1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề làm giầy da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ, xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội (luận án tiến sĩ Nhân học)

206 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 5,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên vùng châu thổ Bắc Bộ, từ xưa đã hình thành nhiều nghề thủ công. Bên cạnh những nghề ra đời từ rất sớm, gắn với quá trình cha ông ta mở làng, lập nước, như đan lát, dệt, làm gốm…; lại có nghề xuất hiện rất muộn do điều kiện của cuộc sống. Một trong những nghề đó là làm giày da, xuất hiện vào giữa thế kỷ XVI. Tập quán sinh hoạt cũng như mức sống thấp kém của người nông dân trước đây làm cho sản phẩm của nghề giày da không có chỗ đứng ở nông thôn, mà chủ yếu phục vụ người Pháp và tầng lớp trên của người Việt sinh sống ở các đô thị. Do vậy, số người làm nghề không nhiều và phải mưu sinh ở các thành phố. Tình hình này tiếp diễn đến tháng 10 - 1954. Từ hòa bình lập lại, chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước Việt Nam giúp cho nghề làm giày da có những phát triển nhất định. Tại nhiều địa phương đã xuất hiện các hợp tác xã thủ công nghiệp hoặc các tổ sản xuất giày da, chủ yếu làm gia công cho các nhà máy, xí nghiệp; sản phẩm chủ yếu để phân phối cho cán bộ và quân đội. Đại bộ phận cư dân nông thôn do điều kiện kinh tế khó khăn và do chế độ phân phối, bao cấp không sử dụng sản phẩm này. Nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ (xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) bắt đầu hình thành từ năm 1918, do một số người làng học được nghề ở phố Tràng Tiền (Hà Nội), sau đó cùng con cháu làm nghề ở nhiều nơi, lập được các cửa hàng cửa hiệu lớn, rồi đưa người của hai làng ra làm nghề ở các đô thị suốt những năm thời Pháp thuộc. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong kháng chiến chống Pháp và sau hòa bình lập lại, nghề làm giày da của người hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ không có điều kiện phát triển, do chiến tranh, đời sống khó khăn. Một số thợ 5 tiếp tục bám trụ ở các đô thị để mưu sinh, một số trở về quê sinh sống. Sản phẩm giày da chủ yếu phục vụ một bộ phận những người có thu nhập trong xã hội; công chức, nhà buôn, người có điều kiện kinh tế ở đô thị, vì thế nghề làm giầy da không phát triển. Đến năm 1965, Hợp tác xã Giày da Phú Yên được thành lập, gồm các thợ giày cũ và mới là người trong, ngoài xã; chủ yếu làm gia công cho Tổng Công ty giày da xuất khẩu Hà Nội. Đến năm 1985, do khủng hoảng kinh tế, hợp tác xã phải giải thể. Hầu hết những người thợ giầy hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ phải bỏ nghề, trong sự xót xa, tiếc nuối. Từ năm 1990, những thành tựu bước đầu của công cuộc đổi mới đã tác động đến nghề làm giày da. Đời sống nhân dân được cải thiện. Số người sử dụng giày da tăng lên mạnh mẽ, kể cả ở nông thôn. Đó là điều kiện để nghề làm giày da phát triển về nông thôn, làm hình thành các làng chuyên làm giày da. Tại nhiều địa phương, từ một làng nghề phát triển thành xã nghề. Một trong những làng nghề - xã nghề làm giày da phải kể đến là làng nghề Giẽ Thượng và Giẽ Hạ. Những người thợ giầy hai làng tập hợp lại, khôi phục, mở mang nghề giầy truyền thống của quê hương. Nhiều lớp thanh niên đi các nơi học nghề, tiếp thu kinh nghiệm, tiếp nối, phát huy truyền thống tài hoa của cha ông, phát triển nghề làm giày thành nghề tạo ra kinh tế mũi nhọn của địa phương. Đến năm 2017, hai làng có 03 công ty, gần 400 cơ sở hộ gia đình sản xuất, kinh doanh nghề da - giày, thường xuyên thu hút khoảng 2.000 lao động (khoảng 80% lao động trong xã) và trên 1.000 lao động từ các nơi khác về học nghề, làm nghề. Nghề sản xuất giày da truyền thống của hai giữ vai tròlớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu nhập của cả xã Phú Yên. Năm 2017, giá trị thu nhập từ ngành nghề của xã ước đạt trên 90 tỷ đồng, chiếm 60% cơ cấu kinh tế của xã. Nghề làm giày da giúp hai làng cũng như cả xã Phú Yên từ một vùng đất chiêm trũng nghèo, trở nên trù phú và hiện được xác 6 định là ngành kinh tế chủ lực của địa phương trong tương lai. Đặc biệt từ năm 2006, từ hai làng Giẽ, nghề làm giày da được mở rộng sang địa bàn các xã lân cận và khu vực, tạo ra các xã nghề và vùng nghề. Nghiên cứu nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ về mặt khoa học làm rõ sự hình thành và phát triển của một loại hình nghề lâu nay chưa được quan tâm, góp phần vào việc nghiên cứu nghề thủ công và làng nghề nói chung; nhất là làm sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển từ làng nghề đến xã nghề - vùng nghề. Về mặt thực tiễn, tìm hiểu nghề làm giầy da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ, xã Phú Yên tạo cơ sở khoa học để ngành công nghiệp và các ngành có liên quan huyện Phú Xuyên, cấp ủy và chính quyền xã Phú Yên đề ra các giải pháp để nghề tiếp tục được mở rộng, các làng nghề phát triển theo hướng bền vững. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nghề làm giầy da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội” làm luận án tiến sĩ Nhân học.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

của luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

7 Kết cấu của luận án

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2 Cơ sở lý thuyết của luận án

1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

2.1 Nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ trong bối cảnh

sản xuất giầy da của Việt Nam

2.2 Nghề làm giày da truyền thống ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ

Trang 2

3.1 Sự hồi phục nghề làm giày da và sự phát triển của nghề

3.2 Đại lý nguyên vật liệu, phụ kiện và sự chuyển biến trong tổ chức

Chương 4 TÁC ĐỘNG CỦA NGHỀ LÀM GIÀY DA VỚI CÁC KHÍA CẠNH

VĂN HÓA, XÃ HỘI, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI NGHỀ HIỆN NAY

110

4.1 Tác động của nghề làm giầy da đối với đời sống kinh tế - xã hội

4.2 Tác động của nghề tới giáo dục, văn hóa

4.3 Những vấn đề đặt ra về cơ hội phát triển của làng nghề giày da Giẽ

Thượng, Giẽ Hạ hiện nay

4.4 Một số đề xuất, khuyến nghị từ nghiên cứu nghề làm giày da ở

hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ

Phụ lục 3 Điều lệ Hội Da - Giầy Phú Yên (theo y bản chính) 174

Phụ lục 3 Một số hình ảnh làng nghề Giẽ Thượng, Giẽ Hạ 184

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HỘP PHỎNG VẤN

1 Bảng 3.1 Các loại hộ sản xuất,

kinh doanh của các thôn (năm 2017)

71

2 Bảng 3.2 So sánh sự giống nhau và khác nhau về nghề truyền

thống và nghề hiện nay của hai làng Giẽ

106

3 Bảng 3.3 So sánh sự giống nhau và khác nhau của làng nghề

Giẽ Thượng, Giẽ Hạ với một số làng nghề tiêu biểu vùng châu

7 Hộp 3 1 Về quan hệ không tốt trong làm ăn với người trong họ 85

8 Hộp 3 2:.Về sự hình thành cơ sở sản xuất mới nhờ sự giúp đỡ

của chủ cơ sở sản xuất ở làng Giẽ

88

9 Hộp 4.1 Lúng túng trong việc mở rộng quy mô xưởng sản xuất 133

11 Hộp 4.3 Về việc không muốn xây dựng thương hiệu giầy da 139

12 Hộp 4 4 Khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu 140

13 Hộp 4.5 Về nguyên nhân muốn chuyển sang kinh doanh

nguyên vật liệu, phụ kiện nghề giày da

142

14 Hộp 4.6 Về sự lưỡng lự trong mở rộng nghề hiện nay 144

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên vùng châu thổ Bắc Bộ, từ xưa đã hình thành nhiều nghề thủ công Bên cạnh những nghề ra đời từ rất sớm, gắn với quá trình cha ông ta mở làng, lập nước, như đan lát, dệt, làm gốm…; lại có nghề xuất hiện rất muộn do điều kiện của cuộc sống Một trong những nghề đó là làm giày da, xuất hiện vào giữa thế kỷ XVI Tập quán sinh hoạt cũng như mức sống thấp kém của người nông dân trước đây làm cho sản phẩm của nghề giày da không có chỗ đứng ở nông thôn, mà chủ yếu phục vụ người Pháp và tầng lớp trên của người Việt sinh sống ở các đô thị Do vậy, số người làm nghề không nhiều và phải mưu sinh ở các thành phố Tình hình này tiếp diễn đến tháng 10 - 1954

Từ hòa bình lập lại, chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước Việt Nam giúp cho nghề làm giày da có những phát triển nhất định Tại nhiều địa phương đã xuất hiện các hợp tác xã thủ công nghiệp hoặc các tổ sản xuất giày

da, chủ yếu làm gia công cho các nhà máy, xí nghiệp; sản phẩm chủ yếu để phân phối cho cán bộ và quân đội Đại bộ phận cư dân nông thôn do điều kiện kinh tế khó khăn và do chế độ phân phối, bao cấp không sử dụng sản phẩm này

Nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ (xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) bắt đầu hình thành từ năm 1918, do một số người làng học được nghề ở phố Tràng Tiền (Hà Nội), sau đó cùng con cháu làm nghề ở nhiều nơi, lập được các cửa hàng cửa hiệu lớn, rồi đưa người của hai làng ra làm nghề ở các đô thị suốt những năm thời Pháp thuộc

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong kháng chiến chống Pháp và sau hòa bình lập lại, nghề làm giày da của người hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ không có điều kiện phát triển, do chiến tranh, đời sống khó khăn Một số thợ

Trang 5

tiếp tục bám trụ ở các đô thị để mưu sinh, một số trở về quê sinh sống Sản phẩm giày da chủ yếu phục vụ một bộ phận những người có thu nhập trong xã hội; công chức, nhà buôn, người có điều kiện kinh tế ở đô thị, vì thế nghề làm giầy da không phát triển

Đến năm 1965, Hợp tác xã Giày da Phú Yên được thành lập, gồm các thợ giày cũ và mới là người trong, ngoài xã; chủ yếu làm gia công cho Tổng Công ty giày da xuất khẩu Hà Nội Đến năm 1985, do khủng hoảng kinh tế, hợp tác xã phải giải thể Hầu hết những người thợ giầy hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ phải bỏ nghề, trong sự xót xa, tiếc nuối

Từ năm 1990, những thành tựu bước đầu của công cuộc đổi mới đã tác động đến nghề làm giày da Đời sống nhân dân được cải thiện Số người sử dụng giày da tăng lên mạnh mẽ, kể cả ở nông thôn Đó là điều kiện để nghề làm giày da phát triển về nông thôn, làm hình thành các làng chuyên làm giày

da Tại nhiều địa phương, từ một làng nghề phát triển thành xã nghề Một trong những làng nghề - xã nghề làm giày da phải kể đến là làng nghề Giẽ Thượng và Giẽ Hạ Những người thợ giầy hai làng tập hợp lại, khôi phục, mở mang nghề giầy truyền thống của quê hương Nhiều lớp thanh niên đi các nơi học nghề, tiếp thu kinh nghiệm, tiếp nối, phát huy truyền thống tài hoa của cha ông, phát triển nghề làm giày thành nghề tạo ra kinh tế mũi nhọn của địa phương Đến năm 2017, hai làng có 03 công ty, gần 400 cơ sở hộ gia đình sản xuất, kinh doanh nghề da - giày, thường xuyên thu hút khoảng 2.000 lao động (khoảng 80% lao động trong xã) và trên 1.000 lao động từ các nơi khác về học nghề, làm nghề Nghề sản xuất giày da truyền thống của hai giữ vai tròlớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu nhập của cả xã Phú Yên Năm

2017, giá trị thu nhập từ ngành nghề của xã ước đạt trên 90 tỷ đồng, chiếm 60% cơ cấu kinh tế của xã Nghề làm giày da giúp hai làng cũng như cả xã Phú Yên từ một vùng đất chiêm trũng nghèo, trở nên trù phú và hiện được xác

Trang 6

định là ngành kinh tế chủ lực của địa phương trong tương lai Đặc biệt từ năm

2006, từ hai làng Giẽ, nghề làm giày da được mở rộng sang địa bàn các xã lân cận và khu vực, tạo ra các xã nghề và vùng nghề

Nghiên cứu nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ về mặt khoa học làm rõ sự hình thành và phát triển của một loại hình nghề lâu nay chưa được quan tâm, góp phần vào việc nghiên cứu nghề thủ công và làng

nghề nói chung; nhất là làm sáng tỏ quy luật hình thành, phát triển từ làng nghề đến xã nghề - vùng nghề Về mặt thực tiễn, tìm hiểu nghề làm giầy da ở

hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ, xã Phú Yên tạo cơ sở khoa học để ngành

công nghiệp và các ngành có liên quan huyện Phú Xuyên, cấp ủy và chính quyền xã Phú Yên đề ra các giải pháp để nghề tiếp tục được mở rộng, các làng nghề phát triển theo hướng bền vững

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nghề làm giầy da ở hai làng Giẽ

Thượng và Giẽ Hạ xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội” 1làm

luận án tiến sĩ Nhân học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2 1 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ các khía cạnh cơ bản của nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ (các yếu tố tác động đến nghề, quy trình làm nghề và tổ chức làm nghề, sản phẩm nghề, vị trí của nghề trong đời sống, các khía cạnh nổi bật về xã hội và văn hóa liên quan đến nghề làm giày da hiện nay) dưới góc

độ Nhân học

1 Quyết định đề tài luận án của Học viện Khoa học xã hội ghi là “Nghề làm giầy da ở hai

làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội” Tuy

nhiên, để phù hợp với cách viết chính tả, trong luận án, nghiên cứu sinh dùng từ “giày da” Cách dùng này không làm thay đổi mục đích và nội dung được trình bày của luận án

Trang 7

- Chỉ ra thực trạng phát triển, những vấn đề đang đặt ra đối với nghề và làng nghề làm giày da, tạo cơ sở khoa học cho việc đề ra các giải pháp góp phần phát triển bền vững cho làng nghề

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thu thập các nguồn tài liệu thứ cấp (các tài liệu lưu trữ về hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ, các công trình nghiên cứu về các khía cạnh của nội dung luận án), tổng quan các nguồn tài liệu để có cái nhìn ban đầu về nghề, làng nghề và hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ

- Tiến hành điền dã tại thực địa để thu thập các nguồn tài liệu liên quan đến các khía cạnh của nội dung luận án

- Tổng hợp tư liệu và phân tích, giải mã các hiện tượng, nhằm làm rõ các nội dung đề ra của luận án, trong đó, tập trung làm nổi bật các khía cạnh của nghề giày da trước đây và sự biến chuyển trong điều kiện hiện nay,

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những khía cạnh nổi bật nhất của nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ trong giai đoạn hiện nay từ

tư liệu khảo sát thực tế Nội dung về “Những khía cạnh bật nhất của nghề làm giày da” và khái niệm “Giai đoạn hiện nay” sẽ được làm rõ ở phần sau

Trang 8

4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin Phép biện chứng có nội dung chủ đạo là coi yếu tố kinh tế luôn có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác và ngược lại Trong trường hợp đang bàn, nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ là một hoạt động kinh tế, nên có mối quan hệ với các yếu tố môi trường, dân cư, xã hội, chính sách, và các khía cạnh kinh tế khác Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử đòi hỏi đặt các khía cạnh nghiên cứu trong những điều kiện lịch sử nhất định

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế nông thôn, về nghề thủ công và làng nghề, đặc biệt coi nghề thủ công là một di sản văn hóa

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp thu thập, phân tích kế thừa các tài liệu nghiên cứu đi trước, để thấy rõ các khía cạnh về nghề và làng nghề đã được

nghiên cứu, các khía cạnh còn bỏ ngỏ, từ đó, đặt ra các vấn đề cần nghiên cứu cho luận án

Để có được nguồn tư liệu cho luận án, nghiên cứu sinh sử dụng phương

pháp điền dã Dân tộc học Mỗi lần điền dã tại địa bàn, ngoài các thao tác

quan sát, quan sát - tham dự, nghiên cứu sinh chú trọng sử dụng các thao tác

cơ bản dưới đây:

- Phỏng vấn: nghiên cứu sinh thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn (phỏng vấn có định trước và phỏng vấn ngẫu nhiên) với 57 người, đối tượng phỏng vấn là các bậc cao niên am hiểu, các chủ cơ sở sản xuất (chủ gia đình gia

Trang 9

công, các chủ sản xuất giầy, chủ công ty, doanh nghiệp), các công nhân làm thuê, các cán bộ lãnh đạo của xã, thôn…, để thu thập các thông tin, tư liệu về nghề và làng nghề hiện nay

- Điều tra hồi cố: thao tác áp dụng với các bậc cao niên am hiểu để thu thập các thông tin về các khía cạnh của làng truyền thống, về nghề cổ truyền (sự du nhập nghề và tổ chức làm nghề) Trong điều tra hồi cố, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp tìm hiểu lịch sử kinh tế gia đình để thấy được con đường đi lên từ làm nghề của một số cơ sở sản xuất tiêu biểu của hai làng

- Trao đổi nhóm: nghiên cứu sinh tiến hành một số cuộc trao đổi nhóm với các đối tượng là các bậc cao niên của các làng, ban quản lý các thôn làng, một số chủ cơ sở sản xuất để thu thập tư liệu, các ý kiến tập thể về nghề và làng nghề hiện nay

Sau khi có tương đối đầy đủ thông tin tư liệu đã được thẩm định, nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp phân tích và diễn giải: là phương pháp thường dùng trong các công trình nghiên cứu Dân tộc học, để lý giải các hiện tượng mà nguồn tư liệu phản ánh

- Phương pháp thống kê: là việc lập các bảng thống kê các sự kiện, hiện tượng, phục vụ cho việc phân tích, diễn giải và so sánh

- Phương pháp so sánh: nhằm làm rõ sự khác biệt giữa nghề làm giầy

da truyền thống với nghề làm giày da hiện nay; so sánh một số điểm tương đồng và khác biệt giữa nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ với các làng nghề có tiếng trên vùng châu thổ Bắc Bộ hiện nay, như Triều Khúc (huyện Thanh Trì, Hà Nội), Phương La (huyện Hưng Hà, Thái Bình), Đại Tự (huyện Hoài Đức, Hà Nội) để thấy được tính đa dạng của việc làm nghề của

cư dân các làng trên vùng châu thổ Bắc Bộ

Trang 10

- Phương pháp hệ thống (hay phương pháp tổng thể), đặt hiện tượng được nghiên cứu với các yếu tố khác Trong trường hợp đang bàn, phương pháp hệ thống đặt làng nghề Giẽ Thượng, Giẽ Hạ trong mối quan hệ với yếu

tố vùng (vùng chiêm trũng, tiểu vùng văn hóa Xứ Nam), đặt nghề làm giày da trong một quan hệ với các yếu tố điều kiện tự nhiên, con người, cơ cấu tổ chức làng xã, các yếu tố chính sách, xã hội, văn hóa …

Trong quá trình điều tra tư liệu và viết luận án, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia để có thêm các ý tưởng khoa học cho nội dung luận án

4.3 Nguồn tư liệu của luận án

Nguồn tư liệu chính của luận án là tư liệu điền dã, được thu thập từ các cuộc khảo sát tại hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ, gồm tư liệu phỏng vấn, thảo luận nhóm và tư liệu thành văn (các báo cáo của cấp ủy, chính quyền địa phương, Hội Da giày Phú Yên)

Luận án kế thừa các tư liệu, các kết quả nghiên cứu về làng Việt, về nghề thủ công và làng nghề của các công trình đã công bố từ trước đến nay

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về nghề làm giày da ở hai làng cụ thể dưới góc độ Nhân học, góp phần làm sáng tỏ một trong những đặc điểm văn hóa nổi bật của người Việt về tiếp thu, vận dụng, phát triển nghề trong vùng châu thổ sông Hồng

- Luận án tạo cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý đề ra các chính sách, các giải pháp giúp địa phương phát huy các tiềm năng, thế mạnh, những đức tính và truyền thống tốt đẹp của của nhân dân trong xã để phát triển kinh tế và văn hóa bền vững

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

7 Kết cấu của luận án

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án

được chia làm bốn chương:

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Chương 2: NGHỀ LÀM GIÀY DA Ở HAI LÀNG GIẼ THƯỢNG, GIẼ HẠ TRƯỚC NĂM 1992

Chương 3: NGHỀ LÀM GIÀY DA Ở HAI LÀNG GIẼ THƯỢNG, GIẼ HẠ TỪ NĂM

1992 ĐẾN NAY

Chương 4: TÁC ĐỘNG CỦA NGHỀ LÀM GIÀY DA VỚI CÁC KHÍA CẠNH VĂN HÓA, XÃ HỘI, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về nghề thủ công người Việt

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghề thủ công và làng nghề của người Việt ở Bắc Bộ, bao gồm các cuốn sách, các đề tài khoa học, các luận văn, luận án tiến sĩ dưới các góc độ: Kinh tế học, Sử học, Văn hóa học, Nhân học… Các công trình đã phản ánh sinh động nhiều khía cạnh của nghề và làng nghề trong các bối cảnh xã hội khác nhau Dưới đây, luận án điểm các công trình tiêu biểu nhất dưới góc độ Dân tộc học/ Nhân học

1.1.1.1 Những công trình giới thiệu và khảo tả về các nghề thủ công

Đây là chủ đề nổi bật của các công trình nghiên cứu Tiêu biểu trong số

các tác phẩm này là Quê gốm Bát Tràng, Làng Vó và nghề đúc đồng truyền thống của Đỗ Thị Hảo [25, 26], Gốm Bát Tràng thế kỷ XIV - XIX do Phan Huy Lê chủ biên [48], Ba tập Nghề cổ truyền của Sở Khoa học công nghệ và Môi trường, Bảo tàng Hải Hưng [31, 32, 33], Làng thủ công mỹ nghệ miền Bắc, Gốm sành nâu ở Phù Lãng của Trương Minh Hằng [27, 28], Làng tranh Đông Hồ của Nguyễn Thái Lai [46]… Sau khi điểm qua nguồn gốc của nghề,

các nghiên cứu tập trung trình bày các đặc điểm chính yếu nhất của nghề thủ công truyền thống, gồm nguồn nguyên liệu, bộ công cụ làm nghề, quy trình kỹ thuật gắn với tổ chức sản xuất, phân công lao động, quan hệ xã hội trong làm nghề, các loại hình và đặc trưng sản phẩm; hệ thống dịch vụ tiêu thụ sản phẩm; thu nhập của người làm nghề; các tín ngưỡng, kiêng kỵ liên quan đến nghề

Trang 13

Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam (gồm 6 tập) do

Trương Minh Hằng chủ biên [29], Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành, tập hợp các bài viết, chương sách giới thiệu về nghề, làng nghề của Việt Nam, trong đó tập 1 có 5 chương tập trung vào lý luận chung về nghề, làng nghề truyền thống; các vùng nghề, địa danh, địa chí làng nghề; tổ nghề; nghệ nhân dân gian; thực trạng làng nghề; việc bảo tồn nghề, làng nghề; những biến đổi của nghề, làng nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các tập còn lại giới thiệu các nghề, làng nghề và cụm nghề, gồm tập 2 (nghề chế tác kim khí), tập 3 (nghề mộc chạm), tập 4, tập 5, tập 6 giới thiệu nghề gốm, đan lát, thêu, dệt, làm giấy, làm tranh Bộ Tổng tập đã giới thiệu tương đối toàn diện các nghiên cứu trong và ngoài nước về nghề, làng nghề truyền thống của nước ta Tổng tập cũng đề cập đến những vấn đề lý luận chung; sự hình thành, phát triển nghề, làng nghề; tổ nghề; quy trình kỹ thuật; cách tổ chức sản xuất; những biến đổi của nghề, làng nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, toàn cầu hóa

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu về nghề thủ công trong bối cảnh làng xã

Đây là hướng nghiên cứu của nhiều tác phẩm

Trước hết phải kể đến tác phẩm Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của

Nhà Địa lý học Pháp Pièrre Gourou, tiếp cận nghề dưới góc độ Địa lý nhân văn qua nghiên cứu thực địa Trên cơ sở khái quát tình hình sản xuất thủ công nghiệp, qua thống kê 108 nghề thủ công phân theo nhóm nghề được gọi là

‘‘nền công nghiệp làng xã’’, tác giả đã chỉ rõ hoạt động của ngành kinh tế này (cùng các ngành nông nghiệp, thương nghiệp) trong không gian sinh tồn của người Việt là làng, đồng thời phản ánh sự vận động, biến đổi của các làng nghề trước Cách mạng Tháng Tám 1945 [23]

Trang 14

Các nghề thủ công ở Hà Đông là một chuyên khảo mỏng của Hoàng

Trọng Phu - Tổng đốc Hà Đông, giới thiệu các nghề thủ công (tên nghề, làng

có nghề, nguồn gốc nghề, các thông tin sơ bộ về hiện trạng nghề) của các làng

ở tỉnh Hà Đông, tỉnh được coi là “vương quốc của các nghề thủ công trên vùng châu thổ Bắc Bộ thời Pháp thuộc” [59]

Tác phẩm Nền kinh tế công xã Việt Nam của Vũ Quốc Thúc, tập trung

nghiên cứu hoạt động kinh tế, trong đó có nghề thủ công gắn liền với văn hóa trong xu thế không ngừng vận động và biến đổi của các làng, xã; chỉ ra mối quan hệ, sự tác động, ảnh hưởng của kinh tế với văn hóa xã hội của làng Việt

cổ truyền, từ đó tái hiện sinh động bản chất nền kinh tế công xã [74]

Hai bộ sách Nông thôn Việt Nam trong lịch sử [86, 87] và Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại do Viện Sử học biên soạn [88, 89] có nhiều

bài viết đánh giá tổng quan sự phân bố các nghề, làng nghề của nước ta trong lịch sử, làm rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng nghề thủ công đối với đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của người nông dân Việt Nam thời phong kiến và thời thực dân nửa phong kiến, song chưa khảo tả đầy đủ, chi tiết, sâu sắc, đa chiều các khía cạnh về nghề và làng nghề

Làng Việt Nam, một số vấn đề kinh tế - xã hội và văn hóa của Phan Đại

Doãn là công trình nghiên cứu tổng thể về làng Việt dưới góc độ Sử học Cuốn sách tập trung phân tích những vấn đề cơ bản của làng xã Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại; kết cấu kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó nổi bật là thủ công nghiệp kết hợp chặt chẽ với nông nghiệp, là yếu tố quan trọng của kinh tế hộ gia đình, gắn liền với sở hữu ruộng đất giúp làng Việt ổn định, phát triển theo kinh tế thị trường [11]

Hành trình về làng Việt cổ (tập I, tập II) của Bùi Xuân Đính giới thiệu

một số làng quê tiêu biểu của Xứ Đoài và Xứ Nam Chiếm dung lượng lớn

Trang 15

trong các bài viết là những nội dung giới thiệu, phân tích, làm rõ bức tranh nghề thủ công của các làng trên các phương diện: kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, mạng lưới dịch vụ Mỗi làng nghề cụ thể đều có những nét văn hóa nghề và làm nghề riêng, tạo nên tính đa dạng, phong phú [16, 18] Có nhiều

nét tương đồng với công trình này là các cuốn sách Văn hóa truyền thống làng Đồng Kỵ do Lê Hồng Lý chủ biên, nghiên cứu làng Đồng Kỵ (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) [52]; Ninh Hiệp - truyền thống và phát triển của nhóm

tác giả do Tô Duy Hợp chủ biên, nghiên cứu về làng - xã Ninh Hiệp - một làng nghề, làng buôn bán nổi tiếng ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội [37]

Có nhiều tác phẩm khảo tả, đánh giá sâu khía cạnh văn hóa làng nghề,

trong đó nổi bật là cuốn Bát Tràng - làng nghề làng văn do Bùi Xuân Đính

chủ biên Tác phẩm nghiên cứu công phu, đánh giá sâu sắc, toàn diện về một làng nghề ngoại thành Hà Nội, làm rõ nét đặc trưng, khác biệt của làng Bát Tràng làm nghề gốm gắn với nghề buôn bán, dịch vụ Đây là làng nghề chuyên sản xuất gốm, không gắn với sản xuất nông nghiệp; các hoạt động của làng nghề, những tác động của nghề đến các lĩnh vực đời sống xã hội của làng Bát Tràng Cuốn sách cũng đánh giá, làm rõ truyền thống, biến đổi, ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, để phát triển làng nghề bền vững [19]

Bên cạnh đó, nhiều đề tài luận án, luận văn thuộc các chuyên ngành: Dân tộc học; Nhân học; Văn hóa học; Văn hóa dân gian đã nghiên cứu về

nghề, làng nghề, tiêu biểu là các luận án tiến sĩ: Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ của Lâm Bá Nam [55]; Làng gốm Phù Lãng của Trương Minh Hằng [27]; Làng nghề Cúc Bồ trong cảnh quan văn hoá xứ Đông của Phạm Văn Hiệp [30]; Làng nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi) của Nguyễn Lan Hương [41]; Làng nghề thủ công Triều Khúc (xã Tân Triều,

Trang 16

huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội), truyền thống và biến đổi của Đỗ Ngọc Yến [95], Biến đổi văn hóa làng dệt Phương La (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái

Bình) của Bùi Thị Dung [12] hay các luận văn thạc sĩ: Làng Nhị Khê với nghề

tiện truyền thống của Vũ Thanh Hà [24], Làng chạm bạc Đồng Sâm ở Thái Bình của Đỗ Thị Tuyết Nhung [56] v.v Các luận án, luận văn đã tập trung

điều tra, khảo sát, phân tích tác động của điều kiện địa lý cảnh quan, môi trường văn hóa xã hội với nghề, đặc trưng nghề và làng nghề ở nhiều chiều cạnh như: mô hình, cấu trúc làng xóm, nơi thờ cúng tâm linh của làng (đình, chùa, đền miếu, thờ tổ nghề ), các phong tục tập quán, lễ hội, thiết chế văn hóa Bên cạnh đó còn nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học, đề cập đến việc bảo tồn, phát triển các nghề, làng nghề trong giai đoạn hiện nay

Đáng lưu ý là luận án Làng nghề cơ khí - mộc dân dụng Đại Tự (xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội) của Nguyễn Đình Phúc, đề cập

đến sự du nhập của nghề mới (làm két bạc) ở một làng ngoại thành Hà Nội trong điều kiện công nghiệp hóa: điều kiện để du nhập nghề, quy trình sản xuất và sản phẩm nghề, tác động của nghề đối với đời sống của dân làng [60]

1.1.1.3 Nghiên cứu nghề thủ công trong bối cảnh kinh tế - xã hội đương đại

Từ hòa bình lập lại đến nay, nông thôn Việt Nam và làng nghề trải qua nhiều thăng trầm, biến động, đặc biệt là tác động mạnh mẽ của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bám sát thực tiễn sinh động đó, nhiều công trình đã tập trung nghiên cứu về nghề, làng nghề; tìm hiểu, làm rõ những đặc điểm truyền thống, những tác động của kinh tế thị trường đến mọi mặt của làng nghề, từ

đó có những định hướng, đề xuất giải pháp phát triển làng nghề bền vững Có thể chia những công trình nổi bật nghiên cứu theo xu hướng này sau:

- Về các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, có thể kể đến tác phẩm

Trang 17

Ritual, feast and politics in North Vietnam between ideology and tradition của

Endres, Kirsten, nghiên cứu về làng nghề đúc đồng Đại Bái (huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) vào các năm 1996, 1998, song nội dung chủ yếu quan tâm đến quá trình phục hồi các nghi lễ, lễ hội và đời sống văn hóa ở làng nghề này

từ sau Đổi mới đến thời điểm khảo sát [104]

Luận án tiến sĩ Iron Works:Excavating alternative Futures in a Northern Vietnamese Craft Village (Luyện sắt: tương lai lựa chọn ở một làng

nghề miền Bắc Việt Nam) của DiGregorio, Michael, Đại học California miêu

tả quá trình tái phát triển của làng nghề Đa Hội, từ một làng rèn truyền thống, sau Đổi mới trở thành một nơi sản xuất, cung cấp thép lớn cho thị trường trong nước và quốc tế Hệ thống sản xuất ở Đa Hội bao gồm các hộ gia đình

và các doanh nghiệp gia đình gắn kết với nhau qua sự phân công sản xuất và các mối quan hệ chồng chéo về giới, dòng họ và nơi cư trú Nghiên cứu cho thấy sự quan trọng của bản sắc địa phương trong phát triển làng nghề Câu chuyện của Đa Hội cho thấy phân khúc công nghiệp ở Việt Nam thường bị phá vỡ, các nhà sản xuất ở làng nghề đã áp dụng các công nghệ linh hoạt và thành công trong việc gia nhập nền công nghiệp sản xuất lớn trong cuộc cạnh tranh với thị trường vốn còn bất ổn và chưa hoàn chỉnh về mặt thể chế Giống như nghề thủ công ở các nước phát triển khác, làng nghề Đa Hội hình thành nên các mạng lưới hỗ trợ nhau hơn là các nhóm hợp tác; các công ty tư nhân

tự do giao dịch ở bên ngoài nhóm của mình, trong khi ở bên trong nhóm lại chia sẻ với nhau khả năng sản xuất, dịch vụ vận chuyển và lợi nhuận bán lẻ Các nhóm sản xuất quy mô lớn được điều hành bởi các thành viên trưởng thành trong gia đình, ở đó người khởi xướng nghề vẫn còn hoạt động năng động Các nhóm nhỏ hơn được hình thành bởi các anh chị em khác trong gia đình, thậm chí là bạn bè Khả năng linh hoạt và gần gũi với thị trường là điều làm nên sự khác biệt của Đa Hội: trong khi nhiều với tổng công ty cổ phần và

Trang 18

công ty của nhà nước trong ngành thép thua lỗ thì Đa Hội vẫn bán được sản phẩm có lãi và ngày càng tăng thị phần Tương lai của Đa Hội sẽ là sự tiếp tục

mô hình sản xuất bao gồm các xưởng quy mô nhỏ gắn trong các mạng lưới kinh doanh và xã hội của gia đình và làng xã [107]

- Về các công trình nghiên cứu ở trong nước, cuốn Làng nghề, phố nghề, Thăng Long - Hà Nội của Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo [91] là

công trình đánh giá vị trí của Thăng Long - Hà Nội với phát triển nghề thủ công Các tác giả đưa ra định nghĩa về làng nghề thủ công, phố nghề gắn với lịch sử Thăng Long - Hà Nội Chương 3 của sách tập trung nói về nghề, làng nghề, phố nghề của đô thị này, quan điểm phát triển làng nghề Cuốn sách cũng chỉ rõ những khó khăn, thách thức của nghề, làng nghề trong bối cảnh kinh tế thị trường, trong đó khó khăn, thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh gay gắt trong cùng một làng nghề cũng như giữa các làng nghề với nhau, nhất là trong tiêu thụ sản phẩm, đòi hỏi cần có cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp trên tầm vĩ mô cũng như vi mô để các nghề, làng nghề phát triển bền vững

Cuốn Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá do Mai Thế Hởn chủ biên [36]; Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Trần Minh Yến [94]…

tập trung làm rõ các yếu tố tác động đến làng nghề, đặc biệt là hoạt động thích ứng, phát triển của làng nghề, đề xuất giải pháp bảo tồn làng nghề trong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa

Cuốn Làng nghề, phố nghề Hà Nội trong bối cảnh toàn cầu hóa của tác giả Lê Hồng Lý [53]; Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển của nhóm tác giả Vũ Quốc Tuấn [69] đưa ra cái nhìn khái quát về

làng nghề, phố nghề trong lịch sử, đánh giá thực trạng của làng nghề phố nghề hiện nay, chỉ ra hướng phát triển và các giải pháp để phát triển làng nghề

Trang 19

Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay của Nguyễn Thị Phương Châm

là công trình nghiên cứu dưới góc độ Nhân học văn hóa về ba làng Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng - những làng nghề thị xã Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) Những biến đổi văn hóa ở các làng này được tác giả phản ánh tương đối toàn diện trên các mặt: sự chuyển đổi về địa lý, dân cư, cơ cấu kinh tế, xã hội, các công trình thờ tự, các nghi lễ, phong tục, các sinh hoạt văn hóa khác của các làng Từ đó, tác giả tìm ra được bản chất và cơ chế của sự biến đổi văn hóa ở các làng quê Bắc Ninh trong bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa hiện nay Đó là, biến đổi về

cơ cấu kinh tế, các dịch vụ xã hội, hệ thống quản lý làng xã trong điều kiện nền kinh tế thị trường Kết quả của quá trình biến đổi này là tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân; các dịch vụ phát triển, đa dạng hóa các hình thức quan hệ sản xuất ; những đổi thay về không gian, cảnh quan, đời sống xã hội, các giá trị đạo đức, sự phân hóa giầu nghèo; các di tích, tín ngưỡng, lễ hội được quan tâm, cùng với đó là sự xuất hiện của nhiều nét văn hóa hiện đại Cuốn sách

đã chỉ ra xu thế phát triển kinh tế, xã hội nhất là sự tác động của truyền thông, được xem như chất xúc tác quan trọng, làm biến đổi đời sống văn hóa tinh thần của người dân; đồng thời cho thấy sự sống động trong đời sống nông thôn, phục dựng các nghi lễ, sinh hoạt văn hóa truyền thống, sự cố kết dòng họ ở làng quê Việt Nam hiện nay [8]

Cuốn Một số yếu tố văn hóa và giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển làng-xã của hai tác giả Nguyễn Lâm Tuấn Anh và Nguyễn Thị Minh Phương,

lấy làng Đồng Kỵ (huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) “làm nền” để đi sâu phân tích những chuyển biến trên lĩnh vực văn hóa giáo dục, những thay đổi trong

cơ cấu lao động, việc làm đã tạo nên sự thay đổi từ một làng nông nghiệp thành làng nông - công nghiệp và tiến tới làng phi nông nghiệp [1]

Nghiên cứu biến đổi của nghề, làng nghề dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học được nhiều tác giả quan tâm, làm rõ những biến đổi của làng

Trang 20

nghề truyền thống từ hòa bình lập lại tới nay Một số nghiên cứu đã chỉ rõ những tác động to lớn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa

và hội nhập quốc tế với các làng nghề Có thể kể những công trình nổi bật sau:

Cuốn Sự phát triển của làng nghề La Phù do Tạ Long chủ biên lựa

chọn một làng đa nghề (nghề dệt, nghề may, cơ khí, làm bánh kẹo, mạch nha…) của huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội để nghiên cứu sâu sự biến đổi

bộ mặt làng nghề và nghề thủ công Thông qua các tư liệu lịch sử, cuốn sách

đã làm rõ truyền thống và những biến đổi của nghề - làng nghề, chỉ ra các khía cạnh, biểu hiện trên lĩnh vực kinh tế; sự xuất hiện các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức kinh doanh, hệ thống dịch vụ, thu nhập của người sản xuất, kinh doanh, sự phân công lao động và thu hút lao động từ bên ngoài vào sản xuất của làng nghề Đặc biệt trong cơ chế thị trường, làng nghề đã hình thành các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ổn định, mang lại hiệu quả kinh

tế cao, đóng góp vào ngân sách địa phương, có những tác động tích cực đến đời sống chính trị ở cơ sở Trên lĩnh vực văn hóa xã hội, nghề và biến đổi của làng nghề đã làm tư duy, cách nghĩ, cách làm, lối ứng của người nông dân có nhiều thay đổi; hoạt động mùa vụ thay bằng quy trình sản xuất có tính tổ chức cao, thời gian sản xuất quanh năm, hình thành hoạt động công - thương nghiệp Sự phát triển của nghề và làng nghề làm quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh hơn, ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội của người dân làng nghề Các tác giả cũng góp tiếng nói về bảo tồn và phát triển làng nghề trước quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời đưa ra các chỉ báo, giải pháp giúp làng nghề vượt qua khó khăn, phát triển bền vững [51]

Cuốn Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi do Bùi Xuân Đính chủ biên, tập trung nghiên cứu các nghề thủ công

ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội - huyện được coi là “vương quốc của các nghề thủ công trên vùng châu thổ Bắc Bộ” theo hướng so sánh truyền

Trang 21

thống và biến đổi Sách chỉ rõ sự biến đổi của nghề và làng nghề thủ công truyền thống trong một giai đoạn tương đối dài (từ trước Cách mạng Tháng Tám 1945 đến năm 2008); lý giải các điều kiện để các làng nghề thủ công huyện Thanh Oai thích nghi, hội nhập, phát triển trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cuốn sách còn khảo tả chín làng nghề truyền thống tiêu biểu về các khía cạnh, chỉ rõ những biến đổi của nghề, làng nghề từ sau hòa bình lập lại đến đầu thập niên 2000, chỉ ra xu hướng vận động và dự báo sự phát triển của nghề, làng nghề trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập

[17] Cùng dạng với cuốn sách này là cuốn Bát Tràng - làng nghề làng văn

cũng do Bùi Xuân Đính chủ biên, đề cập đến sự biến đổi của nghề gốm cổ truyền và làng gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) [19]

Đề tài cấp bộ Văn hóa kinh tế làng nghề: thách thức và giải pháp trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa do Đinh Thị Vân Chi (Trường Đại

học Văn hóa Hà Nội) thực hiện năm 2012, khảo sát các làng nghề tiêu biểu ở Bắc Bộ, đặt ra một số vấn đề của làng nghề dưới góc độ văn hóa kinh tế [9]

Tóm lại, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghề và làng nghề, có thể khái quát nội dung và hướng nghiên cứu như sau:

- Về nội dung, chiếm phần lớn các công trình là nghiên cứu về nghề và làng nghề truyền thống, tập trung khảo tả, đánh giá thực trạng nghề và làng nghề; nhiều công trình chủ yếu mô tả quy trình kỹ thuật; nguồn gốc nghề và

tổ nghề, các hoạt động văn hóa của làng nghề, vùng nghề gắn liền với nông thôn Việt Nam…, từ đó chỉ ra những mặt được, chưa được của các làng nghề, đưa ra các giải pháp phát triển nghề và làng nghề

- Các nghiên cứu về nghề, làng nghề dưới góc độ Nhân học (nghiên cứu về các nhân tố con người, nhân tố địa phương đối với sự tồn tại và phát triển của nghề thủ công, về các mối quan hệ con người trong tổ chức làm

Trang 22

nghề; hay người thợ thủ công sử dụng nguồn vốn xã hội và mạng xã hội như thế nào để duy trì và phát triển nghề) chưa thật sự được chú ý đúng mức

Cùng với một số luận án, công trình đi trước, luận án này khắc phục những hạn chế trên: ngoài việc tập trung phân tích, lý giải các hoạt động kinh

tế, văn hóa xã hội của nghề gắn với làng nghề ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ

Hạ xã Phú Yên, chúng tôi quan tâm đến vai trò của con người trong sự vận động và phát triển của nghề, làng nghề; coi con người là chủ thể của văn hóa nghề, làng nghề và con người giữ vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển của nghề, làng nghề

1.1.2 Những nghiên cứu về hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ và về nghề giày da ở hai làng

Hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ đã có một số công trình đề cập đến

Bài “Làng Giẽ Hạ và Phủ từ họ Đặng” cảu Trần Quốc Vượng, Nguyễn

Hồng Kiên in trong sách Hà Tây - làng nghề làng văn, tập 2, giới thiệu về

điều kiện địa lý tự nhiên, địa lý hành chính làng Giẽ Hạ, nguồn gốc và sự phát đạt của dòng họ Đặng Đình cùng dấu tích còn lại ở làng [90, tr 143 - 163]

Cuốn Di tích Hà Tây, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tây ấn hành (năm 1999)

có các bài giới thiệu về đình Giẽ Hạ và đình Giẽ Thượng [66, tr 367 - 370]

Cuốn Đất Phú Xuyên, người Phú Xuyên do Huyện ủy, Hội đồng nhân

dân, Ủy ban nhân dân huyện Phú Xuyên xuất bản (2006) có phần giới thiệu sơ

bộ về xã Phú Yên [39]

Nghề giày da xuất hiện ở nước ta rất muộn, do đời sống vật chất của nhân dân trước đây rất khó khăn nên số người sử dụng giày rất ít, không hình thành các làng nghề chuyên biệt, mà chỉ có những người làm nghề lẻ tẻ ở các

đô thị Có lẽ đây là lý do đến nay nghề làm giày da chưa được quan tâm

Trang 23

nghiên cứu Đối với nghề và làng nghề giày da ở xã Phú Yên, đến nay, mới

chỉ có một số cuốn sách và bài viết đề cập, như đề tài Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống ven sông Nhuệ tỉnh Hà Tây phục vụ cho du lịch của

Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội, khảo sát ba làng nghề thủ công truyền thống là làng lụa Vạn Phúc (thị xã Hà Đông), làng khảm trai thôn Ngọ

xã Chuyên Mỹ và làng nghề giầy da xã Phú Yên (cùng thuộc huyện Phú Xuyên), tỉnh Hà Tây trước khi được điều chỉnh địa giới hành chính về Hà Nội Các tác giả đưa ra một số thông tin về lịch sử hình thành và phát triển của nghề và làng nghề, chủ yếu giới thiệu văn hóa làng nghề và sản phẩm làng nghề phục vụ phát triển du lịch của các làng nghề [44]

Đề tài Hoạt động xuất nhập khẩu da giầy của thành phố Hải Phòng sau khi gia nhập WTO, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của nhóm

nghiên cứu Khoa Kinh tế ngoại thương, Trường Đại học Hải Phòng nêu tổng quan về nghề da giày của Việt Nam, trong đó có nội dung nhắc đến sự hình

thành làng nghề giày da xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên [45]

Luận văn thạc sĩ Biến đổi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng làng nghề giầy da xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội của tác giả

Nguyễn Việt Chinh, Khoa Văn hóa học (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội), lý giải thực trạng biến đổi trong văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng (gia đình, dòng họ) ở làng nghề giày da xã Phú Yên trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, đưa ra một số gợi ý khoa học về những giải pháp, định hướng thích hợp cho chiến lược phát triển văn hóa - xã hội Tuy nhiên, ảnh hưởng của yếu

tố nghề đối với các biến đổi trên đây chưa được luận văn quan tâm [10]

Cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Phú Yên 1945 - 2000, do Đảng bộ xã Phú Yên

biên soạn, xuất bản năm 2006 trong Chương I đã đề cập đến đời sống dân cư, quá trình hình thành xã Phú Yên và các nghề truyền thống của xã Riêng nghề giày da

Trang 24

tại các trang 12, 13 của cuốn sách giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển nghề từ trước năm 1945 đến đầu những năm 2000 [4]

Bài Làng nghề da giầy Phú Yên đăng trên Cổng thông tin Điện tử

huyện Phú Xuyên, ngày 31/3/2012 phản ánh về lịch sử làng nghề và sự phát triển của làng nghề trong giai đoạn hiện nay Bài viết đánh giá cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm phát triển nghề giầy da, làng nghề ngày càng khởi sắc, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết công

ăn việc làm cho người lao động

Ngoài ra, còn có nhiều bài báo trên các báo viết, báo điện tử, chương trình phát thanh truyền hình trong nước giới thiệu làng nghề, cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của làng nghề

Nhìn chung, nghiên cứu về nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ còn ít, chủ yếu dưới góc độ lịch sử văn hóa và kinh tế, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ Nhân học Luận án này được xem là công trình đầu tiên nghiên cứu về nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ dưới góc độ Nhân học

1.2 Cơ sở lý thuyết của luận án

1.2.1 Các khái niệm

“Nghề thủ công và nghề thủ công truyền thống”

Nghề thủ công được coi là các nghề (ngoài sản xuất nông nghiệp) tạo ra các sản phẩm bằng lao động thủ công (làm bằng tay, hay công cụ sản xuất thường là công cụ cầm tay, đơn giản), phục vụ cho các mặt của đời sống con người; đa số nguyên liệu của các nghề thủ công khai thác từ thiên nhiên

Theo thời gian, nhất là ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các nghề thủ công đã sử dụng máy móc, hóa chất và các giải pháp kỹ

Trang 25

thuật của công nghiệp trong một số công đoạn hay phần việc nhất định Tuy nhiên, phần quyết định chất lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm nghề thủ công vẫn phải làm bằng tay

Phân biệt “Nghề thủ công” là một nghề, với “Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp” (thường gọi tắt là “Tiểu - thủ công nghiệp”), là lĩnh vực sản xuất, gồm các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ, thường

có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành Khái niệm “Tiểu - thủ công nghiệp” thường dùng trong các niên giám thống kê trước đây và trong phân tích cơ cấu kinh tế của các địa phương

Nghề thủ công truyền thống là nghề hình thành từ xa xưa, ngày nay có thể tồn tại hay không còn được duy trì, khác với các nghề hiện đại mới phát sinh hoặc mới được du nhập

Trang 26

và các quan hệ xã hội, tâm lý tính cách, phong tục tập quán, nếp sống ) Làng nghề có thể có hoặc không có truyền thuyết về tổ nghề, ngày giỗ tổ nghề, song ý thức về nghề của cư dân rất sâu sắc

“Làng nghề thủ công truyền thống”

Là các làng có các nghề thủ công hình thành từ xa xưa

Khái niệm “truyền thống” với tư cách là một danh từ, chỉ các yếu tố

được hình thành mang tính ổn định của một hiện tượng, ví dụ truyền thống khoa cử, truyền thống cách mạng… Với tư cách là một tính từ, khái niệm này

định rõ nội dung, bản chất, hoặc thời điểm diễn ra của một hiện tượng, ví dụ:

làng truyền thống, món ăn truyền thống

Khái niệm “Nghề truyền thống” và “Làng nghề truyền thống” trong luận án này, xét trên phương diện kinh tế là nghề có kỹ thuật thủ công; xét trên phương diện xã hội và văn hóa, gắn với cơ cấu tổ chức xã hội và các giá trị văn hóa của làng Việt được hình thành và tồn tại đến Cách mạng Tháng Tám 1945 Làng nghề thủ công truyền thống vẫn tồn tại đến ngày nay, song nghề đã có những thay đổi sâu sắc về kỹ thuật, tổ chức sản xuất, loại hình sản phẩm và phương thức tiêu thụ Sự thay đổi này đã tác động đến nhiều mặt đời sống của làng

“Làng nghề hiện đại”

Làng nghề hiện đại (hay làng nghề mới) là các làng có các nghề mới được nhân cấy hay du nhập Tại Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định cả hai loại hình làng nghề truyền thống và làng nghề hiện đại có chung các đặc điểm sau:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;

Trang 27

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;

- Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt ba tiêu chí sau: + Xuất hiện tại địa phương trên 50 năm tính đến thời điểm được công nhận; + Tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc;

+ Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước [7, 117]

“Xã nghề”

Là một xã (đơn vị hành chính) mà phần đông cư dân của hầu hết các làng sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề thủ công (nghề truyền thống hoặc nghề mới du nhập)

“Vùng nghề”

Là một vùng gồm nhiều làng xã trong một huyện hoặc liên huyện sinh sống bằng một nghề hoặc nhiều nghề

“Phố nghề”

Là phố phường ở các đô thị, cư dân sống bằng các nghề thủ công

1.2.2 Cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận

1.2.2.1 Cơ sở lý thuyết

Liên quan đến các nội dung mà đề tài luận án cần giải quyết, nghiên

cứu sinh sử dụng thuyết duy lí, còn gọi là sự lựa chọn hợp lí Nội dung chính

của thuyết này là các cá nhân luôn lựa chọn và thực hiện các điều hoặc công việc mà mỗi người thấy có thể đem lại kết quả tốt nhất cho bản thân, hay luôn hành động có chủ đích để sử dụng các tiềm năng, khả năng để đạt được kết

Trang 28

quả lớn nhất với chi phí ít nhất cho sự lựa chọn của mình Đại diện tiêu biểu cho thuyết này là Popkin Nghiên cứu về sinh kế của người nông dân Việt, Popkin cho rằng, người nông dân luôn lựa chọn cái mà họ tin là sẽ có được những lợi ích như dự định và mong đợi Khi có được nguồn thu vượt ra ngoài mức ổn định đã có, người nông dân sẽ đem phần dư thừa ra đầu tư, vì mỗi người luôn muốn có nguồn thu nhiều hơn để đề phòng những rủi ro có thể đến

và để được ngang bằng hoặc “vượt lên” so với những người có địa vị kinh tế cao hơn và khoản đầu tư đó không đe dọa đến tiềm lực kinh tế mà người đó đang có Với tính cách này, người nông dân được Popkin xem là những cá nhân duy lí [110] Trong khi Scott (1976) cùng các nhà kinh tế đạo đức khác cho rằng, làng với tư cách một thiết chế giảm thiểu rủi ro cho các thành viên,

là một cộng đồng đoàn kết [113], thì Popkin, tuy vẫn thừa nhận có sự hợp tác giữa các nhóm nhỏ và các thành viên của làng nhằm đạt được những lợi ích tập thể, nhưng bên cạnh đó, theo ông, là rất nhiều sự mâu thuẫn nảy sinh liên quan đến lợi ích cá nhân Mặt thứ hai được nhìn nhận là biểu hiện của tính duy lí trong quan hệ xã hội ở làng

Ngoài Popkin, những người ủng hộ thuyết duy lý còn có thể kể đến là Homans Ông cho rằng, khi có nhiều lựa chọn, mỗi cá nhân sẽ “dừng lại” ở cách được coi là có xác suất thành công cao nhất Homans còn coi thuyết duy

lí là lí thuyết trao đổi, bởi sự lựa chọn của con người luôn được đặt trong các mối quan hệ và mỗi người luôn quan tâm đến việc đạt được những gì (về vật chất hoặc tinh thần) trong các quá trình tương tác (hay trao đổi về kinh tế và trao đổi về xã hội) với các cá nhân khác, các nhóm xã hội bao trùm hơn [102]

Một học giả khác theo thuyết duy lý là Blau Trong Exchange and Power in Social Life (Trao đổi và quyền lực trong đời sống xã hội) [96], ông

cho rằng, trao đổi xã hội có chức năng tạo ra mối quan hệ quyền lực giữa các bên tham gia trao đổi xã hội (trong sự so sánh với trao đổi kinh tế) là có giá

Trang 29

trị tự thân, các bên tham gia đều cố gắng gây ấn tượng tốt với nhau và có sự thỏa thuận ngầm giữa các bên

Luận án vận dụng thuyết duy lý của người nông dân để lý giải vì sao những người nông dân ở các làng lại chọn nghề này mà không chọn nghề nọ, hoặc một (hay một số nghề) nghề lại được phân bố ở làng, vùng này, mà không ở các làng, vùng khác

Lý thuyết thứ hai được sử dụng trong luận án là lý thuyết về mạng xã hội Góc nhìn về mạng xã hội là một trong những cách tiếp cận cụ thể về vốn

xã hội, hay vốn xã hội được nhìn nhận gắn với dạng thức liên kết của các quan hệ xã hội: liên kết trong nội bộ (bonding), hoặc bắc cầu (bridging) của nhiều học giả mà đại diện là Bourdieu, Coleman, Portes …,

với nội dung chủ đạo là con người có thể sử dụng các quan hệ xã hội để tìm kiếm lợi ích Lý thuyết về mạng xã hội, đại diện là Burt, Portes và Sensenbrenner coi xã hội là một cấu trúc của nhiều cá nhân hoặc tổ chức liên kết, tập hợp con người thành các cộng đồng, các nhóm quan hệ phụ thuộc, chi phối lẫn nhau, như liên kết theo quan hệ thân tộc và hôn nhân (gia đình, dòng họ), quan hệ cư trú (quan hệ láng giềng trong một làng hay mở rộng ra vùng lãnh thổ hoặc liên/xuyên quốc gia, quan hệ theo tuổi tác, theo nghề nghiệp, sở thích, theo tín ngưỡng - tôn giáo hoặc theo địa vị xã hội… Các quan hệ giữa các cá nhân hay nhóm trong mạng lưới gọi là các “nút”, gắn liền với nhau tạo thành mạng lưới liên kết, có tính mở, luôn tác động ảnh hưởng đến nhau Các

cá nhân trong mạng lưới có nhu cầu trao đổi thông tin, từ đó có phương cách tiếp cận thông tin khác nhau Mỗi cá nhân lại như là một cầu nối, tạo thành những liên kết rộng lớn vượt qua khuôn khổ một gia đình, một cộng đồng, nhất là từ khi công nghệ thông tin phát triển như ngày nay Đối với các cư dân tiền công nghiệp, do điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém nên cộng đồng làng

là sự thể hiện tập trung nhất sự liên kết dựa trên cơ sở cùng cư trú và lợi ích

Trang 30

Luận án vận dụng lý thuyết mạng lưới xã hội để xử lý các vấn đề liên quan đến hoạt động nghề làm giầy da ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ Trong làm nghề thủ công cũng như trong hoạt động kinh tế nói chung, muốn duy trì

và phát triển nghề, đảm bảo và gia tăng lợi nhuận, người làm nghề phải thiết lập các mối quan hệ, gồm quan hệ trong quá trình làm nghề (với nơi cung cấp nguyên liệu, nơi tiêu thụ sản phẩm, với đội ngũ nhân công) và quan hệ ngoài quá trình làm nghề (hay các quan hệ “bắc cầu”)

Lý thuyết mạng lưới xã hội còn được nghiên cứu sinh vận dụng để xem xét thực trạng và vai trò của mạng lưới xã hội đối với các hoạt động làm nghề giày da ở hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ Cụ thể, là người sản xuất, kinh doanh

đã huy động và sử dụng mạng lười xã hội (các quan hệ gia đình, dòng họ, bạn

bè, hay của chung cộng đồng làng) được sử dụng như thế nào trong tạo lập nguồn vốn, tìm nhân công, xây dựng được thương hiệu cho sản phẩm và tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm để phát triển nghề ở làng và phát triển nghề đi nơi khác, từ làng nghề thành xã nghề - vùng nghề:

1.2.2.2 Cách tiếp cận

Luận án được thực hiện từ cách tiếp cận nghiên cứu về nghề thủ công

và làng nghề Người đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và “bài bản”

về nghề thủ công và làng nghề của người Việt ở châu thổ Bắc Bộ là Nhà Địa

lý học Pièrre Gourou Trong tác phẩm nổi tiếng Người nông dân châu thổ Bắc

Kỳ, ông dành chương II của Phần thứ hai “Phương tiện sống của nông dân

Bắc Kỳ” để trình bày các nghề thủ công ở vùng đất này mà ông gọi là “Công nghiệp làng xã” Qua hơn 80 trang (từ trang 406 - 487), những khảo tả của tác giả lộ ra nhiều khía cạnh lý thuyết khi nghiên cứu nghề thủ công làng xã của một vùng Đó là:

- Sự phân bố “cư dân công nghiệp” gắn với sự hình thành và tồn tại của

Trang 31

các nghề thủ công, đồng nghĩa với việc hình thành các vùng nghề (hình thái chung, các trung tâm chính như Hà Đông và các trung tâm phụ cận và các trung tâm khác như Sơn Tây, Hải Dương, Thái Bình);

- Các loại hình công nghiệp, tức các loại hình nghề thủ công, được P.Gourou phân thành các công nghiệp dệt, công nghiệp thực phẩm, đan lát, công nghiệp gỗ và các công nghiệp khác) Mỗi loại hình công nghiệp được chỉ rõ chỉ rõ các nghề cụ thể, số lượng thợ, các làng có nghề, đặc điểm và vị trí một số làng nghề điển hình;

- Các nhân tố tác động đến phân bổ công nghiệp, gồm phân bố định lượng, tức tại sao ở châu thổ Bắc Kỳ, có những vùng có nhiều “công nghiệp” hơn các vùng khác và phân bố định tính, tức vì sao một nghề chỉ có ở làng

này mà không có ở làng khác Cả hai sự phân bố đều có liên quan đến các nhân tố: dân số, điều kiện tự nhiên, giao thông, bản thân nền kinh tế nông nghiệp, nguồn nguyên liệu và nguồn gốc của nghề) Đó là cáí nhìn rất biện chứng của học giả;

- Tính chất (đặc điểm) của công nghiệp nông thôn, được P.Gourou chỉ

ra là nền công nghiệp gia đình, công nghiệp nhân công, các khía cạnh của phân công lao động, nguyên nhân của phân công lao động, khuynh hướng chuyên môn hóa và độc quyền);

- Vấn đề cuối cùng từ cách tiếp cận mang tính lý thuyết khi nghiên cứu nghề thủ công được Pièrre Gourou bàn đến là “sự tiến hóa của công nghiệp làng”, tức sự tồn tại và phát triển của các nghề, các yếu tố tác động đến sự

“biến mất” của một số nghề những “công nghiệp mới”, tức các nghề mới xuất hiện Hiện tượng này ngày nay được gọi là nghiên cứu “truyền thống và biến đổi của nghề thủ công”; trong đó Pièrre Gourou đề cao vai trò của chính phủ

và sự năng động của cộng đồng cư dân làm nghề [23]

Trang 32

Có thể nói, chương sách của Pièrre Gourou là một trong những ví dụ tương đối điển hình về cách tiếp cận khi nghiên cứu nghề thủ công; được nhiều người trong giới Dân tộc học, Văn hóa Dân gian vận dụng vào nghiên cứu nghề thủ công ở các địa phương Có thể nêu một số tác phẩm đã vận dụng

cách tiếp cận này, như cuốn Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi, do Bùi Xuân Đính chủ biên, nghiên cứu về huyện

Thanh Oai - huyện có nhiều nghề thủ công nhất miền Bắc [17], hay luận án

Biến đổi của làng nghề thủ công truyền thống Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội của Đỗ Ngọc Yến, nghiên cứu về làng Triều

Khúc, làng có nhiều nghề thủ công nhất ở tỉnh Hà Đông xưa, cũng như trên phạm vi toàn miền Bắc [95]

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng chỉ ra những khiếm khuyết trong tác phẩm của Pièrre Gourou Đó là, mới nghiên cứu trên đại cục, thiếu cái nhìn từ những làng nghề cụ thể, từ đó, nhiều khía cạnh của nghề không được quan tâm thỏa đáng Trên cơ sở đó, giới Dân tộc học và Văn hóa học Việt Nam đã bổ sung và hoàn chỉnh những vấn đề về các nội dung khi nghiên cứu về một nghề thủ công Đó là:

- Lai lịch của nghề

- Phân bố nghề trong vùng

- Nguồn nguyên liệu

- Quy trình kỹ thuật của nghề

- Tổ chức sản xuất, phân công lao động

- Sản phẩm (loại hình và đặc trưng, giá trị)

- Tiêu thụ sản phẩm

- Thu nhập của người làm nghề

Trang 33

- Vị trí của nghề và làng nghề đối với các làng trong vùng

- Tổ chức xã hội, tín ngưỡng của những người làm nghề

- Tác động của nghề với các khía cạnh văn hóa, xã hội, lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng của làng nghề

- Con người làm nghề và làng nghề (đặc điểm, tâm lý, tính cách)

- Biến đổi của làng nghề hiện nay

(Các dòng in nghiêng là các vấn đề không được Pièrre Gourou bàn đến,

đã giới Dân tộc học và Văn hóa học Việt Nam phát triển, trở thành những vấn

đề về lý thuyết về nghiên cứu làng nghề)

Cách tiếp cận và những nội dung trên đây đang được số đông các nhà nghiên cứu vận dụng để thực hiện các đề tài về nghề thủ công và làng nghề,

cả làng nghề truyền thống cũng như làng nghề hiện đại, các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh vận dụng để làm khóa luận, luận văn, luận án

về đề tài này Có thể nêu một số tác phẩm tiêu biểu, như Bát Tràng - làng nghề, làng văn do Bùi Xuân Đính chủ biên [19], Làng nghề kim khí - mộc dân dụng Đại Tự (xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội của Nguyễn

Đình Phúc nghiên cứu về làng mới du nhập nghề làm két bạc thời kỳ công nghiệp hóa [60]

Các công trình trên đây đã giúp cho nghiên cứu sinh không chỉ có những kiến thức cơ bản về nghề và làng nghề, mà còn chỉ ra các hướng nghiên cứu, chỉ ra các phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sinh đã cố gắng tới mức cao nhất trong vận dụng các cách tiếp cận cũng như các phương pháp trên để tìm hiểu về nghề làm giày da ở hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ; vận dụng các kiến thức, kiến giải để lý giải các thông tin, tư liệu về nghề ở địa bàn được nghiên cứu

Trang 34

1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý, đường giao thông

Hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ nay thuộc xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội Từ trung tâm thành phố Hà Nội, theo Quốc lộ 1A, qua thị trấn Phú Xuyên khoảng 5 km, đến Cầu Giẽ, rẽ phải vào đường 428A,

du khách bước vào địa phận làng Giẽ Hạ, tiếp nối là làng Giẽ Thượng

Về địa dư, hai làng Giẽ nối tiếp nhau trên một triền đất cao, trải dài 2 km dọc sông Mang Giang và Đường tỉnh 428A Phía Bắc tiếp giáp các làng Ứng

Cử, Cựu, Chản (xã Vân Từ), phía Nam giáp các làng Tư Can, Trung Thôn, Dâu (xã Châu Can), phía Đông giáp Quốc lộ 1A, phía Tây giáp các làng Thần, Bùng, Cầu, Nam Chánh (xã Minh Đức, huyện Ứng Hòa)

Hai làng Giẽ nằm trên vị trí thuận lợi giao thông thủy bộ Về đường bộ, đầu làng Giẽ Hạ ở phía Đông là Quốc lộ 1A, con đường huyết mạch của đất nước, ra Bắc, vào Nam đều tiện lợi Tại điểm Cầu Giẽ trên Quốc lộ này có Đường tỉnh 428A chạy dọc hai làng theo hướng Tây qua cống Thần, tới đền

Ba Sa là nơi hội tụ của ba dòng sông: sông Nhuệ, sông Sa, sông Châu Từ đây

có thể đến thị trấn Vân Đình (huyện Ứng Hòa), theo Quốc lộ 22 về Hà Đông -

Hà Nội; hoặc đi tiếp về phía Tây theo Quốc lộ 6 lên Hòa Bình, Sơn La

Về đường thủy, có sông Măng Giang chảy dọc hai làng, song song với Đường tỉnh 428A Theo sông này, ngược về phía Tây qua cống Thần đến đền

Ba Sa - nơi hội tụ của ba dòng sông: Đáy, Châu Giang và Nhuệ Từ đây theo sông Nhuệ đến ranh giới giữa hai huyện Phú Xuyên và Thường Tín ở Phượng Dực-Đồng Quan; qua các làng Nghiêm Xá, Liễu Xuyên, Cống Xuyên, ngã ba chùa Đậu gặp ngã ba sông Kim Ngưu và sông Nhuệ Đến đây, ngược dòng sông khoảng 15 km là tới đầm Yên Duyên- Sở Thượng, Văn Điển… để đi vào Thăng Long Xuôi dòng Mang Giang về phía Đông qua cầu Giẽ đến Trác Bút

Trang 35

(huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam), sông đổ vào sông Hồng ở tại điểm Tắc Giang, từ đây có thể ngược lên Thăng Long hoặc xuôi về phía Nam

Như vậy, hai làng Giẽ ở vị trí rất thuận lợi về giao thông thủy bộ, lại gần Kinh đô Thăng Long xưa, Thủ đô Hà Nội ngày nay, tạo điều kiện cho hai

làng Giẽ giao lưu kinh tế - văn hóa (xem ảnh Bản đồ xã Phú Yên)

Xã Phú Yên thuộc vùng Trung Tây và Tây Nam gồm các xã: Chuyên

Mỹ, Tân Dân, Châu Can, Vân Từ, Phú Yên) - vùng đất thấp nhất của huyện Phú Xuyên - huyện có cốt đất thấp nhất trong toàn tỉnh Hà Tây (trước đây) Nơi đất cao trung bình chỉ hơn mặt biển chưa đầy hai mét, nơi thấp khoảng một mét Thêm nữa, trước năm 1930, hai sông Nhuệ và Kim Ngưu vây quanh

xã Phú Yên và nhiều xã vùng Trung Tây và Tây Nam huyện hầu như không

có đê, chỉ có bờ đất thấp Địa hình thấp trũng kết hợp với sông ngòi nhiều làm cho hai làng Giẽ cùng các làng trong huyện Phú Xuyên như một “rốn hứng nước” Hàng năm, vào mùa mưa, nước dâng lên, tràn vào đồng ruộng, cùng các trận mưa lớn, nước ở các nơi dồn về và đọng lại đã gây ra úng thủy, gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp, cũng như cho các mặt đời sống, Có thể coi vùng đất Trung Tây và Tây Nam Phú Xuyên là “mũi nhọn” của cảnh “sống ngâm da, chết ngâm xương” xưa đã được dân gian đúc kết Đây cũng có thể coi là một trong những vùng trũng nhất châu thổ Bắc Bộ

Năm 1937, chính quyền thuộc địa Pháp cho nắn lại đoạn sông Nhuệ ở khu vực các xã Văn Hoàng và Tri Trung ngày nay, cho thẳng vào quãng hạ nguồn, nhằm khắc phục phần nào nạn úng thủy nghiêm trọng thường xảy ra cho cả huyện Tuy nhiên, kết quả này rất hạn chế

1.3.2 Vài nét về lịch sử hình thành làng và địa lý hành chính

Hai làng Giẽ Thượng và Giẽ Hạ nằm kề cận khu mộ cổ Châu Can, nơi phát hiện được những chiếc quan tài được làm bằng thân cây khoét rỗng, bổ

Trang 36

dọc, nửa dày làm thân, nửa mỏng làm nắp quan tài, có hình thù giống như chiếc thuyền, nên gọi là mộ quan tài hình thuyền Khu mộ có niên đại khoảng cuối thế kỷ III đến đầu thế kỷ II trước Công nguyên, thể hiện một loại hình mai táng độc đáo Giới khảo cổ học quen gọi đây là loại mộ thuyền, một trong những đặc trưng cơ bản của Văn hóa Đông Sơn Trong các mộ còn phát lộ lần đầu tiên chiếc lao với cán tre còn nguyên dạng, những chiếc rìu xéo lắp cán

gỗ, trong đó một đầu cán rìu đẽo gọt theo dáng dấp hình đầu chim trên trống đồng của văn hóa Đông Sơn được phát hiện, chứng tỏ quá trình người Việt cổ thời kỳ này đứng trước các biến cố mới của sự thay đổi môi trường đã từ vùng trung du chuyển xuống sinh sống ở vùng thấp trũng gần sông nước, ao hồ của châu thổ Bắc Bộ [66] Cách Phú Yên không xa là làng Hoàng Hạ (xã Văn Hoàng), nơi phát hiện trống đồng Hoàng Hạ, thạp đồng và một số loại công

cụ bằng đồng

Cùng với những đặc điểm trên, ở nhiều làng xung quanh hai làng Giẽ,

ngoài tên nôm của làng còn gắn với từ “Kẻ” như Kẻ Guột (xã Phúc Tiến), Kẻ Dực (xã Phượng Dực), Kẻ Quán (xã Hồng Minh), Kẻ Sộp, Kẻ Trể (xã Tri

Trung) v.v Theo các nhà Ngôn ngữ học và Dân tộc học, những làng có tên Nôm gắn với từ “Kẻ” là những làng cổ, hình thành từ trước hoặc trong thời đại các Vua Hùng dựng nước [86]

Ngoài tư liệu về khảo cổ học và tên làng, tính cổ xưa của hai làng giẽ Thượng và Giẽ Hạ còn được chứng minh bằng việc thờ thần Hai làng cùng với các làng Bùng, Cầu, Thần, cùng thờ Quảng Bác đại vương - vị thần gắn với thời kỳ các Vua Hùng dựng nước

Các tư liệu trên cho phép chứng minh hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ nằm trong vùng cư trú từ xa xưa; chứng minh quá trình chinh phục của người Việt cổ đối với vùng trũng nhất châu thổ Bắc Bộ

Trang 37

Theo lưu truyền dân gian, xa xưa, hai làng Giẽ Thượng, Giẽ Hạ gọi chung là trại Phúc Trang, rồi đổi thành trại Tĩnh Phúc, đến thế kỷ thứ XVI gọi

là Thịnh Phúc xã, chia làm hai thôn, dân gian thường gọi là Thượng thôn (Giẽ Thương) và Hạ thôn (Giẽ Hạ)

Đến đầu thời Nguyễn, tên “Thịnh Phúc” được thay bằng “Thịnh Đức” Giẽ Thượng và Giẽ Hạ cùng 14 thôn - làng khác trong vùng được thiết lập thành hai xã:

- Xã Thịnh Đức gồm tám thôn - làng: Thịnh Đức Thượng (tức Giẽ Thượng), Thịnh Đức Hạ (Giẽ Hạ), Thịnh Đức Thần (làng Thần), Thịnh Đức Cầu (làng Cầu), Thịnh Đức Phùng (làng Bùng), Nam Chánh, Quan Trâm, Giới Đức và phường thủy cơ Thủy Phú

- Xã Chuyên Mỹ, gồm tám thôn (làng): Trung, Thượng, Hạ, Ngọ, Kim Lũng, Bối Khê, Nhị Khê, Đồng Bông

Hai xã cùng thuộc tổng Thịnh Đức, huyện Phú Xuyên phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng Đến năm Tân Mão đời Minh Mệnh, thuộc tỉnh Hà Nội (năm 1902 đổi thành tỉnh Cầu Đơ, năm 1904 đổi thành tỉnh Hà Đông)

Sang thế kỷ XX, theo sách Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của

Ngô Vi Liễn, các thôn làng thuộc hai xã Thịnh Đức và Chuyên Mỹ được nâng thành xã, nên tổng Thịnh Đức được chia thành hai tổng:

- Tổng Thịnh Đức Thượng gồm các xã mới là các thôn - làng thuộc xã Chuyên Mỹ cũ;

- Tổng Thịnh Đức Hạ gồm các xã mới là các thôn - làng thuộc xã Thịnh Đức cũ, trong đó có xã Thịnh Đức Thượng và Thịnh Đức Hạ

Các xã, tổng đều thuộc huyện Phú Xuyên, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông Từ năm 1918 trở đi, theo quy định của triều đình Khải Định, cấp huyện

Trang 38

ngang bằng cấp phủ, nên Phú Xuyên là huyện độc lập, không phụ thuộc phủ Thường Tín) [49]

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, cấp tổng và cấp phủ bị xóa bỏ, sáp nhập các làng Thịnh Đức Thượng, Thịnh Đức Hạ và Thủy Phú thành xã Thịnh Phú Năm 1948 xã Thịnh Phú nhập với xã Thượng Yên thành xã Phú Yên Năm 1950, xã Phú Yên nhập với xã Vân Từ thành xã Trần Phú

Sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất 1956 - 1957, xã Vân Từ được chia thành hai xã Phú Yên và Vân Từ Xã Phú Yên gồm bốn thôn là Giẽ Thượng, Giẽ

Hạ, Thủy Phú, Thượng Yên, thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông; sau đó lần lượt thuộc các tỉnh: Hà Tây ((năm 1965), Hà Sơn Bình (1975 - 1991), Hà Tây (1991- 2008) Từ tháng 8 - 2008 đến nay, Phú Yên cùng các xã huyện Phú Xuyên thuộc thành phố Hà Nội

Về dân cư, trước thế kỷ XX không có số liệu dân cư của các làng Đến năm 1926, theo Ngô Vi Liễn, xã Thịnh Đức Hạ (tức làng Giẽ Hạ) có 911 người dân [50, tr 454] - bằng dân số trung bình một làng ở châu thổ Bắc Bộ theo số liệu của Pièrre Gourou [23, tr 223], xã Thịnh Đức Thượng (làng Giẽ Thượng) chỉ có 454 người dân [50, tr 454]

Sau gần 90 năm, dân số hai làng tăng lên đáng kể Theo số liệu thống

kê năm 2017, làng Giẽ Thượng có 470 hộ, 1.560 nhân khẩu; làng Giẽ Hạ có

Trang 39

Thanh Liêm, Bình Lục, thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam) Địa hình trên khiến cho đồng ruộng quanh năm nổi nước, trong đó từ tháng 5 đến cuối tháng 9, nước ngập mênh mông, không thể cấy trồng được Chỉ từ sau Rằm tháng Tám (khoảng cuối tháng 9 dương lịch), nước rút, người dân mới tiến hành gieo cấy

vụ chiêm (tháng Chín gieo mạ, tháng Một và tháng Chạp cấy, đầu tháng Tư, tức khoảng đầu tháng 5 dương lịch thu hoạch) Vụ sản xuất chính là vụ chiêm Việc canh tác được thực hiện trong điều kiện trâu cày lội đến ức, cày bừa phải cắm vè, đi gặt phải dùng thuyền Sự vất vả trong canh tác lúa ở đây được cư

dân đúc kết “Cấy cắn răng, gặt há mồm” Cây lúa sống trong môi trường đó

cho năng suất thấp và bấp bênh Theo các bậc cao niên trong các làng, trước năm 1954, mỗi sào ruộng cấy những giống lúa chịu được với môi trường úng trũng chỉ cho 4 - 5 thùng thóc (thùng gỗ, mỗi thùng 13 kg) Những năm thời tiết thất thường, nước úng trong đồng rút chậm phải cấy muộn; những năm trời lạnh kéo dài sang giữa tháng Ba, lúa trỗ không đúng tiết, năng suất giảm

rõ rệt; hay những năm mùa mưa đến sớm, lúa chưa chín, nước đã nổi trắng đồng, không kịp gặt, công sức gieo trồng, chăm sóc cả vụ mất trắng, lúa chiêm trở thành “chiêm bao” [39, trang 101- 105] Để có thêm nguồn thu, dân làng phải làm thêm các nghề phụ, như hàng xay, hàng xáo, chạy chợ, làm mộc, ngõa Vào đầu thế kỷ XX, một số người ra Hà Nội làm thuê, trong đó, một số người học được nghề làm giầy da - như sẽ trình bày ở mục sau

Từ giữa thập niên 1970 trở đi, công cuộc thủy lợi hóa cơ bản hoàn thành, làm thay đổi toàn bộ diện mạo đồng ruộng hai làng Giẽ cũng như toàn huyện Phú Xuyên Cảnh úng, trũng đã lùi về quá khứ Đồng ruộng đã cấy được hai vụ lúa và một vụ màu, kết hợp với việc từng bước đưa các giống cây trồng có năng suất cao vào gieo trồng, tạo ra sự nhảy vọt về sản lượng lương thực Từ năm 2000 trở đi, thu nhập từ nông nghiệp không còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, không giữ vai trò chi phối các mặt hoạt động của đời

Trang 40

sống; chỉ có một bộ phận sống bằng nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Dân hai làng chuyển mạnh sang tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch

vụ, trong đó, nghề làm giày da thu hút phần lớn lực lượng lao động

1.3.3.2 Tổ chức làng xã

Tổ chức làng xã truyền thống của Giẽ Thượng và Giẽ Hạ về cơ bản theo mô hình của làng Việt ở châu thổ Bắc Bộ, gồm các thiết chế: dòng họ, xóm - ngõ, giáp, kỳ mục, chức dịch và các phường hội

Thiết chế xóm ở hai làng được xác định trên cơ sở các ngõ Mỗi xóm

có thể có từ một đến nhiều ngõ, tùy đặc điểm địa hình của khu vực dân cư

Làng Giẽ Thượng có hai xóm: xóm Trong (hay xóm Dọc) và xóm Ngoài (xóm Đình), cách nhau bởi con mương nối sông Nhuệ với đồng ruộng

Làng Giẽ Hạ đông dân bằng hai lần so với làng Giẽ Thượng, nên có năm xóm: Đông Giềng, Đình, Ngõ Cái, Ngõ Giữa và Đông Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, cắt xóm Đông Giềng về thôn Giẽ Thượng

Theo các cụ cao niên kể lại, thuở ban đầu, hai làng Giẽ tập trung tại vị trí xóm Đông Giềng làng Giẽ Thượng và xóm Đình làng Giẽ Hạ Hai xóm dân cư sát nhau, được phân định bằng một con ngõ nên người nơi khác đến

Ngày đăng: 07/05/2019, 12:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w