quảng trường công
viên NNĐT – tạo cảnh quan sinh thái trong đô thị
Hình III.14: Định hướng chung về giải pháp tạo hình công trình NNĐT cao
tầng– điểm nhấn văn hóa nông nghiệp trong không gian đô thị.Hình III.15: Đề xuất mô hình không gian NNĐT trong không gian tổng thể.Hình III.16: Đề xuất mô hình không gian NNĐT trong không gian khu ở
Trang 13Hình III.17: Đề xuất mô hình không gian NNĐT trong không gian khu
Hình III.21: Tổng quan về thành phố Cao Lãnh – Tỉnh Đồng Tháp
Hình III.22: Định hướng phát triển không gian thành phố Cao Lãnh (theo
quy hoạch chung TP.Cao Lãnh đến năm 2030, tầm nhìn 2050)Hình III.23: Quan điểm - mục tiêu và nguyên tắc chung về quy hoạch tổng
thể - tổ chức và tạo hình không gian Đô thị Sen – Thành phốCao Lãnh
Hình III.24: Định hướng chung về giải pháp quy hoạch tổng thể không gian
Đô thị Sen ở thành phố Cao Lãnh
Hình III.25: Định hướng chung về giải pháp tổ chức không gian Sen ở
thành phố Cao Lãnh
Hình III.26: Định hướng chung về tạo hình không gian Sen ở thành phố
Cao Lãnh - Cánh đồng Sen hai bên bờ sông Cao Lãnh
Hình III.27: Định hướng chung về tạo hình không gian Sen ở thành phố
Cao Lãnh – Trục không gian cảnh quan
Hình III.28: Định hướng chung về tạo hình không gian Sen ở thành phố
Cao Lãnh - Công viên Sen kết hợp vườn cây ăn trái
Hình III.29: Định hướng chung về tạo hình không gian Sen ở thành phố
Cao Lãnh - Trang trại sen kết hợp vườn cây ăn trái
Hình III.30: Minh họa tóm tắt kết luận
Hình III.31: Minh họa tóm tắt kiến nghị
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự trỗi dậy của hoạt động nông nghiệp trong không gian đô thị, còn gọi lànông nghiệp đô thị (NNĐT), đang diễn ra mạnh mẽ trong bối cảnh đô thị hóa xuấthiện ở mọi nơi NNĐT đang nổi lên như một xu thế ngày càng được nghiên cứu vàthực hành rộng rãi ở các quốc gia phát triển cũng như các nước đang phát triển.Các chủ đề liên quan đến NNĐT ngày càng xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu,bàn luận chuyên ngành như nông nghiệp công nghệ cao, thực phẩm sạch, đặc biệttrong lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị đã và đang trở thành chương trình nghị sựchính thức trong các diễn đàn quốc tế, hướng dẫn chính sách và chương trình hànhđộng cho các đô thị trên phạm vi toàn cầu
Về mặt lý luận, hầu hết các lý thuyết về phát triển đô thị gần đây đều nhìnnhận nông nghiệp có vai trò ngày càng quan trọng trong việc góp phần quy hoạchxây dựng phát triển đô thị bền vững theo hướng sinh thái, bằng những giá trị vềgiảm thiểu ô nhiễm, cải thiện môi trường, gia tăng cảnh quan đô thị, tăng hiệu quả
sử dụng đất đô thị Ngoài ra, nông nghiệp còn tham gia thực hiện mục tiêu thiênniên kỷ của Liên Hiệp Quốc đối với đô thị như: cải thiện tình trạng nghèo đa chiều,đảm bảo an ninh và an toàn lương thực, và rút ngắn chuỗi cung cấp thực phẩm sạch,thực phẩm có nguồn gốc Chính vì vậy, NNĐT đã xuất hiện chính thức trong các tàiliệu về quy hoạch như: quy hoạch cảnh quan sản xuất liên tục (CPULs), và quyhoạch hạ tầng xanh sản xuất với các dịch vụ sinh thái khác nhau Tất cả khái niệm
và lý thuyết về NNĐT trên thế giới đều hướng đến mục tiêu kết nối con người với
tự nhiên thông qua môi trường đô thị với yếu tố nông nghiệp làm trọng tâm
Về thực tiễn, trong bối cảnh với những vấn nạn của quá trình phát triển côngnghiệp, hậu công nghiệp tạo dựng những hình ảnh đô thị hiện đại, hậu hiện đại
“cứng nhắc” với đời sống văn hóa xã hội Đặc biệt hơn là đứng trước hiện tượngBĐKH toàn cầu đòi hỏi đô thị phát triển bền vững, tôn trọng nhu cầu chính đángcủa người dân với mong muốn trở về với thiên nhiên, trở về với những văn hóatruyền thống và đòi hỏi tính nhân văn hơn trong môi trường đô thị hiện đại Trong
Trang 15hoàn cảnh thực tiễn khó khăn như hiện nay, NNĐT xuất hiện như “cứu cánh” cho
đô thị trong quá trình phát triển Nhiều chương trình hành động và dự án NNĐT ở
đô thị các nước phát triển như Chicago, New York (Hoa Kỳ), Toronto (Canada)hay Hà Lan, Nhật Bản đã thành công trong việc tích hợp, lồng ghép hoạt động nôngnghiệp vào từng không gian ô phố, không gian công trình hay không gian cộngđồng bằng các mô hình vườn NNĐT dạng thủy canh, hữu cơ và kết hợp truyềnthống, dạng tòa nhà NNĐT, trang trại NNĐT, nông trại NNĐT, công viên NNĐTv.v Nhiều trường hợp nghiên cứu ứng dụng thành công đã thúc đẩy các nhàchuyên môn, các nhà quản lý đô thị tranh thủ sự đồng thuận của cộng đồng cư dân
đô thị để luật hoá các hoạt động NNĐT trong những chính sách đô thị, luật quyhoạch, quy định của địa phương nhằm tạo điều kiện cho các hoạt động này đượcquy hoạch, phát triển và quản lý tốt hơn
Thực tiễn hoạt động NNĐT ở một số đô thị tiêu biểu trong báo cáo của các tổchức như RUAF, IRDC, FAO cho thấy những bài học kinh nghiệm có giá trị được
áp dụng trong việc tổ chức mô hình nông nghiệp lồng ghép vào cấu trúc không gian
đô thị thành công Thành phố Casablanca (Ma-rốc) đã thực nghiệm vấn đề này hơn
10 năm kể từ 2004 đến 2015 trong thử nghiệm lồng ghép công cụ quy hoạch đô thị
và thiết kế cảnh quan trong quá trình áp dụng mô hình NNĐT Ở thủ đô Havana(Cuba) là thành quả của hơn 15 năm (1995-2010) thực hiện tích hợp mô hình nôngnghiệp sinh thái trong đô thị Thành phố Thành Đô (Trung Quốc) là trường hợp tiênphong cho việc quy hoạch phát triển đô thị và nông thôn phối hợp, trong đó có tíchhợp các vấn đề NNĐT trong môi trường đô thị kể từ 1999 Các trường hợp thựcnghiệm điển hình cho thấy vấn đề NNĐT đã đặt ra nhiều cơ hội cho công tác quyhoạch xây dựng đô thị bền vững trên phạm vi toàn cầu
ỞViệt Nam, cũng như ở phần lớn các nước đang phát triển khác, trong cơ cấu sửdụng đất của đô thị vẫn duy trì không gian sản xuất nông nghiệp Trong chính quyền đôthị có tổ chức bộ máy điều hành, quản lý hoạt động nông nghiệp và sản xuất nôngnghiệp trong đô thị Tuy nhiên với nhiều lý do, bức tranh chung về hoạt
động nông nghiệp cũng như không gian nông nghiệp trong các đô thị Việt Nam
Trang 16đang tồn tại những bất cập như: cơ cấu sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp không
ổn định, thay thế dần bởi các chức năng sử dụng khác trong quá trình đô thị hóa;nhận thức của bộ máy điều hành sản xuất nông nghiệp với tư duy canh tác truyềnthống trong môi trường đô thị; phân loại đô thị đã “vô tình” hạn chế phát triển nôngnghiệp theo hướng hiện đại trong đô thị Hiện trạng trên đã đi ngược lại xu hướngphát triển NNĐT trên thế giới và khu vực
ĐBSCL được xem là một trong những cái nôi của nền nông nghiệp Việt Namvới bề dày truyền thống và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước Hiệnnay ĐBSCL được quy hoạch là một trong bốn vùng kinh tế trọng điểm, một trongsáu vùng đô thị hóa của cả nước, trong đó hệ thống đô thị có vai trò là động lực củaphát triển kinh tế - văn hóa và xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những bất cập chung của
hệ thống đô thị ở Việt Nam, các đô thị vùng ĐBSCL đang phải đối diện với nhữngthách thức riêng trong quá trình đô thị hóa thiếu kiểm soát và những tác động rất lớncủa hiện tượng BĐKH và mực nước biển dâng gây nguy cơ ảnh hưởng trực tiếpđến đất đô thị và thu hẹp môi trường sống của người dân đô thị
Trên cơ sở những nghiên cứu về định hướng phát triển hệ thống đô thị vùngĐBSCL, định hướng phát triển kinh tế-xã hội và định hướng phát triển nông nghiệpcủa vùng, cho thấy hệ thống đô thị vùng ĐBSCL đang được quy hoạch trở thànhnhững trung tâm của khu vực về phát triển kinh tế văn hóa xã hội Tuy nhiên vấn đềnông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái nông nghiệpchưa được chính quy hóa để trở thành NNĐT là một điều đáng tiếc Chính vì vậy,cần nhìn nhận và có tư duy khoa học về NNĐT, NNĐT phải trở thành động lực mới
để quy hoạch xây dựng đô thị phát triển bền vững ở ĐBSCL Trong đó vấn đề tổchức không gian nông nghiệp trong cấu trúc không gian đô thị ở ĐBSCL đòi hỏiphải đi trước một bước, đang rất cấp thiết hiện nay Vì lý do đó, nghiên cứu sinh đã
chọn đề tài “Tổ chức không gian nông nghiệp đô thị hướng đến quy hoạch xây dựng
đô thị phát triển bền vững mang bản sắc địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long”
làm luận án nghiên cứu
Trang 172 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu của luận án “Tổ chức không gian nông nghiệp đô thị hướng đến quy
hoạch xây dựng đô thị phát triển bền vững mang bản sắc địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long” là nghiên cứu tổ chức không gian NNĐT trong không gian đô thị
hiện hữu để quy hoạch phát triển đô thị bền vững theo xu hướng sinh thái nôngnghiệp có bản sắc địa phương ở vùng ĐBSCL
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung, NCS xác định các mục tiêu cụ thể như sau:
- Đề xuất những không gian thích hợp với hoạt động NNĐT ở ĐBSCL;
- Đề xuất định hướng chung về giải pháp quy hoạch tổng thể - giải pháp tổ chức và tạo hình không gian NNĐT ở ĐBSCL;
- Đề xuất các mô hình không gian NNĐT ở ĐBSCL
- Đề xuất áp dụng kết quả nghiên cứu vào trường hợp đô thị cụ thể ở
ĐBSCL
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về không gian NNĐT trên thế giới, ở Việt Nam, và hiện trạng không gian NNĐT ở ĐBSCL từ quan điểm phát triển đô thị
- Nghiên cứu phương pháp luận và những cơ sở khoa học về không gianNNĐT trong quy hoạch đô thị ở vùng ĐBSCL
- Nghiên cứu các định hướng chung về giải pháp quy hoạch tổng thể, giải pháp
tổ chức và tạo hình không gian NNĐT hướng đến quy hoạch xây dựng
đô thị phát triển bền vững mang bản sắc địa phương ở ĐBSCL
- Nghiên cứu áp dụng kết quả luận án trong trường hợp đô thị cụ thể là thànhphố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
- Bàn luận kết quả nghiên cứu
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với mục tiêu và nội dung nghiên cứu đã được trình bày, NCS xác định đốitượng nghiên cứu là không gian NNĐT và không gian chức năng trong đô thị ởvùng ĐBSCL Ngoài ra, các vấn đề có liên quan đến NNĐT cũng thuộc đối tượngnghiên cứu của luận án
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: luận án đề cập đến không gian đô thị gồm có
không gian khu vực trung tâm, và không gian vùng ngoại ô Ngoài ra, không giancác khu vực liền kề với đô thị bị tác động của quá trình đô thị hóa có xu hướng trởthành đô thị cũng trong phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về thời gian nghiên cứu: luận án xác định thời gian nghiên cứu từ 1990,
khoảng thời gian khái niệm NNĐT chính thức được bàn luận nghiên cứu trên thếgiới, đến năm 2050 phù hợp với thời gian trong định hướng QHXD phát triển hệ thống đô thị và định hướng phát triển kinh tế, văn hóa xã hội vùng ĐBSCL
5 Phương pháp luận nghiên cứu
5.1 Phương pháp tiếp cận
Đối tượng nghiên cứu với chủ thể chính là quy hoạch xây dựng đô thị trongbối cảnh đô thị hóa xuất hiện NNĐT, do đó phương pháp tiếp cận sử dụng chủ yếu
là hệ thống và đa ngành để các định các phương pháp nghiên cứu thích hợp cho
luận án Đó là Phương pháp tiếp cận hệ thống đối với các vấn đề về đô thị và không gian đô thị Phương pháp tiếp cận đa ngành đối với các vấn đề thuộc lĩnh vực nông
nghiệp
5.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học
NNĐT là vấn đề mới trong quy hoạch xây dựng đô thị, nhất là ở lĩnh vực tổchức không gian, các phương pháp tiếp cận thích hợp là cơ sở giúp NCS xác định
Trang 19các phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp trong quá trình nghiên cứu của luận
án như sau:
- Phương pháp điền dã: Là phương pháp dùng để điều tra, quan sát và thu
thập thông tin về đặc điểm hiện trạng của các loại hình NNĐT ở các đô thị ĐBSCL
- Phương pháp hợp lý - lịch sử: Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển
của các loại hình NNĐT trong bối cảnh hình thành và phát triển của đô thị trong vàngoài nước
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích chi tiết các thông tin, số liệu
thu thập được để tổng hợp các mối quan hệ tương tác nhằm phục vụ cho việc nhậndạng, phân loại các đặc trưng không gian NNĐT
- Phương pháp thống kê: Nhằm thống kê, phân loại và so sánh các đặc trưng
không gian NNĐT trên thế giới, ở Việt Nam và vùng ĐBSCL làm cơ sở khoa họccho việc xác định mối liên hệ tương tác và đề xuất định hướng giải pháp
- Phương pháp mô hình hóa: Nhằm xây dựng các mô hình không gian phản
ánh về mặt hình ảnh các mối liên hệ tương tác giữa các không gian NNĐT vớikhông gian đô thị
- Phương pháp dự báo: Là dựa trên những luận điểm có căn cứ khoa học trên
cơ sở những nguyên nhân, những quy luật phát triển của NNĐT trong và ngoàinước, từ đó dự báo những xu thế, mô hình có thể diễn ra trong không gian đô thịtrong tương lai và đề xuất các biện pháp để đạt tới trạng thái tương lai đó
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu NNĐT ở ĐBSCL, NCS tập trung vào lĩnh vực tổ chức không gian
đô thị để lồng ghép các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm xây dựng giải phápquy hoạch phù hợp trong chiến lược phát triển hệ thống không gian đô thị để đápứng nhu cầu đô thị hóa cao và hướng đến mô hình đô thị sinh thái theo xu hướngnông nghiệp
Nhìn chung, về ý nghĩa khoa học của luận án, là vận dụng những lý thuyết mớitrong đó có quan điểm khoa học và lý thuyết về NNĐT để quy hoạch tổ chức
Trang 20không gian đô thị trong bối cảnh đô thị hóa có sự xuất hiện của NNĐT Ý nghĩakhoa học là những cơ sở khoa học chứng minh vai trò kết nối giữa con người vàthiên nhiên trong môi trường đô thị, chứng minh NNĐT như một môi trường “tựnhiên thứ hai” góp phần hóa giải những bất cập của đô thị hiện đại cũng như “khảnăng chống chịu” của đô thị trong điều kiện BĐKH toàn cầu Những ý nghĩa khoahọc đó làm nền tảng để xác định các loại hình NNĐT phù hợp trong đô thị, xác địnhvai trò chức năng mới của không gian đô thị và để định hướng quy hoạch tổng thể,giải pháp tổ chức tạo hình không gian NNĐT trong đô thị nhằm xây dựng chiếnlược phát triển hệ thống không gian NNĐT ở vùng ĐBSCL, đáp ứng nhu cầu đô thịhóa cao và hướng đến mô hình đô thị sinh thái nông nghiệp.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án còn có ý nghĩa khoa học là tài liệu lýthuyết phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo đối với các ngành QH, kiến trúc,tài liệu tham khảo cho một số ngành khoa học khác có liên quan như nông nghiệp, y
tế, giáo dục và văn hóa cộng đồng Hướng nghiên cứu của luận án sẽ có ý nghĩakhoa học thiết thực hơn khi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn vào trường hợp đô thị cụthể trong hệ thống đô thị ĐBSCL
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn của luận án đó là đưa nông nghiệp trở lại đô thị với “tưcách” mới là NNĐT trong bối cảnh đô thị hóa, điều này vừa mang lại hiệu quả sửdụng không gian đô thị hợp lý hơn, nhất là hướng đến đô thị phát triển bền vữngmang bản sắc địa phương NCS xem đây là ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhất màluận án đề ra Bên cạnh đó, ý nghĩa thực tiễn là làm mới không gian đô thị, gia tănggiá trị không gian đô thị thông qua việc khai thác hợp lý quỹ đất đô thị và tổ chức vềcảnh quan và môi trường sống cho người dân đô thị
Đồng thời, ý nghĩa thực tiễn của luận án là giúp các nhà quy hoạch xây dựng
đô thị, quản lý đô thị có cái nhìn đa chiều về không gian đô thị để có những chínhsách phù hợp phát triển đô thị có yếu tố NNĐT càng sớm càng tốt
Cuối cùng, kết quả nghiên cứu của luận án còn có giá trị thực tiễn quan trọng
là hướng đến một sự công nhận chính thức vai trò của NNĐT trong phát triển đô
Trang 21thị, một xu thế tất yếu của quy hoạch xây dựng phát triển đô thị trong bối cảnh đô thị hóa toàn cầu, trong đó có hệ thống đô thị ở vùng ĐBSCL và Việt Nam.
7 Các khái niệm cơ bản
7.1 Nhóm khái niệm về Đô thị và các khái niệm liên quan
- Đô thị: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ
yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hànhchính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-
xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, gồm nội thành, ngoạithành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn [35]
- Đô thị hóa: Là sự hình thành và mở rộng của đô thị, trên cơ sở chuyển dịch
lao động từ nông nghiệp sang đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị haydiện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực [2] Đô thịhóa còn là quá trình chuyển đổi từ dạng phân bố dân cư nông nghiệp sang các dạng
tổ chức quần cư tập trung do các hoạt động phi nông nghiệp, với tỉ trọng ngày càngcao của dân số, sinh hoạt và làm việc trong khu vực đô thị
- Không gian đô thị: Không gian đô thị là không gian bao gồm các vật thể
kiến trúc đô thị, cây xanh, mặt nước trong đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị [33]
- Tổ chức không gian đô thị: Là quá trình sắp xếp, bố trí các không gian
chức năng trong một khu vực đô thị cụ thể và phân phối các nguồn lực sao chochúng đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của việc tổ chức không gian đô thị
- Đô thị phát triển bền vững: Từ những hướng tiếp cận đa ngành, có nhiều
khái niệm bàn về đô thị phát triển bền vững Với mục tiêu và nội dung nghiên cứu,luận án đề cập đến một số khái niệm về đô thị phát triển bền vững liên quan đến đềtài như sau:
+ Đô thị sinh thái: là đô thị đảm bảo sự phát triển bền vững về mặt môi trường
nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân đô thị, tiến tới xây dựng một đô thịphát triển cân bằng về kinh tế và văn hóa-xã hội Theo Tổ chức sinh thái đô thị ở Úc
Trang 22thì “Một đô thị sinh thái là đô thị phát triển đảm bảo sự cân bằng với thiên nhiên,
hay cụ thể hơn là sự định cư cho phép các cư dân sinh sống trong điều kiện chất lượng cuộc sống nhưng sử dụng tối thiểu các nguồn tài nguyên thiên nhiên” [91].
+ Đô thị sinh thái nông nghiệp: Là đô thị sinh thái vừa phát triển cân bằng hài
hòa với tự nhiên vừa lấy yếu tố sản xuất nông nghiệp và những hoạt động đô thị cóliên quan đến nông nghiệp làm tính chất chủ đạo cho việc phát triển các mặt đờisống của đô thị Nói cách khác, nông nghiệp vừa là một thuộc tính và vừa là mộtđộng lực để phát triển đô thị trên nền tảng những đặc trưng của một đô thị sinh thái
7.2 Nhóm khái niệm về Nông nghiệp đô thị và các khái niệm liên quan
- Nông nghiệp đô thị (NNĐT):
+ Khái niệm của Jac Smit: năm 1990, Jac Smit đưa ra khái niệm về NNĐT,
được xem là một trong những khái niệm đầu tiên của lĩnh vực này trên thế giới, cho
rằng: NNĐT là một ngành sản xuất, chế biến và bán thực phẩm và nhiên liệu, chủ
yếu là để đáp ứng nhu cầu hàng ngày của người tiêu dùng trong một thị trấn, thành phố, hay đô thị, dựa trên đất và nước có trên khắp đô thị và ven đô thị, áp dụng các phương pháp sản xuất chuyên canh, sử dụng và tái sử dụng tài nguyên thiên nhiên
và chất thải đô thị để trồng đa vụ và làm đa dạng chăn nuôi [105] Theo đó, NNĐT
được xem là một ngành sản xuất, phân biệt theo vị trí địa lý (vùng ven, trung tâm),chú trọng vào sản phẩm và phương pháp canh tác nông nghiệp
+ Một khái niệm khác của Mougheot [92] cho rằng sự tích hợp của NNĐTvới hệ thống sinh thái và kinh tế đô thị là một tính năng nổi bật nhằm phân biệtchúng với nông nghiệp nông thôn
+ Khái niệm của Giseke: Để rõ hơn sự liên hệ của các dạng hoạt động nông
nghiệp với tính chất của đô thị, Giseke và cộng sự cho rằng “NNĐT là bất kỳ loại
hoạt động nông nghiệp có tương tác với hệ thống đô thị” Bà nhấn mạnh sự tương
tác giữa đô thị và nông nghiệp là tính chất chủ đạo của NNĐT để phân biệt với nông
nghiệp nông thôn và đúc kết bằng một nguyên tắc chung: “Mức độ tương tác càng
cao thì tính đô thị của hoạt động nông nghiệp càng nhiều” [72, tr.80].
Trang 23Như vậy, trong điều kiện và bối cảnh của các đô thị đang phát triển cũngnhư ở khu vực ĐBSCL, NNĐT có thể hiểu là một loại hình hoạt động nông nghiệpmới mang tính chất của đô thị, tham gia vào quá trình phát triển của đô thị nhằmđáp ứng nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp địa phương và góp phần phát triển đô thịhài hòa các yếu tố giữa nhân tạo và tự nhiên đồng thời mang tính bản địa cao.
- Không gian NNĐT: Là không gian đô thị chứa đựng tất cả các hoạt động có
liên quan đến NNĐT, được gọi là không gian đa chức năng trong hoạt động NNĐT.Không gian đô thị có bao gồm yếu tố NNĐT có thể hiểu là không gian bao gồm cácvật thể kiến trúc, cây xanh, mặt nước và hoạt động chăn nuôi trồng trọt thích hợptrong môi trường đô thị có tác động trực tiếp đến cảnh quan đô thị Như vậy có thểxem không gian NNĐT bao gồm cảnh quan đô thị truyền thống và cảnh quan đô thịsản xuất phái sinh
- Tổ chức không gian NNĐT: Là việc sắp xếp, bố trí hợp lý các không gian
chức năng của hoạt động NNĐT trong đô thị nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển
đô thị Đối với thực tiễn của Việt Nam, tổ chức không gian NNĐT cần được xemxét ở trên 2 khu vực không gian đô thị, đó là tổ chức không gian NNĐT trên khônggian đất sản xuất nông nghiệp truyền thống và tổ chức không gian NNĐT kết hợpvới các không gian chức năng khác trong đô thị
- Cảnh quan sản xuất NNĐT (còn gọi là cảnh quan NNĐT, cảnh quan đô thị
đa chức năng): Là không gian đô thị xanh và mở được tích hợp với hoạt động
NNĐT theo hướng đa chức năng bao gồm giáo dục, vui chơi và giải trí để thúc đẩy việc sử dụng đất nông nghiệp trong đô thị một cách hiệu quả hơn [111]
- NNĐT đa chức năng: Được định nghĩa là: “Hiện tượng mà cảnh quan
NNĐT có khả năng cung cấp nhiều “hàng hoá” vật chất và phi vật chất để đáp ứng các nhu cầu xã hội khác nhau” [96] [103] NCS sử dụng định nghĩa này vì phù hợp
với hướng nghiên cứu của luận án
- Cơ sở hạ tầng xanh NNĐT: Được hiểu là mạng lưới các các không gian
xanh và mặt nước tự nhiên và nhân tạo ở đô thị được tích hợp hoạt động canh tác
nông nghiệp, được kết nối với nhau và cùng nhau cung cấp dịch vụ sinh thái (phủ
Trang 24xanh, đa dạng sinh học, thoát nước mưa), cung cấp sản phẩm nông nghiệp và gópphần tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống đô thị [72] [104].
Trong luận án, cơ sở hạ tầng xanh NNĐT còn được xem là hạ tầng sinh thái
NNĐT được hiểu là sự mở rộng của khái niệm cảnh quan sản xuất cùng với hạ tầng
kỹ thuật và hạ tầng xã hội có nhiệm vụ cung cấp cho cư dân các dịch vụ đô thị, đặc
biệt là sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của địa phương dưới nhiều hình thức khácnhau
Ngoài ra, trong bối cảnh của đô thị Việt Nam, một số khái niệm có liên quanđược sử dụng trong luận án như sau:
- Nông nghiệp truyền thống: Là hoạt động nông nghiệp lâu đời trong đó
phương thức canh tác chủ yếu dựa vào tự nhiên và diễn ra ở môi trường nông thôn
là chính [26] [99]
- Nông nghiệp công nghệ cao: Là một nền nông nghiệp được ứng dụng kết
hợp những công nghệ mới, tiên tiến, còn gọi là công nghệ cao, để sản xuất nhằmnâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng, thỏa mãn nhu cầungày càng cao của xã hội và đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững [26]
- Nông nghiệp hữu cơ: Là nền nông nghiệp hướng đến sự canh tác bền vững,
tăng cường độ phì của đất và sự đa dạng sinh học bằng các kỹ thuật luân canh câytrồng có tác dụng cải tạo đất, kiểm soát dịch hại sinh học, hoặc khuyến khích sự tồntại động vật là thiên địch của sâu bệnh dịch hại [8]
- Nông nghiệp trong đô thị: Là nông nghiệp trong đó chủ yếu là hoạt động
canh tác và chăn nuôi diễn ra ở môi trường đô thị Tùy theo địa điểm khác nhautrong đô thị mà có những phương thức canh tác và mục tiêu canh tác, chăn nuôi phùhợp[118] Tuy nhiên trên thực tế ở các đô thị Việt Nam, loại hình nông nghiệp trong
đô thị thường gây ô nhiễm môi trường
7.3 Nhóm khái niệm về bản sắc và đô thị có bản sắc địa phương
- Bản sắc: Là những yếu tố tốt đẹp tạo nên một tính chất đặc thù, hoặc là tính
chất đặc biệt vốn có, tạo thành phẩm cách riêng [112] Bản sắc địa phương (hay bảnđịa) là những thuộc tính đặc thù của địa điểm, nơi chốn đó
Trang 25- Bản sắc đô thị: Bản sắc của một đô thị, những tính chất phân biệt đô thị đó
với những đô thị khác, là tổng hòa của nhiều thuộc tính thể hiện qua yếu tố vật thể(địa lý, địa hình, cảnh quan, khí hậu) và phi vật thể (văn hóa, lối sống, tập quán, tậptục và cả thói quen của cư dân đô thị)
- Đô thị dựa trên nơi chốn: Là đô thị tập trung vào phát triển không gian đô
thị nhấn mạnh đến giá trị nơi chốn của địa điểm, của không gian chức năng đô thịthông qua sự gắn kết với cảnh quan tự nhiên của địa phương và với đời sống vănhoá-xã hội của cộng đồng dân cư trong quá trình phát triển [93]
- Đô thị có bản sắc địa phương: Là đô thị chú trọng việc khai thác các yếu tố
có giá trị đặc sắc mang ý nghĩa nơi chốn Giá trị đặc sắc thường được nhìn nhận
dưới góc độ không gian vật chất, không gian xã hội và sự tham gia của cộng đồng
đóng góp vào sự hình thành và phát triển của đô thị [59]
+ Không gian vật chất: Được cấu thành bởi các yếu tố môi trường tự nhiên
như địa hình, cảnh quan thiên nhiên và yếu tố môi trường nhân tạo như công trình, cảnh quan nhân tạo được con người xây dựng nên
+ Không gian xã hội: Là một sản phẩm của xã hội bao gồm các yếu tố văn hóa, lịch sử của không gian Không gian này ngoài sự chi phối của không gian vật
chất còn được xem xét đến những giá trị phi vật thể như các mối quan hệ xã hội.
+ Sự tham gia của cộng đồng: Là sự đóng góp và sử dụng không gian đô thị
bởi những ai, có ý nghĩa gì, qua đó tạo nên nhận dạng về nơi chốn cho những nhữngngười tham gia khác, họ cùng nhau tạo dựng hình ảnh riêng biệt cho không gian đó
Có thể xem đô thị có bản sắc địa phương là hình ảnh đô thị có sự tổng hòagiữa các không gian vật chất – xã hội và cộng đồng Trong thực tế, một trong bakhía cạnh trên cũng đủ điều kiện tạo sự khác biệt để trở thành bản sắc cho đô thị.Tại vùng ĐBSCL, môi trường tự nhiên có sự nổi trội về mặt nước, sông kênh rạchdày đặc và cây xanh đa dạng với nhiều loại “ăn được”, cùng nhau hình thành cảnhquan đầy chất thơ mộng và lãng mạn trong không gian đô thị Do đó trong luận án,NCS tập trung vào không gian vật chất mà chủ yếu là khai thác các yếu tố mặt nước
và cây xanh hiện hữu để tạo bản sắc cho không gian đô thị ở ĐBSCL
Trang 268 Các nghiên cứu liên quan và vấn đề còn tồn tại
8.1 Các nghiên cứu liên quan
Các nghiên cứu có tính quy mô, bài bản về thực tiễn phát triển NNĐT ở ViệtNam còn khá ít Các kết quả công bố về mảng đề tài này chủ yếu là các bài báo, cáctham luận hội thảo khoa học
Tác giả Lê Văn Trưởng [39] cho rằng mầm mống của NNĐT ở Việt Nam đãxuất hiện xung quanh các thành cổ ngay từ thời phong kiến Trong thời kỳ Phápthuộc, NNĐT cũng được chú ý phát triển và mang dáng dấp của nông nghiệp truyềnthống nhiều hơn Tác giả nhận định rằng hầu hết những đô thị ở Việt Nam, ngay cảvào lúc đã phát triển hoặc rất phát triển, vẫn tồn tại ngay trong lòng đô thị, thậm chígiữa đô thị, những khu cư trú của nông nghiệp
Tình hình phát triển NNĐT ở một số đô thị lớn ở Việt Nam như Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh được trình bày trong nghiên cứu của các tác giả Phạm Sỹ Liêm[24], Lê Đức Thịnh [36], Nguyễn Đăng Nghĩa [31]… phần lớn các giải pháp được
đề xuất là nhằm phát triển các mô hình nông nghiệp phù hợp với địa phương cũngtrên các khía cạnh sinh thái, khoa học - công nghệ cao nhưng chú trọng vào tínhkinh tế của hoạt động NNĐT là chủ yếu, việc xem xét các mối quan hệ đa chiềugiữa không gian của các hoạt động NNĐT và không gian chức năng đô thị còn chưađược đề cập đặc biệt là tính chất đa chức năng của hoạt động NNĐT
Nhìn chung, các nghiên cứu về NNĐT ở Việt Nam còn ít về số lượng, hạn chế
về lĩnh vực và phạm vi nghiên cứu, và một số công trình chỉ mới được công bốtrong vài năm gần đây Phần lớn các nghiên cứu về đề tài NNĐT cũng như các vấn
đề liên quan chủ yếu cung cấp những thông tin khái lược, tổng quan dưới dạng cácbài báo khoa học hoặc các trường hợp nghiên cứu, ngoài một số ít các luận ánnghiên cứu chuyên sâu về NNĐT, tuy nhiên từ các lĩnh vực như nông nghiệp, kinh
tế, môi trường, địa lý Các công trình nghiên cứu về NNĐT ở Việt Nam liên quantrực tiếp đến quy hoạch phát triển đô thị, nhất là ở khía cạnh không gian đô thị, đếnthời điểm này là chưa có
Trang 27Trong thực tiễn, mặc dù các quy trình, chính sách, chương trình và sáng kiến
hỗ trợ hay khuyến khích cho NNĐT thông qua công cụ quy hoạch đang gia tăng ởcác nước phát triển, ở trong nước vẫn còn thiếu những cơ cở lý luận và thực tiễnđầy đủ về sự kết hợp toàn diện giữa NNĐT và công cụ quy hoạch Điều này phảnánh những mối liên hệ NNĐT và mong muốn của các nhà quy hoạch, các nhà quản
lý đô thị và dân chúng trong việc giải quyết các vấn đề lớn hơn như xây dựng đô thịmới hoặc nâng cấp đô thị hiện hữu, tăng trưởng bền vững, tăng cường khả năngchống chịu trên cơ sở tổ chức không gian canh tác nông nghiệp hướng đến an toànthực phẩm và các giá trị sống tốt hơn ở các thành phố
Như vậy, trong bối cảnh tác động của BĐKH ngày càng rõ rệt và thực tiễnphát triển của các đô thị hiện nay, có thể nói còn thiếu hướng tiếp cận đối với hoạtđộng NNĐT từ lĩnh vực quy hoạch và thiết kế đô thị NCS cho rằng đây là mộttrong những vấn đề trọng tâm nhằm tìm kiếm những giải pháp về tổ chức khônggian đô thị có hoạt động NNĐT, góp phần hạn chế những rủi ro từ BĐKH có thểxảy ra Việc phát triển NNĐT song hành cùng với quá trình quy hoạch phát triển đôthị ở ĐBSCL nói riêng và ở Việt Nam nói chung là vấn đề tồn tại, cần được quantâm và đầu tư giải quyết
Trang 28b Vấn đề phát huy công cụ quy hoạch để đa dạng hóa không gian chức năng đô thị theo bối cảnh địa phương và làm nổi bật bản sắc địa phương của đô thị
Những ví dụ tiêu biểu, những trường hợp thành công và kinh nghiệm thực tiễn
về NNĐT từ các nước phát triển đã tạo ra động lực mới cho việc áp dụng các môhình thành công ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, do đặc thù của hoạt độngNNĐT diễn ra trong không gian đô thị và mang tính chất địa phương nên nhữngkiến thức như vậy cần phải được lựa chọn và “chuyển đổi” để phù hợp với cấu trúckhông gian đô thị hiện hữu và hoàn cảnh địa phương nơi được áp dụng
Vì vậy, công cụ giải pháp quy hoạch cho NNĐT cần phải được nghiên cứu,học tập và cân nhắc cẩn thận khi áp dụng vào những bối cảnh thực tiễn khác nhaucủa mỗi đô thị, đặc biệt là ở các đô thị đang phát triển, nơi hiệu quả thực thi quyhoạch còn là vấn đề tranh luận chưa đầy đủ cơ sở pháp lý như ở Việt Nam Do đó,vấn đề đặt ra là huy động công cụ quy hoạch sẵn có, để đa dạng hóa không gianchức năng trong đô thị và khai thác tính bản địa, tại chỗ cho hoạt động NNĐT, đảmbảo tính hệ thống trong không gian đô thị
9 Cấu trúc và bố cục của luận án
Luận án được trình bày trong 150 trang, chia làm 3 phần: mở đầu, nội dung vàkết luận và kiến nghị Trong đó, phần nội dung gồm có 3 chương:
- Chương 1:Tổng quan về không gian NNĐT trên thế giới, ở Việt Nam và
tại các đô thị ĐBSCL
- Chương 2:Phương pháp luận nghiên cứu và cơ sở khoa học về tổ chức
không gian NNĐT ở ĐBSCL
- Chương 3:Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Cấu trúc luận án được minh họa ở Hình 0.1
Trang 290 1
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
VÙNG VEN ĐÔ THỊ VÙNG NGOẠI Ô ĐÔ THỊ KHU VỰC TRUNG TÂM ĐÔ THỊ
166 ĐÔ THỊ Ở 13 TỈNH THÀNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trang 30PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN NNĐT TRÊN THẾ GIỚI,
Ở VIỆT NAM VÀ TẠI CÁC ĐÔ THỊ ĐBSCL 1.1 KHÁI QUÁT VỀ KHÔNG GIAN NNĐT Ở CÁC ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1 Lược sử quá trình hình thành và phát triển không gian NNĐT
1.1.1.1 Quá trình hình thành
a Thời kỳ đô thị sơ khai
Trong lịch sử hình thành và phát triển đô thị, nhất là những đô thị của cácnước có nền văn minh nông nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ từng
là một chức năng quan trọng cung cấp thực phẩm cho cư dân đô thị mà còn là tiền
đề hình thành thị trấn, thị tứ những mô hình đầu tiên của đô thị Các hình thức và
mô hình định cư của con người cũng bắt đầu gắn bó với các hình thức sản xuấtnông nghiệp cũng như phát triển các ngành nghề có liên quan Từ thời gian đầu,những ngôi nhà ở các thị trấn và thành phố đã xuất hiện khu vườn để mọi ngườitrồng trọt, chăn nuôi trong khuôn viên có rào bao quanh Theo đó các không gian đểsản xuất, chế biến thực phẩm cũng bắt đầu hình thành, chúng cùng nhau tạo nênnhững không gian xã hội, không gian của cộng đồng nông nghiệp trong ranh giớicủa các khu vực đô thị hoặc ở vùng ngoại ô, và cùng tồn tại qua nhiều thế kỷ [59]
Như vậy, trong thời kỳ đô thị sơ khai, nông nghiệp đã là trung tâm của sựphát triển kinh tế đô thị và trong quá trình phát triển mở rộng không gian đô thị cáchoạt động sản xuất và liên quan đến sản xuất nông nghiệp từng bước được chuẩnhóa trở thành NNĐT Những mô hình NNĐT đầu tiên xuất hiện ở đô thị thời kỳ nàymặc dù chưa được tổ chức, lên kế hoạch nhưng đã cùng tồn tại và phát triển cùngcác chức năng khác trong khu vực thành thị
b Thời kỳ đô thị khó khăn, khủng hoảng
Trang 31Sự tiến bộ công nghiệp hóa trong thế kỷ XIX với những người lao động đổ
xô vào các thành phố đang phát triển đi kèm với sự nổi lên của các hoạt động canhtác nông nghiệp do đô thị thiếu lương thực và đói nghèo Một số đô thị ở châu Âu,những khu vườn nông nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu tại chỗ vừa cung cấp mang tínhchất trao đổi và từ thiện gọi chung là vườn cải thiện xuất hiện trong thời kỳ Đại Suythoái cũng là đặc trưng của NNĐT thời kỳ khó khăn [73]
Trước tình trạng thiếu hụt thực phẩm trong suốt các cuộc chiến tranh thếgiới lần thứ nhất và sự cần thiết phải nâng cao đời sống cho nhân dân, chính phủnước Mỹ đã khuyến khích người dân ở thành thị trồng các khu vườn dã chiến, còngọi là vườn chiến tranh hay vườn thực phẩm phòng vệ Sau chiến tranh thế giới lầnthứ hai, vườn chiến thắng tiếp tục là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng chongười dân đô thị Ngày nay nhiều khu vườn dã chiến, vườn chiến thắng vẫn còntồn tại và được nhiều gia đình vẫn thực hành canh tác nông nghiệp Một mô hìnhvườn trở nên nổi tiếng và ngày càng phổ biến là khu vườn cộng đồng canh tácNNĐT trên đất công viên ở thành phố
Tại một số thời điểm khó khăn hay khủng hoảng của đô thị, cũng giống nhưthời kỳ chiến tranh, làm gia tăng sự phổ biến của các loại hình NNĐT ở không giancông cộng và bán công cộng ở các nước gần đây như vườn đô thị, vườn cộngđồng Trong bối cảnh đô thị gặp những điều kiện khó khăn như tỷ lệ thất nghiệpcao, tình trạng nghèo đô thị, thắt chặt chi tiêu công, hoặc chi phí cao trong việc duytrì không gian xanh công cộng v.v NNĐT được xem là động lực cho các sáng kiếnlàm vườn đô thị kiểu mới, khi trồng thực phẩm tại chỗ có thể giúp cải thiện sinh kế
và thu nhập, đồng thời phản ánh xu hướng tiêu dùng mới của cư dân đô thị
c Thời kỳ đô thị phát triển
Thế kỷ 20 chứng kiến việc các đô thị phát triển bắt đầu quan tâm trở lại đốivới hoạt động NNĐT Đối với môt bộ phận cư dân đô thị, mục đích thực hiệnNNĐT thường là để tăng thu nhập thông qua việc bán sản phẩm hoặc giảm chi phíliên quan đến việc mua thực phẩm Rất nhiều nghiên cứu cho thấy sự đóng góp củaNNĐT đối với an ninh thực phẩm rất khác nhau Nghiên cứu của Dubbeling cho
Trang 32thấy rằng trong các hộ gia đình có thực hiện NNĐT tại không gian riêng tư có thểđáp ứng 76% nhu cầu thực phẩm hàng ngày Con số này so với các hộ gia đìnhkhông thực hiện NNĐT, chỉ có 65% nhu cầu thực phẩm hàng ngày được đáp ứngtheo tiêu chuẩn của FAO [68] [122] Điều này cho thấy rằng nông dân đô thị đangtăng sự đa dạng cho không gian chức năng đô thị cũng như đa dạng hóa chế độ ănuống và dinh dưỡng thông qua hoạt động NNĐT.
1.1.1.2 Quá trình phát triển
a Trong giai đoạn cách mạng nông nghiệp
Với sự tăng trưởng kinh tế và thay đổi mô hình tiêu dùng, trong gần ba thập
kỷ sau chiến tranh thế giới lần 2, không gian vườn đô thị đã từng bị suy giảm vàmất đi tầm quan trọng của chúng Sự tồn tại của chúng chỉ mang tính chất trang trí,hoặc được xem là sở thích nông nghiệp của người thực hành
Đến giữa thế kỷ 20, nhiều luật quy hoạch của các thành phố không còn xemkhông gian nông nghiệp là một hình thức sử dụng đất được công nhận, sự phát triểncủa các khu dân cư từ sự chuyển đổi chức năng đất nông nghiệp trước kia trongthành phố và các nhà quy hoạch theo chủ nghĩa đổi mới đã không coi nông nghiệp
là một phần của hoạt động trong đời sống ở thành phố, do đó không gian nôngnghiệp không còn là thành phần cơ hữu trong cấu trúc đô thị Sự cơ giới hóa nôngnghiệp với phân bón hóa học, thuốc trừ sâu và chất bảo quản giúp biến các chuỗicung cấp thực phẩm mở rộng ra toàn thế giới, càng làm giảm vai trò của nôngnghiệp tại chỗ trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân thành thị [85]
Trong bối cảnh tăng trưởng dân số và đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ dẫn đếnnhu cầu tiêu dùng đang thay đổi, có ít người tham gia sản xuất nông nghiệp hơn vàdiện tích sản xuất ngày càng bị thu hẹp Mặc khác, mô hình phát triển đô thị bị ảnhhưởng bởi toàn cầu hóa và có sự mâu thuẫn trong việc áp dụng vào bối cảnh địaphương Đồng thời tác động của hiện tượng BĐKH ngày càng rõ rệt làm ảnh hưởngđến sự phát triển bền vững của đô thị Do đó, các mô hình phát triển đô thị cần sự đồnghành của NNĐT Trong giai đoạn cách mạng nông nghiệp, không gian NNĐT chuyểnđổi dần theo 2 hướng nổi bật: một là, không gian tập trung để sản xuất theo
Trang 33hướng hàng hóa và năng suất cao, thường là quy mô lớn như canh tác trong môitrường nhà kính và nhà mát chăn nuôi gia súc chuyên canh; hai là, không gian phântán, rải rác, đơn lẻ để canh tác theo hướng sinh thái quy mô vừa và nhỏ gần khônggian hộ gia đình, không gian chung của tiểu khu như vườn trên mái nhà, vườn treo,khu vườn cộng đồng gọi chung là mô hình NNĐT hiện đại.
b Trong giai đoạn khủng hoảng về môi trường
Trong bối cảnh đô thị phát triển thiếu sự kiểm soát làm phát sinh nhiều vấn
đề về môi trường, trong đó ô nhiễm nước, ô nhiễm tiếng ồn, đặc biệt là ô nhiễmkhông khí do khói bụi ngày càng trầm trọng, hoạt động NNĐT hay cụ thể hơn làkhông gian NNĐT được xem là một yếu tố quan trọng trong các thành phố, đô thịhiện nay, nhất là các thành phố có quy mô dân số lớn như Bắc Kinh (Trung Quốc),
Hà Nội (Việt Nam) Vì vậy, sản xuất NNĐT ở khu vực trung tâm đô thị hay ngoại
ô, trong nhiều trường hợp, không chỉ là một sự phản ứng đối với việc khủng hoảngmôi trường, mà còn phản ảnh nhiều yếu tố: tiếp cận không đầy đủ của người nghèo
đô thị đến các nguồn cung cấp thực phẩm nông thôn; các biện pháp không thích hợp
để hỗ trợ sản xuất lương thực; các vấn đề về vận chuyển và phân phối lương thực ở
cả khu vực nông thôn và thành thị; sức mua kém của người nghèo đô thị [83]
c Trong giai đoạn phát triển đô thị hiện đại
Những kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn phát triển đô thị hiệnđại, NNĐT đã làm mềm hóa không gian khô cứng của bê tông, sắt thép và kính.NNĐT gia tăng sự đối thoại tự nhiên giữa các không gian chức năng và giữa conngười với đô thị Ngoài ra, hoạt động NNĐT có sự đóng góp đối với an ninh thựcphẩm chứng minh cho giá trị mà NNĐT tạo ra đối với việc xóa đói giảm nghèo.Theo đó, NNĐT có xu hướng tập trung vào người nghèo do người nghèo phụthuộc vào nhu cầu thực phẩm nhiều hơn người giàu Mặt khác, nghiên cứu cũng chỉ
ra các hoạt động kinh doanh NNĐT ngày càng gia tăng góp phần đóng góp kinh tếngày càng lớn hơn
Chính vì vậy, các nhà lập chính sách phát triển đô thị hiện đại đã có sự kếthợp giữa việc tạo dựng không gian NNĐT cho việc phát triển đô thị bền vững
Trang 34hướng đến các mục tiêu chiến lược đa dạng hơn cho NNĐT trong đô thị hiện đại là:(1) nhu cầu về thực phẩm nguồn gốc địa phương; (2) những nỗ lực để kích thíchnền kinh tế địa phương và đem lại sức sống cộng đồng; (3) các mục tiêu đạt đượclợi ích môi trường nhất định; (4) các nỗ lực để giải quyết đói nghèo, an ninh lươngthực, và thiếu tiếp cận với thực phẩm lành mạnh; (5) quan tâm trong việc cải thiệngiáo dục và sức khỏe của người dân địa phương; và (6) chương trình giải quyết cáclợi ích xã hội khác [62].
Đến nay hoạt động của NNĐT, không gian NNĐT nói riêng được xem làmột lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong đô thị không những được công nhận màcòn được ưu tiên đặc biệt để phát triển đô thị hiện đại (Hình I.1)
1.1.2 Một số mô hình không gian NNĐT tiêu biểu
1.1.2.1 Mô hình không gian NNĐT theo phương diện ngang trong đô thị
Hoạt động nông nghiệp truyền thống vốn được trải trên bề mặt của khônggian, kể cả nông nghiệp trở thành NNĐT vẫn giữ hình ảnh quen thuộc trên bởi sựtiện lợi đối với các loại hình canh tác cũng như tổ chức không gian hoạt động kháccủa NNĐT Một số mô hình NNĐT tiêu biểu theo phương diện ngang vẫn tồn tạiđến ngày nay
a Mô hình không gian vườn cộng đồng
Khu vườn cộng đồng được tổ chức trên các khu đất thuộc khu phố, cụm dân
cư hoặc những không gian trống trong đô thị và được quản lý và duy trì bởi một nhómcác cá nhân trồng các loại rau, trái cây, và hoa với cho mục đích sử dụng tại chỗ hoặc
để tặng, để hỗ trợ cộng đồng, làm từ thiện Tận dụng một phần không gian sân trongcác khu ở (dạng tiểu khu) có thể được chia thành lô để các cá nhân thành viên trongnhóm có thể trồng riêng hoặc trồng chung Vườn cộng đồng có thể được tổ chức trênđất công cộng hay tư nhân và có quy mô đa dạng Mục đích hoạt động NNĐT ở đâythường là phi thương mại, mặc dù thỉnh thoảng có thể kinh doanh sản phẩm thặng dư
để phục vụ cho việc duy trì vườn hoặc các mục tiêu khác
Trang 35Không gian vườn cộng đồng được thỏa thuận bởi các quy tắc chung đượcthông qua bởi những người làm vườn hoặc các tổ chức tài trợ công hoặc tư nhân.Điểm đặc biệt là họ thường chỉ cho phép các phương pháp trồng hữu cơ (hoặcphương pháp tương tự) để khuyến khích nông nghiệp bền vững Người làm vườncộng đồng có thể thúc đẩy những lợi ích đa dạng hóa việc sử dụng không gian đô thị
và lợi ích về sức khỏe cộng đồng liên quan với thực phẩm sản xuất tự nhiên hơn vàthu hoạch tại địa phương cũng như các lợi ích xã hội khác như vui chơi, giải trí,nghệ thuật trồng tỉa vườn như là một phần đời sống văn hóa của một cộng đồng.Thực tế là ở các đô thị phát triển và đang phát triển, tồn tại nhiều không gian trống,chờ xây dựng theo quy hoạch, đã nhanh chóng trở thành vườn cộng đồng có thờihạn Chính các hoạt động NNĐT linh hoạt này đã mang lại nhiều lợi ích và hiệu quảcho công tác quản lý, sử dụng đất đô thị
b Mô hình không gian trang trại, nông trại
Chính quyền thành phố và các cơ quan nhà nước thường là những chủ đấtlớn nhất trong khu vực đô thị, đó là những không gian công cộng trong đô thị Cácthành phố ngày càng tìm cách thích nghi sử dụng đất ở khu vực công cộng để giảiquyết nhu cầu về quy mô và mục tiêu đa dạng của NNĐT Trong đó, sự phát triển ởmột số không gian công cộng có quy mô diện tích lớn như khu cây xanh cách li,vùng đệm, vành đai xanh và cảnh quan đường phố theo xu hướng NNĐT đang trởthành một công cụ của các nhà quy hoạch đô thị
Trong khi tiếp cận cảnh quan sản xuất ở không gian công cộng có thể bổsung ngân sách cho chi phí bảo trì cảnh quan công cộng, các thành phố ở các nướcphát triển bắt đầu xem xét vấn đề giao khoán không gian công cộng trong đô thị chohoạt động NNĐT như một hình thức để đảm bảo một nguồn cung cấp thực phẩm tạichổ an toàn, phong phú và lành mạnh Ở nhiều thành phố các nước phát triển nhưNew York, London, hoạt động NNĐT được tổ chức ở dải phân cách giao thông,hoặc các khu vực vỉa hè công cộng, sân trường, ở những khu vực trồng cây cảnhquan của các công trình dân dụng và công cộng khác Đặc biệt là không gian vành
Trang 36đai xanh đô thị rất thuận lợi cho mô hình NNĐT dạng trang trại ở quy mô lớn manglại hiệu quả cao về kinh tế và sử dụng không gian trong đô thị.
Tuy nhiên, một thực tế là trong khi nhiều đô thị đã đạt được những lợi íchmôi trường và thẩm mỹ đáng kể thông qua các chương trình trồng cây xanh tậptrung theo mô hình NNĐT dạng trang trại thì vẫn còn nhiều thành phố nghiêm cấmviệc trồng cây ăn quả và cây có hạt ở không gian công cộng, vì vấn đề bảo dưỡng,chăm sóc, thu hoạch các loại trái cây còn bất cập và gây ra ô nhiễm trong đô thị.Đến thời điểm hiện nay, những thập niên đầu của thế kỷ 21, hoạt động NNĐT dạngtrang trại nói chung và bản đồ cây ăn trái đô thị nói riêng đang tìm đường vàokhông gian công cộng đô thị như động lực để tạo cảnh quan mới, đảm bảo an ninhlương thực, thực phẩm, xây dựng lại các hệ sinh thái, nuôi dưỡng và cải thiện khảnăng phục hồi trước những rủi ro về môi trường cho đô thị
1.1.2.2 Mô hình không gian NNĐT theo phương diện đứng trong đô thị
a Mô hình không gian cao tầng chuyên canh
Mô hình không gian NNĐT cao tầng chuyên canh là những tòa nhà được tổchức như một trang trại trong đô thị dành riêng cho hoạt động NNĐT như sản xuấtlương thực, trồng rau xanh và cây ăn trái, hoặc có thể kết hợp nuôi các loài động vật
để lấy thịt, chế biến các sản phẩm phụ và hoạt động thương mại buôn bán tại chỗcũng như xuất khẩu Cây trồng có thể được trồng trực tiếp trong đất, trong chậu,trong nhà kính hoặc nhà bạt, trong giá đỡ trong nhà theo chiều đứng, hoặc trênkhông gian khác của tòa nhà
Mô hình khai thác không gian canh tác theo chiều đứng đã được đề cập đầutiên bởi Dickson [66], thông qua mô tả hình thức nuôi trồng trong các nhà cao tầngnằm trong phạm vi thành phố Cách tiếp cận này có thể tổ chức không gian bêntrong và cả bên ngoài tòa nhà phục vụ cho hoạt động canh tác nhằm cung cấp nguồnthực phẩm địa phương cho các thành phố theo cách an toàn và bền vững, đồng thờigiảm đáng kể tác động môi trường đô thị như hiệu ứng nhà kính, khí thải CO2 vàkhói bụi Mô hình canh tác theo chiều đứng còn có thể giúp “làm mới” thành phố
Trang 37thông qua việc phát triển các tòa nhà bỏ hoang trong các khu phố thành khu vực sảnxuất nông nghiệp và phục vụ cho các hoạt động thương mại, trong lĩnh vực trao đổisản phẩm nông nghiệp sạch.
NNĐT thẳng đứng ngày càng trở nên khả thi trong không gian đô thị do sửdụng công nghệ xây dựng hiện đại kết hợp công nghệ nông nghiệp tiên tiến Khônggian trang trại theo mô hình công trình cao tầng được tổ chức không gian sản xuấttheo kiểu xếp lớp, chồng lên nhau, khai thác hiệu quả hệ số sử dụng đất Đồng thời,sản phẩm nông nghiệp được bảo vệ tránh khỏi các điều kiện thời tiết bất lợi, đượcquản lý sâu bệnh, và được bố trí ánh sáng nhân tạo thích hợp kết hợp với các hệthống nước tái chế nên trang trại thẳng đứng có thể trồng cây 24 giờ mỗi ngày,trong suốt cả năm, vì vậy năng suất sản xuất thường cao hơn nhiều so với phươngpháp canh tác nông nghiệp truyền thống Đặc biệt hơn là mô hình cao tầng chuyêncanh NNĐT tận dụng được tất cả các mặt của không gian trong tòa nhà phục vụ chohoạt động NNĐT
b Mô hình không gian cao tầng kết hợp hoạt động NNĐT với chức năng khác
Với ý tưởng trở về với thiên nhiên cùng với sự tiến bộ vượt bậc của côngnghệ xây dựng mới, các loại công trình cao tầng trong đô thị đã thực hiện giải phápcấu trúc đặc biệt kết hợp giữa không gian văn phòng, không gian ở… với khônggian NNĐT ngày càng mang lại hiệu quả tích cực cho cả hai lĩnh vực Đó là nhữngcách thức sáng tạo để tái sử dụng những vật liệu rẻ tiền, có sẵn như vỏ chai, thùngxốp để tạo ra các khu vườn trên ban công, trên tường, trên mái góp phần đa dạnghóa không gian NNĐT Một báo cáo về sáng kiến loại hình này ở các nước đangphát triển cho thấy rằng việc sử dụng các phương tiện trồng trọt có công nghệ thíchhợp, chi phí thấp, chiếm ít không gian, có khả năng tận dụng không gian “chết”, ít
sử dụng trong đô thị [98] Các thành phần khác của tòa nhà cao tầng như hệ thốngnước thải và chất thải hữu cơ cũng có thể sử dụng cho mục đích NNĐT Bằng cáchnày, hoạt động NNĐT có tác động trở lại đối với không gian khác như xanh hóakhông gian, linh hoạt không gian và gia tăng các giá trị kinh tế, xã hội, môi trường
Trang 381.1.3 Các xu hướng phát triển không gian NNĐT
Hiện nay không gian NNĐT đã trở thành một trong những xu hướng tất yếu củaquy hoạch phát triển đô thị Chính vì vậy xu hướng phát triển không gian NNĐThướng đến đa mục tiêu đối với đô thị (Hình I.2)
1.1.3.1 Xu hướng không gian NNĐT là thành phần hữu cơ trong đô thị
a Không gian NNĐT, thành phần hữu cơ trong cấu trúc đô thị
Đầu thế kỷ 21, với quan điểm của thuyết quyết định môi trường cho rằngmôi trường vật chất, nhất là vật chất có nguồn gốc từ tự nhiên như cây, cỏ, cảnhquan thiên nhiên phải trở thành thành phần hữu cơ trong tổ chức không gian đô thị
vì môi trường này có tác động tích cực đến hành vi của xã hội và mang lại giá trịtinh thần và thẩm mỹ cho môi trường sống đô thị [102] Chính vì vậy vườn cộngđồng, trang trại hay nông trại trong đô thị còn ý nghĩa là không gian hữu cơ ngàycàng được hình thành rộng khắp ở các thành phố ở Mỹ và châu Âu Không gianhữu cơ này còn được công nhận như một phương tiện cải thiện hành vi xã hội củacông dân, thay đổi những thói quen và tính cách không thích hợp, nhất là thế hệ trẻ
ít có điều kiện tiếp xúc với nền văn hóa nông nghiệp Ngoài ra, mô hình NNĐT nàycòn mang lại những giá trị về dinh dưỡng, sức khỏe, giải trí cho cộng đồng và giátrị thẩm mỹ cho cảnh quan đô thị Chính vì vậy, hoạt động của NNĐT mà trực tiếp
là không gian NNĐT ngày càng được xem như một thành phần hữu cơ không thểthiếu trong cấu trúc vật chất thông qua tổ chức không gian đô thị, cũng như cấu trúc
về tinh thần thông qua tổ chức xã hội đô thị
b Không gian NNĐT, thành phần hữu cơ trong hoạt động xã hội của
đô thị
Với cấu trúc hữu cơ ở cả hai lĩnh vực vật chất và tinh thần, không gianNNĐT ngày càng có nhiều đóng góp các hoạt động xã hội của đô thị, do đó, trongnhững điều kiện hoàn cảnh cụ thể, nhiều mô hình NNĐT hay không gian NNĐTđược chấp nhận như một phương tiện giải quyết những vấn đề về xã hội như: vănhóa, giáo dục và từ thiện [106]
Trang 39Từ góc độ giáo dục, các nước châu Âu và Canada đã có sáng kiến và thànhcông ở mô hình không gian NNĐT trong trường học, mang lại hiệu quả cho họcsinh tiểu học, trung học ở các đô thị không có điều kiện tiếp xúc với môi trườngnông nghiệp Mô hình NNĐT trong trường học ngày càng nhận được sự đồng tìnhrộng rãi của các nhà xã hội học, các nhà cải cách giáo dục và chính phủ, đặc biệt làphụ huynh học sinh Hiện nay mô hình này còn có thêm những lợi ích về giải trí vàtăng cường sức khỏe học đường bắt đầu xuất hiện ở các thành phố đang phát triển.
Như vậy, trong bối cảnh của đô thị hiện nay rất cần sự có mặt của khônggian NNĐT để giải quyết một số vấn đề mang tính xã hội của đô thị, nhất là nhữngvấn đề khó khăn hiện tại, thậm chí cả vấn đề cho tương lai trong quá trình đô thịphát triển Ngoài ra, NNĐT còn có vai trò quan trọng bổ sung thu nhập cho ngườinông dân, nhất là dân nghèo đô thị, gia tăng thêm những giá trị văn hóa trong đờisống cộng đồng đô thị
1.1.3.2 Xu hướng không gian NNĐT gia tăng các giá trị mới cho đô thị
Từ những tiến bộ của khoa học công nghệ nói chung, hoạt động NNĐT khôngchỉ mang lại những tác động tích cực ở lĩnh vực nông nghiệp mà còn cho lĩnh vựcxây dựng đô thị và người dân đô thị Nhất là trong quá trình đô thị hóa toàn cầuthiếu vắng sự hấp dẫn và BĐKH ngày càng rõ rệt như hiện nay, NNĐT đã nổi lênnhư một chiến lược quy hoạch không gian mới để gia tăng những giá trị cho cáckhu vực nội thị và khu vực ngoại thành [98] [103] ở các khía cạnh nổi bật như sau
a Gia tăng giá trị sử dụng đất đô thị
Nhu cầu mở rộng không gian do quá trình đô thị hóa nhất là gia tăng về đấtdân dụng trong đô thị dẫn đến việc tiếp cận đến quỹ đất cho phát triển đô thị ngàycàng khan hiếm và khó khăn hơn Do đó, bài toán sử dụng có hiệu quả quỹ đất đôthị là một thách thức không nhỏ cho hệ thống đô thị toàn cầu
Trong bối cảnh đó, NNĐT có thể mang lại hiệu quả sử dụng đối với tàinguyên đất của đô thị ngày càng hợp lý hơn Hoạt động NNĐT diễn ra ở các khu đất
“nhàn rỗi”, đất chờ phát triển theo quy hoạch ở trung tâm đô thị, hay nhiều khu
Trang 40đất trống có sẵn ở ngoại ô đô thị (khu vực được quy hoạch dài hạn nhưng tạm thờichưa được xây dựng như bệnh viện, nhà máy, căn cứ quân sự, sân bay) Các khônggian này được phân loại để đưa vào sử dụng đất thích hợp thông qua hoạt độngNNĐT Tổ chức mô hình vườn đối với không gian nhỏ, thời gian sử dụng ngắn hạn,
tổ chức những không gian mở, không gian cảnh quan tương thích trong công viên,khu thể dục thể thao, trường đại học, ven lề đường, ven sông và các địa điểm khácđối với các quỹ đất có quy mô lớn, thời gian sử dụng dài hạn
Như vậy, chính NNĐT đã góp phần khai thác hợp lý quỹ đất hiện hữu của
đô thị, giảm chi phí bảo quản đất công, tăng cơ hội việc làm và tạo thu nhập, và tạo
ra những tác động nhiều mặt thông qua việc thu hút thêm nhiều doanh nghiệp mớitrong ngành thực phẩm bao gồm các cơ sở chế biến, nhà hàng, bếp ăn cộng đồng,chợ nông sản, thiết bị vận chuyển và phân phối Tất cả đều mang ý nghĩa gia tăngđáng kể giá trị của đất đô thị
Đặc biệt, nếu có giải pháp tích hợp hoạt động NNĐT trong các không gianchức năng đô thị, có thể làm tăng hiệu quả khai thác quỹ đất đô thị nhiều lần hơn
b Gia tăng giá trị lợi ích môi trường
Những lợi ích về môi trường của đô thị xanh từ hoạt động của NNĐT (baogồm cả cây trồng và cây tự nhiên là nông lâm kết hợp) bao gồm: cải thiện khí hậu
và làm giảm tính dễ tổn thương với thiên tai; tăng cường đa dạng sinh học; giảmnăng lượng tiêu thụ thông qua phân phối trực tiếp, rút ngắn chuỗi phân phối; tái chế
và sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên rác thải nông nghiệp v.v đã mang lạinhiều lợi ích cho môi trường đô thị
Ngoài ra, NNĐT có thể tận dụng nguồn rác hữu cơ và chế biến thành phân visinh bón cho cây trồng vừa bổ sung nguồn dinh dưỡng giúp cho cây trồng thêm tươitốt; vừa có tác dụng cải tạo đất, làm cho đất thêm màu mỡ, tơi xốp, canh tác đạt hiệuquả lâu dài NNĐT có thể sử dụng nguồn nước thải đã qua xử lý làm nước tưới chocây trồng Các phế liệu của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm (các ngành côngnghiệp chế biến sữa, thịt, bánh mỳ, đồ hộp, bánh kẹo) và của ngành phục vụ công cộng(các cửa hàng thực phẩm, các nhà hàng, siêu thị) cũng có thể tận dụng