MỞ ẦU Thừa Thiên Huế là tỉnh duyên hải miền Trung, có bờ biển dài hơn 127 km với thềm lục địa biển Đông và hệ đầm phá rộng lớn, có hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài thủy sinh vật sinh sống. Hệ thống đầm phá và vùng ven biển Thừa Thiên Huế có giá trị nhiều mặt về kinh tế xã hội, lịch sử văn hoá, đặc biệt là về sinh thái, môi trƣờng và đa dạng sinh học. Các thủy sản nhƣ cá, cua, tôm, thân mềm, thực vật biển là nguồn tài nguyên quan trọng cho các sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản hợp lý trong vùng có một ý nghĩa quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) thuộc họ cá Căng (Teraponidae), nằm trong bộ cá Vƣợc (Perciformes), có nguồn gốc biển, di nhập vào vùng đầm phá và vùng cửa sông – ven biển. Cá Ong căng đƣợc đánh giá là loài có triển vọng phát triển để nuôi thả tại vùng đầm phá Thừa Thiên Huế vì sức đề kháng tốt, khỏe, có giá trị thƣơng phẩm và giá trị dinh dƣỡng cao, đƣợc ngƣời dân ƣu thích. Tuy nhiên, nghề nuôi cá Ong căng chƣa đƣợc phát triển do thiếu nguồn giống, đặc biệt là giống đƣợc sản xuất nhân tạo để có thể cung cấp đƣợc số lƣợng lớn cho nhu cầu nuôi. Những năm gần đây, các dạng tài nguyên vùng cửa sông, ven biển bị khai thác cạn kiệt, không đƣợc đặt trong một quy hoạch tổng thể, dẫn tới những hậu quả sinh thái nghiêm trọng nhƣ hủy hoại nơi sống đặc trƣng của nhiều loài, gây sự suy giảm đa dạng sinh học, giảm sút nguồn lợi của các đối tƣợng khai thác có giá trị trong vùng, đặc biệt là cá Ong căng. Các công trình khoa học nghiên cứu về cá Ong căng tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại, một số đặc điểm sinh học của cá, chƣa có nghiên cứu nào đề cập tới việc cho sinh sản nhân tạo. Trƣớc nhu cầu nuôi và quản lý nguồn lợi cá Ong căng ở vùng đầm phá và ven biển Thừa Thiên Huế, đòi hỏi có các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học và khả năng sinh sản của cá Ong căng để tiến tới việc sản xuất giống cá nhân tạo nhằm chủ động trong việc cung cấp nguồn giống ổn định, chất lƣợng cho ngƣời nuôi trồng thuỷ sản, góp phần vào việc bảo tồn và phát triển loài. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) vùng ven biển Thừa Thiên Huế”. 1. Lý do chọn đề tài Qua bƣớc đầu tìm hiểu về tình hình nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và loài cá Ong căng nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam cũng nhƣ hiện trạng khai thác và đánh bắt cá Ong căng ở Việt Nam, đề tài này đƣợc lựa chọn với các lý do sau: - Việc nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và cá Ong căng nói riêng trên thế tập chung chủ yếu vào đặc điểm sinh học, phân bố và môi trƣờng sống của cá. - Các công trình khoa học nghiên cứu về cá Ong căng tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại, một số đặc điểm sinh học của cá, chƣa có nghiên cứu nào đề cập tới việc cho sinh sản nhân tạo. - Cá Ong căng đƣợc đánh giá là loài có triển vọng phát triển để nuôi thả tại vùng đầm phá Thừa Thiên Huế vì sức đề kháng tốt, khỏe, có giá trị thƣơng phẩm và giá trị dinh dƣỡng cao, đƣợc ngƣời dân ƣu thích. Tuy nhiên, nghề nuôi cá Ong căng chƣa đƣợc phát triển do thiếu nguồn giống, đặc biệt là giống đƣợc sản xuất nhân tạo để có thể cung cấp đƣợc số lƣợng lớn cho nhu cầu nuôi. Chính vì vậy việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống của cá Ong căng góp phần phát triển nghề nuôi cá biển tại Thừa Thiên Huế. 2. Mục tiêu nghiên cứu - Hiểu rõ và xác định đƣợc các đặc điểm sinh học của cá Ong căng vùng ven biển Thừa Thiên Huế. - Thăm dò đƣợc khả năng nhân giống của cá Ong căng: thử nghiệm loại kích dục tố và chất kích thích sinh sản thích hợp để kích thích sinh sản cá Ong căng, nghiên cứu sự phát triển của cá Ong căng bột và biện pháp kỹ thuật ƣơng nuôi cá giai đoạn cá bột lên cá giống.
Trang 1ỌC ƢỜN ỌC Ƣ P M
LÊ THỊ N Ƣ P ƢƠN
NGHIÊN CỨ ẶC ỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂN N ÂN ỐN CÁ ON CĂN –
Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
VÙNG VEN BIỂN THỪA THIÊN HU
HU , 2019
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VI T TẮT iv
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH v
MỞ ẦU 1
Chương 1 ỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về họ cá Căng (Teraponidae) trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 10
1.1.3 Một số nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá biển ở Việt Nam 14
1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 18
1.2.1 Vị trí địa lý 18
1.2.2 Địa hình 19
1.2.3 Khí hậu và thủy văn 19
1.2.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 24
Chương 2 Ố ƯỢN , ỊA ỂM, THỜ AN VÀ P ƯƠN P ÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 28
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Địa điểm thu mẫu 28
2.3.2 Địa điểm phân tích mẫu 28
2.3.3 Địa điểm thăm dò khả năng nhân giống 28
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.4.1 Sơ đồ nghiên cứu 31
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 31
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 32
2.4.4 Thăm dò khả năng nhân giống của cá Ong căng 37
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 42
Trang 3Chương 3 K T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 43
3.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ ONG CĂNG 43
3.1.1 Đặc điểm sinh trưởng của cá 43
3.1.2 Đặc điểm dinh dưỡng 51
3.1.3 Đặc điểm sinh sản 63
3.2 THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG CÁ ONG CĂNG 81
3.2.1 Kích thích sinh sản và ấp trứng cá Ong căng 81
3.2.2 Kỹ thuật ương từ cá bột lên cá hương 89
3.2.3 Kỹ thuật ương từ cá hương lên cá giống 93
3.3 XÂY DỰNG QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG CÁ ONG CĂNG 98
3.3.1 Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ 99
3.3.2 Kỹ thuật tuyển chọn cá bố mẹ và cho đẻ 100
3.3.3 Kỹ thuật thu, ấp trứng nở ra cá bột 102
3.3.4 Kỹ thuật ương cá bột lên cá hương 103
3.3.5 Kỹ thuật ương cá hương lên cá giống 105
K T LUẬN VÀ Ề NGHỊ 107
1 KẾT LUẬN 107
2 ĐỀ NGHỊ 108
DANH MỤC CÁC CÔN ÌN Ã CÔN BỐ 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC P1
Trang 4GSI Gonadosomatic index: hệ số thành thục
HCG Human Chorionic Gonadotropin: Hormone thai
kỳ được tiết bởi nhau thai
T1(tb), T2(tb), T3(tb), T4(tb) Mức tăng trưởng chiều dài trung bình hằng năm
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2016 tại các trạm quan trắc ở
tỉnh Thừa Thiên Huế 20
Bảng 1.2 Số giờ nắng trung bình tháng trong năm 2016 21
Bảng 1.3 Phân chia lao động theo khu vực kinh tế (người) 24
Bảng 1.4 Diện tích nuôi trồng thủy sản trong 5 năm (2012 – 2016) 25
Bảng 1.5 Sản lượng thủy sản 5 năm GĐ 2012 - 2016 25
Bảng 2.1 Địa điểm, thời gian thu mẫu và số lượng mẫu 29
Bảng 2.2 Các loại và nồng độ chất kích thích sinh sản cá Ong căng 39
Bảng 2.3 Hàm lượng chất dinh dưỡng trong các loại thức ăn (%) 41
Bảng 3.1 Chiều dài và khối lượng cá Ong căng theo giới tính và theo nhóm tuổi 43
Bảng 3.2 Chiều dài và khối lượng cá Ong căng theo giới tính trong các năm 46
Bảng 3.3 Tỷ lệ đực cái của cá Ong căng theo nhóm tuổi trong các năm 49
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng chiều dài trung bình hằng năm của cá Ong căng 50
Bảng 3.5 Các thông số sinh trưởng theo chiều dài và khối lượng 51
Bảng 3.6 Thành phần các loại thức ăn trong ống tiêu hóa của cá Ong căng 52
Bảng 3.7 Khối lượng các nhóm thức ăn trong ống tiêu hóa cá Ong căng 54
Bảng 3.8 Độ no của cá Ong căng theo các tháng trong năm 56
Bảng 3.9 Bậc độ no của cá Ong căng theo mùa 57
Bảng 3.10 Độ no của cá Ong căng trong từng năm 58
Bảng 3.11 Độ no của cá Ong căng theo các GĐ CMSD 59
Bảng 3.12 Độ no của cá Ong căng theo nhóm tuổi 61
Bảng 3.13 Hệ số béo của cá Ong căng theo nhóm tuổi 62
Bảng 3.14 Đường kính tế bào trứng và nhân qua 4 thời kỳ phát triển 66
Bảng 3.15 Các GĐ CMSD của cá Ong căng theo nhóm tuổi 78
Bảng 3.16 Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của cá Ong căng 80
Bảng 3.17 Các yếu tố sinh thái trong trong thí nghiệm nuôi vỗ ở các môi trường khác nhau 81
Trang 6Bảng 3.18 Tỷ lệ thành thục của cá Ong căng theo thời gian ở các môi trường nuôi
vỗ khác nhau (%) 82Bảng 3.19 Tỷ lệ thành thục của cá Ong căng được nuôi vỗ bằng các loại thức ăn khác nhau (%) 83Bảng 3.20 Ảnh hưởng của LRH-A3 đến một số chỉ tiêu sinh sản 84Bảng 3.21 Ảnh hưởng của nồng độ HCG đến một số chỉ tiêu sinh sản của cá Ong căng 85Bảng 3.22 Sự phát triển phôi của cá Ong căng 87Bảng 3.23 Các yếu tố sinh thái của môi trường ương cá Ong căng từ cá bột lên cá hương trong thí nghiệm về độ mặn 89Bảng 3.24 Các yếu tố sinh thái ương cá Ong căng từ cá bột lên cá hương trong thí nghiệm về thức ăn 90Bảng 3.25 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Ong căng GĐ cá bột lên cá hương (%) 91Bảng 3.26 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ sống của cá Ong căng GĐ cá bột lên cá hương (%) 92Bảng 3.27 Các yếu tố sinh thái của môi trường ương cá Ong căng từ cá hương lên
cá giống trong thí nghiệm về thức ăn 94Bảng 3.28 Các yếu tố sinh thái của môi trường ương cá Ong căng từ cá hương lên
cá giống trong thí nghiệm về độ mặn 95Bảng 3.29 Ảnh hưởng của độ mặn đến tăng trưởng của cá 95Bảng 3.30 Ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn đến tăng trưởng của cá 96Bảng 3.31 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Ong căng GĐ 15 đến 40 ngày tuổi (%) 97Bảng 3.32 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của cá Ong căng GĐ 15 đến 40 ngày tuổi (%) 97
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) 27
Hình 2.2 Các vùng/điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu 30
Hình 2.3 Sơ đồ nghiên cứu của đề tài 31
Hình 3.1 Biểu đồ chiều dài trung bình của cá Ong căng theo nhóm tuổi 44
Hình 3.2 Biểu đồ khối lượng trung bình cá Ong căng theo nhóm tuổi 45
Hình 3.3 Đồ thị tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Ong căng 46
Hình 3.4 Biểu đồ thành phần nhóm tuổi (%) của cá Ong căng 47
Hình 3.5 Biểu đồ giới tính theo nhóm tuổi của cá Ong căng 48
Hình 3.6 Biểu đồ tăng trưởng chiều dài hằng năm của cá Ong căng 50
Hình 3.7 Biểu đồ phổ thức ăn của cá Ong căng theo tỷ lệ (%) số nhóm thức ăn 54
Hình 3.8 Biểu đồ số loại thức ăn của cá Ong căng theo nhóm kích thước 55
Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện các bậc độ no của cá Ong căng theo các tháng 57
Hình 3.10 Biểu đồ các bậc độ no theo mùa 58
Hình 3.11 Biểu đồ bậc độ no của cá Ong căng trong từng năm 59
Hình 3.12 Biểu đồ độ no của cá Ong căng theo GĐ CMSD 60
Hình 3.13 Biểu đồ các bậc độ no của cá Ong căng theo các nhóm tuổi 62
Hình 3.14 Ảnh tế bào trứng cá Ong căng thời kỳ tổng hợp nhân (x20) 64
Hình 3.15 Ảnh tế bào trứng cá Ong căng thời kỳ sinh trưởng sinh chất (x20) 64
Hình 3.16 Ảnh tế bào trứng cá Ong căng pha không bào hóa (x20) 65
Hình 3.17 Ảnh tế bào trứng cá Ong căng thời kỳ chín (x20) 66
Hình 3.18 Lát cắt buồng trứng GĐ I (x20) 68
Hình 3.19a Cá Ong căng mang buồng trứng ở GĐ II 69
Hình 3.19b Lát cắt buồng trứng cá Ong căng ở GĐ II (x20) 69
Hình 3.20a Cá Ong căng mang buồng trứng ở GĐ III 70
Hình 3.20b Buồng trứng cá Ong căng ở GĐ III (x20) 70
Hình 3.21a Cá Ong căng mang buồng trứng ở GĐ IV 71
Hình 3.21b Buồng trứng cá Ong căng ở GĐ IV (x20) 71
Hình 3.22 Lát cắt buồng trứng cá Ong căng GĐ V (x20) 72
Trang 8Hình 3.23 Lát cắt buồng trứng cá Ong căng GĐ VI - III (x20) 73
Hình 3.24 Ảnh tinh sào cá Ong căng GĐ I (x100) 73
Hình 3.25a Tinh sào cá Ong căng GĐ II 74
Hình 3.25b Ảnh tinh sào cá Ong căng GĐ II (x100) 74
Hình 3.26a Tinh sào cá Ong căng GĐ III 75
Hình 3.26b Ảnh tinh sào cá Ong căng GĐ III (x100) 75
Hình 3.27 Tinh sào cá Ong căng ở GĐ IV (x100) 76
Hình 3.28a Bụng cá Ong căng đực GĐ V 76
Hình 3.28b Tinh sào cá Ong căng ở GĐ V (x100) 76
Hình 3.29 Tinh sào cá Ong căng ở GĐ VI (x100) 77
Hình 3.30 Biểu đồ sự phát triển tuyến sinh dục theo nhóm tuổi 79
Hình 3.31 Các GĐ phát triển của phôi cá Ong căng 88
Hình 3.32 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của cá GĐ cá bột lên cá hương 93
Hình 3.33 Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất giống cá Ong căng 98
Hình 3.34 Vị trí đặt lồng nuôi tại xã Phú Thuận 99
Hình 3.35 Kiểm tra sự thành thục sinh dục của cá 101
Hình 3.36 Tiêm LRH-A3 cho cá 101
Hình 3.37 Bể đẻ cá Ong căng 102
Hình 3.38 Bể ấp trứng 103
Hình 3.39 Bể ương cá Ong căng từ cá bột lên cá hương 104
Hình 3.40 Bể ương giai đoạn cá hương lên cá giống 105
Trang 9MỞ ẦU
Thừa Thiên Huế là tỉnh duyên hải miền Trung, có bờ biển dài hơn 127 km với thềm lục địa biển Đông và hệ đầm phá rộng lớn, có hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài thủy sinh vật sinh sống Hệ thống đầm phá và vùng ven biển Thừa Thiên Huế
có giá trị nhiều mặt về kinh tế xã hội, lịch sử văn hoá, đặc biệt là về sinh thái, môi trường và đa dạng sinh học Các thủy sản như cá, cua, tôm, thân mềm, thực vật biển
là nguồn tài nguyên quan trọng cho các sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản hợp lý trong vùng có một ý nghĩa quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) thuộc họ cá Căng
(Teraponidae), nằm trong bộ cá Vược (Perciformes), có nguồn gốc biển, di nhập vào vùng đầm phá và vùng cửa sông – ven biển Cá Ong căng được đánh giá là loài
có triển vọng phát triển để nuôi thả tại vùng đầm phá Thừa Thiên Huế vì sức đề kháng tốt, khỏe, có giá trị thương phẩm và giá trị dinh dưỡng cao, được người dân
ưu thích Tuy nhiên, nghề nuôi cá Ong căng chưa được phát triển do thiếu nguồn giống, đặc biệt là giống được sản xuất nhân tạo để có thể cung cấp được số lượng lớn cho nhu cầu nuôi
Những năm gần đây, các dạng tài nguyên vùng cửa sông, ven biển bị khai thác cạn kiệt, không được đặt trong một quy hoạch tổng thể, dẫn tới những hậu quả sinh thái nghiêm trọng như hủy hoại nơi sống đặc trưng của nhiều loài, gây sự suy giảm
đa dạng sinh học, giảm sút nguồn lợi của các đối tượng khai thác có giá trị trong vùng, đặc biệt là cá Ong căng Các công trình khoa học nghiên cứu về cá Ong căng tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại, một số đặc điểm sinh học của
cá, chưa có nghiên cứu nào đề cập tới việc cho sinh sản nhân tạo
Trước nhu cầu nuôi và quản lý nguồn lợi cá Ong căng ở vùng đầm phá và ven biển Thừa Thiên Huế, đòi hỏi có các nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học
và khả năng sinh sản của cá Ong căng để tiến tới việc sản xuất giống cá nhân tạo nhằm chủ động trong việc cung cấp nguồn giống ổn định, chất lượng cho người nuôi trồng thuỷ sản, góp phần vào việc bảo tồn và phát triển loài Vì vậy, chúng tôi
Trang 10chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống cá Ong
căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) vùng ven biển Thừa Thiên Huế”
1 Lý do chọn đề tài
Qua bước đầu tìm hiểu về tình hình nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và loài cá Ong căng nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam cũng như hiện trạng khai thác và đánh bắt cá Ong căng ở Việt Nam, đề tài này được lựa chọn với các lý do sau:
- Việc nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và cá Ong căng nói riêng trên thế tập chung chủ yếu vào đặc điểm sinh học, phân bố và môi trường sống của cá
- Các công trình khoa học nghiên cứu về cá Ong căng tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại, một số đặc điểm sinh học của cá, chưa có nghiên cứu nào đề cập tới việc cho sinh sản nhân tạo
- Cá Ong căng được đánh giá là loài có triển vọng phát triển để nuôi thả tại vùng đầm phá Thừa Thiên Huế vì sức đề kháng tốt, khỏe, có giá trị thương phẩm và giá trị dinh dưỡng cao, được người dân ưu thích Tuy nhiên, nghề nuôi cá Ong căng chưa được phát triển do thiếu nguồn giống, đặc biệt là giống được sản xuất nhân tạo
để có thể cung cấp được số lượng lớn cho nhu cầu nuôi Chính vì vậy việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống của cá Ong căng góp phần phát
triển nghề nuôi cá biển tại Thừa Thiên Huế
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hiểu rõ và xác định được các đặc điểm sinh học của cá Ong căng vùng ven biển Thừa Thiên Huế
- Thăm dò được khả năng nhân giống của cá Ong căng: thử nghiệm loại kích dục tố
và chất kích thích sinh sản thích hợp để kích thích sinh sản cá Ong căng, nghiên cứu
sự phát triển của cá Ong căng bột và biện pháp kỹ thuật ương nuôi cá giai đoạn cá bột lên cá giống
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Ong căng: đặc điểm sinh trưởng, đặc điểm dinh dưỡng và đặc điểm sinh sản của cá
Trang 11- Nghiên cứu sử dụng các loại kích dục tố, chất kích thích sinh sản khác nhau để kích thích cá Ong căng sinh sản nhân tạo và sự phát triển phôi cá Ong căng
- Nghiên cứu ương cá Ong căng bột lên cá giống ở các độ mặn và các loại thức ăn khác nhau
- Bước đầu xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo cá Ong căng
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa thực tiễn: Những kết luận về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá Ong
căng sẽ là nguồn cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc hoàn thiện và phát triển nghề sản xuất giống và ương cá Ong căng, để chủ động cung cấp con giống cho nghề nuôi cá biển, đa dạng hóa đối tượng và mô hình nuôi thủy sản, góp phần phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản vùng ven biển
5 óng góp mới của luận án
- Lần đầu tiên cung cấp được những dẫn liệu cơ bản và đầy đủ về những đặc điểm sinh học, nhất là đặc điểm sinh sản của cá Ong căng ở vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
- Cung cấp được quy trình sinh sản nhân tạo cá Ong căng để chủ động nhân giống trong vấn đề nuôi thả cá ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về họ cá Căng ( eraponidae) trên thế giới
Trên thế giới, họ cá Căng (Teraponidae) có khoảng 52 loài nằm trong 16 giống Chúng phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương [77]
1.1.1.1 Các nghiên cứu về phân loại, hình thái
Các nghiên cứu về phân loại học của họ cá Căng được thực hiện ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới Lourie và Ben-Tuvia A (1970) lần đầu tiên đã ghi nhận
được loài Pelates quadrilineatus (Bloch) thuộc họ Teraponidae ở vịnh Haifa [62]
Almeida và cs (2001), khi nghiên cứu khu hệ cá ở các thảm cỏ biển tại Đảo Inhaca (Mozambique) với các mẫu được thu tại ba trạm trong tháng 7 – 8/1993, đã xác
định được 66 loài cá thuộc 34 họ, trong đó có cá Ong bầu (P quadrilineatus) chiếm
21% về tỷ lệ số lượng và chiếm 11,4 % về sinh khối [44]
Cá Ong căng Terapon jarbua lần đầu được tìm thấy và đặt tên Scieana jarbua bởi
Forsskål (1775) ở vùng Djedda, Biển Đỏ [57] Cá Ong căng còn có các synonym sau:
Sciaena jarbua (Forsskål, 1775); Holocentrus jarbua (Forsskål, 1775); Holocentrus servus (Bloch, 1790); Grammistes servus (Bloch, 1790); Terapon servus (Bloch,
1790); Therapon servus (Bloch, 1790); Coius trivittatus (Hamilton, 1822); Terapon
timorensis (Quoy and Gaimard, 1824); Pterapon trivittatus (Gray, 1846); Therapon farna (Bleeker, 1879); Stereolepis inoko (Schmidt, 1931) [96]
Theo Golani và Appelbaum (2010), mẫu vật cá T jarbua từ Biển Đỏ và Biển
Địa Trung Hải khác với các mẫu vật thu được từ vùng Viễn Đông (Hồng Kông và Nhật Bản) cho thấy cần phải tiến hành nghiên cứu phân loại phân tử để làm rõ nhận
dạng của taxon này [55]
Theo mô tả của Day (1878), Talwar và Jhingran (1991), T jarbua có thân thon
dài, dẹp hai bên Răng trên hàm thành dãy, nhỏ nhọn Đỉnh đầu không phủ vẩy, mặt bên đầu phủ vẩy, mỗi bên đầu có 2 lỗ mũi Mắt to, tròn nằm lệch về nửa trên của
Trang 13đầu và gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt tương đối phẳng, cạnh sau xương nắp mang có 1 gai cứng nhọn Lỗ mang rộng, màng mang hai bên dính liến nhau và có phủ vẩy Vẩy lược phủ toàn thân, một phần đầu
và gốc vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi, vẩy phủ lên các vây nhỏ hơn vẩy ở thân
và đầu Đường bên hoàn toàn bắt đầu từ sau bờ trên của lỗ mang và chấm dứt ở gốc
vây đuôi Mặt lưng của thân và đầu cá T jarbua có màu xám đen và nhạt dần
xuống phía bụng Bụng cá và mặt dưới của đầu có màu trắng sữa Mỗi bên thân cá
có 03 sọc đen chạy dọc trên thân, trong đó sọc ở phía dưới bụng liền mạch, 02 sọc phía lưng sậm mẫu hơn và có thể liền mạch hoặc đứt quãng tạo thành từ 2 đến 3 đoạn Nhìn từ phía trên lưng xuống sẽ thấy các sọc tạo thành các vòng tròn có màu
xám đen xen kẽ xanh lục đồng tâm ở lưng cá T jarbua có hai vây lưng Vây lưng
thứ nhất có 10-11 gai cứng rất nhọn và không có tia mềm, phần phiến vây lưng 1 ở đầu mút các gai cứng 4, 5, 6 và 9, 10, 11 có màu nâu đen còn các điểm còn lại có màu trắng sữa Vây lưng thứ 2 có 1 gai cứng và 9-11 tia mềm tia, các tia mềm đầu phân nhánh, tia vây lưng cuối cùng có thể là tia đơn hay tia đôi, phần phiến vây lưng hai có sự xen kẻ giữa màu trắng sữa và màu từ vàng đến nâu đen [53], [83]
1.1.1.2 Các nghiên cứu về phân bố
T jarbua phân bố rộng ở vùng ven biển nhiệt đới Theo Vari R.P (2001), cá
chủ yếu phân bố ở Đông Dương, Khu vực Thái Bình Dương [86]; gần đây, Daniel Golani (2010) còn cho biết cá phân bố ở biển Địa Trung Hải [57] Theo nghiên cứu của Dahanukar N (2011), loài cá này phân bố rộng rãi ở vùng ven biển Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka, Úc, Campuchia, Inđônêxia, Nhật Bản, Myanmar, Madagascar, Nam Phi, Thái Lan và Việt Nam Cá cũng được tìm thấy tại Biển Đỏ, Đông Phi, Ả-rập Xê-út, Singapore, Phi-líp-pin, Trung Quốc và Hàn Quốc [54]
T jarbua là loài rộng muối Theo Wallace J.H (1975) cá biệt có thể chịu được
độ mặn 70 o
/oo [88]; Theo nghiên cứu của Rao (2000) cá có thể sống trong biển,
vùng ven biển, cửa sông, nước ngọt và ở một số đầm phá ven biển [78] Tuy T
jarbua chủ yếu sống ở vùng biển, nhưng có thể di chuyển một khoảng cách rất lớn
vào khu vực nước ngọt để sinh sống [83] Nó có thể được tìm thấy ở vùng nước nông, trong vùng lân cận của cửa sông [79], [93]
Trang 141.1.1.3 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học
Dinh dưỡng: Một số tác giả báo cáo rằng cá T jarbua ăn tạp, trong khi một số
khác đã ghi nhận nó là loài ăn động vật Lieske và Myers (1994) đã nghiên cứu và kết
luận thức ăn của T jarbua là cá, tảo và động vật không xương sống [63], trong khi Das
và cs (2014) cho rằng thức ăn ưa thích của cá là giun, giáp xác và tảo [52] Theo
nghiên cứu của Whitefield và Blaber (1978), ấu trùng cá T jarbua ăn các thức ăn chủ
yếu là Hymenoptera, Orthoptera và Coleoptera [89] Theo Thangaraja và Ramamoorthi
(1983), zooplankton là thức ăn chủ yếu của ấu trùng T jarbua [84] Basheedruddin và
Nayar (1961) đã tìm thấy cá cùng với một số lượng nhỏ amphipoda, copepoda và ấu
trùng lamellibranch trong ruột ấu trùng T jarbua từ bờ biển Madras [47] Ở cá trưởng
thành có sự tăng số lượng các loại thức ăn Theo Whitefield và Blaber (1978), sự đa dạng về thức ăn liên quan đến chiều rộng của hàm, các cá thể trưởng thành có phổ thức
ăn rộng hơn cá con [90] Manoharan và cs (2012) đã tiến hành nghiên cứu về thành
phần thức ăn trong dạ dày cá T jarbua ở ven biển Parangipettai và đưa ra kết luận cá
đực chủ yếu ăn động vật phù du, ngược lại cá cái ăn thực vật phù du [67]
Tương quan giữa chiều dài và khối lượng: Một số tác giả đã nghiên cứu về
mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng của T jarbua ở các khu vực khác nhau
Sanjeevan V.N và Ali M (1982) đã thu tổng cộng 297 mẫu cá ở vùng biển Bombay (Ấn Độ) có chiều dài từ 97 – 152 mm và từ 15 – 51 g về khối lượng và tìm
ra được giá trị của a, b lần lượt là 1,0235 và 3,131 đối với con cái, còn cá đực giá trị
a là 1,0387 và b là 2,929 [82]
Năm 2000, Khan, M.A và Imad A đã ghi nhận T jarbua là loài có vùng phân
bố rộng trong vùng biển gần bờ của Pakistan, đồng thời đưa ra được chiều dài tối đa của cá là 332 mm và có hệ số đường cong tăng trưởng (K) là 0,62 Các tác giả cũng tính được hệ số tử vong tự nhiên của cá ở vùng nghiên cứu [58]
Zhang J., Song B và Chen G (2002) đã đưa được phương trình tương quan
giữa chiều dài cơ thể (L) và khối lượng cơ thể (W) của T jarbua là W = 3,8891 ×
10-2 L2,8761 Ngoài ra, các tác giả cũng tìm được các thông số ước lượng là: L∞ =
359 mm, W∞ = 1153,7 g, k = 0,2376, to = 0,2115 Khối lượng đạt tối đa khi cá đạt 4,41 tuổi [95]
Trang 15Năm 2012, Mansor M và cs đã đưa ra phương trình tương quan giữa chiều
dài và khối lượng của T jarbua ở vùng cửa sông Merbok (Kedal) với hệ số b dao
động từ 2,793 đến 2,942 [65]
Manoharan J và cs (2013) đã thu 210 mẫu cá T jarbua ở giai đoạn (GĐ)
trưởng thành ở vùng ven biển Parangipettai (Đông Nam Ấn Độ) để tìm ra phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng Nghiên cứu đã đưa ra phương trình Log W=0,4141+1,4229 log L với R2
= 0,9569 ở cá cái và Log W=0,0977+1,6745 log L với R2 = 0,9728 ở cá đực [68]
Cũng trong năm 2013, Lavergne E đã nghiên cứu về sự tương quan giữa
chiều dài và khối lượng của quần thể T jarbua ở vịnh Aden, đảo Socotra và vùng
biển Hadramout Tổng cộng có 620 mẫu được thu thập để điều tra trong hai năm
2007 và 2008 Phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng của T jarbua
là W=0,0288.L2,99 với r2=0,96 [60]
Moradinasab A A và cs (2014) đã tiến hành thu 1257 mẫu cá từ tháng 8 năm
2012 đến tháng 8 năm 2013 tại vùng ven biển Hormozgan (Iran) để phân tích Chiều dài và khối lượng nhỏ nhất và lớn nhất bắt được lần lượt là 51 mm và 288
mm (chiều dài) và 1,53 g và 373,07 g (khối lượng) Các tác giả cũng đưa ra mối quan hệ giữa chiều dài và khối lượng theo phương trình y=0,008x3,2082
với x là chiều dài và y là khối lượng cá [70]
Nandikeswari R., Sambasivam M., Anandan V (2014) đã thu 370 mẫu cá
T.jarbua ở vùng biển Puducherry (Ấn Độ) để nghiên cứu về phương trình sinh
trưởng của cá Các tác giả đã đưa ra phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng ở từng GĐ phát triển của cá W=0,0050.L3,2742
, W=0,0035L3,3616, W=0,0736.L2,4076 , W=0,0098.L3,0807, W=0,0088.L3,0914, W=0,0038.L3,3776 cho cá đực chưa trưởng thành, cá cái chưa trưởng thành, cá đực trưởng thành, cá cái trưởng thành, tổng cá đực, tổng cá cái tương ứng [72]
Ahmed Q., Qadeer M A và Sabri B (2015) đã đưa ra phương trình tương
quan giữa chiều dài và khối lượng T jarbua ở vùng Karachi (Pakistan) là W =
0,0263 L2,6634 với r2 =0,9136 [45]
Trang 16Nghiên cứu của Nuengruetai Y., Jes K., Nittharatana P., và Prasert T (2017)
đã mô tả hình thái và xác định chiều dài ở GĐ cá con của T jarbua và P
quadrilineatus tại khu vực biển của tỉnh Trang (Thái Lan) Chiều dài ở GĐ cá con
của T jarbua và P quadrilineatus bắt đầu lần lượt là 23,16 mm và 18,24 mm [94]
Nandikeswari R., Sambasivam M và Mohan P.M (2017) đã so sánh chỉ số
Kn (W.100/L3) (Hệ số béo theo Fulton) của T jarbua và Terapon puta ở vùng Puducherry Tổng số 208 con cái và 162 con đực T jarbua, 250 con cái và 235 con đực T puta được thu tại vùng biển Bengal, Puducherry (Ấn Độ) từ tháng 7,
2008 đến tháng 6, 2008 dùng để tính chỉ số Kn Kết quả cho thấy Kn của cả hai loài
có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê, đồng thời giá trị Kn của cá đực và cá cái của
cả hai loài đều có giá trị lớn hơn 1 [74]
Đặc điểm sinh học sinh sản của T jarbua được các tác giả như Prabhu M S
(1956), Miu Tsu – Chan và cs (1990), Chang Li – Mei, Joung Shoou – jeng và cs (2008), Nandikeswari R., Sambasivam M., Anandan V (2014) nghiên cứu
Từ các kết quả nghiên cứu về các GĐ phát triển của buồng trứng của T.jarbua, Prabhu M S (1956) đã kết luận T jarbua là loài đẻ trứng một lần trong một năm, thời gian sinh sản của T jarbua ngắn và cá chỉ đẻ trong một khoảng thời gian nhất định Từ
tháng Hai đến tháng Ba, cá di cư ra biển để sinh sản [75]
Miu Tsu – Chan và cs (1990) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của
T jarbua ở cửa sông Tamshui phía Tây bắc Đài Loan Thời gian sinh sản của T jarbua kéo dài từ tháng Tư đến tháng Mười Tỷ lệ đực cái của T jarbua là 1,8:1 với
cá cái chiếm đa số Sức sinh sản tuyệt đối của cá từ 37.083- 480.400 trứng (trung bình 145.816), sức sinh sản tương đối từ 334 – 1.258 (520) trứng/g Các tác giả
cũng chỉ ra mối quan hệ giữa hàm lượng lipid trong gan với chu kì sinh sản của T
jarbua [69]
Chang L M và các cs (2008) đã có nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học
và sinh sản của T jarbua ở vùng biển Tây Nam của Đài Loan và mối quan hệ của chúng Sức sinh sản tuyệt đối của T jarbua dao động từ 13.476 – 115.920 trứng,
kích thước của các cá thể cái được nghiên cứu dao động từ 173 – 278 mm (chiều
Trang 17dài) và 65-298 g (khối lượng) Các tác giả đã chỉ ra được mùa sinh sản của T
jarbua diễn ra từ tháng hai đến tháng bảy [51]
Ain M.U., và cs (2015) đã tiến hành nghiên cứu về hệ số thành thục GSI
(GSI=Khnh nghiên cứu về hệ số thành thục GSI c củacủa T jarbua tại vùng biển
Karachi (Pakistan) Nghiên cứu được thực hiện tại vùng biển Karachi (Pakistan) Nghiên vi vùng biển Karachi (P676 H vùng biển Karachi (Pdao đùng biển Karachi (Pakistan) Nghiên cứu đượ – 1,61 trong năm 2014 trong khi ctrong năm 2dao đg năm 2014 trong khi istan) Nghiên cứu đư0 đến 3,86 trong năm 2014 Nghiên căm 2014 trong khi istan) Nghiên cứu đư0 đến 3,86 trong năm 2014 iên
cứu dao T jarbua [46]
Hệ số thành thục GSI và tỷ lệ giới tính của T.jarbua ở vùng bờ biển
Pondicherry đã được nghiên cứu bởi Nandikeswari R và cs (2014) GSI của cá dựa trên các nhóm kích cỡ khác nhau cho thấy sự gia tăng dần dần từ 0,48283 đến 2,48615 đối với cá đực và 0,31981 xuống còn 5,28722 đối với cá cái Số liệu về tỷ
lệ giới tính của cá liên quan đến các nhóm chiều dài khác nhau cho thấy có 75% là
cá cái ở nhóm có chiều dài nhỏ nhất (120-140 mm) Các nhóm có chiều dài lớn nhất (280 – 300 mm và 300 – 320 mm) chỉ được ghi nhận ở cá cái [71]
Nandikeswari R (2016) đã nghiên cứu trên 140 con T jarbua cá đực (chiều
dài từ 140 – 280 mm) và 140 cá cái (chiều dài 140 – 320 mm) ở vùng cửa sông Pondicherry (Ấn Độ) tìm ra kích thước của cá thành thục lần đầu là 208 mm với cá đực và 218 mm với cá cái Đồng thời, tác giả cũng đưa ra được sự phát triển của
tuyến sinh dục T jarbua theo từng tháng [73]
1.1.1.4 Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo
Chưa có nhiều công trình nghiên cứu về sinh sản nhân tạo ở cá T jarbua trên
thế giới Có thể kể đến công trình của Koushik R (2016) đã có nghiên cứu việc sử dụng LHRHa trong việc nhân giống một số loài cá nước lợ và cá biển ở Ấn Độ, trong
đó có T jarbua Để sinh sản nhân tạo thành công, tác giả đã sử dụng liều dùng
LHRHa là 75 μg/kg thể trọng đối với cá cái và 37,5 μg/kg cá đực, thời gian hiệu ứng
36 giờ [80]
Trang 18Các tài liệu có được cho thấy, nghiên cứu về T jarbua chủ yếu tập trung vào đặc
điểm sinh học, phân bố và môi trường sống của cá
Đặc biệt mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng của T jarbua được
nhiều tác giả nghiên cứu ở Ấn Độ, Đài Loan, Thái Lan, Pakistan,…Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng, GĐ đầu cá tăng nhanh về chiều dài, còn GĐ sau cá tăng nhanh
về khối lượng, phù hợp với tính thích nghi chung của nhiều loài cá ở vùng ven biển nhiệt đới Trong GĐ đầu, sự tăng nhanh kích thước cơ thể là đặc điểm thích nghi trong cạnh tranh cùng loài, nhằm hạn chế sức chèn ép của động vật dữ, đảm bảo sự sinh tồn của loài Sự tăng nhanh về khối lượng ở nhóm cá có kích thước lớn liên quan đến việc tích luỹ chất dinh dưỡng để đạt được trạng thái thành thục sinh dục, tham gia sinh sản trong quần thể
Các nghiên cứu về dinh dưỡng của T jarbua có nhiều quan điểm tùy theo điều
kiện tự nhiên từng vùng nghiên cứu nhưng đều khẳng định nhóm cá kích thước lớn
có phổ thức ăn rộng hơn nhóm cá kích thước nhỏ Điều này phù hợp với đặc điểm chung của các loài cá ở vùng nhiệt đới, ăn tạp, trong môi trường có lưới thức ăn phức tạp Sự phân hoá thức ăn theo nhóm chiều dài nhằm giảm sự cạnh tranh dinh dưỡng trong loài để đảm bảo nguồn thức ăn cho cá nhỏ
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của T jarbua tập trung các GĐ
phát triển của tuyến sinh dục cá, sức sinh sản tuyệt đối, sức sinh sản tương đối của
cá, hệ số GSI và mùa sinh sản Qua các nghiên cứu, có thể thấy sức sinh sản của các
T jarbua tương đối lớn, mùa sinh sản tập trung trong khoảng thời gian Xuân – Hè
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, họ cá Căng được ghi nhận có 8 loài, 4 giống, phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông, ven biển [28] Các công trình nghiên cứu về họ cá Căng chủ yếu tập trung về phân loại và đặc điểm sinh học (cấu tạo giải phẫu, sinh trưởng, phát triển, dinh dưỡng, sinh sản, )
1.1.2.1 Các nghiên cứu về phân loại, hình thái
Các loài thuộc họ cá Căng được xác định là cá kinh tế trong một số nghiên cứu trong nước về phân loại và sinh thái
Trang 19Tại đầm Ô Loan (Phú Yên), Nguyễn Thị Phi Loan (2008) khi nghiên cứu về thành phần loài đã xác định được 134 loài cá, 88 giống trong 55 họ thuộc 16 bộ
khác nhau Họ cá Căng có 4 loài Terapon theraps, T jarbua, P quadrilineatus và
Helotes sexlineatus Hai loài được xác định là cá kinh tế là P quadrilineatus, H sexlineatus [15]
Võ Văn Phú, Trần Thụy Cẩm Hà (2008) đã nghiên cứu về thành phần loài cá ở sông Bù Lu (Huế) trong 3 năm từ 2004 – 2007, xác định được 154 loài, 103 giống,
51 họ thuộc 14 bộ khác nhau Ba loài trong họ cá Căng tại sông Bù Lu là T jarbua,
P quadrilineatus và Rhyncopelates oxyrhynchus [17]
Tại hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia (Quảng Nam), Vũ Thị Phương Anh (2011) đã xác định được 197 loài cá, nằm trong 121 giống thuộc 48 họ của 15 bộ,
họ cá Căng có 4 loài là T theraps, T puta, Terapon oxyrhynchus và T jarbua [2]
Đến năm 2014, Nguyễn Thị Tường Vi và cs khi nghiên cứu về thành phần loài khu
hệ cá cửa sông Thu Bồn đã xác định có hai loài cá Căng là T jarbua, P
quadrilineatus [38]
Tổng số 177 loài thuộc 129 giống của 73 họ trong 18 bộ đã thống kê được ở phá Tam Giang – Cầu Hai trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Hữu
Dực (2012), trong đó họ cá Căng có 5 loài: Pelates sexlineatus (Helotes
sexlineatus), P quadrilineatus, T jarbua, T theraps và R oxyrhunchus [9]
Khi nghiên cứu thành phần loài ở lưu vực sông Sài Gòn, Tống Xuân Tám (2012) đã xác định được 264 loài thuộc 155 giống, 68 họ nằm trong 16 bộ Hai loài
thuộc họ cá Căng là T jarbua và T theraps đều thu được số lượng mẫu rất ít [23]
Nguyễn Xuân Huấn và cs (2013) khi nghiên cứu về thành phần loài ở cửa sông Ba Lạt đã thu được 111 loài thuộc 45 họ trong 15 bộ Hầu hết là các loài cá
xương, trong đó họ cá Căng chiếm 5 loài: T jarbua, T theraps, Rhyncopelates
oxyrhynchus, P quadrilineatus và H sexlineatus [10]
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đồng, Kiên Thái Bích Nga (2014) tại hạ lưu sông Sài Gòn – Đồng Nai được tiến hành từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2013 đã xác định được 81 loài cá thuộc 56 giống, 32 họ của bộ cá Vược Các tác giả đã thu
Trang 20được mẫu của 4 loài thuộc họ cá Căng, chiếm 4,94% tổng số loài là T jarbua,
T theraps, T puta, T quadrilineatus [6]
Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Thị Hương Liên (2014) khi nghiên cứu về thành phần loài và biến động nguồn lợi cá vùng rừng ngập mặn Phù Long (Hải Phòng) đã xác định được 63 loài thuộc 42 giống trong 25 họ phân bố tại khu vực nghiên cứu,
trong đó có hai loài thuộc họ cá Căng là T jarbua và T theraps [20]
Trần Thị Hồng Hoa và cs (2014) đã nghiên cứu thành phần loài cá khai thác ở vịnh Vân Phong (Khánh Hòa), xác định được 351 loài cá thuộc 19 bộ, 100 họ và
215 giống Bốn loài cá thuộc họ cá Căng là T jarbua và T theraps, T puta, P
quadrilineatus đều xuất hiện cả mùa vụ Bắc và Nam, được người dân chủ yếu bằng
giã cào, lưới rạn, lưới giũ và lưới vây [8]
Tống Xuân Tám, Nguyễn Thị Như Hân (2015), đã phát hiện được 4 loài cá Căng
là T puta, T jarbua, T therap và P quadrilineatus khi nghiên cứu về thành phần loài
và đặc điểm phân bố cá ở hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) [24] Nguyễn Xuân Huấn và cs (2015) đã nghiên cứu thành phần loài cá vùng cửa sông Soài Rạp trong thời gian hai năm 2011 – 2012 đã xác định được 131 loài thuộc 102 giống, 58 họ trong 15 bộ cá Họ cá Căng chỉ xuất hiện một loài là
T jarbua [11]
Nguyễn Xuân Huấn và cs (2017) khi nghiên cứu về đa dạng thành phần loài cá
ở vùng cửa sông Cổ Chiên (Bến Tre) trong 3 năm 2011, 2012, 2015 đã xác định được 142 loài thuộc 45 họ, 11 bộ của 2 lớp cá trong đó có ba loài thuộc họ cá Căng
(T jarbua, T puta, T theraps ) Hai loài được xác định là có giá trị kinh tế là T
Trong các nghiên cứu về thành phần loài cá nói trên, có thể thấy họ cá Căng
có số lượng loài ít Hai loài thường bắt gặp ở hầu hết các vùng là T jarbua, T
Trang 21theraps Từ các nghiên cứu trên có thể thấy cá Ong căng có vùng phân bố rộng,
phân bố ở vùng sông, cửa sông, ven biển và cả vùng nước ngập mặn
1.1.2.2 Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học
Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá Ong căng: Lê Thị Nam Thuận (2001, 2015, 2016), Võ Văn Phú và Biện Văn Quyền (2009), Trần Trung Thành và Trần Đức Hậu (2015)
Lê Thị Nam Thuận (2001) nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học của cá
Ong (T jarbua) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế và vùng phụ cận [30]
Võ Văn Phú, Biện Văn Quyền (2009) nghiên cứu về một số đặc điểm sinh trưởng của cá Ong căng ở đầm phá và vùng ven biển Thừa Thiên Huế như tương quan giữa chiều dài và khối lượng, cấu trúc tuổi của quần thể, tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm, và đưa ra phương trình sinh trưởng theo Von Bertalanffy của
cá Ong căng [18]
Nghiên cứu về ấu trùng, cá con loài cá Ong căng (T jarrbua) ở một số cửa
sông Miền Bắc Việt Nam của Trần Trung Thành và cs (2015) Nghiên cứu này mô
tả hình thái ấu trùng, cá con (8,3 – 52,3 mm) và đánh giá mối quan hệ giữa phân bố của chúng với các điều kiện nước ở cửa sông GĐ sớm của cá xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam từ tháng 4 đến tháng 12, tập trung ở tháng 5 và 6 Chúng phân bố chủ yếu
ở xa cửa sông, nơi có độ mặn từ 4,5 đến 22,4 ‰ [26]
Lê Thị Nam Thuận (2015) nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của cá Ong
căng T jarbua vùng ven biển tỉnh Quảng Bình Cá Ong căng chưa phân biệt được
giới tính ở nhóm tuổi 0+, cá bắt đầu có sự phân biệt giới tính rõ ràng ở các nhóm tuổi 1+, 2+, 3+ và tỷ lệ cá cái nhiều hơn cá đực Sức sinh sản tuyệt đối của cá khá cao, dao động từ 11.008 đến 27.080 tế bào trứng, phụ thuộc vào kích thước của cá cái, trung bình 19.098 tế bào trứng Sức sinh sản tương đối của cá dao động từ 48 –
52 trứng/g cơ thể cá, đạt trung bình 50 trứng /g cơ thể cá [30]
Năm 2016, Lê Thị Nam Thuận và cs tiếp tục nghiên cứu về đặc điểm tổ chức
học, tế bào – mô học trong quá trình phát triển tuyến sinh dục của cá Ong căng T
jarbua ở vùng ven biển tỉnh Quảng Bình Kết quả cho thấy sự phát triển của tế bào
sinh dục vàtuyến sinh dục của cá ong căng có đặc điểm hình thái, tế bào học và mô
Trang 22học tương tự các loài cá xương khác với 4 thời kỳ phát triển của tế bào và 6 GĐ chín muồi sinh dục của buồng trứng và tinh sào Đặc điểm tổ chức học, tế bào và
mô học cho thấy đây là loài sinh sản nhiều lần trong mùa sinh sản và trong đời sống của cá [31]
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về họ cá Căng và Ong căng chủ yếu về thành phần loài, xác định họ cá Căng bao gồm các loài cá có giá trị kinh tế, các nghiên cứu tập trung chủ yếu ở một số vùng có cửa sông, ven biển Việc nghiên cứu
về đặc điểm sinh học, sinh thái còn ít, chủ yếu ở các tỉnh ven biển miền Trung Một
số nghiên cứu về nuôi để bảo tồn gen và nghiên cứu để bảo tồn và phát triển bền vững đang được thực hiện
1.1.3 Một số nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá biển ở Việt Nam
Ở nước ta, nghề nuôi cá biển đã có từ lâu đời, nhưng con giống chủ yếu lấy
từ nguồn tự nhiên và nuôi theo hình thức truyền thống, chưa áp dụng các tiến bộ
về khoa học công nghệ Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo một số loài cá biển có giá trị kinh tế:
Trong khoảng thời gian cuối những năm 90, các nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo, nuôi thương phẩm cá biển chủ yếu được tiến hành tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, Viện Nghiên cứu Hải sản và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng
Thủy sản II Các đối tượng được nghiên cứu gồm có cá Mú (Epinephelus spp.), cá
Đù đỏ, cá Tráp vây vàng [5]
Từ năm 1998 đến năm 2000, đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam” do Đỗ Văn Khương chủ nhiệm được thực hiện Đề tài đã nghiên cứu xây dựng quy trình công
nghệ sản xuất giống nhân tạo cá Mú mỡ ( Epinephelus tauvina), cá Giò (Rachycentron canadum), cá Chẽm (Lates calcarifer), cá Tráp vây vàng (Mylio
latus) và xây dựng quy trình công nghệ nuôi Nguyễn Tuần và cs (2000) đã báo cáo
công nghệ nuôi vỗ cá bố mẹ và cho sinh sản nhân tạo cá Chẽm, là một phần kết quả của đề tài trên [34]
Tuy nhiên, trong GĐ này, gần như các nghiên cứu sản xuất giống cá biển ở Việt Nam chưa thực sự thành công trong việc sản xuất giống ở qui mô thương mại
Trang 23Nguồn cá giống cung cấp cho nghề nuôi cá biển gần như nhập từ Trung Quốc, Đài Loan hoặc từ khai thác tự nhiên
Từ năm 1996 – 2006, được sự tài trợ của Hội đồng Đào tạo Đại học Na Uy (NUFU), trường Đại học Nha Trang thực hiện chương trình “Nghiên cứu và Đào tạo Sau Đại học về Nuôi trồng Hải sản tại Việt Nam” (gọi tắt là dự án NUFU) với sự tham gia của các nhà khoa học đến từ Na Uy, Bồ Đào Nha, Bỉ GĐ 2 của dự án đã tập trung nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện qui trình sản xuất giống nhân tạo cá
chẽm (Lates calcarifer) Cuối năm 2003 đến nay, từ việc kế thừa các kết quả nghiên
cứu trước, ứng dụng các thành quả nghiên cứu được của dự án, cá chẽm giống đã được sản xuất ở qui mô thương mại với qui trình sản xuất ổn định, cung cấp số lượng lớn con giống cho nghề nuôi cá chẽm thương phẩm, chuyển giao công nghệ cho nhiều địa phương trong cả nước
Năm 2003, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về NTTS, Lê Xân đã có báo cáo
về kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá Song chấm nâu (Epinephelus coioides)
[42], Đỗ Văn Minh và cs có báo cáo hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Giò
(Rachycentron canadum) [16]
Nguyễn Tuần và cs (2002) đã sử dụng HCG ở liều 4.500IU/kg cá cái để kích thích sinh sản nhân tạo cá Chẽm (Lates calcarifer) Kết quả sau từ 12 – 35 giờ cá
đẻ, tỷ lệ thụ tinh đạt từ 0 – 99%, tỷ lệ nở đạt 24 – 99,9% Tỷ lệ sống của cá từ GĐ
cá bột lên cá hương là 60% và từ cá hương lên cá giống là 65,7% [34]
Khi nuôi vỗ và cho cá Giò sinh sản tự nhiên, Đỗ Văn Minh (2003) đã thu được kết quả là tỷ lệ thành thục trong nuôi vỗ là 65 – 78%, tỷ lệ cá tham gia sinh sản đạt
từ 70% trở lên, tỷ lệ thụ tinh lớn hơn 60%, tỷ lệ nở lớn hơn 70% và tỷ lệ sống của
cá bột lên cá giống (50 – 60 mm) khoảng 5% Ương ấu trùng cá Giò ở độ mặn 20‰ thì tỷ lệ sống đạt 3,75% sau 45 ngày [16]
18-Theo Ngô Trọng Lư và cs (2004), cá Giò nuôi vỗ đạt tỷ lệ thành thục 85 – 87% Để kích thích sinh sản cá Giò có thể sử dụng LHRHa với liều 20 µg/kg thì sau
24 – 28 giờ, tỷ lệ cá đẻ đạt 66 – 75%, tỷ lệ trứng thụ tinh đạt 66 – 91%, tỷ lệ nở đạt 60% sau 23 giờ Theo Đỗ Văn Minh và cs (2003), cá Giò thành thục được kích thích bằng kích dục tố LHRHa với 1 liều 20 µm/kg cá cái và 10 µm/kg cá đực và
Trang 24cho đẻ trong bể hình trụ (45 m3
) hoặc bể hình vuông (72 m3) với tỷ lệ đực cái là 2:1 hoặc 3:2, độ mặn 27 – 32‰, nhiệt độ 28 – 30oC thì cá đẻ sau 27 – 36 giờ với tỷ lệ thụ tinh 0 – 87% (Trích bởi Lý Văn Khánh) [13]
Lê Xân và cs (2004) đã cho sinh sản thành công cá Mú (Epinepheluss spp.)
bằng cho đẻ tự nhiên Trứng được ấp trong bể composite với mật độ 400 – 600 trứng/lít, độ mặn 30‰, nhiệt độ 27 – 29oC, pH từ 8,0 – 8,5 thì sau 18 – 20 giờ cá
nở, tỷ lệ thụ tinh từ 62,6 – 68% và tỷ lệ nở từ 61,2 – 72% Nhiệt độ và độ mặn cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nở và thời gian nở Ở nhiệt độ 24oC thì thời gian nở 26 – 30 giờ nhưng khi nhiệt độ 28o
C thì thời gian nở là 18 – 20 giờ; ở độ mặn 30‰ có tỷ lệ nở cao nhất (85%) [43]
Đào Văn Trí (2004) khi nghiên cứu về sinh sản cá Măng cho thấy bố mẹ thành thục tốt trong điều kiện nuôi trong bể bằng thức ăn công nghiệp, cá đẻ tự nhiên không phải tiêm kích dục tố, thời gian ấp trứng 24 – 26 giờ ở nhiệt độ 29oC, độ mặn 32‰ và tỉ lệ nở đến 90%; tỉ lệ sống khi ương cá bột lên cá hương 22 ngày là 5,85% với mật độ 26 – 30 con/lít và độ mặn 28 – 30‰ [34] Ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Măng bằng kích dục tố
Theo Lê Quốc Việt và cs (2010), khi tiêm kích dục tố LHRHa cho cá Đối
(Liza subviridis) với các liều lượng khác nhau (200, 250, 300 và 350 µg/kg) kết hợp
với domperidon (5 mg/kg) và Ovaprim (0,5; 1; 1,5 và 2 ml/kg) với phương pháp tiêm 2 liều thì tỷ lệ rụng trứng dao động 14,3-83,3%; thời gian hiệu ứng 13,2 – 20 giờ; tỷ lệ thụ tinh 76,5 – 82,3% và tỷ lệ nở 60,4 – 84,4% ở kích dục tố LHRHa liều
300 µg/kg là cao nhất [39]
Năm 2014, Nguyễn Anh Tuấn và cs đã nghiên cứu kích thích cá Bóp
Rachycentron canadum sinh sản bằng các hormone HCG và LHRHa với các liều
lượng khác nhau Kết quả thu được, thời gian cá đẻ dao động từ 36 – 62 giờ và tỷ lệ
cá đẻ dao động từ 25 – 80% Sử dụng chất kích thích LHRHa ở nồng độ 20 – 30 µg/kg cá cái cho kết quả cao nhất với tỷ lệ đẻ đạt 80%, tỷ lệ thụ tinh đạt từ 73,17 – 79,25% và tỷ lệ trứng nở đạt từ 74,2 – 83,53% [33]
Lý Văn Khánh và cs (2012) đã nghiên cứu sinh sản thành công cá Nâu
(Scatophagus argus Linnaeus, 1766) Các tác giả đã kích thích sinh sản bằng
Trang 25Ovaprim, LHRHa và HCG ở các liều lượng khác nhau Kết quả thu được thời gian hiệu ứng của kích dục tố là 12-32 giờ; tiêm ovaprim 1 ml/kg thì tỷ lệ cá rụng trứng cao nhất là 93,3%; tỷ lệ thụ tinh là 76,5%; tỷ lệ nở là 69,5%; và tỷ lệ cá dị hình chỉ 2,16% [13]
Để kích thích sinh sản nhân tạo cá Chốt trắng (Mystus planiceps Cuvier and
Valenciennes), Lý Văn Khánh và cs (2013) đã sử dụng LHRHa và HCG ở các liều lượng khác nhau Thời gian hiệu ứng khi tiêm LHRHa (liều 50 – 150 µg/kg cá cái)
là 6,4 – 7,11 giờ, HCG (1000 – 1500 IU/kg cá cái) là 7 – 8 giờ Tiêm LHRHa liều
100 sẽ cho tỷ lệ đẻ cao nhất 83,3%, tỷ lệ thụ tinh và nở cao nhất lần lượt là 81,1%
và 82,2% ở HCG liều 1500 IU/kg cá cái Tác giả cũng đưa ra kết luận nên ấp trứng
Với não thùy thể: Não thùy thể cá chép được xem là kích dục tố mạnh cho
nhiều loài cá kể cả các đối tượng khác họ và các loài cá biển Tuy nhiên đây là loại kích dục tố có giá thành cao nên được ít tác giả sử dụng trong sinh sản nhân tạo cá biển
Với HCG: có tác dụng với một số loài cá biển như cá Chẽm với liều 4500
IU/kg cá cái, thời gian hiệu ứng từ 12 – 35 giờ [34]; Cá Bóp từ 250 – 750 IU/kg cá cái thời gian hiệu ứng từ 52 – 62 giờ; với liều 1000 – 2000 IU/kg, thời gian hiệu ứng từ 22,7 – 25,4 giờ [33] Cá Chốt trắng 1000 – 2000IU/kg với thời gian hiệu ứng 7 – 8 giờ [14] Có thể thấy HCG là loại kích dục tố tốt, có tác dụng kích thích sinh sản nhân tạo cá biển
Với LHRHa+Dom: Ở nước ta LHRHa và Domperidone được dùng rất phổ biến trên nhiều loài cá LHRHa được nhập từ Trung Quốc, có giá rẻ, không gây phản ứng phụ và phản ứng miễn dịch ở cá [3] LHRHa được sử dụng để sinh sản nhân tạo thành công với các loài cá như: cá Giò (liều 20 µg/kg cá cái) [16], cá Đối
Trang 26(liều 300 µg/kg cá cái) [39], cá Bóp (30 µg/kg cá cái) [33], cá Chốt trắng (100 µg/kg cá cái) [14] đều cho tỉ lệ cá đẻ cao với thời gian hiệu ứng từ 13,2 – 62 giờ Với Ovaprim: được một số tác giả dùng để kích thích sinh sản nhân tạo cá Nâu với liều 1ml/kg cho tỷ lệ thụ tinh đạt 76,5% và tỷ lệ nở đạt 69,5% [13]
Có thể thấy bốn loại kích dục tố HCG, LHRHa+Dom, não thùy và Ovaprime đều có hiệu quả gây chín và rụng trứng tốt trên cá biển Vấn đề còn lại là tùy theo chất lượng thành thục của cá bố mẹ, GĐ mùa vụ, nhiệt độ môi trường mà có sự điều chỉnh liều lượng kích dục tố sử dụng cho phù hợp để đạt được hiệu quả cao nhất Ngoài ra, các kích dục tố có sự tiện lợi trong bảo quản và có giá thành rẻ sẽ được ưu tiên sử dụng
Hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về thăm dò khả năng nhân giống cá Ong căng tại Việt Nam được đăng trên các tạp chí uy tín trong nước cũng như thế giới Chính vì lẽ đó, nghiên cứu về đặc điểm sinh học, thăm dò
khả năng nhân giống cá Ong căng - Terapon jarbua (Forsskål, 1775) là rất cần
thiết hiện nay nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo đối tượng này cũng như cung cấp nguồn cá Ong căng giống phục vụ cho nuôi trồng thủy sản ở nước ta
1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1.2.1 Vị trí địa lý
Thừa Thiên – Huế là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam,
có tọa độ ở 16 – 16,8o kinh độ Bắc và 107,8 – 108,2o kinh độ Đông Thừa Thiên – Huế giáp với tỉnh Quảng Trị về phía Bắc, biển Đông về phía Đông, thành phố Đà Nẵng về phía Đông Nam, tỉnh Quảng Nam về phía Nam, dãy núi Trường Sơn và các tỉnh Saravane, Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) về phía Tây [35] Phần đất liền, Thừa Thiên Huế có diện tích 5025,3 km2, kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nơi dài nhất 120 km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần phía Tây); mở rộng chiều ngang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với nơi rộng nhất dọc tuyến cắt từ xã Quảng Công (Quảng Điền), thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà) đến xã Sơn Thủy - Ba Lé (A Lưới) 65 km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam chỉ khoảng 2–3 km [37]
Trang 271.2.2 ịa hình
Thừa Thiên Huế có địa hình phức tạp, hướng thấp dần từ Tây sang Đông, bị chia cắt mạnh thành 4 vùng:
Khu vực núi trung bình: Chiếm khoảng 35% diện tích đồi núi và 25% diện tích
tỉnh Phân bố chủ yếu ở phía Tây, Tây Nam và Nam lãnh thổ, độ cao dao động từ 750 –
1800 m [35]
Khu vực núi thấp và gò đồi: Chiếm 50% diện tích toàn tỉnh Vùng núi thấp có độ
cao từ 250 – 750 m, sườn núi có độ dốc từ 15o – 25o, chủ yếu gồm rừng và đồi trọc
Vùng gò đồi là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng [35]
Vùng đồng bằng: Chiếm 16 % diện tích tự nhiên, phân bố ở độ cao từ 0 – 20
m, là vùng đất chạy dài theo Quốc lộ 1A đến đèo Hải Vân, càng về phía Nam diện tích càng hẹp Vùng đồng bằng của Thừa Thiên Huế điển hình cho kiểu đồng bằng mài mòn, tích tụ, có cồn cát [35]
Vùng đầm phá và biển ven bờ: Chạy dọc ven biển gần hết chiều dài của tỉnh,
cắt ngang qua các huyện: Quảng Điền, Phong Điền, Phú Vang, Phú Lộc và thị xã Hương Trà, bao gồm Phá Tam Giang, đầm An Truyền, đầm Sam, đầm Thủy Tú và đầm Cầu Hai chiếm 5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Phía Đông và Đông Bắc của hệ đầm phá bị ngăn cách với biển bởi một dãy cồn cát rất hẹp, mà trên đó có nhiều làng mạc của ngư dân Chúng trao đổi nước với Biển Đông qua cửa Thuận An (Phá Tam Giang) và cửa Tư Hiền (đầm Cầu Hai) Các phía khác tiếp giáp với chân núi, đồng ruộng Riêng phía Tây Nam và Nam có hơn mười con sông lớn, nhỏ bắt nguồn từ Trường Sơn Đông đổ nước vào đầm phá [35]
1.2.3 Khí hậu và thủy văn
á vĩ tuyến ở phía Nam nên khí hậu Thừa Thiên Huế mang đậm nét vùng chuyển tiếp khí hậu giữa hai miền Nam - Bắc nước ta [22;35]
Trang 28Tương tự, các tỉnh duyên hải Trung bộ, Thừa Thiên Huế cũng chịu tác động của chế độ gió mùa khá đa dạng Ở đây luôn luôn diễn ra sự giao tranh giữa các khối không khí xuất phát từ các trung tâm khí áp khác nhau từ phía Bắc tràn xuống, từ phía Tây vượt Trường Sơn qua, từ phía Đông lấn vào, từ phía Nam di chuyển lên [35]
Phân bố nhiệt độ theo thời gian: Nhiệt độ (oC) trung bình tháng và năm trong năm 2016 tại Thừa Thiên Huế được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2016 tại các trạm quan trắc
ở tỉnh Thừa Thiên Huế
(Nguồn: Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế, 2017)
Phân bố nhiệt độ theo không gian: Nhiệt độ trung bình năm ở lãnh thổ giảm
từ Đông sang Tây Nhiệt độ trung bình năm từ 24 - 25°C ở đồng bằng và gò đồi thấp hơn 100m giảm xuống 20 - 22°C khi lên cao 500 - 800m và dưới 18°C tại núi cao trên 1.000m Song song với quá trình giảm nhiệt độ trung bình năm theo độ cao cũng xảy ra hiện tượng giảm tổng nhiệt độ năm [22]
Về mùa đông, nhiệt độ trung bình tháng 1 (lạnh nhất) từ 20°C ở đồng bằng duyên hải giảm xuống 17 - 18°C trên vùng núi với độ cao 400 – 600 m và xấp xỉ 16°C trong vùng núi cao hơn 800 m Khi gió mùa Đông Bắc tràn về nhiệt độ thấp nhất ở đồng bằng có thể xuống dưới 10°C và tại vùng núi cao dưới 5°C Trong mùa
hè vào các tháng nóng nhất tháng 6, 7 nhiệt độ trung bình lên đến 28 – 29°C trên vùng đồng bằng duyên hải, thung lũng giữa gò đồi và 24 – 25°C tại vùng núi Khi
có gió mùa Tây Nam khô nóng nhiệt độ cao nhất có thể lên tới 40 – 41°C ở đồng bằng duyên hải, thung lũng giữa gò đồi và 37 – 38°C trên lãnh thổ núi cao [35; 37]
Trang 29Thừa Thiên Huế nằm trong vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, tiếp giáp với biển Đông, có điều kiện khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên phải gánh chịu hậu quả do thiên tai, bão, lũ lụt đem đến Bão lụt thường đổ bộ vào tỉnh từ tháng 9, 10 Lụt tiểu mãn vào tháng 5 - 6 thường gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp và nuôi, trồng thủy sản Tuy vậy cũng có những năm không có bão, đặc biệt là những năm gần đây [37]
Chế độ mưa: Thừa Thiên Huế là một trong các tỉnh có lượng mưa nhiều nhất nước ta Lượng mưa trung bình năm trên toàn lãnh thổ đều vượt quá 2.600 mm, có nơi trên 4.000 mm (Bạch Mã, Thừa Lưu) Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, nhưng tập trung chủ yếu vào 4 tháng (từ tháng 9 đến tháng 12), tháng 11 thường có lượng mưa nhiều nhất trong năm Lượng mưa phân bố không đều trong một năm Một năm có thể chia ra hai mùa: mùa mưa (mưa lũ lụt) từ tháng 9 đến tháng 12 với 70 – 80% lượng mưa trong năm và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 với
lượng mưa chiếm từ 20 – 30% lượng mưa năm [4]
Nắng: Có quan hệ chặt chẽ với bức xạ mặt trời và lượng mây che Tổng số giờ nắng trung bình năm ở Thừa Thiên Huế dao động từ 1.700 đến 2.000 giờ/năm và giảm dần từ khu vực đồng bằng duyên hải lên khu vực đồi núi Trong thời gian ít nắng nhất mỗi ngày vẫn có từ 3 – 5 giờ nắng Tuy vậy, ở Thừa Thiên Huế cũng có mưa nhiều, nhiều ngày liền không thấy tia nắng nào (bảng 1.2)
Bảng 1.2 Số giờ nắng trung bình tháng trong năm 2016
Đông 121 135 194 192 234 241 111 229 213 164 151 136 162,4
A Lưới 104 125 189 202 247 218 113 201 184 160 149 116 167,3
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2017)
1.2.3.2 Điều kiện thủy văn vùng đầm phá
Vùng nước lợ mặn ven biển Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa, do đó thời tiết trong năm thường chia thành hai mùa rõ rệt là
Trang 30Lượng nước trong đầm phá được cấp chủ yếu do ba nguồn chính: Nguồn nước quan trọng là do Biển Đông cung cấp thong qua thủy triều Thủy triều ở vùng này theo chế độ bán nhật triều Nước triều lúc cường không cao (50 – 70 cm) nhưng mỗi ngày có hai lần nước biển tràn vào qua hai của Thuận An và Tư Hiền Nguồn thứ hai là do các con sông, suối nội địa đổ vào đàm phá Trong những ngày mưa lụt, lượng nước sông rất lớn Hai nguồn nước này có sự giao tranh và xáo trộn với nhau trong đầm phá Nguồn thứ 3 cung cấp nước là do chế độ mưa lớn ở đây, đổ gián tiếp
và trực tiếp xuống đầm phá Đầm phá được xem như một bể chứa nước thừa trong nội địa với dung tích khoảng 350 triệu m3 nước về mùa hạn [22]
Chế độ hải văn vùng ven bờ ngoài đầm phá phức tạp Vùng cửa biển Thuận An
có chế độ bán nhật triều đều, biên độ dao động hàng ngày của mực nước nhỏ nhất, khoảng 35 – 50 cm Đi về phía Nam và Bắc, biên độ dao động triều tăng dần lên Tại khu vực phía Nam, thủy triều chuyển sang bán nhật triều không đều, cụ thể là ở cửa
Tư Hiền, biên độ dao động triều vào khoảng 55 – 110 cm Tại khu vực Chân Mây, biên độ trung bình đạt 70 cm, biên độ cực đại - cực tiểu là 145 cm và 20 cm [22] Biên độ triều trong đầm phá bé hơn biên độ triều ở vùng biển ven bờ Tại Ca Cút (phá Tam Giang) là 30-50 cm, tại Cống Quan (Cầu Hai) từ 10 – 20 cm Dao động mực nước lớn nhất trong năm đạt 70 cm ở phá Tam Giang và 100 cm ở đầm Cầu Hai [22] Trong đầm phá, sự trao đổi nước được thực hiện bởi quá trình xáo trộn nước giữa đầm phá và biển; giữa đầm phá và sông; giữa các vùng trong đầm phá Mùa khô, lượng nước biển chảy vào đầm phá lớn Tại cửa Tư Hiền mỗi ngày nước biển chảy vào đầm phá khoảng 35,6 triệu m3 và chảy ra khoảng 29,8 triệu m3 Tại cửa Thuận An lượng chảy vào gấp 6,2 lần và lượng chảy ra gấp 4,3 lần so với cửa Tư Hiền [22] Mùa mưa tại cửa Tư Hiền lượng chảy vào giảm, lượng chảy ra tăng và cân bằng chảy ra đạt 4 triệu m3 ngày (tăng 6,8 lần so với mùa khô)
Ngoài ra, hàng năm các sông đổ vào đầm phá gần 6 km3
nước và khoảng 620.070 tấn bùn, cát (sông Hương: 4,2 km3, sông Ô Lâu: 0,54 km3, sông Đại Giang
và sông Truồi: 0,5 km3) làm thay đổi độ đục, độ muối, động lực trong đầm, nhất là khu vực phía Tây gần cửa sông [22]
Các đặc điểm về thủy văn đầm phá và ven biển Thừa Thiên Huế đã góp phần
Trang 31Độ đục: Độ đục trong vùng nước biển ven bờ và đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai dao động trong khoảng từ 20 – 100 mg/l Có sự khác nhau về giá trị giữa các vùng và tầng nước do nó có liên quan đến các chất dinh dưỡng, độ chiếu sáng vực nước và sự bồi lắng của đầm phá Cụ thể, vùng nước cửa Thuận An và sông Hương
có độ đục cao hơn cả từ 50 – 100 mg/l; chỉ số độ đục ở tầng mặt cao hơn tầng đáy Vùng nước đầm Cầu Hai có giá trị độ đục thấp nhất, dao động từ 20 – 50 mg/l và có
xu hướng tầng đáy cao hơn tầng mặt [35]
Giá trị pH của hệ đầm phá Thừa Thiên Huế có xu hướng hơi kiềm hoặc trung
tính, giá trị dao động từ 6,5 – 8,2 Tại cửa Thuận An, Tư Hiền độ pH ổn định hơn so với các khu vực xa cửa biển Giá trị pH biến đổi phụ thuộc vào mùa khá rõ rệt, mùa khô độ pH thường cao hơn mùa mưa Vào mùa mưa, độ pH ở tầng đáy cũng có những dao động tương tự thường thấp hơn tầng mặt Mùa nắng, pH đồng đều ở hai tầng Độ pH ở các đầm chuyển tiếp (An Truyền, Sam, Thủy Tú) cao hơn ở hai đầm lớn (Tam Giang và Cầu Hai) [35]
Nồng độ muối: Độ mặn của nước trong đầm phá dao động rất rộng và phức
tạp từ 0,1 – 35‰ Cao nhất cửa Thuận An, Tư Hiền (20 – 35‰ về mùa khô; 5 – 30‰ về mùa mưa) Độ mặn giảm dần về phía trong đầm phá, ổn định ở mức cao tại đầm Cầu Hai, Thuỷ Tú [35]
Nhiệt độ nước: Giống với các thủy vực khác, nhiệt độ nước ở đầm phá Thừa
Thiên Huế phụ thuộc vào các điều kiện khí hậu Những nghiên cứu gần đây đã chỉ
ra rằng, nhiệt độ phân bố theo độ sâu không chênh lệch nhiều Điều này liên quan đến độ sâu nhỏ và có sự chu chuyển của nước thường xuyên trong đầm phá Nhiệt
độ của nước thay đổi theo vị trí của từng vùng trong đầm phá Các vùng ở gần cửa biển Tư Hiền và cửa Thuận An thường có nhiệt độ nước trung bình cao hơn (26oC) nhiệt độ nước trung bình ở các vùng vửa sông (23oC) Điều đó có thể do liên quan đến nhiệt độ ở nước biển cao hơn so với nhiệt độ nước khe suối, bắt nguồn từ rừng nhiệt đới
Nhiệt độ nước dao động lớn theo thời gian, thường giảm dần từ tháng 9 năm này (25oC) đến tháng 3 năm sau (20o
C) Trong xu thế giảm nhiệt độ mùa đông, tháng Một có nhiệt độ trung quân ổn định hơn cả (23,8oC) Ngược lại, từ tháng 4 đến tháng
Trang 328 nhiệt độ nước tăng dần, đặc trưng cho biến động mùa hè Tháng 4 có nhiệt độ trung bình quân là 24oC và tăng lên 30oC vào tháng 8 [22]
1.2.4 iều kiện kinh tế - xã hội
1.2.4.1 Kinh tế
Theo thống kê của Cục thống kê Thừa Thiên Huế, số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của toàn tỉnh năm 2016 là 606.537 người, lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chiếm 174.644 người, tương ứng với 28,8% [4] Trong đó các hoạt động về ngành thủy sản có mối liên hệ trực tiếp đến đầm phá Số lao động phân chia theo khu vực kinh tế được thể hiện ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Phân chia lao động theo khu vực kinh tế (người)
Năm Nông, lâm nghiệp,
(Nguồn: Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế, 2017)
Lao động ở vùng đầm phá chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và khai thác thủy sản Hoạt động nuôi trồng thủy sản những năm gần đây ngày càng phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, đặc biệt là người dân sống ở khu vực nông thôn, đầm phá và vùng nước ven bờ Điều đó thể hiện ở việc diện tích nuôi trồng thủy sản và sản lượng thủy sản thu hoạch được theo từng năm ngày càng tăng (bảng 1.4)
Về diện tích nuôi trồng thủy sản, có sự thay đổi rõ rệt về diện tích nuôi từ năm 2012 đến năm 2016, nhìn chung càng ngày diện tích càng tăng nhưng có sự thay đổi khác nhau phụ thuộc vào các hình thức phân loại diên tích nuôi Cụ thể: về đối tượng nuôi, diện tích dùng để nuôi cá chiếm tỷ lệ cao nhất và ngày càng tăng trong khi diện tích nuôi qua các năm giảm; Về hình thức nuôi: diện tích nuôi giữa các hình thức có sự khác nhau qua các năm, diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh tăng trong khi diện tích nuôi quảng canh cải tiến giảm rõ rệt, đặc biệt là hình thức nuôi bán thâm canh tăng từ 1300,9 ha (2012) lên 3268,0 ha (2016); Phân theo loại hình nuôi: các hình thức nuôi lợ mặn vẫn chiếm giá trị cao và tăng theo thời gian
Trang 33Bảng 1.4 Diện tích nuôi trồng thủy sản trong 5 năm (2012 – 2016)
(Đơn vị tính: ha)
5754,4 7184,5 7513,2 7235,1 7175,0 Phân theo loại
(Nguồn: Niên giám thống kê Thừa Thiên Huế, 2017)
Cùng với việc gia tăng về diện tích nuôi, sản lượng nuôi trồng thủy sản trong 5 năm từ 2012 đến 2016 cũng tăng lên Góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng đời sống cho người dân (bảng 1.5)
Trang 34các di tích lịch sử, di tích phi vật thể được UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế giới [37] Bên cạnh đó, Thừa Thiên Huế có bờ biển dài với nhiều bãi biển nổi tiếng, như: biển Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô và nhiều cảnh quan thiên nhiên nên thơ, hùng vĩ: sông Hương, Núi Ngự, đồi Vọng Cảnh, vườn Quốc gia Bạch Mã Thừa Thiên Huế đã và đang đẩy mạnh ngành “công nghiệp không khói”, trở thành
một điểm đến lý tưởng của du khách ngoài nước cũng như bạn bè trên thế giới
Về y tế toàn tỉnh có 190 cơ sở y tế, bao gồm 26 bệnh viện, 6 phòng khám đa khoa khu vực, 152 trạm y tế xã, phường, 01 trạm y tế của cơ quan, xí nghiệp và 5 cơ sở y tế khác Với số cơ sở y tế hiện có như vậy, số giường bệnh trên toàn tỉnh là 7323 giường,
5236 cán bộ ngành y và 464 cán bộ ngành dược Tỷ lệ xã, phường, thị trấn có bác sĩ, hộ sinh là 100%; tính bình quân số bác sĩ trên 1 vạn dân năm 2018 là 13 người Bên cạnh
đó, tỷ lệ về số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ tại các địa phương khá cao, trung bình toàn tỉnh là 98,5% Nhìn chung hệ thống hạ tầng y tế khá đầy đủ [36;37] Thống kê về tình hình giáo dục trên địa bàn toàn tỉnh trong năm học 2017 –
2018 có 206 trường mầm non với 2121 lớp học; Số trường học hiện có là 386 trường, trong đó có 215 trường tiểu học, 121 trường trung học cơ sở, 38 trường trung học phổ thông, 10 trường phổ thông cơ sở và 2 trường trung học Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2016 – 2017 phân theo huyện/quận/thị xã/thành phố thuộc tỉnh có giá trị trung bình cao 96,52% [36]
Thừa Thiên Huế có đường bờ biển dài 162km, cùng với hệ thống đầm phá nằm trên địa bàn 5 huyện Hơn 35 vạn ngư dân đã và đang sống dựa vào nguồn lợi thuỷ sản [4] Nghề khai thác và nuôi trồng thuỷ sản của ngư dân Thừa Thiên Huế đã hình thành từ lâu đời Với các ngư cụ khai thác đơn giản và nghề khai thác truyền thống, như: câu, lao xiên, lưới, rùng, mành đời sống ngư dân đã gặp không ít khó khăn Trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, các hộ ngư dân đã trang
bị nhiều phương tiện và ngư cụ hiện đại với khả năng khai thác hiệu quả cao Đồng thời, các hộ ngư dân đã chú trọng việc nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, như: tôm sú, tôm hùm, cá hồng, cá mú, ghẹ, vẹm xanh Nhờ vậy, đời sống ngư dân ngày càng được nâng cao, chất lượng cuộc sống được cải thiện
Trang 35Chương 2 ỐI ƯỢN , ỊA ỂM, THỜI GIAN
VÀ P ƯƠN P ÁP N ÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Cá Ong căng (Hình 2.1) có vị trí trong hệ thống phân loại của ngành có dây sống:
- Loài: Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
- Tên địa phương: Cá Căng, cá Ong căng hoặc cá Căng cát
- Tên tiếng Anh: Target Fish hoặc Crescent Perch
- Tên đồng vật: Terapon timorensis Quoy & Gaimard, 1824;
Scianena Forsskål, 1775
Holocentrus jarbua Forsskål, 1775
Therapon jarbua Forsskål, 1775
ình 2.1 Cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
Trang 362.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện từ tháng 05/2015 – 12/2017, trong đó điều tra thực địa, thu mẫu được tiến hành trong hai năm từ tháng 09/2015 – 08/2017; các thí nghiệm thăm dò sinh sản nhân tạo cá được tiến hành đồng thời với thu mẫu và có sử dụng các số liệu trước đó của đề tài Quỹ gen cấp nhà nước do PGS TS Nguyễn Quang Linh chủ trì, mà tác giả là thành viên
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.3.1 ịa điểm thu mẫu
Trên toàn bộ khu vực nghiên cứu, chúng tôi chọn 11 điểm/vùng thu mẫu Khu vực đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có sinh cảnh phức tạp nên chọn 6 điểm nghiên cứu Vùng ven biển Thừa Thiên Huế, chúng tôi đặt các điểm nghiên cứu cách bờ khoảng 3 km trở lại, có độ sâu trung bình khoảng 20 m, phù hợp với các tàu đánh bắt gần bờ, mẫu cá thu được vẫn còn tươi, thuận lợi cho việc nghiên cứu sinh trưởng của cá (hình 2.2, bảng 2.1)
2.3.2 ịa điểm phân tích mẫu
Phòng thí nghiệm Trung tâm ươm tạo và Chuyển giao Công nghệ; Viện Công nghệ sinh học và Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
2.3.3 ịa điểm thăm dò khả năng nhân giống
Các thí nghiệm ương nuôi và sinh sản nhân tạo cá Ong căng được thực hiện tại Trung tâm Thực hành, thực tập NTTS, Viện Nghiên cứu và Phát triển; Trại sản xuất giống Huy Sơn thuộc xã Phú Thuận, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 37Bảng 2.1 ịa điểm, thời gian thu mẫu và số lƣợng mẫu
1 Vùng cửa sông Ô Lâu – Xã
Quảng Thái
Đợt 1: 19/09/2015 Đợt 2: 14/08/2016
Trang 38(Nguồn: Google map)
Hình 2.2 Các vùng/điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu
Trang 392.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thu mẫu nghiên cứu sinh trưởng: Đã xử lý cá ngay khi còn tươi, đo các chỉ
số về chiều dài thân (L và L0) và cân khối lượng (W và W0) của cá
Trong đó:
L: Chiều dài cơ thể cá từ mút mõm đến hết tia vây đuôi dài nhất (mm)
L 0: Chiều dài cơ thể cá từ mõm đến hết phần phủ vẩy trên vây đuôi (mm)
W: Khối lượng toàn thân cá (g)
Nghiên cứu đặc điểm sinh học
Đặc điểm sinh trưởng Đặc điểm dinh dưỡng Đặc điểm sinh sản
Quy trình sản xuất giống
Nuôi vỗ thành thục
Thí nghiệm thăm dò sinh sản
Thí nghiệm ương cá giống
Độ mặn khác nhau Thức ăn khác nhau
Trang 40W0: Khối lượng bỏ nội quan của cá (g)
Thu mẫu nghiên cứu dinh dưỡng: Mẫu cá được giải phẫu ngay khi cá còn sống
để quan sát ruột và giải phẫu lấy thức ăn trong ống tiêu hoá, định hình thức ăn trong dung dịch formol 4% hoặc cồn 700 Chúng tôi xác định thành phần thức ăn cá Ong
căng theo từng tháng trong năm và theo nhóm kích thước cá
Thu mẫu nghiên cứu sinh sản: Mẫu cá khi thu được giải phẫu, xác định khối
lượng và các GĐ chín muồi sinh dục của tuyến sinh dục cá về hình thái theo thang 6 bậc của Kiselevits (1923) [19] Sau đó cố định trong dung dịch Bouin để làm tiêu bản nghiên cứu tổ chức tế bào học tuyến sinh dục cá
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.4.3.1 Về chỉ tiêu hình thái phân loại
Đo đếm các chỉ tiêu phân loại dựa vào tài liệu hướng dẫn nghiên cứu cá của Pravdin (1973) [19]
Mẫu cá khi được thu ngoài thực địa và mẫu cá nuôi về sẽ được xử lý, đánh số
để chụp ảnh và được cố định bằng formon 4% hoặc cồn 700, sau đó tiến hành phân tích các chỉ tiêu hình thái cấu tạo bên ngoài theo trình tự sau:
− Quan sát màu sắc, hình dạng và miêu tả đặc điểm các cơ quan bên ngoài
− Xác định khối lượng cá
− Đo các chỉ tiêu:
+ Lt: Chiều dài tổng (mm)
+ Ls: Chiều dài chuẩn (mm)
+ Lcđ: Chiều dài cuống đuôi (mm)
+ Hb: Chiều cao thân (mm)
+ Lh: Chiều dài đầu (mm) + Hh: Chiều cao đầu (mm) + Diae: đường kính mắt (mm) + Dis2e: Khoảng cách giữa hai mắt (mm) Ngoài các thông số trên, trong nghiên cứu còn xác định hình thái cá dựa vào các cấu tạo vây lưng thứ nhất (D1), vây lưng thứ hai (D2), vây ngực (P), vây bụng (V), vây đuôi (C), vây hậu môn (A), dạng miệng
2.4.3.2 Nghiên cứu về sinh trưởng
Xác định tương quan giữa chiều dài và khối lượng: Tương quan giữa chiều dài
và khối lượng cá Ong căng được biểu thị bằng phương trình sinh trưởng của Berverton – Holt (1956) [19]: W a L b