1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tieu luan giải quyết khiếu nại của công dân về thông báo số 305 ngày 3102016 của chi cục thi hành án dân sự tp bắc ninh

20 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 108 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giải quyết khiếu nại của công dân về thông báo số 305 ngày 3102016 của chi cục thi hành án dân sự tp bắc ninh giải quyết khiếu nại của công dân về thông báo số 305 ngày 3102016 của chi cục thi hành án dân sự tp bắc ninh giải quyết khiếu nại của công dân về thông báo số 305 ngày 3102016 của chi cục thi hành án dân sự tp bắc ninh

Trang 1

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU 2

1.Lý do chọn tình huống 2

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

PHẦN 1: MÔ TẢ TÌNH HUỐNG 4

1 Thời gian xảy ra tình huống 4

2 Diễn biến của tình huống 4

PHẦN 2: PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG 8

1 Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý 8

2 Phân tích tình huống 9

PHẦN 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG 11

1 Mục tiêu xử lý tình huống 11

2 Đề xuất phương án giải quyết tình huống 13

3.Lựa chọn phương án xử lý tình huống 15

4 Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án, giải pháp xử lý 16

5 Kiến nghị và đề xuất 16

III KẾT LUẬN 18

I MỞ ĐẦU

Trang 2

1.Lý do chọn tình huống

Căn cứ vào nội dung, chúng ta có thể phân chia thi hành án thành năm loại hình cơ bản gồm thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, thi hành án kinh

tế, thi hành án lao động, thi hành án hành chính Tuy nhiên, trong các văn bản luật có liên quan như Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật Thi hành

án dân sự năm 2008, Luật Tố tụng hành chính năm 2010, các khái niệm thi hành án dân sự, thi hành án kinh tế, thi hành án lao động, thi hành án hành chính cũng không được định nghĩa cụ thể Luật Thi hành án hình sự năm 2010 chỉ định nghĩa thi hành án hình sự theo từng hình phạt cụ thể ví dụ như: thi hành án tử hình, thi hành án treo mà cũng không có định nghĩa tổng quát chung về thi hành án hình sự

Thi hành án dân sự là việc đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền ra thi hành trên thực tế Việc đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật ra thi hành dứt điểm, sẽ làm phát sinh hiệu lực của Bản án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người dân và thông qua đó tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật

Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi Hiến pháp 2013 khẳng định: "Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”

Thi hành án dân sự là một bước cuối cùng trong hoạt động tố tụng dân sự

Và trên thực tế hoạt động Thi hành án dân sự chưa được quan tâm chú ý tới một cách đúng mực Điều này có thể được lý giải bởi rất nhiều người trong chúng ta đã nghĩ một cách đơn giản rằng khó khăn chủ yếu tập trung ở giai

Trang 3

đoạn điều tra, xét xử còn thi hành án thì cứ theo Bản án, quyết định mà làm Nhưng thực tế không phải như vậy Trong thi hành án dân sự liên quan đến rất nhiều mối quan hệ xã hội, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, như quan hệ hôn nhân gia đình, bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự trong đó có một lĩnh vực rất phổ biến, giá trị tranh chấp rất lớn, việc giải quyết tranh chấp đảm bảo quyền lợi của các bên khó khăn, phức tạp đó là tranh chấp hợp đồng vay tài sản Qua thực tiễn công tác tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh bằng những kinh nghiệm thực tiễn và quá trình học tập, nghiên

cứu lớp bồi dưỡng , tôi mạnh dạn lựa chọn tình huống “giải quyết khiếu nại của công dân về thông báo số 305 ngày 3/10/2016 của chi cục Thi hành án dân sự Tp Bắc Ninh ”

Dù đã cố gắng, nhưng chắc hẳn bài viết còn nhiều thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn

Phạm vi nghiên cứu: Trên địa bàn thành phố Bắc Ninh tỉnh B

Trang 4

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

PHẦN 1: MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

1 Thời gian xảy ra tình huống

Ngày 12/12/2012 Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh , tỉnh B mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 31/TLST-DSST ngày 15/11/2012 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

2 Diễn biến của tình huống

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2017/QĐXX-ST ngày 25/09/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn A, xã P, thành phố Bắc Ninh, tỉnh B

- Bị đơn: Chị Trần Thị Phương H, sinh năm 1976

Đại chỉ: Thôn D, xã P, thành phố Bắc Ninh, tỉnh B

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Xuân T

- Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Nguyễn xuân Dư

2- Ông Nguyễn Mạnh P

- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn T - Cán bộ Toà án

Nhận thấy:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/09/2017 và bản tự kê khai đề ngày 15/09/2012, nguyên đơn là chị Phạm Thị L trình bày:

Trang 5

Chị có cho chị Trần Thị Phương H, sinh năm 1976 ở thôn D, xã P, thành phố Bắc Ninh, tỉnh B vay tổng cộng số tiền là 1.760.000.000đồng, cụ thể các lần vay:

+ Lần 1, ngày 15/9/2016, chị L cho chị H vay 500.000.000đổng;

+ Lần 2, ngày 15/10/2016, chị L cho chị H vay 1.260.000.000đồng

Với lãi suất đề là 2%/tháng và đều không có thời hạn thanh toán

Nay chị có việc cần sử dụng số tiền trên, chị đã nhiều lần yêu cầu chị H trả nhưng chị H không trả Nay chị L đề nghị Toà án giải quyết buộc chị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho chị L số tiền 1.760.000.000đồng còn nợ và không có yêu cầu về lãi suất Ngoài ra, chị L không có yêu cầu nào khác Tại bản tự khai ngày 15/09/2017, bị đơn là chị Trần Thị Phương H xác định là có vay của chị Phạm Thị L tổng số tiền là 1.760.000.000đồng Nhưng

do hoàn cảnh khó khăn nên hiện tại chị Hải không thể trả chị Liên số tiền này Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải đối với hai bên

về thời hạn thanh toán cũng như phương thức thanh toán nhưng không thành Chị Phạm Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: Chị Phạm Thị L và chị Trần Thị Phương H là chỗ quen biết Vào các ngày 15/9/2016 và ngày 15/10/2016, chị Liên có cho chị Hải vay tổng số tiền 1.760.000.000đồng, với lãi suất 2%/tháng và không có thời hạn trả Hai bên có viết giấy biên nhận Nay chị L có việc cần sử dụng đến số tiền trên, mặc dù chị đã nhiều lần yêu cầu chị H trả chị số tiền trên, nhưng chị H không trả Nay chị L đề nghị Toà án giải quyết buộc chị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho

Trang 6

chị L số tiền 1.760.000.000đồng còn nợ và không có yêu cầu về lãi suất Ngoài ra, chị L không có yêu cầu gì khác

Tại phiên toà, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu chị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho chị số tiền 1.760.000.000đồng, chị không yêu cầu về lãi suất Chị H xác định còn nợ chị L số tiền 1.760.000.000đồng nhưng do hiện tại hoàn cảnh kinh tế của chị khó khăn nên chưa thể thanh toán cho chị L số tiền này trong (02) hai năm tới được Chị đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật và tính lại lãi suất tiền vay của chị L vì theo chị H tiền lãi quá cao

Xét thấy, việc vay nợ giữ chị L và chị H là có thật Việc chi L yêu cầu chị

Hi phải có nghĩa vụ thanh toán trả chị số tiền 1.760.000.000đồng còn nợ và không tính lãi suất, xét thấy là hợp pháp nên cần được chấp nhận

Tại phiên toà, chị H xuất trình giấy vay nợ lãi suất cao 1.750đồng/1 triệu/ ngày ghi ngày 15/9/2016 nhưng việc đó chưa xảy ra và cũng trong ngày chị H

ký vay nợ với lãi suất 2%/tháng, nhưng từ khi hai bên đương sự xác lập vay tiền vào các ngày 15/9/2016 và ngày 15/10/2016 giữa chị L và chị H chưa thực hiện việc tính lãi suất Nay, chị Liên không yêu cầu lãi suất đối với số tiền chị H vay nợ, nên không chấp nhận yêu cầu của chị Hải về việc tính lại lãi suất Còn một số giấy tờ ghi lãi suất có ký nhận giữa chị L và chị H không rõ thời điểm nào, số tiền tính lãi là bao nhiêu và thanh toán lãi ở số nợ nào nên việc chị H yêu cầu tính lãi suất trên số tiền vay chị L là không có căn cứ chứng minh Nên bác yêu cầu này của chị H

Về án phí:Chi cục thi hành án dân sự Tp Bắc Ninh ra quyết định số 305 ngày 3/10/2017 về việc: Chị Trần Thị Phương H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định Trả chị Phạm Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp

Toà án quyết định

Trang 7

Áp dụng: Điều 471, Điều 474; Điều 477 của Bộ Luật Dân sự; Điều 25; Điều 131 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Pháp lệnh về án phí, lệ phí Toà án của

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009

Xử: Buộc chị Trần Thị Phương H phải có nghĩa vụ thanh toán trả chị

Phạm Thị L số tiền 1.760.000.000đồng (Một tỷ bảy trăm sáu mươi triệu đồng chẵn).

Kể từ ngày 3/10/2017 thông báo số 305 người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người có nghĩa vụ phải thi hành còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước quy định trên số tiền chưa thi hành án và tương ứng với thời gian chậm thi hành án

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

- Bác yêu cầu của chị Trần Thị Phương H về việc tính lại lãi suất

Về án phí: Chị Trần Thị Phương H phải chịu 64.800.000 đồng tiền án phí DSST

Trả lại chị Phạm Thị L 30.000.000đồng tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo Biên lai thu số BN/2017/003977 ngày 15/10/2017 của Chi cục thi hành

án thành phố Bắc Ninh

Thông báo cho nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

Trang 8

PHẦN 2: PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

1 Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý.

Quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau Việc giải quyết vụ việc dân sự tại Toà án tuy rất quan trọng nhưng thực ra mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Trong giai đoạn này, Toà án mới chỉ làm rõ các tình tiết của vụ việc dân sự và áp dụng các quy phạm pháp luật quyết định quyền và nghĩa vụ của các đương sự Quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đã được Toà án quyết định muốn trở thành hiện thực thì phải thông qua việc thi hành án Do vậy, đã có quan điểm cho rằng: “Bản án, quyết định của Toà án như là “bản vẽ” hay là “bài lý thuyết” mang tính hướng dẫn còn việc tổ chức thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự là “người thợ xây” hay là hoạt động đưa bài lý thuyết đó thực hành trên thực tế

Tình huống này được áp dụng các văn bản pháp luật như sau:

- Bộ luật dân sự năm 2015;

- Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014; -Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự;

-Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự;

-Luật đất đai năm 2013;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định

về hướng dẫn thi hành Luật đất đai

Trang 9

2 Phân tích tình huống

Khi Bản án nêu trên có hiệu lực pháp luật Ngày 01/10/2017 Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố nhận được đơn yêu cầu thi hành án của chị Phạm Thị L, địa chỉ: Thôn A, xã P, thành phố Bắc Ninh, tỉnh B Nội dung đơn: Yêu cầu chị Trần Thị Phương H, địa chỉ: Thôn D, xã P, thành phố Bắc Ninh, tỉnh B phải có nghĩa vụ thanh toán cho chị số tiền 1.760.000.000đồng và lãi suất chậm thi hành án theo quy định của pháp luật

Ngày 11/10/2017 Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh B, đã ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 17/QĐ-CCTHA ngày 11/10/2017

Về khoản: Chị Trần Thị Phương Hải phải trả nợ cho chị Phạm Thị L số tiền 1.760.000.000 đồng và lãi xuất chậm thi hành án theo lãi xuất cơ bản của Ngân hàng nhà nước kể từ ngày 6/2/2013

Ngày 21/12/2017 Chấp hành viên thi hành án được phân công giải quyết

vụ việc nêu trên, đã làm việc và xác minh điều kiện thi hành án đối với chị Trần Thị Phương H tại địa phương, Chính quyền địa phương cho biết: Hiện tại chị Hải là giáo viên trường THCS xã P, chồng chị mở xưởng sản xuất chế biến lâm sản

Về tài sản: chị H và gia đình tài sản là: 01 ngôi nhà 03 tầng có diện tích khoảng 400m2 tại Thôn D, xã P, huyện G, tỉnh B; có 01 xưởng sản xuất chế biến lâm sản và một số đồ dùng phục vụ sinh hoạt trong đời sống như: ti vi, tủ lạnh, bàn ghế

Chị H trình bày: chị vay khoản tiền 1.760.000.000 đồng là cho chị gái chồng buôn bán bất động sản, nhưng hiện tại chưa bán được tài sản nên chưa

có tiền trả cho chị L, gia đình lại rất khó khăn, mọi tài sản trong nhà đã cấm

cố, thế chấp hết, (đã thế chấp nhà cửa, đất đai tại ngân hàng), tiền lương hàng tháng trừ vào lãi vay thấu chi và vay quỹ nhà trường

Trang 10

Trong quá trình giải quyết vụ việc với chị H, ngày 24/12/2017 Chi cục Thi hành án dân sự huyện G đã tiến hành xác minh tại Ngân hàng Công thương - Chi nhánh thành phố Bắc Ninh, tỉnh B, được biết là vợ chồng anh Trương Công H và chị Trần Thị Phương H có vay vốn của ngân hàng với số tiền là 1.300.000.000đ cách đây khoảng (02) hai năm và 6 tháng đáo hạn một lần, đến nay vẫn đang vay số tiền trên Đại diện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh đã đề nghị Ngân hàng cung cấp hồ hơ vay vốn cụ thể của

vợ chồng chị H để cơ quan có cơ sở giải quyết theo quy định của pháp luật Ngày 27/12/2017 Cơ quan Thi hành án dân sự đã làm việc với UBND xã

P về quyền sử dụng đất mà gia đình chị H đang quản lý và sử dụng, được biết

là gia đình chị H có 01 thửa đất có tổng diện tích là 400m2, theo giá thực tế tại địa phương là 4.000.000đ/m2 x 400m2 = 1.600.000.000đ; nhưng theo giá quy định của UBND tỉnh là 2.350.000đ/m2 x 400m2 = 940.000.000đ

Từ những xác minh cụ thể trên, nhận thấy gia đình chị H có tài sản nên

Cơ quan Thi hành án dân sự tiến hành giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác thi hành án và đảm bảo quyền lợi của công dân;

Ngày 01/01/2018 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh đã tiến hành mời các cơ quan hữu quan đến làm việc về vụ việc này như: Phòng Tài nguyên & Môi trường, Phòng Công thương, UBND xã P; trưởng thôn D và Trung tâm định giá Tỉnh B tiến hành định giá sơ bộ tài sản theo quy định để trả cho chị L

Trên thực tế, sau khi trừ lưu không theo sổ đỏ là 400m2 - 100m2 = 300m2

x 2.500.000đ/m2 = 750.000.000đ;

Còn tài sản trên đất là 01 ngôi nhà 2,5 tầng có tổng diện tích sàn gần

Trang 11

nhà có tổng giá trị là: 200m2 x 3.700.000đ/m2 = 740.000.000đ x 6,5% khấu hao năm = 48.000.000đ x 6 năm (ngôi nhà xây từ năm 2007) = 288.600.000đ; giá trị còn lại là 740.000.000đ - 288.600.000đ = 451.400.000đ;

Và 01 lán nhà xưởng lợp prô xi măng ở trước nhà có diện tích 150m2 = 30.000.000đ;

Như vậy, tổng toàn bộ giá trị tài sản nhà cửa, đất đai, nhà xưởng của gia đình chị Hải là:

750.000.000đ + 451.400.000đ + 30.000.000đ = 1.231.400.000đ

Nhưng trên thực tế số tài sản trên gia đình chị H đã thế chấp vay ngân hàng hết nên việc thu hồi số nợ là 1.760.000.000đ trả cho chị L là rất khó khăn cho cơ quan Thi hành án dân sự

* Nguyên nhân

Diện tích đất trên của vợ chồng chị H là đất nông nghiệp chưa được chuyển đổi sang mục đích đất ở lâu dài Nhưng trên thực tế, diện tích đất trên

đã được cấp giấy CNQSD đất với mục đích đất ở lâu dài Hiện trạng đất đã được xây nhà ở kiên cố

Trong những năm qua, tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất trái phép

ở các địa phương xảy ra rất phổ biến Đó là việc bán, chuyển mục đích trái phép đất nông nghiệp thành đất ở tại các vùng nông thôn, hoặc gom đất nông nghiệp để chờ dự án, dẫn đến bỏ hoang hóa đất ven các TP lớn và một số tỉnh lân cận Phổ biến nhất là chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp ở các vùng nông thôn, trong đó chủ yếu là chuyển đất trồng lúa nước sang nuôi trồng thủy sản, trồng cây lâu năm, đất ở

PHẦN 3: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

1 Mục tiêu xử lý tình huống

Ngày đăng: 07/05/2019, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w