1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại huyện văn chấn, tỉnh yên bái

160 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH M ỤC BẢNG Bảng 1.1: Đất lâm nghiệp do các lâm trường quốc doanh và khu vực dự án quản lý Bảng 2.1: Đặc trưng tạihai lâm trường nghiên cứu Bảng 2.2: Phân bố diện tích đất rừng sản xu

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ

MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI

HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

CAO THỊ QUỲNH TRANG

H À NỘI, NĂM 2019

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ

MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI

HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

CAO THỊ QUỲNH TRANG

MÃ SỐ: 8440301 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TỐNG THỊ MỸ THI

H À NỘI, NĂM 2018

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 16 tháng 04 năm 2019

Trang 4

THÔNG TIN LU ẬN VĂN

H ọ và tên học viên: Cao Thị Quỳnh Trang

Đề tài: “Xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý rừng dựa vào

c ộng đồng tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” đưa ra một bộ chỉ số tổng quan

nh ất dựa trên điều kiện về chính sách, môi trường, con người, xã hội, và áp

d ụng bộ chỉ số vào khu vực huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái để đo khả năng quản lý rừng của địa phương Áp dụng các phương pháp nghiên cứu xây dựng

b ộ chỉ số, phương pháp nghiên cứu tài liệu sơ cấp và thứ cấp, bộ chỉ số xây

d ựng với 3 chỉ số cấp 1, 9 chỉ số cấp 2, 31 chỉ số cấp 3 Dựa vào thang đánh giá, b ảng hỏi và kết ủa điều tra, đề tài nghiên cứu xác định điểm số cho khu

v ực nghiên cứu là 2 lâm trường tại huyện Văn Chấn: Lâm trường Văn Chấn

và lâm trường Ngòi Lao Các chỉ số cấp 1 bao gồm con người, văn hóa – xã

h ội, môi trường đều đạt điểm ở mức khá và cao so với thang xếp hạng điểm

s ố của bộ chỉ số Cho thấy khả năng quản lý rừng tốt của con người tại khu

v ực nghiên cứu Tuy còn có yếu tố còn yếu nhưng là không đáng kể, nhưng cần được quan tâm, là vấn đề sinh kế và quyền lợi hưởng của cộng đồng và cán b ộ quản lý, người trực tiếp tham gia quản lý rừng cộng đồng

T ổng điểm của bộ chỉ số tại lâm trường Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đạt 3,73, hi ệu quả quản lý là khá cao Các chỉ số cấp 1 bao gồm con người, văn hóa – xã hội, môi trường đều đạt điểm ở mức cao, chỉ số môi trường là cao

nh ất (4,06 điểm) nhờ có tài nguyên rừng và môi trường tốt, và chỉ số xã hội là

Trang 5

th ấp nhất (3,45 điểm) do yếu tố tác động từ bên ngoài thấp Điểm số của hai lâm trường nghiên cứu chênh lệch không nhiều và đạt mức khá, lâm trường Văn Chấn đạt 3.60 điểm, và lâm trường Ngòi Lao đạt 3,86 điểm Đánh giá chung trên toàn b ộ chỉ số, lâm trường Ngòi Lao đều cao hơn lâm trường Văn

Ch ấn Nhận thức và kiến thức của lâm trường Văn Chấn là thấp nhất, cần học

h ỏi và nâng cao để quản lý rừng bền vững

Trang 6

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Môi trường, Khoa Biến đổi khí hậu – trường Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội đã giảng dạy và trang bị cho tôi những hành trang, kiến thức quý giá trong suốt khóa học để tôi có thể đảm bảo bài luận văn này được thành công Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến bác Xuân phòng Nông nghiệp tỉnh Yên Bái, các doanh nghiệp, người dân huyện Văn Chấn đã chỉ bảo và cung cấp cho tôi những tài liệu bổ ích để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu của mình

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn chia sẻ, ủng hộ và động viên trong suốt thời gian tiến hành nghiên cứu và làm bài luận

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học giúp đỡ tôi bảo vệ thành công luận văn này

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, xong do thời gian và kiến thức còn hạn hẹp nên bài viết của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo cũng các bạn để bài luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành c ảm ơn!

Trang 7

L ỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Cao Thị Quỳnh Trang

Học viên cao học: Khoa học Môi trường

Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân Toàn bộ quá trình nghiên cứu được tiến hành một cách khoa học, các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là chính xác, hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các hình ảnh, thông tin về tên, tuổi và trích dẫn trong nghiên cứu được sự cho phép của người dân khu vực huyện Văn Chấn

Nếu có gì sai phạm, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước nhà trường và pháp luật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác gi ả

Cao Th ị Quỳnh Trang

Trang 9

20 VH-XH Văn hóa - xã hội

21 UBND Ủy ban nhân dân

Trang 10

DANH M ỤC BẢNG

Bảng 1.1: Đất lâm nghiệp do các lâm trường quốc doanh và khu vực dự án

quản lý Bảng 2.1: Đặc trưng tạihai lâm trường nghiên cứu

Bảng 2.2: Phân bố diện tích đất rừng sản xuất của lâm trường Ngòi Lao

Bảng 2.3: Tình hình sử dụng và phân bố đất của công ty lâm nghiệp Ngòi Lao Bảng 2.4: Số lượng đối tượng tham gia phỏng vấn

Bảng 2.5: Thang xếp hạng chỉ số quản lý theo điểm

Bảng 3.1: Bộ chỉ số đánh giá mô hình QLRCĐ

Bảng 3.3: Tổng hợp điểm số bộ chỉ số tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yến Bái

Bảng 3.4: Chỉ số con người tại điểm nghiên cứu huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Bảng 3.5: Điểm số cán bộ quản lý tại khu vực huyện Văn Chấn

Bảng 3.6: Điểm số cộng đồng tại khu vực huyện Văn Chấn

Bảng 3.7: Điểm số doanh nghiệp tại khu vực huyện Văn Chấn

Bảng 3.8: Chỉ số văn hóa – xã hội khu vực huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Trang 11

DANH M ỤC HÌNH

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong Khung PNWP

Hình 1.2: Cấu trúc quản lý rừng của các thôn tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

Hình 1.3: Bản đồ hành chính tỉnh Yên Bái

Hình 2.1: Hình vẽ thể hiện vị trí 2 lâm trường tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Hình 2.2: Bộ máy hành chính lâm trường Văn Chấn

Hình 2.3: Quy trình tiến hành xây dựng bộ chỉ số

Hình 3.1: Kết quả đánh giá mô hình QLRCĐ áp dụng bộ chỉ số

Hình 3.2: Yếu tố con người trong đánh giá tổng quan khu vực

Hình 3.3: Giá trị trung bình chỉ số cán bộ quản lý

Hình 3.4: Chỉ số cộng đồng tại khu vực huyện Văn Chấn

Hình 3.5: Kết quả đo chỉ số doanh nghiệp địa phương

Hình 3.6: Kết quả chỉ số văn hóa – xã hội

Hình 3.7: Chỉ số văn hóa tại khu vực nghiên cứu

Hình 3.8: Mối quan hệ xã hội tại huyện Văn Chấn

Hình 3.9: Chỉ số tác động từ bên ngoài tại huyện Văn Chấn

Hình 3.10: Chỉ số môi trường tại huyện Văn Chấn

Hình 3.11: Yếu tố biến đổi khí hậu

Hình 3.12: Kết quả bộ chỉ số áp dụng tại 2 lâm trường

Hình 3.13: Yếu tố con người tại 2 khu vực nghiên cứu

Hình 3.14: Chỉ số cán bộ quản lý tại 2 lâm trường nghiên cứu

Hình 3.15: Yếu tố kiến thức thuộc chỉ số cán bộ quản lý

Hình 3.16: Yếu tố pháp luật thuộc chỉ số cán bộ quản lý

Hình 3.17: Yếu tố kỹ năng thuộc chỉ số cán bộ quản lý

Hình 3.18: Yếu tố thái độ thuộc chỉ số cán bộ quản lý

Hình 3.19: Chỉ số cộng đồng tại 2 khu vực nghiên cứu

Hình 3.20: Chỉ số sinh kế cộng đồng tại 2 khu vực nghiên cứu

Hình 3.21: Chỉ số pháp luật đối với cộng đồng tại 2 lâm trường

Hình 3.22: Chỉ số văn hóa – xã hội tại 2 lâm trường

Hình 3.23: Chỉ số văn hóa tại 2 lâm trường nghiên cứu

Hình 3.24: Mối quan hệ xã hội tại 2 lâm trường

Hình 3.25: Vấn đề tác động từ bên ngoài tại 2 lâm trường

Trang 12

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng được cho là một trong những giải pháp ưu việt nhằm giúp tạo ra các lợi ích quan trọng: (i) tăng phúc lợi và lợi ích của người dân; (ii) tăng cường việc bảo tồn các tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; và (iii) cải thiện chất lượng quản lý của địa phương thông qua việc trao quyền cho các cộng đồng và cho phép họ tự quản lý nguồn tài nguyên Đây cũng là các yếu tố quan trọng quyết định tính hiệu quả của mô hình quản lý tài nguyên nói chung và quản lý rừng dựa vào cộng đồng nói riêng

Huyện Văn Chấn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Yên Bái là một trong những huyện nghèo và tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Thu nhập của người dân chủ yếu trông chờ vào lâm nghiệp, sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi nên thu nhập bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, khí hậu Hiện nay, phát triển kinh tế huyện Văn Chấn đang là một thách thức đối với chính quyền và nhân dân ở địa phương, hơn nữa, các nhà khoa học trong nước vẫn chưa có những nghiên cứu, công bố toàn diện, thống nhất về sự hoàn hảo của mô hình quản lý rừng

dựa vào cộng đồng, và tuyên truyền rộng rãi lợi ích của mô hình đem đến cho sinh

kế người dân huyện Văn Chấn

Tài nguyên rừng huyện Văn Chấn vô cùng phong phú, để quản lý được toàn

bộ và tổng thể, nhà nước cần đến sự giúp đỡ của cộng đồng người dân Mặt khác, người dân khai thác, đảm bảo sinh kế dựa vào rừng, dưới sự quản lý của nhà nước dựa vào cộng đồng, tình trạng khai thác quá mức sẽ giảm thiểu Mô hình quản lý dựa vào cộng đồng được đưa vào áp dụng đem lại lợi íchhai chiều cho cả chính phủ

và người dân Hiện nay, một vài mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được triển khai trên địa bàn tỉnh Yên Bái như: Mô hình quản lý, phát triển và bảo tồn bài thuốc dân tộc và cây thuốc bản địa; Mô hình giao rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng thôn, bản quản lý và sử dụng, Tuy nhiên, hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội cũng như môi trường của các mô hình này chưa được đánh giá chuẩn xác, đặc biệt trong điều kiện bối cảnh biến đổi khí hậu do hạn chế về mặt phương pháp đánh giá cũng như thiếu cập nhật các thông tin liên quan khác

Trang 13

Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, nhằm đưa ra một phương pháp thích hợp để đánh giá tính hiệu quả của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng, tác giả đã lựa chọn đề tài “Xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý rừng dựa

vào c ộng đồng tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” cho luận văn tốt nghiệp Hiện tại,

phương pháp xây dựng bộ chỉ số đánh giá tính hiệu quả của mô hình QLRCĐ vẫn chưa phải là phương pháp hoàn thiện nhất, tuy nhiên vẫn được xem là phương pháp tối ưu trong điều kiện các nguồn lực sử dụng cho việc đánh giá còn hạn chế Đặc biệt đây là phương pháp mang tính toàn diện, xem xét đến tất cả các khía cạnh từ kinh tế, quản lý, điều kiện tự nhiên, cũng như yếu tố quan trọng nhất là cộng đồng

và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với các yếu tố khác trong mô hình QLRCĐ Nghiên cứu này sử dụng kết hợp giữa phương pháp đánh giá định tính và định lượng để đảm bảo tăng cường mức độ tin cậy và tính chính xác của kết quả nghiên cứu Bô chỉ số tuy được xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội và

tự nghiên ở khu vực huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, nhưng vẫn mang tính linh hoạt

và có thể được điều chỉnh để áp dụng tại các khu vực khác ở Việt Nam Kết quả thu được từ việc sử dụng bộ chỉ số đánh giá mô hình QLRCĐ trong nghiên cứu này sẽ làm cơ sở cho việc nâng cao năng lực và tính hiệu quả cho mô hình QLRCĐ ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Đồng thời, bộ chỉ số có thể được điều chỉnh để áp dụng cho đánh giá mô hình QLRCĐ và so sánh tính hiệu quả giữa mô hình quản lý khác nhau trong cùng một khu vực hoặc giữa nhiều khu vực khác nhau

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 14

3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

- Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

- Hoạt động phát triển kinh tế – xã hội – văn hóa

- Mô hình quản lý rừng đang được triển khai trên địa bàn tỉnh Yên Bái: Sự phát triển của rừng khi áp dụng mô hình quản lý cộng đồng; Các nhân tố tác động đến rừng: Sự đóng góp của cộng đồng; Các loại hình áp dụng trong mô hình (nông lâm kết hợp ); Hiệu quả kinh tế của mô hình đem lại ảnh hưởng đến sinh kế người dân

3.2 Nghiên cứu, chọn lọc và xây dựng bộ chỉ số đánh giá mô hình QLRCĐ

- Nghiên cứu các bộ chỉ số đánh giá tính hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội môi trường của hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng đang được sử dụng

- Phân tích và lựa chọn từng chỉ số đánh giá, xác định thang đo cho từng chỉ

số và điều chỉnh phù hợp với điều kiện của địa phương (huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái)

- Hoàn thiện bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý rừng cộng đồng và xây dựng bảng câu hỏi

3.3 Áp dụng bộ chỉ số đánh giá mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Sử dụng bảng câu hỏi đã xây dựng trong phần 3.2 để khảo sát đối tượng nghiên cứu bao gồm: Hộ gia đình (cộng đồng), cán bộ quản lý, và đại diện doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng

- Thực hiện phỏng vấn các đối trượng nghiên cứu để bổ sung dữ liệu cần thiết

đồng ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái

Trang 15

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

và sử dụng bền vững tài nguyên rừng Trên thế giới, khái niệm đầu tiên về QLRCĐ

được FAO đưa ra vào năm 1978 trong hội nghị lâm nghiệp thế giới: “Tất cả các

ho ạt động lâm nghiệp mà cộng đồng người dân tham gia, bao gồm những hoạt đồng nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thu hái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu cầu

cu ộc sống của người dân và đến việc trồng cây ở các trang trại cây hàng hóa, sản

xu ất, chế biến các sản phẩm lâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nh ập cho cộng đồng sống trong rừng” [38] Một khái niệm khác của Fern

(2005) lại đưa ra một khái niệm khác đơn giản hơn đó là “Tiến trình quản lý, bảo vệ

và phát tri ển rừng dựa vào những kiến thức bản địa, cấu trúc truyền thống, những

l ễ hội và luật tục của cộng đồng” [13]

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là khái niệm để chỉ cộng đồng tham gia quản

lý rừng, rừng được cộng đồng là những chủ thể quản lý trực tiếp tham gia và được hưởng lợi

1.1.1.2 Nội dung chủ yếu của quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Cộng đồng là những chủ thể quản lý rừng: Quản lý rừng dựa vào cộng đồng đưa ra hình thức quản lý rừng, nơi mà người dân địa phương đóng vai trò vừa là người quản lý vừa là chủ rừng [11] Để triển khai mô hình này một cách tốt nhất thì

một cơ quan đại diện sẽ đứng ra triển khai mô hình này Vai trò của cơ quan này thể hiện ở sự hỗ trợ và giúp đỡ người dân quản lý rừng một cách hiệu quả và bền vững

Trang 16

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một mô hình có thể áp dụng cho tất cả các

loại rừng: rừng có độ đa dạng sinh học thấphay cao, rừng nguyên sinhhay rừng đã bị

suy kiệt, những khu rừng rộng lớnhay nhỏ… điều quan trọng nhất là áp dụng cho

địa bàn xã chứ không áp dụng mô hình này cho rừng bảo tồnhay rừng thuộc cấp địa

phươnghay quốc gia

Người dân là mục tiêu tổng quan của mô hình: người dân địa phương hoặc

cộng đồng trong trường hợp này là những người sống trong hoặc sống ngay bên

cạnh những khu rừng thuộc địa bàn xã của họ Mối quan hệ lâu đời giữa người dân

và những khu rừng là sự gần gũi của họ với rừng khiến họ trở thành những người

quản lý rừng bền vững

Cộng đồng không chỉ là những người bảo vệ mà còn là những người có quyền

ra quyết định về việc quản lý trong mô hình, bao gồm tất cả những hình thức quản

lý rừng, bảo vệ rừng, và đánh giá rừng thường kỳ, trồng rừng và những hoạt động

phục hồi và phát triển khả năng sản xuát của rừng Người dân có quyền quản lý và

đưa ra quyết định Điều này định hướng cho cách thức hoạt động của mô hình Mô

hình quản lý này là một chiến lược phân chia quyền lợi, nó thực thi dựa trên cơ sở

các chính sách của nhà nước trong việc cho phép sự tham gia của người dân địa

phương trong quản lý rừng và thực tế cần đưa ra những biện pháp kiểm soát và

quản lý ở cấp địa phương hợp lý hơn Nó tập trung vào bảo tồn những khu rừng

không chỉ thông qua phân chia quyền kiểm soát và quản lý chúng mà còn phân chia

quyền sử dụng và hưởng lợi từ chúng Vì vậy, mô hình này mang đến không chỉ

những người hưởng lợi thụ động mà còn có lợi về sinh kế, nâng cao trách nhiệm

quản lý rừng cho người được giao đất giao rừng Sử dụng khu đất dự trữ như là nền

tảng cơ bản để xây dưng một vùng phát triển rừng (phòng hộ, sản xuất) Thay đổi vai trò của cán bộ lâm nghiệp: Cán bộ lâm nghiệp sẽ không còn vai

trò như một cảnh sát, mà sẽ là người giúp dân nhận biết, điều tra, quản lý rừng của

họ vì lợi ích chung của cộng đồng, giúp họ làm thế nào để quản lý rừng tốt nhất

trong cả ngắn hạn và dài hạn, vai trò của cán bộ lâm nghiệp như là một cố vấn viên

(hướng dẫn, hỗ trợ, khuyến khích): Tư vấn kỹ thuật cho cộng đồng, tạo ra sự liên

kết giữa cộng đồng và cơ quan cấp huyện, người trung gian hài hòa giữa cộng đồng,

cảnh giới môi trường…

Trang 17

1.1.1.3 Các giai đoạn cơ bản trong thực hiện mô hình quản lý rừng dựa vào

cộng đồng

- Giai đoạn 1: Khởi động

Giai đoạn này được triển khai ở cấp huyện, với việc lựa chọn những xã và hướng dẫn cho cán bộ huyện cộng với đó là hình thành một nhóm cán bộ với những

ký năng khác nhau để làm việc ở cấp xã Tổ chức các cuộc gặp và cuộc họp cấp xã

để việc thiết lập và định hướng cho bản cam kết được thuận lợi hơn

- Giai đoạn 2: Thực hiện quản lý và đánh giá

Giai đoạn này bắt đầu bằng việc xác định và quy hoạch lại ranh giới về đất và rừng giữa các xã Sau đó rừng sẽ được rà soát hoặc đánh giá và dựa vào đó một kế hoạch quản lý sẽ được đưa ra cùng những quy định của xã

- Giai đoạn 3: Chính thức hóa và hợp pháp hóa

Kế hoạch quản lý sẽ được đưa ra trong những cuộc hợp cấp xã để được thông qua và cuối cùng là được chấp thuận bời ủy ban nhân dân cấp huyện Khi đã được phê duyệt, xã có thể chuyển sang giai đoạn 4 và bắt đầu thực hiện kế hoạch quản lý rừng của họ

- Giai đoạn 4: Thực thi

Giai đoạn này sẽ được triển khai ở cộng đồng, hệ thống quản lý rừng cần được

bổ nhiệm và đào tạo đội tuần tra với chức năng ban đầu là giám sát và đảm bảo rằng những quy định đã được phổ cập tới từng người dân Huyện đảm bảo vai trò quan

trắc và hỗ trợ bằng việc giám sát tiến độ và giải quyết vấn đề

- Giai đoạn 5: Xem xét và đưa ra những đề xuất hợp lý

Sau năm năm cộng đồng sẽ được xem xét và phê duyệt lại kế hoạch quản lý

của họ dựa vào những gì đã làm được trong khoảng thời gian đó Từ đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm và thay đổi, nâng cấp những cách thwucs không còn phù hợp

- Giai đoạn 6: Mở rộng mô hình sang những địa bàn khác

Giai đoạn này là giai đoạn triển khia mô hình ở xã Trong suốt giai đoạn này chúng ta cần đưa ra những kế hoạch cụ thể và dự thảo ngân sách cho việc mở rộng

mô hình

Trang 18

1.1.1.4 Quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng được giao

- Đối với trường hợp nhận khoán bảo vệ rừng: được hưởng lợi theo quy định tại khoản 1,3,4,5 Điều 6 Quyết định số 304, và được hưởng các sản phẩm thu hoạch trên diện tích rừng được khoán, được hỗ trợ cây lâm nghiệp, tham gia và hưởng lợi

từ các dự án khuyến nông, khuyến lâm trên địa bàn [9]

- Sử dụng rừng được giao, khoán bảo vệ đúng mục đích, đúng quy hoạch, chịu

sự giám sát của cơ quan chức năng

- Nếu vi phạm các điều khoản trong quyết định giao rừng, hoặc hợp đồng khoán bảo vệ rừng thì bị thu hồi quyết định theo quy định của pháp luật về đất đai, hoặc hủy bỏ hợp đồng khoán bảo vệ [9]

- Trả lại rừng và đất rừng được giao, được khoán bảo vệ khi cơ quan chức năng có thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật về đất đai

- Thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với chủ sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động

- Đóng đầy đủ thuế theo quy định của pháp luât

1.1.2 Khái niệm, tìm hiểu về phương pháp xây dựng bộ chỉ số đánh giá – KPIs

KPI - Key Performance Indicators: là một hệ thống được dùng để đánh giá năng lực, chất lượng công việc, được thể hiện qua các chỉ tiêu, tiêu chí, chỉ số, hiệu quả định lượng nhằm phản ảnh hiệu quả hoạt động của công việc [40]

Sử dụng trong đánh giá thực hiện công việc (ĐGTHCV), hệ thống KPIs được hiểu là những chỉ số đánh giá kết quả thực hiện công việc.hay nói cách khác KPIs

Trang 19

chính là mục tiêu công việc mà cá nhân, tổ/nhóm, phòng/ban, tổ chức… cần đạt được để đáp ứng yêu cầu chung

1.1.2.1 Mục đích của việc sử dụng KPIs trong đánh giá thực hiện công việc

Việc sử dụng KPIs trong đánh giá thực hiện công việc nhằm mục đích đảm bảo người lao động thực hiện đúng các trách nhiệm trong bản mô tả công việc của từng vị trí chức danh cụ thể

Các chỉ số đánh giá mang tính định lượng cao, có thể đo lường cụ thể do đó nâng cao hiệu quả của đánh giá thực hiện công việc

Việc sử dụng các chỉ số KPIs góp phần làm cho việc đánh giá thực hiện công việc trở nên minh bạch, rõ ràng, cụ thể, công bằng và hiệu quả hơn…

1.1.2.2 Nguyên tắc khi xây dựng KPIs

Là 1 công cụ dùng trong ĐGTHCV, nên khi xây dựng hệ thống KPIs những nhà quản lý cũng cố gắng và hướng đến đảm bảo được tiêu chí SMART: (1) S: Specific – Cụ thể; (2) M: Measurable – Đo lường được; (3) A: Achiveable – Có thể đạt được; (4) R: Realistics – Thực tế; (5) T: Timebound – Có thời hạn cụ thể

1.1.2.3 Ưu điểm khi sử dụng KPIs

- Nó có thể là một cách rất nhanh cho thấy thành quả hiện thời của một mục đích hoặc một mục tiêu chiến lược

- Các quyết định có thể được thực hiện nhanh hơn khi có những đo lường nhận thấy được và chính xác đi kèm theo

- Có thể giúp khâu quản lý nhận biết thành quả của tổ chức, phòng/ban hoặc một nhân viên nào đó của mình để từ đó có hướng khuyến khích, tạo động lực phát triển các kế hoạch về lâu dài cho mô hình quản lý

- Tùy vào mục đích đánh giá mà đưa ra được những bộ chỉ số riêng thích hợp với từng lĩnh vực

- Đưa ra các chỉ tiêu có thể đo lường được, từ đó việc đánhgiá công việc thực hiện sẽ cụ thể hơn và dễ thực hiện hơn mà ít có những kiến nghị, bất đồng

Trang 20

1.1.2.4 Nhược điểm khi sử dụng hệ thống KPIs

- Các tiêu chí cụ thể, đo lường, đạt được hiệu quả khi không đủ rõ ràng, thực

tế thì hiệu quả KPIs là không đạt được và ảnh hưởng đến hiệu suất quản lý

- Nếu mục tiêu không đạt được tiêu chí Specific (cụ thể) thì người lao động không biết mình phải làm gì và làm như thế nào để đạt được hiệu quả công việc như mong muốn

- Các chỉ số không đạt tiêu chí measuarable (đo lường được): Như vậy khi đưa

ra các tiêu chí không còn ý nghĩa đo lường kết quả THCV

- Các chỉ số KPIs không đạt được tiêu chí Achievable (có thể đạt được) và Realistics (thực tế): Mục tiêu xây dựng quá xa vời so với thực tế, nhân viên không thể đạt được mục tiêu dù đã cố gắng hết mình Điều này dẫn đến tâm lý thất vọng, chán nản và không muốn làm việc

- Các chỉ số KPIs không có hạn định cụ thể: người lao động không biết công việc này phải làm trong thời gian bao lâuhay khi nào phải hoàn thành Điều này gây khó khăn rất lớn cho người lao động trong quá trình thực hiện công việc

- Khi sử dụng các tiêu chí KPIs làm mục tiêu thì phải thay đổi theo thời gian,

nó không có hiệu quả cao nếu được sử dụng theo thời gian dài

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Việt Nam với tổng diện tích 32.894.398ha được xếp thứ 55 trong số 200 quốc gia trên thế giới, trong đó cả nước có 14.377.682ha rừng, rừng tự nhiên là 10.242.141ha, rừng trồng 4.135.541ha (Bộ NN&PTNT,2017) Nhưng vì mật độ dân

số đông nên diện tích đất bình quân đầu người là 4.48ha/người, bằng 1/6 mức trung bình thế giới Đất rừng liên quan đến vùng trung du miền núi, với tổng diện tích hơn

14 triệuha là một phần rất quan trọng trong sự sẵn có của đất Việt Nam, chiếm 63% diện tích cả nước

Ở Việt Nam rừng và cộng đồng dân cư địa phương có mối quan hệ mật thiết,

có ảnh hưởng qua lại trực tiếp với nhau bới các đặc điểm sau:

- Đặc điểm về tập quán: Trên diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp có

khoảng 24 triệu dân sinh sống với 54 dân tộc đời sống của đồng bào rất gắn bó với

Trang 21

rừng, một số lượng không nhỏ dân cư này có cuộc sống phụ thuộc vào rừng, từ đất

rừng để làm nương rẫy, đến khai thác gỗ, củi, thu hái lâm sản và săn bắn chim thú

- Đặc điểm về xã hội: Trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số

vùng núi thì tính cộng đồng thôn bản là một thể chế xã hội cơ bản đã có từ lâu và đến nay vẫn còn tồn tại Mỗi làng bản có một lối sống riêng, một quy ước riêng do cộng đồng tự xác lập, được các cộng đồng khác thừa nhận và tôn trọng Các cộng đồng này có truyền thống riêng về sở hữu, sử dụng đất đai, trong đó tính quản lý cộng đồng là một đặc điểm nổi bật qua nhiều biến động về chính trị xã hội, các truyền thống trên tuy có bị mai một, nhưng vẫn được duy trì trong công tác bảo vệ rừng

- Đặc điểm về chính sách: Luật bảo vệ và phát triển rừng, thông tư hướng dẫn

về rừng…

Các phương pháp quản lý dựa vào cộng đồng được đưa ra tại Việt Nam gồm có: bảo vệ rừng thông qua rừng sản xuất, giao đất hoặc giao khoán đất lâm nghiệp dài hạn, giao đất cho cộng đồng để cộng đồng có thể tự quản lý bằng cách ký hợp đồng phụ với hộ gia đìnhhay nhóm hộ gia đình Tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, tùy từng vùng có đặc điểm kinh tế, vị trí địa lý (ranh giới giữa các xã, huyện), điều kiện tự nhiên ( khu rừng giữ nguồn nước quan trọng)… sẽ được áp dụng những mô hình quản lý khác nhau, tại địa điểm nghiên cứu lâm trường Văn Chấn và lâm trường Ngòi Lao, mô hình quản lý đang được áp dụng là phương pháp giao đất, giao rừng cho một cơ quan quản lý, sau đó ký hợp đồng phụ với các hộ gia đình và nhóm cộng đồng

Việc quản lý rừng ở Việt Nam hiện nay đang có 3 mô hình chủ yếu: [14]

- Mô hình 1: Rừng do cộng đồng quản lý theo truyền thống, được pháp luật công nhận: Đến năm 1991, khi ban hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng (Luật BV&PTR) ở một số làng, bản vẫn còn quản lý và hưởng lợi từ một số khu rừng làng, bản theo truyền thống đã có trước đây Luật BV&PTR vẫn công nhận những khu rừng đó thuộc quyền sở hữu của làng

- Mô hình 2: Cộng đồng dân cư ở làng, bản nhận khoán bảo vệ cho các chủ

rừng Nhà nước và đã liên kết để nhân khoán bảo vệ rừng đã giao cho các tổ chức Nhà nước quản lý, cùng hưởng lợi, bằng nhiều hình thức liên kết khác nhau (như

Trang 22

nhóm, hộ gia đình, nhóm đồng sở thích hoặc toàn bộ cộng đồng dân cư thôn bản) Đối với loại mô hình này, cộng đồng dân cư cũng chỉ là người làm thuê, dược thù lao một số tiền ít ỏi, không được hưởng lợi gì đnág kể từ rừng, nên tính tích cực của

họ chưa được phát huy Trong tương lại, mô hình này cần phải được cải tiến theo hướng giao cho cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý và hưởng lợi ở những khu rừng gắn liền với nơi cư trú của dân cư

- Mô hình 3: Rừng và đất lâm nghiệp được chính quyền địa phương (cấp tỉnh)

giao cho các làng, bản quản lý Ở nhiều tỉnh (nhất là các tỉnh đang có dự án hợp tác với nước ngoài về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng) đã thí điểm giao đến cộng đông dân cư làng, bản một số diện tích rừng và hướng dẫn họ quản lý, có những chính sách họ hưởng lợi cụ thể

Việt Nam

- Thay đổi thời hạn hợp đồng: Dài hơn,hay linh động hơn để có thể xây dựng

và áp dụng mô hình quản lý tích cực, đạt hiệu quả hơn

- Thay đổi chính sách giao đất: Giao đất giao rừng được thực hiện theo kế hoạch của thôn, xã, tùy vào điều kiện sống và phong tục người dân tại khu vực được giao quản lý

- Thay đổi chính sách thành rừng đầu nguồn quan trọng: có nghĩa là bảo vệ được thực hiện thông qua sản xuất và quản lý trực tiếp của người dân địa phương

dựa trên thực tế của khu vực

- Thay đổi vai trò của các tổ chức liên quan đến lâm nghiệp: thành hỗ trợ, cung cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý rừng dựa trên điều kiện tự nhiên và điều kiện sinh thái, kinh tế, xã hội của khu vực địa phương Không còn đóng vai trò bảo vệ như một cảnh sát, mà sẽ là người hướng dẫn, hỗ trợ, đồng hành cùng cộng đồnghay nhóm cộng đồng quản lý

- Kiểm tra, đánh giá: chia về các xã tự theo dõi, hỗ trợ và bảo vệ, đưa ra các chính sách rồi chuyển lên tuyến trên họp thông qua, gỗ trong rừng được phép sử dụng theo hình thức thương lượng (thông qua quy định, kế hoạch giữa xã, nhóm và

hộ gia đình đã được phê duyệt)

Trang 23

- Chia sẻ lợi ích rất rõ ràng giữa các xã, bản, thôn: Nó là một phương thức huy động vốn từ tài nguyên rừng của địa phương, cho địa phương phát triển, do đó, nó làm giảm sự cạnh tranh và sự phát triển của các làng, xã lân cận

- Quỹ cho các xã phát triển lâm nghiệp: Được sử dụng như tài sản cố định, trong đó vốn đầu tư được chi cho trồng rừng và bảo vệ rừng được sử dụng theo kế hoạch của xã và hộ gia đình, và một phần để dung cho hệ thống quản lý và kiểm toán

- Hỗ trợ kỹ thuật: trực tiếp tại các xã, hộ gia đình, những người có trách nhiệm hoạt động lâm nghiệp

- Mỗi một địa phương sẽ có những mô hình quản lý, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng khác nhau dựa trên điều kiện kinh thái, kinh tế xã hội

- Từng bước giảm thiểu chi phí bảo vệ rừng cho Chính phủ, vừa thu được lợi ích cho người chịu trách nhiệm bảo vệ và quản lý rừng

1.2.2 Các nghiên cứu về đánh giá tính hiệu quả mô hình QLRCĐ

1.2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới về đánh giá tính hiệu quả của mô hình

QLRCĐ

Vấn đề sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ những năm đầu thế kỷ 21, kể từ Hội nghị Johannesburgtại New Zealand năm 2002 [50] Cộng đồng khoa học ủng hộ việc tham gia của các cộng đồng địa phương trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên [60] Do đó, nhiều quốc gia trong khu vực nhiệt đới đã phát triển các cơ chế quản lý

có sự tham gia của người dân, chuyển giao quyền quản lý từ cấp Nhà nước xuống cấp địa phương và cộng đồng Xu hướng này hoàn toàn phù hợp với các Chương

trình ngh ị sự toàn cầu của các cơ quan tài trợ [43],[46],[57] Xu hướng này đã dẫn

đến sự ra đời của mô hình QLRCĐ và các phương pháp đánh giá tính hiệu quả của

mô hình QLRCĐ

Việc phân cấp quản lý tài nguyên thiên nhiên thật ra là sự chuyển đổi quyền lực từ cấu trúc nhà nước trung ương sang cơ quan địa phương [57] Dựa trên điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, các hình thức quản lý rừng khác nhau có thể được áp dụng tuỳ vào cơ chế, quyền hạn, sự quản lý cũng như bản thân người nhận các quyền hạn và trách nhiệm quản lý đó (bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ của

Trang 24

cộng đồng bản địa) [47],[57] Quản lý tài nguyên nói chung và quản lý rừng dựa vào cộng đồng nói riêng đã tạo ra ba lợi ích cơ bản: (i) tăng phúc lợi và lợi ích của người dân; (ii) tăng cường việc bảo tồn các tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; và (iii) cải thiện chất lượng quản lý của địa phương thông qua việc trao quyền cho các cộng đồng và cho phép họ tự quản lý nguồn tài nguyên Đây cũng là các yếu tố quan trọng quyết định tính hiệu quả của mô hình quản lý tài nguyên nói chung và quản lý rừng dựa vào cộng đồng nói riêng

Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần chuyển giao trách nhiệm quản lý cho cộng đồng

sử dụng rừng thì không thể đảm bảo tính hiệu quả và bền vững trong quản lý rừng

Mà cần phải có một công cụ giám sát, cho phép cán bộ địa phương và cộng đồng theo dõi tiến trình quản lý rừng theo mục tiêu của họ Trước yêu cầu đó, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện để đánh giá tính hiệu quả của mô hình QLRCĐ theo nhiều phương pháp khác nhau [52],[54],[62] Phần lớn các phương pháp đang được

áp dụng là phương pháp thiết kế tiêu chuẩn và chỉ số, trong đó có sự kết hợp giữa thông tin khoa học với kiến thức truyền thống [48],[51] Mặc dù phương pháp xây dựng bộ chỉ số để đánh giá tính hiệu quả của mô hình QLRCĐ vẫn chưa phải là phương pháp hoàn hảo nhất, tuy nhiên vẫn được xem là phương pháp tối ưu, đặc

biệt có sự kết hợp giữa đánh giá định tính và định lượng, tạo ra cơ sở cho sự so sánh kết quả từ các mô hình khác nhau trong cùng 01 khu vực hoặc giữa nhiều khu vực Năm 2002, tổ chức USAID lần đầu tiên đưa ra khung đánh giá tính hiệu quả

của hoạt động quản lý tài nguyên thiên nhiên (QLTNTN) sau 20 năm thực hiện các

dự án liên quan ở Châu Phi Khung này được phát triển dựa trên 03 tiêu chí cơ bản bao gồm Con người (People), Tự nhiên (Nature), Sự giàu có (Wealth), và Quyền lực (Power) (gọi tắt là PNW) [44] Theo đó, khía cạnh Tự nhiên tính tới các yếu tố: cải

thi ện hệ thống quản lý thông tin và kiến thức, thúc đẩy quy hoạch sử dụng đất địa phương và hệ thống chiếm hữu tài nguyên phù hợp, thúc đẩy sự đổi mới, học tập xã

h ội và quản lý thích ứng, xây dựng năng lực đầu tư vào nguồn nhân lự, và thúc đẩy

hi ệu quả của quá trình tư vấn kỹ thuật và dịch vụ trung gian Khía cạnh Giàu có

bao gồm các yếu tố: chiến lược về kinh tế trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, tăng

cường thị trường và khuyến khích thị trườn, đầu tư vào các tổ chức nông thôn nhằm

t ạo ra một khuôn khổ cho các lựa chọn QLTNTN tốt hơn và đảm bảo rằng các nhà

Trang 25

qu ản lý cấp địa phương có quyền và tiếp cậnđược các lợi ích của QLTNTN Khía

cạnh Quyền lực bao gồm các yếu tố: tăng cường quyền được hoàn thiện các thủ tục

liên qua n đến QLTNTN cho người dân, cải thiện chính sách công, phân bố hợp lý quy ền và chức năng quản lý tài nguyên thiên nhiên, chuyển giao quyền hạn, quyền

và trách nhi ệm cho các cơ quan đại diện và chịu trách nhiệm; xây dựng các tiêu chu ẩn môi trường tối thiểu, và thúc đẩy các nền tảng làm cơ sở cho hoạt động tư

v ấn được thực hiện thường xuyên và toàn diện [44]

Raik và Bande năm 2007 đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của

mô hình QLRCĐ bằng Khung đo các bên liên quan dựa vào các yếu tố Tự nhiên, Sự

giàu có và Quy ền lực, và Con người (gọi tắt là Khung PNWP) [56] Khía cạnh con

người được thêm vào và đóng vai trò là sự kết nối giữa các yếu tố khác nhau.Khung

PNWP minh họa các liên kết tồn tại giữa quản lý môi trường, tăng trưởng kinh tế, quản trị và các hoạt động giáo dục và y tế trong mô hìnhQLRCĐ ở khu vực nông thôn do người dân sống chủ yếu trong nền kinh tế tự cung tự cấp Các mối liên kết được mô tả trong một hệ thống phân cấp phù hợp với điều kiện hiện tại của quốc gia

ở Madagascar và các nơi khác trên thế giới (Hình 2) [56]

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong Khung PNWP

(Nguồn: Raik & Decker, 2007)

Trang 26

Năm 2008, Garcia và Lescuyer trong nghiên cứu về Các chỉ số giám sát và

đánh giá mô hình QLRCĐ ở khu vực nhiệt đới đã chỉ rahai khía cạnh cần được quan

tâm khi sử dụng bộ chỉ số để đánh giá tính hiệu quả của mô hình QLRCĐ là khía cạnh xã hội và sinh thái [49] Trong đó, khía cạnh xã hội quan tâm đến năng lực của cộng đồng trong việc quản lý các nguồn lực tự nhiên, cũng như vai trò, trách nhiệm

và các quyền lợi mà họ được hưởng Một nghiên cứu khác của Mukadasi và

Mulugo vào năm 2008 đã xây dựng bộ chỉ số đánh giá Chương trình trồng rừng ở

Uganda theo tiếp cận từ dưới lên thông qua một hội thảo được tổ chức giữa các bên liên quan Theo đó các chỉ số được phát triển bởi cộng đồng địa phương với sự gợi

ý, giúp đỡ của các chuyên gia Bộ chỉ số gồm 17 chỉ số đã được xây dựng bao gồm các chỉ số đánh giá khả năng tiếp cận với nguồn tài nguyên (gỗ nhiên liệu, gỗ thịt,

th ức ăn gia súc), tỷ lệ cháy rừng, quỹ cộng đồng, sự tham gia của phụ nữ, sử dụng phân bón, s ố lượng cây xanh thuộc quỹ đất tư nhân, điều kiện của rừng, đa dạng

th ực vật, động vật hoang dã, số vật nuôi bị động vật hoang dã tấn công, cây xanh,

s ạt lở, và nguồn nước [50]

Nghiên cứu của Teitelbaum vào năm 2013 về Các tiêu chí và chỉ số đánh giá

k ết quả quản lý rừng cộng đồng ở Canada đã tập trung vào 03 khía cạnh: quản lý có

sự tham gia (participatory governance), lợi ích kinh tế địa phương (local economic benefits), và sử dụng rừng theo nhiều mục đích (multiple forest use) [61] Một nghiên cứu tương tự về quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng (tài nguyên nói chung trong đó bao gồm tài nguyên rừng) đã được thực hiện bởi Anderson và Mehta vào năm 2013 Nghiên cứu này đã tiến hành phân tích toàn cầu

và đề xuất một khung để đánh giá hiệu suất quản lý tài nguyên dựa trên ba nhóm

vấn đề: tự nhiên (kỹ thuật), sự giàu có (kinh tế) và quyền lực (quản trị) [44]

Sabogal và cộng sự (2014) đã phân tích các mô hình QLRCĐ khác nhau ở Mỹ Latinh với các mục tiêu khác nhau để xác định các điều kiện thuận lợi cho QLRCĐ Nghiên cứu này tập trung vào các khía cạnh: chính sách, thể chế và quản trị; tài

nguyên r ừng, năng lực và các khía cạnh văn hóa và kinh tế xã hội; và phát triển công ngh ệ, nghiên cứu và giám sát [58]

Năm 2015, Pokharela và cộng sự đã nghiên cứu xây dựng Các tiêu chí bền

v ững trong đánh giá tính bền vững của mô hình QLRC [55] Nghiên cứu này đã xây

Trang 27

dựng bộ chỉ số đánh giá gồm 04 khía cạnh: khung thể chế và quản trị, lợi ích kinh tế

và xã h ội, thực hành quản lý rừng, và tài nguyên rừng Để đánh giá từng khía cạnh,

nghiên cứu này đã phát triển bộ 26 chỉ số cấp 1 và 60 chỉ số cấp 2 Khung thể chế

và qu ản trị được đánh giá qua các chỉ số gồm: chính sách, lãnh đạo, ban điều hành, tính minh b ạch, và quản lý văn phòng Lợi ích kinh tế và xã hội đề cập đến nhận

th ức của người dân về tầm quan trọng của trồng rừng, sự tham gia của người dân vào ho ạt động trồng rừng, tiếp cận lợi ích, phân bổ lợi ích, động lực, tạo công ăn

vi ệc làm từ trồng rừng, ngân sách cộng đồng cho trồng rừng Để đánh giá khía cạnh

Th ực hành quản lý rừng, nghiên cứu sử dụng các chỉ số hoạt động lâm sinh, hoạt động trồng rừng, tỉ lệ cháy rừng, sự phân chia khối rừng, và các vùng đất ngập nước trong rừng Khía cạnh cuối cùng là Tài nguyên rừng, được đánh giá thông

qua các chỉ số: điều kiện rừng, trồng rừng và thu hoạch, diện tích phủ xanh, độ che

ph ủ của rừng, sự thay đổi diện tích rừng, và động vật hoang dã trong rừng Các chỉ

số cấp 1 được đánh giá bởi 1-3 chỉ số cấp 2, chỉ số cấp 2 được đánh giá và cho điểm theo 03 mức độ tốt, trung bình, và kém [55]

Gần đây, các nghiên cứu về đánh giá tính hiệu quả của mô hình QLRCĐ tập trung nhiều đến khía cạnh quản trị rừng Trong báo cáo của Viện Tài nguyên Thế

giới (WRI) về Khung chỉ số sáng kiến quản trị rừng (GFI) đã đưa ra 03 cấu phần

quan trọng trong hoạt động quản trị rừng bao gồm Tác nhân, Quy tắc, và Thực tiễn

Tác nhân ở đây bao gồm các tổ chức và cá nhân có vai trò quan trọng trong việc

quản lý và sử dụng rừng, chẳng hạn như cơ quan chính phủ, chính quyền địa phương, các công ty, cộng đồng, phương tiện truyền thông, và tổ chức dân sự xã hội Quy tắc bao gồm các chỉ số GFI đánh giá các chính sách, luật pháp và các quy

định ảnh hưởng đến rừng Thực tiễn bao gồm các chỉ số GFI đánh giá việc xây dựng

và áp dụng các quy tắc vào thực tiễn quản lý rừng Mức độ quản trị rừng được đánh

giá thông qua tính minh b ạch, mức độ tham gia, trách nhiệm các bên, sự phối hợp

và năng lực quản trị [46] Nghiên cứu về Phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng

đa dụng, Başkent (2018) đã nhấn mạnh để lập kế hoạch quản lý rừng có hiệu quả,

cần phải tính tới các yếu tố đặc tính rừng, quy hoạch không gian, dịch vụ hệ sinh

thái, chính sách và quy định lâm nghiệp,và các công cụ ra quyết định [45]

Trang 28

1.2.2.2 Các nghiên cứu về đánh giá tính hiệu quả mô hình QLRCĐ ở Việt

Nam

Nhằm hướng tới mục tiêu học hỏi và chia sẻ những kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng để nâng cao nhận thức, tăng cường kỹ năng quản lý rừng, góp phần phát triển thể chế, chính sách lâm nghiệp cộng đồng của Việt Nam, hội thảo C hính sách

và th ực tiễn quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam được cục Lâm nghiệp và Tổ chức

bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) mở ra tại Hà Nội (Bộ NN&PTNT,2009) Hội thảo đã thu hút được hơn 70 đại biểu từ nhiều tổ chức, chương trình, dự án trong nước và quốc tế như dự án “Tăng cường tiếng nói của các bên tham gia ngoài nhà nước để cải thiện quản lý rừng trong vùng sông Mê Kông” (RECOFTC), Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam, Dự án học hỏi về quản trị rừng (FGLG) [27]… Nội dung của hội thảo xoay quanh bốn vấn đề trọng tâm: (1) xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng của cộng đồng; (2) kế hoạch quản lý rừng công đồng; (3) quyền hưởng lợi và nghãi vụ; (4) tổ chức quản lý rừng cộng đồng Nhiều kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức về rừng được chia sẻ, mở đầu cho phát triển mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam [27]

Quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phương thức quản lý

rừng phổ biến ở Việt Nam và tồn tại song song với các phương thức quản lý khác như quản lý rừng của hệ thống sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhà nước, quản lý rừng tư nhân [22] Phát triển mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng yêu cầu

những trách nhiệm, kiến thức và đòi hỏi rừng gắn kết với người dân

Tháng 12 năm 2017, sau khi thu thập, bổ sung ý kiến đóng góp của đại biểu tham dự hội thảo UN-REDD là các chuyên gia, lực lượng kiểm lâm và chủ rừng trên địa bàn Hà Tĩnh, hội thảo đã lựa chọn 17 chỉ số giám sát Kế hoạch hành động REDD+ tỉnh Hà Tĩnh, bao gồm: Chất lượng rừng; đa dạng sinh học; diện tích suy thoái rừng; độ che phủ; doanh thu/hiệu quả kinh doanh (doanh nghiệp); diện tích có rừng; diện tích rừng được phê duyệt phương án quản lý, bảo vệ rừng bền vững; diện tích rừng trồng phân theo chức năng; giá trị phòng hộ, môi trường sinh thái (mức độ thiệt hại, bão, lũ); mức độ thiệt hại; số vụ cháy (diện tích cháy); số vụ vi phạm (phân theo loại vi phạm); thu nhập của người dân (xã thực hiện REDD+); tỷ lệ diện tích đưa vào khoanh nuôi/tổng diện tích; tỷ lệ diện tích được đưa vào bảo vệ; tỷ lệ

Trang 29

diện tích được phê duyệt phương pháp quản lý, bảo vệ rừng bền vững trên tổng diện tích của chủ rừng [13]

Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá về mô hình QLRCĐ ở Việt Nam Tuy nhiên đến nay, chưa có một bộ chỉ số đánh giá mô hình QLRCĐ được công bố

Dưới đây là chi tiết một vài ví dụ về đánh giá mô hình QLRCĐ ở Việt Nam

a Đánh giá hiệu quả QLRCĐ tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế

Năm 2012, tác giả Lê Quang Vĩnh, Ngô Thị Phương Anh cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” [20]

Đối tượng đề tài nghiên cứu bao gồm các loại rừng cộng đồng ở các thôn xã: (1) Rừng giao cho Thôn Thủy Yên Thượng (xã Lộc Thủy), Thủy Dương (xã Lộc Tiến) là rừng tự nhiên (thuộc rừng phòng hộ), rừng nghèo trữ lượng thấp Tổng diện tích giao 916,4ha; (2) Rừng và đất rừng giao cho thôn Phú Hải 2 (xã Lộc Vĩnh) là rừng tự nhiên, rừng trồng (thuộc rừng sản xuất), đất trống IC Rừng ở đây cũng dạng nghèo kiệt, trữ lượng thấp Tổng diện tích giao rừng và đất rừng 253,3ha; (3) Rừng và đất rừng giao cho các nhóm của thôn 10 (xã Lộc Hòa) là rừng tự nhiên (thuộc rừng sản xuất) Rừng nghèo kiệt chưa có trữ lượng Tổng diện tích giao 79,4ha; (4) Cộng đồng thôn quản lý bảo vệ rừng có các thôn Thủy Yên Thượng, Thủy Dương, Phú Hải 2, cộng đồng quản lý theo nhóm hộ có thôn 10, xã Lộc Hòa

Phú Lộc là huyện đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ và cho đến nay đã giao 1.557,8ha rừng tự

nhiên; 220,7ha đất trống; 71,2ha rừng trồng kèm theo chính sách hưởng lợi cho cộng đồng 8 thôn, thuộc 4 xã của huyện quản lý, bảo vệ theohai hình thức: Cộng đồng thôn và các nhóm hộ trong thôn Các khu rừng tự nhiên giao cho cộng đồng hầu hết là rừng nghèo, mặc dù cơ chế hưởng lợi từ rừng của cộng đồng đã có tác dụng khuyến khích người dân tham gia, tuy vậy thủ tục khai thác phức tạp khó để cộng đồng thực hiện Sự hỗ trợ của các dự án đã phần nào làm động lực thúc đẩy, nhưng thời gian hỗ trợ ngắn; sự phối hợp giữa các bên liên quan với cộng đồng trong quá trình quản lý bảo vệ rừng chưa được chặt chẽ Tuy nhiên nhờ sự tham gia tích cực của người dân mà hạn chế được các vụ vi phạm, trữ lượng cũng như chất lượng rừng (do cộng đồng dân cư thôn quản lý, bảo vệ) ngày càng được nâng cao

Trang 30

Các khu rừng đã có vai trò rất lớn trong bảo vệ sinh thái, môi trường Cơ cấu thu nhập của người dân thay đổi so với trước khi giao rừng, chủ yếu là sự tăng lên của thu nhập từ lâm nghiệp và nguồn thu từ du lịch sinh thái đóng góp vào cơ cấu thu nhập của cộng đồng Qua việc giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý ở Phú Lộc cho thấy: Cộng đồng dân cư thôn quản lý bảo vệ có hiệu quả hơn so với nhóm hộ

Hình 1.2: Cấu trúc quản lý rừng của các thôn tại huyện Phú Lộc,

tỉnh Thừa Thiên Huế

Đánh giá hiệu quả:

Nghiên cứu đánh giá mô hình quản lý rừng cộng đồng huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế là một nghiên cứu đánh giá tổng thể sự quản lý rừng tại địa phương Nghiên cứu không đưa ra một bộ chỉ số cụ thể, không có một bảng thang

đo cụ thể để đánh giá một cách định lượng, mà dựa vào bảng hỏi, kiến thức cùng

Trang 31

thực tiễn để tiến hành nghiên cứu đánh giá, dẫn đến kết quả sẽ mang tính định tính,

có yếu tố khách quan

Nghiên cứu đã đánh giá mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế dựa vào 5 khía cạnh quan trọng bao gồm: Chính sách, pháp luật; Cấu trúc rừng; Kinh tế ; Mối quan hệ xã hội; Lợi ích của rừng cộng đồng đem lại

Bộ 5 chỉ số này đã đánh giá được 1 cách tương đối tổng quan sự quản lý rừng của cộng đồng, cách thức bảo vệ và phát triển rừng Các yếu tố đánh giá được nghiên cứu chi tiết, chuyên sâu Với đề tài này, yếu tố kinh tế xã hội, mối liên kết giữa các chủ thể (cộng đồng, cán bộ quản lý, người dân có liên quan đến vấn đề quản lý rừng ) và cấu trúc rừng trồng được đánh giá chi tiết Tuy nhiên, vấn đề môi trường, con người và giá trị văn hóa vẫn chưa được đề cập đến trong nghiên cứu

b Mô hình QLRCĐ ở Tây Nguyên

Nghiên cứu vào tháng 08 năm 2013 về “Nghiên cứu mô hình quản lý rừng

Quan niệm về phát triển và giữ rừng gần đây mới được các cấp, các ngành nhận thức rõ Mất rừng ở Tây Nguyên là đánh mất thế mạnh và ảnh hưởng tích cực

của nó đối với môi trường, sinh thái Ðiều dễ thấy trong những năm gần đây, khí hậu Tây Nguyên diễn biến bất thường: hạn hán, lũ quét, mùa khô đến sớm và kéo dài, nhiệt độ trung bình hằng năm tăng lên Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng

của rừng đối với sự phát triển bền vững của vùng Tây Nguyên, trong Quyết định 168/2001/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên 2001-2005 đã đặt ra yêu cầu "phát triển mạnh lâm nghiệp Tây Nguyên là nhiệm vụ trước mắt và lâu dài nâng độ che phủ lên 65% vào năm 2010" Mục tiêu của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên xoay quanh các vấn đề: trồng và chăm sóc rừng phòng hộ và đặc dụng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, hỗ trợ trồng rừng sản xuất, hỗ trợ trồng trọt và cải thiện sinh kế người dân vùng dự án

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 4 mô hình quản lý rừng dựa trên chính sách giao đất giao rừng vùng Tây Nguyên của Nhà nước Dự án có 4 hợp phần chính: (1)

Mô hình nâng cao năng lực cộng đồng trong quản lý rừng tự nhiên; (2) Mô hình các

Trang 32

tổ tuần tra của thôn, bản; (3) Mô hình tuyên truyền cộng đồng trong bảo tồn thiên nhiên; (4) Mô hình du lịch dựa vào cộng đồng [11]

Mô hình nhóm tuần tra địa phương: phục vụ cho việc thiết lập một số nhóm tuần tra địa phương phối hợp với các phòng ban liên quan để đạt hiệu quả cao trong việc quản lý và bảo vệ rừng Mười nhóm tuần tra của 10 thôn trong xã Phong Mỹ được thành lập với thành phần chính là cán bộ công an và dân phòng địa phương Nhóm tuần tra địa phương chịu trách nhiệm tuyên truyền về bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phòng chống cháy rừng Ngoài ra, các nhóm này còn ngăn chặn các hoạt động phạm pháp như đốt rẫy, khai thác các sản phẩm rừng mà không có giấy phép và phối hợp với các nhóm của vùng lân cận thực hiện hoạt động bảo vệ liên thôn Sự hiệu quả mô hình mang lại cũng như ảnh hưởng từ các nhóm tuần tra này đa thực sự mang lại ý nghĩa tích cực như: (i) hạn chế vi phạm trong việc khai thác các sản phẩm từ rừng và săn bắt thú trong khu vực rừng tự nhiên do cộng đồng quản lý, do đó bảo vệ tốt hơn khu vực rừng được giao; (ii) tạo ra sinh kế cho người tham gia giúp tăng thêm thu nhập và xoá nghèo

Mô hình giáo dục cộng đồng: nhằm thực hiện tốt hơn việc giáo dục về quản lý

và bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên ở địa phương thông qua các hoạt động sinh

hoạt cộng đồng tại các buôn Tại đây thì các già làng trưởng bản sẽ là những người tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho người dân trong buôn của mình Việc tổ chức các hoạt động của nhóm phần nào góp phần giải quyết vấn đề sinh kế và giảm áp

lực đối với rừng, mô hình này đa thực sự có những tác động trực tiếp đến người dân

và khu vực nghiên cứu, đó là: (i) Nâng cao nhận thức của người dân, khuyến khích người dân thay đổi hành vi tiêu cực, (ii) nâng cao năng lực, kỹ năng cũng như tích

cực tham gia bảo vệ rừng nhằm cải thiện đời sống và bảo vệ thiên nhiên ở địa phương Hoạt động quan trọng nhất mà mô hình hỗ trợ là tổ chức các lớp tập huấn

về tái trồng rừng, chăn nuôi và chăm sóc cây trồng (cao su…) Mô hình này cũng không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người dân địa phương mà của cả những người dân vùng lân cận

Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng: giúp cộng đồng địa phương quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững và cải thiện mức sống, mô hình khu du lịch sinh thái tại buôn Đôn của khu vực rừng tự nhiên đã

Trang 33

được giao với một ban quản lý gồm 5 thành viên do cộng đồng bầu ra Người dân

trực tiếp tham gia vào việc quản lý và bảo vệ rừng tự nhiên, một phần là để hưởng lợi từ 200ha diện tích rừng tự nhiên được giao và một phần là để quản lý tốt hơn tài nguyên thiên nhiên ở địa phương Ban đầu, mặc dù người dân vẫn chưa được hưởng lợi từ mô hình này do các hoạt động này chưa tạo đủ nguồn thu nhập chính, song họ nâng cao được nhận thức về bảo tồn thiên nhiên, phát triển văn hoá bản địa Do đó,

họ có cơ hội để tăng thu nhập trong tương lai

Sau khi mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng được triển khai theo nghị định 304 của chính phủ đã có những tác động tích đến quá trình phát triển kinh tế xã hội và môi trường cho các tỉnh Tây Nguyên, nhất là những vùng đồng bào dân tộc thiểu số

- Tác động đến thu nhập và sinh kế người dân: Từ hoạt động khai thác gỗ và

lâm sản ngoài gỗ: Trong tương lai, người dân địa phương có thể thu lợi nhiều khi

mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng được triển khai tốt hơn Sau khi nhận thức được điều này, cộng đồng tích cực hơn trong việc nhận rừng để tạo nguồn thu trong tương lai Việc khai thác lâm sản trái phép không còn tồn tại do rừng được cộng đồng kiểm soát và điều đó đa làm cho rừng phát triển tốt hơn Nó không chỉ đẩy nhanh thời gian khai thác rừng mà còn đẩy nhanh thời gian phục hồi rừng góp phần

bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái

- H oạt động săn bắt động vật hoang dã, phá rừng làm nương rẫy và cháy rừng

không xảy ra thường xuyên như trước đây Chính những hoạt động giao lưu buôn bán các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ đã góp phần làm cho GDP của Tây

Nguyên tăng lên

- Mô hình góp phần phát triển bảo tồn văn hóa truyền thống Tây Nguyên:

Nguồn cội của nhiều lễ nghi, nhiều tập tục, nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống ở Tây Nguyên đều gắn với rừng, với không gian rừng Vì thế đồng bào Tây Nguyên xưa kia rất yêu quý rừng, rất có ý thức bảo vệ rừng Vì vậy việc bảo tồn và phát triển rừng cũng chính là bảo tồn và phát triển văn hóa Tây Nguyên Mô hình QLRCĐ là một mô hình có tính cộng đồng cao và dựa trên cơ sở văn hóa bản địa để

áp dụng Mô hình đã góp phần đáng kể trong việc bảo tồn văn hóa nơi đây

Trang 34

- Thay đổi nhận thức và hành vi của người dân: Trước đây người dân tộc ở

Tây Nguyên có thói quen đốt rừng làm nương rẫy từ lâu nên tình trạng chặt phá rừng xảy ra khá nghiêm trọng Tuy nhiên sau khi mô hình này được áp dụng thì hiện tượng này đã giảm hẳn Người dân đã biết gắn bó với mảnh đất, cây rừng của mình nhiều hơn Bởi mô hình đã tạo ra không những lợi ích về kinh tế như hỗ trợ về vốn, cây trồng, kỹ thuật đối với người dân mà còn có những trách nhiệm và nhiệm

vụ đi kèm Trong đó yêu cầu người dân phải quản lý và bảo vệ khu rừng mà mình được giao

- Thay đổi độ che phủ rừng: Ở đâu rừng được giao cho dân, cho cộng đồng và

gắn lợi ích thiết thực của dân với rừng thì ở đó rừng được bảo vệ tốt hơn Có nhiều chủ trang trại còn mạnh dạn bỏ vốn đầu tư trồng được hàng chục héc-ta rừng, góp phần phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Hành lang pháp lý cho việc quản lý, bảo vệ rừng của nước ta không thiếu, nhưng điều cốt yếu là tổ chức thực hiện thế nào cho

có hiệu quả lại tùy thuộc vào cách làm của mỗi địa phương

- Hiện tượng chặt phá rừng đã giảm: Cùng với việc gia tăng thu nhập thì nhờ

các hoạt động tuyên truyền giáo dục không những đã giúp người dân có nhận thức cao hơn về hoạt động quản lý và bảo vệ rừng Rừng ở Tây Nguyên không chỉ lớn về diện tích mà còn có giá trị đặc biệt về chất lượng Từ khi triển khai mô hình thì thực trạng chặt phá rừng đã giảm Một mặt là do người dân đã ý thức được vai trò của rừng, hiện tượng đốt rừng làm nương rẫy không còn xảy ra nhiều như trước Mặt

khác, khi họ đã là chủ thể quản lý rừng thì họ sẽ phải bảo vệ khu rừng của mình

Đánh giá hiệu quả:

Dự án tiến hành nghiên cứu đánh giá chất lượng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng dựa trên 2 tiếu chí, đó là: (1) Hiệu quả môi trường; và (2) hiệu quả kinh tế xã hội Mục đích của dự án là đánh giá hiệu quả bảo vệ rừng sau khi áp dụng

mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng, và lợi ích kinh tế đem lại cho cộng đồng,

xã hội Nên phương pháp đánh giá cũng sẽ đi chuyên sâu vào mục tiêu này

Vớihai tiêu chí mô hình đặt ra, mục tiêu của nghiên cứu được đảm bảo, nhưng đối với đánh giá một mô hình QLRCĐ, hiệu quả quản lý rừng phải tiến hành đánh giá được tổng quan các khía cạnh kinh tế, môi trường và chính sách, con người và

xã hội Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu dựa trên chính sách chia đất giao rừng của Nhà

Trang 35

nước, nên nghiên cứu tập trung đánh giá vào khía cạnh kinh tế và hiệu suất môi trường, khiến cho vấn đề môi trường, con người ít được tập trung, khi nhận định các khía cạnh này sẽ mang tính chủ quan

c Quản lý rừng dựa vào cộng đồng tỉnh Sơn La

Sơn La là một tỉnh miền núi của vùng Tây Bắc Việt Nam, có tỷ lệ rừng cộng đồng rất lớn, chiếm tới 40% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Sơn La Đây cũng là nơi có nhiều thành phần dân tộc thiểu số sinh sống như: Thái, Mường, H’Mông… Để khuyến khích người dân tham gia tích cực vào việc quản lý tài nguyên rừng tự nhiên, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập và giảm nghèo cho những cộng đồng sống dựa vào rừng, từ tháng 5/2012 đến tháng 12/2013, tỉnh Sơn

La thực hiện dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam” tại 8 bản của đồng bào Mường, Thái Mông thuộc 4 xã vùng cao Nà Ớt, Phiêng Cằm (huyện Mai Sơn), Mường Do, Mường Lang (huyện Phù Yên) Nghiên cứu này được thực hiện năm 2016 với phạm vi thực hiện ở 3 xã với đại diện cho 3 nhóm dân tộc của từng xã Mường, Thái, H’Mông

Việc nghiên cứu thực trạng quản lý rừng cộng đồng ở tỉnh Sơn La là hết sức cần thiết, từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm và đề xuất những biện pháp

nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rừng cộng đồng, phát triển bền vững tài nguyên rừng và phát triển kinh tế tại địa phương [37]

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp chủ yếu là phỏng vấn và phân tích có

chọn lọc các tài liệu thứ cấp

Tại tỉnh Sơn La trong những năm vừa qua đã thực hiện Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp; Nghị định 163/1999/NĐ - CP ngày 16/11/2009 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; các quyết định của tỉnh Sơn

La về việc giao đất giao rừng từ năm 2000 đến nay ở các xã nghiên cứu đã tiến hành giao đất lâm nghiệp, đất rừng cho các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã Các đối tượng quản lý rừng ở các xã nghiên cứu bao gồm: hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả 3 xã đều có diện tích rừng tương đối lớn, rừng được giao cho cộng đồng chủ yếu là rừng tự nhiên, có chức năng phòng hộ

Trang 36

Các hoạt động quản lý rừng cộng đồng tại 3 xã đều thực hiện dưới sự hỗ trợ của các

dự án Cộng đồng địa phương vẫn còn có tác động đến rừng cộng đồng thông qua các hoạt động như: khai thác gỗ, gỗ củi, lâm sản ngoài gỗ… Từ kết quả đó, tác giả

đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý rừng cộng đồng tại khu vực nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả:

Tác giả tiến hành công trình đánh giá mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng dựa trên thực trạng mô hình tại Sơn La, tiến hành nghiên cứu trọng tâm 3 khía cạnh: Kinh tế, con người và pháp luật Ba yếu tố này đa số được chọn như 1 thước

đo để đánh giá quản lý rừng, đây là 3 khía cạnh quan trọng, đánh giá một cách khái quát mô hình Tuy nhiên, môi trường và xã hội là 2 yếu tố không thể thiếu để đánh giá hiệu quả mô hình QLRCĐ khi được áp dụng tại từng khu vực

Với đánh giá 3 yếu tố con người, kinh tế và pháp luật, 2 yếu tố môi trường và

xã hội sẽ ít được nghiên cứu đến, đánh giá 2 yếu tố này dựa trên mối liên kết cho 3 yếu tố và không được xem là 1 chỉ số để đưa vào đánh giá, làm cho tổng quan đánh giá thiếu sự bao hàm, tổng thể nghiên cứu không hoàn chỉnh 5 yếu tố này luôn liên quan đến nhau, một nghiên cứu đẩy đủ để xây dựng một bộ chỉ số đánh giá sẽ phải bao gồm 5 yếu tố 3 khía cạnh đề tài nghiên cứu là quan trọng hơn, nhưng không có

ý nghĩa nếu thiếu sự hỗ trợ và liên kết từ yếu tố môi trường và xã hôi

1.3 Tổng quan huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái

Trang 37

Hình 1.3: B ản đồ hành chính tỉnh Yên Bái 1.3.1 Thực trạng công tác quản lý rừng trên địa bàn tỉnh Yên Bái

1.3.1.1 Tổ chức hoạt động dịch vụ lâm nghiệp

Chương trình 661 Yên Bái có nhiệm vụ bảo vệ diện tích rừng hiện có và trồng 12.000ha rừng, tái sinh 83.000 rừng tự nhiên vào năm 2010 Để hoàn thành các nhiệm vụ này, Yên Bái đã tổ chức 9 dự án địa phương, kể cả người phát triển giống rừng có các nhiệm vụ sau:

- Thành lập 9 vườn ươm với công suất cung cấp 30 triệu cây giống/năm, được đặt tại huyện trồng rừng

- Thiết lập 2 trung tâm sản xuất cây con sử dụng kỹ thuật nuôi cấy mô và cắt

- Thay đổi 381ha rừng thành hạt giống cung cấp

Những nhiệm vụ này phản ánh sự quan tâm cao của Yên Bái trong việc sản xuất cây giống lâm nghiệp - yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công của rừng Hướng dẫn và thực hiện 661 dự án do tỉnh giao đối với các lâm trường quốc doanh hoạt động như chủ dự án Tại Yên Bái, hầu hết lâm trường quốc doanh không chỉ giao đất, rừng quản lý, bảo vệ và trồng rừng trực tiếp trên cơ sở hạch toán, nhưng cũng được giao làm dự án 661 chủ sở hữu để nhận và giải ngân quỹ, cung

Trang 38

cấp hướng dẫn kỹ thuật và cung cấp cây con cho người dân trong các huyện bảo vệ, tái sinh và trồng rừng trên đất rừng không thuộc sở hữu của lâm trường quốc doanh

Bảng 1.1: Đất lâm nghiệp do các lâm trường quốc doanh và khu vực dự

án quản lý (5MHRP) STT Lâm trường Số lượng cán bộ Diện tích rừng quản

Yên Bái có 5 huyện - Trần Yên, Yên Bình, Lục Yên, Văn Yên và khu vực xung quanh huyện Văn Chấn nằm trong khu vực quy hoạch để trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng Trong tổng số 78.488ha rừng trồng của tỉnh, rừng nguyên liệu giấy là 35.724ha, trong đó có 3.500ha rừng tại tuổi thu hoạch, thu hoạch 420.000 tấn, nguồn cầu tại nhà máy giấy Bãi Bằng là 200.000 tấn, cung hơn cầu và thặng dư 220.000 tấn Để đảm bảo tiêu thụ tất cả sản phẩm, giải

Trang 39

quyết tình trạng dư thừa của nguyên liệu giấy, tỉnh đã thành lập 9 cơ sở chế biến trồng gỗ và các sản phẩm phi gỗ, 3 lâm trường quốc doanh có trạm xử lý bột giấy

và giấy, mở rộng thị trường đến Hà Nội, Hải Phòng và trực tiếp xuất khẩu giấy và đũa sang Đài Loan Mặc dù tỉnh đã giới thiệu nhiều giải pháp mở rộng thị trường gỗ cho người dân nhưng gỗ nguyên liệu tồn kho đang trong tình trạng nghiêm trọng

Để giải quyết tình hình ở Yên Bái nói riêng và ở tất cả các vùng nguyên liệu giấy nói chung, cần thiết để giải quyết vấn đề cơ bản và hướng chính là nhanh chóng phát triển cơ sở chế biến gỗ (như bột giấy chế biến, ván nhân tạo.)

Tóm lại, về tổ chức dịch vụ lâm nghiệp, Yên Bái đã có những nỗ lực rất lớn và thu được rất nhiều thành tựu, các dịch vụ "đầu ra" ngày càng dung hòa, người trồng rừng có thể bán sản phẩm của họ, mà không sợ tồn

1.3.1.2 Phân công, phân cấp thực hiện chức năng quản lý rừng và đất lâm

nghiệp

Sau khi Chính phủ ban hành Quyết định 245/1998/QĐ-TTg, Chi cục Kiểm lâm đã hỗ trợ tỉnh tổ chức các cuộc họp liên ngành giữa nông nghiệp và phát triển nông thôn, lâm nghiệp các lĩnh vực bảo vệ và địa chính để thảo luận nội dung Quyết định và thống nhất phân công cụ thể nhiệm vụ cho từng ngành và từng cấp

- Sở NNPTNT đã hỗ trợ UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước

về rừng Sở NN & PTNT chưa thành lập Cục phát triển rừng Sở NN & PTNT có 1 phó giám đốc chịu trách nhiệm lâm nghiệp, 1 lâm nghiệp phân chia với 6 nhân viên tốt nghiệp đại học

- Chi cục bảo vệ rừng với 202 người được tổ chức thành 9 trạm, 1 đơn vị tuần tra di động và 3 bộ phận chuyên môn Ngoài chức năng giám sát áp dụng pháp luật

về rừng, cháy rừng phòng, chống và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, trước đây lực lượng bảo vệ rừng cũng thực hiện giao đất và giao rừng nhưng sau khi có hiệu lực của Quyết định 245, nghĩa vụ này là bàn giao cho khu vực địa chính

- Cục Địa chính giúp UBND tỉnh thực hiện trách nhiệm quản lý đất đai, khu rừng Hiện tại, đất và giao rừng đã được giao cho khu vực địa chính Với đội ngũ nhân viên thường trực hạn chế, khu vực địa chính có thể đủ khả năng để chăm sóc đất nông nghiệp và đất ở và chỉ thấy khó thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ giao

Trang 40

đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến năm 2002 theo quy định tại

- Phân khu địa chính hỗ trợ bộ máy nhà nước cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về đất đai, kể cả đất đai giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân nhưng chỉ có thể hoàn thành các nhiệm vụ về đất nông nghiệp và đất ở Đối với đất rừng, vì mọi người không có nhu cầu lớn để có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, bộ phận địa chính đã không chú ý

đủ để đẩy nhanh tiến độ phân bổ và phát hành "Sổ đỏ" cho mọi người

- Các trạm kiểm lâm đã hoàn thành trách nhiệm giám sát việc quản lý, bảo vệ rừng, đất rừng do sở hữu rừng, vận chuyển lâm sản, nhưng giao khoán bảo vệ rừng tại chỗ không được thực hiện nhiều

Hầu hết các xã đã thành lập các hội đồng nhỏ, có cán bộ thường trực, tổ chức tốt lực lượng nhân dân để bảo vệ rừng, xây dựng và áp dụng các quy định về bảo vệ rừng Nhìn chung, việc thực hiện Quyết định 245 tại Yên Bái không được thực hiện phần lớn và hoàn thành Tuy nhiên hội nghị cấp tỉnh đã được tổ chức nhưng những người tham gia hội nghị đã bị giới hạn trong lãnh đạo tỉnh và một số huyện Sau hội nghị, không có giấy tờ hướng dẫn nào được chuẩn bị cho chuyên gia từ các bộ phận, các đơn vị của tỉnh, huyện và xã chưa nắm bắt được nội dung của Quyết định và trách nhiệm của họ trong thực hiện nó

1.3.1.3 Thực hiện chính sách khai thác và hưởng lợi từ rừng

Yên Bái không có giấy tờ hướng dẫn thực hiện chính sách khai thác, sử dụng rừng như chính sách các tỉnh khác Việc thực hiện của tỉnh phải tuân thủ các quy định của Nhà nước như sau:

Khi rừng tăng trưởng đủ thời gian khi được đánh giá cho một chu kỳ khai thác

và đã đặt cọc trên 90 m3/ha, các lâm trường quốc doanh sẽ báo cáo Sở NN & PTNT

đề xuất UBND tỉnh để khai thác Nếu đề xuất được chấp nhận, các lâm trường quốc doanh sẽ chuẩn bị thiết kế khai thác, Sở NN & PTNT sẽ thẩm định và sau đó gửi cho UBND tỉnh để tiếp tục xem xét và phê duyệt UBND tỉnh sau đó trình thiết kế

Ngày đăng: 07/05/2019, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w