1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu thuật ngữ dầu khí tiếng anh việt tt

34 292 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 548,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, khảo sát ban đầu cho thấy, nhiều TNDK tiếng Việt chưa biểu đạt được tính chính xác của khái niệm, không ít những thuật ngữ vay mượn nước ngoài được sử dụng với nhiều biến thể

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGUYỄN THỊ THU HÀ

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ DẦU KHÍ ANH VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

Mã số: 9222024

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Phạm Hùng Việt

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI

VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Hùng ViệtPGSguyễn Văn Khang

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2018

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập toàn cầu và phát triển, yêu cầu sử dụng tiếng Anh hiệu quả trong học tập, giao tiếp và các ngành khoa học khác là rất quan trọng Nằm trong bối cảnh chung đó, tiếng Anh cũng được xem như là điều kiện tiên quyết cho những người làm trong ngành dầu khí Các hoạt động của ngành dầu khí không chỉ sử dụng những từ ngữ thông thường mà còn phải sử dụng một bộ phận từ ngữ chỉ đích danh những khái niệm, biểu tượng, phạm trù, các sự vật, hiện tượng …, đó chính là hệ thuật ngữ Tuy nhiên, khảo sát ban đầu cho thấy, nhiều TNDK tiếng Việt chưa biểu đạt được tính chính xác của khái niệm, không ít những thuật ngữ vay mượn nước ngoài được sử dụng với nhiều biến thể khác nhau mà chưa được chuẩn hóa, hoặc có những TNDK tiếng Anh có mà tiếng Việt chưa có … Từ đó đặt ra yêu cầu hoàn thiện và từng bước phát triển hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt sao cho phù hợp với những chuẩn mực chung của thế giới trong ngành dầu khí nhằm đáp ứng tình hình hoạt động cũng như thúc đẩy quá trình hội nhập với thế giới là một công việc cần thiết và nên được triển khai

2.1 Mục đích

Luận án làm sáng tỏ đặc trưng về cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thống TNDK trong tiếng Anh và tiếng Việt, xác định một số phương hướng, biện pháp cụ thể để xây dựng và chuẩn hóa TNDK tiếng Việt

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trình bày các quan điểm lý thuyết về thuật ngữ, về ngôn ngữ học đối chiếu để từ đó xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu; Xác định các loại

mô hình kết hợp các thành tố để tạo thành TNDK ở cả hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Việt; Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của TNDK trong tiếng Anh với tiếng Việt; Đối chiếu đặc điểm định danh của TNDK trong tiếng Anh với tiếng Việt; Và đề xuất phương hướng, biện pháp cụ thể để xây dựng và

Trang 4

chuẩn hóa TNDK tiếng Việt góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và hoạt động của ngành dầu khí tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là 4190 thuật ngữ dầu khí tiếng Anh và

4190 thuật ngữ dầu khí tiếng Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là đối chiếu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh của hệ thuật ngữ dầu khí trong tiếng Anh và tiếng Việt và vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ dầu khí tiếng Việt

4 Phương pháp nghiên cứu

Với nội dung đề tài mang tính xã hội và ứng dụng thực tiễn, chúng tôi

sẽ áp dụng tổng hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây: 1) Phương pháp miêu tả; 2) Phương pháp so sánh - đối chiếu; 3) Phương pháp phân tích thành tố; 4) Thủ pháp thống kê, phân loại

5 Đóng góp của luận án

Luận án có thể coi là công trình nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về nghiên cứu đối chiếu một cách hệ thống và toàn diện những đặc điểm cơ bản của hệ thuật ngữ dầu khí tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện cấu tạo và định danh Dựa vào kết quả nghiện cứu, luận án đã đề xuất các phương hướng, biện pháp cụ thể nhằm xây dựng và chuẩn hóa các thuật ngữ dầu khí trong tiếng Việt

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, ngữ liệu khảo sát, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận

Trang 5

Chương 3: Đối chiếu phương thức và đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ dầu khí trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 4: Đối chiếu phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của thuật ngữ dầu khí trong tiếng Anh và tiếng Việt

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở

Việt Nam

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới

Bên cạnh những tên tuổi của các nhà thuật ngữ học Âu – Mĩ như Eugen WUSTER – một nhà ngôn ngữ người Áo, Alfred Schlomann – học giả người Đức, Ferrdinand de Saussure (Thụy Sĩ) và E Dresen (Nga), R.W Brown (Mĩ), J.C Boulanger (Anh), W.E Flood (Mĩ), J.C Segen (Mĩ), không thể không nhắc tới các nhà thuật ngữ học nổi tiếng của Xô viết như: A.S gerd, B.N.Golovin, S.V.Grinev, A.A Reformatskij, V.P Đanilenko, V.M Leichik… Những nghiên cứu của họ đóng góp quan trọng không chỉ trong việc soạn thảo các văn bản chỉ dẫn biên soạn các cuốn từ điển thuật ngữ kết hợp để đưa ra các văn bản xây dựng, chỉnh lý hệ thống thuật ngữ sau này trên toàn thế giới mà còn làm nền tảng cho nhiều nghiên cứu về sau

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, thuật ngữ xuất hiện muộn hơn so với các nước phương Tây và phải đến đầu thế kỷ XX, vấn đề nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ mới được chú ý Tiên phong trong lĩnh vực này có thể kể đến như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Ứng hay Nguyễn Triệu Luật Thời kỳ sau, có Hoàng Xuân Hãn (1948), Võ Xuân Trang (1977), Lưu Vân Lăng (1977), Nguyễn Đức Dân (1977); Hoàng Trọng Phiến (1985), … Gần đây là những công trình lý luận thuật ngữ của Nguyễn Đức Tồn và Hà Quang Năng bàn về vấn

Trang 6

đề xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt, cùng với những luận án Tiến

sĩ nghiên cứu về vấn đề xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ trong một số lĩnh vực chuyên ngành cụ thể như tin học viễn thông, tài chính kế toán, ý tế, âm nhạc,…

Như vậy, ở Việt Nam, các vấn đề về nghiên cứu thuật ngữ mới chủ yếu bàn đến các tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức đặt thuật ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ, vấn đề phiên âm các thuật ngữ nước ngoài, vấn đề thống nhất thuật ngữ, một số các nghiên cứu gần đây tập trung về đối chiếu thuật ngữ

1.2 Tình hình nghiên cứu của TNDK trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.2.1 Tình hình nghiên cứu TNDK trong tiếng Anh

TNDK tiếng Anh xây dựng trên mô hình không đồng nhất, là kết quả của sự tác động qua lại giữa một số lĩnh vực kiến thức của con người Trong

đó bao gồm các thuật ngữ địa chất, địa vật lý, địa hóa học, thuật ngữ khoan biển, thuật ngữ kinh tế, Đã có một số công trình nghiên cứu về một số bình diện của TNDK tiếng Anh dưới góc độ lí thuyết [92], [110], [115], [116], … Bên cạnh đó còn có hàng loạt các cuốn từ điển chuyên ngành dầu khí tiếng Anh – Anh ra đời cùng với các sản phẩm từ điển on-line, các phần mềm từ điển, các chuyên trang về dầu khí, …

1.2.2 Tình hình nghiên cứu TNDK trong tiếng Việt

Qua khảo sát của chúng tôi, trong tiếng Việt, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào nghiên cứu về TNDK từ góc độ lý thuyết Những thành tựu chủ yếu ở Việt Nam về lĩnh vực dầu khí mới chỉ là các sản phẩm từ điển Cùng với một số phần mềm từ điển địa chất, GIS, Dầu khí, Trắc địa, …

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Cơ sở lí luận về thuật ngữ và thuật ngữ dầu khí

2.1.1 Khái niệm về thuật ngữ

Trang 7

Để có cơ sở khoa học cho quá trình khảo sát đối tượng của luận án và xây dựng lý luận cơ bản phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu nghiên cứu,

chúng tôi đồng quan điểm với Nguyễn Thiện Giáp coi Thuật ngữ là bộ phận

từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người [9]

2.1.2 Phân biệt thuật ngữ với một số khái niệm liên quan

2.1.2.1 Thuật ngữ và danh pháp

2.1.2.2 Thuật ngữ và từ nghề nghiệp

2.1.3 Đặc điểm của thuật ngữ

Có thể thấy rằng, các nhà nghiên cứu đưa ra khá nhiều tiêu chuẩn cho

thuật ngữ Nhưng có thể khái quát chúng lại thành các tiêu chuẩn: tính khoa học, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng Trong nội dung luận án này, chúng tôi đồng ý thuật ngữ phải có tính khoa học; tính quốc tế và tính dân tộc

2.1.4 Phương thức đặt thuật ngữ

Theo Lê Khả Kế, có hai phương thức cơ bản để đặt thuật ngữ, đó là:

a) Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường trên cơ sở tiếng Việt

Thực chất là con đường dùng phép chuyển di ngữ nghĩa của từ để tạo thuật ngữ “Phép chuyển di này có thể không dẫn đến chuyển nghĩa hoặc chuyển nghĩa, từ thông thường được thu hẹp về phạm vi hoạt động hay được chuyển di phạm vi ứng dụng từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác với những cách nhìn từ những góc độ khác nhau” [13, tr.26-28] Bằng con đường thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường, đã có rất nhiều các từ ngữ trong đời sống hàng ngày tham gia cấu tạo nên các thuật ngữ khoa học dễ dùng, dễ nhớ và đảm bảo tính dân tộc, đồng thời góp phần làm giàu thêm vốn từ vựng tiếng Việt

b) Tiếp nhận từ thuật ngữ nước ngoài

Trang 8

Theo cách hiểu thông thường thì vay mượn là hình thức chuyển thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt [dẫn theo 10, tr.39] Trong quá trình phát triển

và làm phong phú thêm vốn thuật ngữ tiếng Việt, việc vay mượn từ thuật ngữ nước ngoài là không thể tránh khỏi Các thuật ngữ này có ưu điểm là đảm bảo tính quốc tế về mặt hình thái và ngữ nghĩa Thực tế, thuật ngữ nước ngoài được tiếp nhận vào tiếng Việt dựa trên ba hình thức là sao phỏng,

phiên âm và giữ nguyên dạng

2.1.5 Đơn vị cấu tạo nên thuật ngữ

Trong luận án này, chúng tôi gọi đơn vị cấu tạo nên TNDK là thành tố thuật ngữ (gọi tắt là thành tố) và nhất trí với quan điểm cho rằng thành tố

TNDK là hình vị trong thuật ngữ có hình thức cấu tạo là từ; là từ hoặc cụm

từ trong thuật ngữ có hình thức cấu tạo là cụm từ (ngữ) Thành tố thuật ngữ

dầu khí là đơn vị cấu tạo trực tiếp cuối cùng của thuật ngữ dầu khí, có chức năng biểu thị một khái niệm hay tiêu chí của khái niệm trong lĩnh vực dầu khí Với chức năng như vậy, mỗi thành tố tham gia cấu tạo nên TNDK phải

có ý nghĩa từ vựng

2.1.6 TNDK và các tiêu chí nhận diện thuật ngữ dầu khí

2.1.6.1 Thuật ngữ dầu khí

Trên cơ sở định nghĩa chung về thuật ngữ, trong luận án này chúng tôi

quan niệm thuật ngữ dầu khí là từ và cụm từ dùng để gọi tên chính xác các khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực dầu khí gồm các hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến, kỹ thuật phụ trợ và kinh doanh dầu khí 2.1.6.2 Các tiêu chí nhận diện thuật ngữ dầu khí

Dựa vào những nguyên tắc tham khảo trong các tài liệu [56, 58 và 59]

có điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

để xác lập những tiêu chí nhận diện những TNDK tiếng Anh và tiếng Việt,

bao gồm 04 tiêu chí: (1) Về mặt cấu tạo, các thành tố cấu tạo nên TNDK

Trang 9

phải có mối quan hệ liên kết với nhau, trong đó mỗi thành tố có một chức

năng nhiệm vụ riêng để tạo nên thuật ngữ; (2) Về mặt ý nghĩa, các thành tố

tạo nên TNDK phải mang một đặc trưng của khái niệm do thuật ngữ biểu

hiện; (3) Về chức năng, thuật ngữ là đơn vị định danh vì vậy TNDK phải ở dạng một từ hoặc một ngữ; và (4) Về phạm vi sử dụng, thuật ngữ là TNDK

tiếng Anh và tiếng việt phải là một bộ phận từ ngữ được sử dụng để biểu thị khái niệm hoặc đối tượng trong lĩnh vực dầu khí

2.1.6.3 Hệ thống thuật ngữ dầu khí

Dựa vào tiêu chí và chiến lược kinh doanh phát triển của ngành dầu khí, các hoạt động trong lĩnh vực dầu khí bao gồm 05 lĩnh vực chính và được

phân chia thành 05 hệ thống tương ứng sau: tìm kiếm, thăm dò dầu khí; khai

thác dầu khí; chế biến dầu khí; kỹ thuật phụ trợ dầu khí; và kinh tế dầu khí 2.1.7 Thuật ngữ với lí thuyết định danh

2.1.7.1 Khái niệm về định danh

2.1.7.2 Quá trình định danh và đơn vị định danh

2.2 Cơ sở lí luận về ngôn ngữ học đối chiếu

Luận án dựa trên các quy tắc về nghiên cứu đối chiếu của Bùi Mạnh Hùng [17, tr 131-146] và có điều chỉnh cho phù hợp với nội dung nghiên cứu của luận án

2.3 Tiểu kết

Trong chương này, luận án đã tập trung trình bày về khái niệm thuật ngữ, đặc điểm thuật ngữ, sự khác biệt giữa thuật ngữ và các khái niệm liên quan, phương thức đặt thuật ngữ và đơn vị cấu tạo nên thuật ngữ từ đó đưa ra định nghĩa về thuật ngữ dầu khí, các tiêu chí để nhận diện thuật ngữ dầu khí cùng với 5 tiểu hệ thống thuật ngữ dầu khí Ngoài ra, để làm cơ sở cho việc

so sánh, đối chiếu hệ thuật ngữ dầu khí tiếng Anh và tiếng Việt ở các chương

tiếp theo luận án đã nêu ra các nguyên tắc cơ bản trong đối chiếu

Trang 10

Chương 3 ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ DẦU KHÍ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 3.2 Phương thức cấu tạo TNDK tiếng Anh và tiếng Việt

3.2.1 Phương thức cấu tạo TNDK tiếng Anh

TNDK tiếng Anh có cấu tạo là từ gồm 3loại tùy theo số lượng hình vị và

thành tố cấu thành: a) TNDK tiếng Anh có cấu tạo là từ đơn, ví dụ: oil (dầu), drill (khoan), b) TNDK tiếng Anh có cấu tạo là từ phái sinh, (i) từ phái sinh thêm phụ tố, ví dụ: driller (thợ khoan),… (ii) từ phái sinh không thêm phụ tố có thể là từ trộn hay từ viết tắt, ví dụ: LFO (Light Fuel Oil – Dầu nhiên liệu nhẹ),… d) TNDK tiếng Anh có cấu tạo là từ ghép, ví dụ: brainstorm – thợ khoan,…

TNDK tiếng Anh có cấu tạo là cụm từ/ngữ: Nếu chỉ xét về hình thức cấu tạo, thuật ngữ có cấu trúc là cụm từ gồm một thành tố làm trung tâm kết hợp với

các thành tố phụ khác Ví dụ: ngữ formation oil ratio – tỉ số dầu của vỉa,…

3.2.2 Phương thức cấu tạo TNDK tiếng Việt

TNDK tiếng Việt có cấu tạo là: a) từ đơn , ví dụ: dầu, khí, khoan, v.v b)

từ ghép (từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ), ví dụ: tháo gỡ, van dẫn, TNDK tiếng Việt có cấu tạo là cụm từ/ngữ: các thành tố cấu thành thường

có một thành tố chính và một hay hơn một thành tố, ví dụ: dầu trưởng thành (mature oil), giàn khoan nhiều cấu kiện (modular rig),

3.3 Đối chiếu số lượng các thành tố cấu tạo TNDK tiếng Anh và tiếng Việt

3.3.1 TNDK Anh và tiếng Việt xét theo số lượng thành tố

Số lượng

thành tố

Số thuật ngữ Tỉ lệ % Số thuật ngữ Tỉ lệ %

Trang 11

3.3.2 Đánh giá điểm tương đồng và khác biệt của TNDK tiếng Anh

và tiếng Việt xét trên số lượng thành tố cấu tạo

Hai hệ TNDK tiếng Anh và tiếng Việt đều được cấu tạo từ một đến nhiều thành tố, số lượng các thuật ngữ được cấu tạo từ hai thành tố chiếm tỉ

lệ cao nhất trong cả hệ thuật ngữ tiếng Anh (80.26%) và tiếng Việt (59.38%) Tuy nhiên, một số điểm khác biệt lớn nhất giữa hai hệ thuật ngữ này là

hệ TNDK tiếng Anh có cấu tạo ngắn gọn, với 3363 thuật ngữ có cấu tạo hai thành tố, số thuật ngữ có cấu tạo ba, bốn thành tố chỉ chiếm 9.19% với 385 thuật ngữ và chỉ có 3 thuật ngữ có cấu tạo là 5 thành tố Trong khi đó, số thuật ngữ có cấu tạo là ba thành tố trong tiếng Việt gấp gần ba lần rưỡi so với

số lượng thuật ngữ ba thành tố tương đương trong tiếng Anh, chưa kể số lượng thuật ngữ có cấu tạo ngắn gọn một thành tố chiếm tỉ lệ rất nhỏ với 1.69% so với 7.28% của nhóm thuật ngữ có cấu tạo tương đương trong tiếng Anh Bên cạnh đó, thuật ngữ là bốn và năm thành tố cũng chiếm một tỉ lệ không hề nhỏ (9.1%), cùng với những thuật ngữ có cấu tạo là sáu và bảy thành tố làm cho hệ TNDK tiếng Việt thay vì mang tính định danh như trong

Trang 12

hệ thuật ngữ tiếng Anh thì lại nặng về miêu tả, với kết cấu lỏng lẻo, thiếu đi tính ngắn gọn

3.4 Đối chiếu đặc điểm về cấu tạo và từ loại của TNDK Tiếng Anh

và Tiếng Việt

3.4.1 Thuật ngữ dầu khí gồm một thành tố cấu tạo

3.4.1.1 Thuật ngữ dầu khí tiếng Anh

Số lượng TNDK tiếng Anh có cấu tạo một thành tố là 305/4190 thuật

ngữ Trong đó có 127 thuật ngữ là từ đơn (chiếm 3.03%), ví dụ: barel (thùng), core (lõi), có 178 thuật ngữ là từ phái sinh (chiếm 4.25%), ví dụ: geophone (máy thu địa chấn), cementer (thợ tráng xi măng), …

3.4.1.2 Thuật ngữ dầu khí tiếng Việt

Số TNDK tiếng Việt có cấu tạo một thành tố là 71 thuật ngữ, chiếm 1.69% Những thuật ngữ này đều là từ đơn, trong đó có 59 thuật ngữ là danh

từ, chiếm 1.41%, ví dụ: dầu, trục, lõi , … Có 11 thuật ngữ là động từ, chiếm 0.26%, ví dụ: khoan, trám, bơm, … và chỉ có 01 thuật ngữ là tính từ: vênh,

chiếm 0.02%

3.4.2 Thuật ngữ dầu khí gồm hai thành tố cấu tạo

3.4.2.1 Thuật ngữ tiếng Anh

Số TNDK tiếng Anh có cấu tạo hai thành tố là 3363, chiếm 80.26%

Trong đó có 44 thuật ngữ là từ ghép, chiếm 1.04%, ví dụ: traveltime (đường truyền), sandstone (cát kết),… Có 3106 thuật ngữ là cụm danh từ, chiếm 74.13%, ví dụ: expendable well (giếng khoan mở rộng), barge engineer (kỹ

sư tàu khoan)… ; Có 206 thuật ngữ là cụm động từ, chiếm 4.92%, ví dụ:

seafloor spreading (tách giãn đáy đại dương), … và cụm tính từ có số lượng rất ít gồm 07 thuật ngữ, chiếm 0.17%, ví dụ: marginal allowable (lượng sản

xuất cho phép), …

3.4.2.2 Thuật ngữ tiếng Việt

Trang 13

Số TNDK tiếng Việt có cấu tạo hai thành tố gồm 2488 thuật ngữ, chiếm 59.38%, trong đó thuật ngữ có cấu tạo cụm từ chính phụ chiếm tỉ lệ lơn nhất với 1663 thuật ngữ (39.69%), đứng thứ hai là từ ghép chính phụ có

816 thuật ngữ chiếm 19.47%, thấp nhất là từ ghép đẳng lập với 9 thuật ngữ,

chiếm 0.21% Ví dụ: tuần hoàn dưới nước, bơm chân không, bơm lại, giếng khô, tháo gỡ, đứt gãy, …

3.4.3 Thuật ngữ dầu khí gồm ba thành tố cấu tạo

3.4.3.1 Thuật ngữ tiếng Anh

Trong tổng số 336 TNDK tiếng Anh có cấu tạo gồm 03 thành tố, có

319 thuật ngữ là cụm danh từ, chiếm 7.86%; 17 thuật ngữ là cụm động từ,

chiếm 0.41% Ví dụ: area rate clause (điều khoản tỷ suất vùng), condensing gas drive (kích thích bằng khí ngưng), …

3.4.3.2 Thuật ngữ tiếng Việt:

Trong tổng số 1145 TNDK tiếng Việt có cấu tạo gồm ba thành, có 963 thuật ngữ là cụm damh từ, chiếm 22.98% và 172 thuật ngữ là cụm động từ, chiếm 4.10% và chỉ 10 thuật ngữ là cụm tính từ, chiếm 0.24%

3.4.4 Thuật ngữ dầu khí gồm bốn thành tố cấu tạo

3.4.4.1 Thuật ngữ tiếng Anh

Số lượng TNDK cấu tạo bốn thành tố có 49 thuật ngữ tương đương

1.17% và đều là cụm danh từ, ví dụ: net operating profts interest (lợi nhuận điều hành thực), associated gas well allowable (lượng khí kết hợp được phép

khai thác), …

3.4.4.2 Thuật ngữ tiếng Việt

Có 354 TNDK tiếng Việt có cấu tạo bốn thành tố, chiếm 8.45%, trong

đó có 290 thuật ngữ là cụm danh từ, chiếm 6.92%, 62 thuật ngữ là cụm động

từ, chiếm 1.48% và chỉ có 2 thuật ngữ có cấu tạo là cụm tính từ, chiếm

Trang 14

0.05%, ví dụ: người phụ trách công tác xi măng, tập hợp hệ thống trầm tích cùng thời, chênh lệch độ sâu chiều thẳng đứng, …

3.4.5 Thuật ngữ dầu khí gồm năm thành tố cấu tạo

3.4.5.1 Thuật ngữ tiếng Anh

Chỉ có 03 thuật ngữ tiếng Anh có cấu tạo năm thành tố trên tổng số

4190 TNDK tiếng Anh, chiếm 0.07%, ví dụ: seventy-two hour continuous

efforts clause (Điều khoản 72h), deeper drilling dry hole costs (chi phí khoan

sâu hơn giếng khoan khô),

3.4.5.2 Thuật ngữ tiếng Việt

Với cấu tạo năm thành tố, TNDK tiếng Việt có 111 thuật ngữ, chiếm 2.65% Trong đó có 96 thuật ngữ là cụm danh từ, chiếm 2.29% và 15 thuật

ngữ là cụm động từ, chiếm 0.36% Ví dụ: tăng cường thu hồi dầu bằng vi khuẩn, thiết bị khoan có động cơ máy phát, …

3.4.6 Thuật ngữ dầu khí gồm sáu và bảy thành tố cấu tạo

3.4.6.1 Thuật ngữ tiếng Anh: Trong tiếng Anh không có thuật ngữ nào

có cấu tạo là 6 và 7 thành tố

3.4.6.2 Thuật ngữ tiếng Việt

Có 21 thuật ngữ có cấu tạo là 6 và 7 thành tố, chiếm 0.05% và các

thuật ngữ này đều có cấu tạo là cụm danh từ, ví dụ: dụng cụ kiểm tra thiết bị bảo hiểm chống phun dầu, phương pháp định tỷ lệ sản xuất theo độ sâu, mũi khoan lấy mẫu có ống bọc bằng cao su, v.v…

3.4.7 Thuật ngữ là từ viết tắt

Qua khảo sát trong hai hệ TNDK, chỉ có hệ TNDK tiếng Anh có hình

thức viết tắt với số lượng là 134 thuật ngữ, chiếm 3.20% Ví dụ: BFL - Barrels of fluid, BLED - Bleeding oil, C & R - Cellar and pits, BMUD - Barrels of mud, v.v …

Trang 15

3.4.8 Những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm cấu tạo và từ loại của thuật ngữ dầu khí tiếng Anh và tiếng Việt

Về phương thức cấu tạo: Cùng được tạo lập theo phương thức phổ

biến, chủ yếu là ghép chính phụ, các đơn vị từ vựng trong cả hai hệ thuật ngữ đều có từ đơn, từ ghép và cụm từ; trong đó chủ yếu là danh từ, danh từ ghép

và cụm danh từ Khác biệt lớn nhất giữa hai hệ TNDK là ngoài phương thức ghép, trong tiếng Anh còn sử dụng phương thức thêm phụ tố và phương thức viết tắt mà trong tiếng Việt không có Bên cạnh đó, hệ TNDK có cấu tạo hai thành tố được tạo nên từ các cụm từ như cụm động từ, cụm tính từ và cụm danh từ, trong khi đó, ngoài việc tạo ra các thuật ngữ có hai thành tố là các cụm từ như trong tiếng Anh thì TNDK tiếng Việt có hai thành tố cấu tạo còn được tạo nên từ các từ ghép, bao gồm cả ghép chính phụ và ghép đẳng lập, trong đó chủ yếu là từ ghép chính phụ

Về từ loại: Đều có cấu tạo là các danh từ/ cụm danh từ, tính từ/ cụm

tính từ, động từ/ cụm động từ Số lượng thuật ngữ là các danh từ và cụm danh từ trong cả hai hệ thuật ngữ chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếng Anh có 3805 thuật ngữ (90.81%), tiếng Việt với 3606 thuật ngữ (86.06%), thuật ngữ là các động từ và cụm động từ, tính từ và cụm tính từ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất giữa hai hệ thuật ngữ này là trong hệ thuật ngữ tiếng Anh có hình thức từ viết tắt (với số lượng 134 từ, chiếm 3.20%) mà hệ thuật thuật ngữ tiếng Việt không có Ngoài ra, số lượng thuật ngữ là các động từ và cụm động từ, tính từ và cụm tính từ trong hệ TNDK tiếng Anh ít hơn so với trong tiếng Việt

3.5 Đối chiếu mô hình cấu tạo của thuật ngữ dầu khí Tiếng Anh

và Tiếng Việt

Chúng tôi ký hiệu T là thành tố cấu tạo thuật ngữ; T1 là thành tố cấu tạo thứ nhất, T2 là thành tố cấu tạo thứ hai và đến Tn là thành tố cấu tạo thứ

Trang 16

n Kết quả khảo sát 4190 thuật ngữ cho thấy, các TNDK tiếng Anh và tiếng Việt chủ yếu được cấu tạo theo các mô hình điển hình dưới đây

3.5.1 Các mô hình cấu tạo thuật ngữ dầu khí tiếng Anh

3.5.1.1 Mô hình cấu tạo thuật ngữ dầu khí tiếng Anh hai thành tố

Mô hình 1:

Có 3219/4190 TNDK được cấu tạo theo mô hình này, chiếm 76.82%

Ví dụ: active well (giếng hoạt động), adjustable choke (van điều tiết), …

Mô hình 2:

Có 144 TNDK có cấu tạo theo mô hình này, chiếm 3.44%, Ví dụ: Lap

of wire = lớp bọc cát, summation of fluids = phép cộng chất lưu, …

3.5.1.2 Mô hình cấu tạo thuật ngữ dầu khí tiếng Anh ba thành tố

Mô hình 3:

Theo kết quả khảo sát, có 148 TNDK tiếng Anh được cấu tạo theo mô

hình này, chiếm 3.53% Ví dụ: gas production unit (xưởng sản xuất khí),

crude oil analysis (phân tích dầu thô),…

Mô hình 4:

Có 182/4190 TNDK được cấu tạo theo mô hình 4, chiếm 4.34% Ví

dụ: unstablized crude oil (dầu mỏ không ổn định), inhibited drilling fluid

Trang 17

Có 06/4190 TNDK được cấu tạo theo mô hình này, chiếm 0.14% Ví

dụ: proration of depth-bracket met (phương pháp định tỉ lệ theo độ sâu), rate

of take provision (điều khoản về tốc độ lấy khí), …

3.5.1.3 Mô hình cấu tạo thuật ngữ dầu khí tiếng Anh bốn thành tố

Mô hình 6:

Có 16/4190 TNDK tiếng Anh được cấu tạo theo mô hình này, chiếm

0.38% Ví dụ: Low temperature separation unit (thiết bị tách rời ở nhiệt độ

thấp), …

Mô hình 7:

Có 10/4190 TNDK tiếng Anh được cấu tạo theo mô hình này, chiếm

0.24% Ví dụ: retrievable hollow carrier gun (súng khoan nổ mìn thu hồi

được), …

Mô hình 8:

Có 05 TNDK tiếng Anh được cấu tạo theo mô hình 8, chiếm 0.12%

Ví dụ: compensated dual resitivity log (log điện trở bù kép), asscocated gas well allowable (lượng khí kết hợp được phép khai thác), …

Mô hình 9:

Có 18 TNDK tiếng Anh được cấu tạo theo mô hình này, chiếm 0.34%

Ví dụ: net operating profits interest (lợi nhuận điều hành thực), daily mud check report (báo cáo kiểm tra bùn hàng ngày), …

Ngày đăng: 06/05/2019, 17:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w