TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGÔ MINH PHƯƠNG ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH SẢN XUẤT RAU AN TOÀN VÀ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT TẠI LÀNG KAWAKAMI, QUẬN MINAMISAKU, TỈN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGÔ MINH PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
VÀ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG QUÁ
TRÌNH SẢN XUẤT TẠI LÀNG KAWAKAMI, QUẬN MINAMISAKU, TỈNH NAGANO, NHẬT BẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa Học Môi Trường Khoa : Môi Trường
Khóa học : 2013 – 2017
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGÔ MINH PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH SẢN XUẤT RAU AN TOÀN
VÀ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG QUÁ
TRÌNH SẢN XUẤT TẠI LÀNG KAWAKAMI, QUẬN MINAMISAKU, TỈNH NAGANO, NHẬT BẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sinh viên thực hiện : Ngô Minh Phương
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thanh Hải
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất
Thật may mắn khi tôi được tham gia khóa thực tập nông nghiệp tại Nhật Bản Nó không chỉ giúp tôi có thêm những kiến thức bổ ích mà nó còn giúp cho tôi có thêm những trải nghiệm những khám phá về một nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại Đây không chỉ là một khóa thực tập mà nó còn là cả một cơ hội mới giúp cho tôi có được những hướng phát phát triển sau khi tốt nghiệp
Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các chủ hộ gia đình làng Kawakami, các thầy cô giáo tại trung tâm phát triển quốc tế ITC, các thầy cô giáo trong và ngoài khoa Môi Trường, đặc biệt là sự
hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thanh Hải đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong
khoa Môi Trường, gia đình, bạn bè đặc biệt là thầy giáo TS.Nguyễn Thanh Hải
đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốt bản khóa luận, nhưng vì do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế Vì vậy bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô giáo và toàn thể các bạn bè để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Định mức cho phép hoạt chất Deltamethrin
có trên một số loại rau, theo quy định của Bộ NN & PTNT 15
Bảng 2.2: Sự biến đổi thời gian phân hủy của thuốc BVTV 30
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của làng Kawakami năm 2016 36
Bảng 4.2 Mức thu nhập của các hộ nông dân năm 2016 38
Bảng 4.3 Sản lượng các loại rau của làng năm 2016 40
Bảng 4.4 Diện tích, năng suất và sản lượng rau của làng Kawakami giai đoạn 2014 - 2016 40
Bảng 4.5: Tình hình sử dụng thuốc BVTV năm 2003, 2008, 2013 50
Bảng 4.6: Hiện trạng tàn dư thuốc BVTV từ năm 2011 đến năm 2015 Tên thuốc: Etofenprox 51
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Rau xà lách đạt tiêu chuẩn an toàn 9
Hình 2.2: Rau cải thảo bị sâu bệnh 11
Hình 4.1: Phòng phân tích mẫu đất 42
Hình 4.2: Phun thuốc cho rau xà lách 48
Hình 4.3: Một số loại thuốc BVTV 49
Trang 6NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của để tài nghiên cứu 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Ý nghĩa của việc phát triển ngành trồng rau an toàn 4
2.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây rau 6
2.2 Các khái niệm về sản xuất rau an toàn 6
2.2.1 Khái niệm về sản xuất 6
2.2.2 Khái niệm rau an toàn 8
2.2.3 Tiêu chuẩn rau an toàn 12
2.3 Tình hình sản xuất rau sạch của một số nước trên thế giới và ở VIệt Nam 16
2.3.1.Tình hình sản xuất rau tại Thái Lan 16
2.3.2 Tình hình sản rau tại Israel 18
2.3.3 Tình hình sản xuất rau an toàn tại Nhật Bản 21
2.3.4 Tình hình sản xuất rau tại Việt Nam 22
2.4 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật 28
2.4.1 Khái niệm thuốc BVTV 28
2.4.2 Lợi ích của việc sử dụng thuốc BVTV 29
2.4.3 Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV ở Nhật Bản 29
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 32
3.2 Nội dung nghiên cứu 32
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 32
Trang 83.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp 32
3.3.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 33
3.3.4 Phương pháp phân tích thông tin 33
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Sơ lượt về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội của làng Kawakami 34
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
4.2 Tình hình phát triển sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại
làng Kawakami, quận Minamisaku, tỉnh Nagano, Nhật Bản 39
4.2.1 Tình hình phát triển sản xuất 39
4.2.2 Diện tích đất sản xuất rau của làng 40
4.2.3 Thời vụ gieo trồng 41
4.2.4 Quy trình sản xuất, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại
cho rau sạch tại làng Kawakami 42
4.3 Đánh giá việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất 46
4.3.1 Sử dụng thuốc BVTV 46
4.3.2.Quản lý việc sử dụng thích hợp thuốc bảo vệ thực vật 50
4.4 Các bài học kin nghiệm rút ra trong quá trình thực tập tai làng Kawakami 52
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 9do ăn phải rau nhiễm thuốc bảo vệ thực vật ngày càng nhiều và đây cũng chính
là những vấn đề nóng hiện nay đang được dư luận giới báo chí và xã hội rất quan tâm
Ngoài những trường hợp gây ngộ độc cấp tính dẫn đến tử vong dễ nhận biết, còn các ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe cho mọi người vẫn chưa lường hết được Những thông tin và tình trạng ngộ độc do dư lượng thuốc trừ sâu trong rau khiến người tiêu dùng hoang mang khi phải lựa chọn thực phẩm an toàn trên thị trường Rau an toàn thật sự là một nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả loại rau ăn củ, thân, lá, hoa quả) có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau an toàn
Để có sản phẩm rau an toàn tới người tiêu dùng, cần phải giải bài toán có nhiều ẩn số: kỹ thuật, kinh tế, xã hội (thay đổi tập quán canh tác và tiêu thụ) và quản lý nhà nước Trước mắt, người sản xuất cần chú ý một số vấn đề khi sản xuất rau an toàn như kỹ thuật, việc sử dụng thuốc BVTV đúng cách, phải đảm bảo an toàn đới với người sử dụng và môi trường cũng như người tiêu thụ
Hiện nay, rau an toàn chỉ mới được sản xuất manh mún, nhỏ lẻ Do vậy, chủng loại còn nghèo nàn, sản phẩm sản xuất ra chưa được chứng nhận chất lượng, nên đầu ra không ổn định Vấn đề đặt ra hiện nay là phải thành lập tổ hợp
Trang 10tác hoặc tổ liên kết sản xuất rau an toàn để có đủ tư cách pháp nhân đại diện nông dân ký kết hợp đồng kinh tế với các nơi tiêu thụ có uy tín trên thị trường Đồng thời, thông qua tổ hợp tác, có điều kiện cùng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật, cùng trao đổi các phương pháp canh tác sạch, có kế hoạch phối hợp, điều tiết trồng đủ các loại rau có khả năng cung ứng thường xuyên và ổn định cho thị trường Có thể nói, sản xuất rau an toàn cả người trồng rau (đầu vào) và người tiêu dùng (đầu ra) đều có nhu cầu Vì sức khỏe cộng đồng, vì môi trường trong lành, cần mở rộng diện tích sản xuất rau sạch và việc sản xuất rau sạch sẽ phát triển khi lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng hài hòa, có chính sách quản lý và giám sát chất lượng, đảm bảo quyền lợi cho cả hai phía sản xuất và tiêu dùng Bởi vậy để phát triển ngành trồng rau theo hướng đảm bảo an toàn tuyệt đối, đối với người tiêu dùng và môi trường xung quanh Bên cạnh đó còn cải tạo đất canh tác, môi trường theo chiều hướng tốt nhờ các yếu tố công nghệ cao, sử dụng thuốc BVTV đúng cách của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới như : Mỹ; Nhật Bản; Israel…Vì vậy nhằm để học hỏi những kiến thức và kinh nghiệm đó mà bản thân tôi đã lựa chọn đề tài
“Đánh giá quy trình sản xuất rau an toàn và việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất tại làng Kawakami, quận Minamisaku, tỉnh Nagano, Nhật Bản”
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Nắm được quy trình kỹ thuật sản xuất các loại rau tại làng Kawakami
- Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng các loại rau tại làng Kawakami, quận Minamisaku, tỉnh Nagano, Nhật Bản
- Đánh giá việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất rau tại làng Kawakami
- Tiếp thu những kiến thức về kỹ thuật, công nghệ cao của nền nông nghiệp tiên tiến của Nhật để từ đó có thể đem lại những kiến thức đó ứng dụng tùy thuộc vào từng vùng điều kiện cụ thể sản xuất tại Việt Nam
Trang 111.3 Ý nghĩa của để tài nghiên cứu
- Cung cấp các thông tin, kiến thức về một nền nông nghiệp công nghệ cao của đất nước Nhật
- Củng cố những kiến thức tốt nhất giúp sinh viên làm quen với công việc trải nghiệm thực tế tại nước ngoài Quá trình thực tập tốt nghiệp trải nghiệm tại nước ngoài có thể nói đó là một cơ hội rất tốt, để cho sinh viên có được những điều kiện tốt nhất tìm hiểu và học hỏi những kiến thức về một nền nông nghiệp công nghệ cao Giúp cho sinh viên củng cố thêm những kiến thức mới, những kỹ năng mới và cách thức vận hành trong công việc của người nước ngoài Đồng thời có thể vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đó vào từng điều kiện cụ thể trên thực tế
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan Cung cấp các thông tin về sản xuất rau sạch theo quy trình công nghệ cao của Nhật, khắc phục những tồn tại yếu kém trong việc sản xuất rau sạch an toàn
- Nhằm cung cấp thông tin về những giải pháp cụ thể thực tiễn trong việc cải tạo môi trường đất, nước, không khí… Để làm sao tránh ảnh hưởng đến môi trường xung quanh một cách đắng kể nhất trong quá trình sản xuất
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Ý nghĩa của việc phát triển ngành trồng rau an toàn
- Rau là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể con người
Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250-300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm Rau cung cấp cho cơ thể con người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ, vv Trong rau xanh hàm lượng nước chiếm 85-95%, chỉ có 5-15% là chất khô Trong chất khô lượng cacbon rất cao (cải bắp 60%, dưa chuột 74-75%, cà chua 75-78%, dưa hấu 92%) Giá trị dinh dưỡng cao nhất ở rau là hàm lượng đường (chủ yếu đường đơn) chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần cacbon Nhờ khả năng hoà tan cao, chúng làm tăng sự hấp thu
và lưu thông của máu, tăng tính hoạt hoá trong quá trình ôxy hoá năng lượng của các mô tế bào Một số loại rau như khoai tây, đậu (nhất là đậu ăn hạt như đậu Hà Lan, đậu Tây), nấm, tỏi cung cấp 70 - 312 calo/100g nhờ các chất chứa năng lượng như protit, gluxit
- Rau là nguồn cung cấp vitamin phong phú và rẻ tiền:
Rau có chứa các loại vitamin A (tiền vitamin A), B1, B2, C, E và PP vv Trong khẩu phần ăn của nhân dân ta, rau cung cấp khoảng 95 - 99% nguồn vitamin A, 60-70% nguồn vita min B (B1, B2, B6, B12) và gần 100% nguồn vitamin C
Vitamin có tác dụng làm cho cơ thể phát triển cân đối, điều hòa, các hoạt động sinh lý của cơ thể tiến hành bình thường Thiếu một loại vitamin nào đó sẽ làm cho cơ thể phát triển không bình thường và phát sinh ra bệnh tật Nếu ăn uống lâu ngày thiếu rau xanh ta thường thấy xuất hiện các triệu chứng như da
Trang 13khô, mắt mờ, quáng gà do thiếu vitamin A; bệnh chảy máu chân răng, tay chân mỏi mệt, suy nhược do thiếu vita min C; miệng lưỡi lở loét, viêm ngứa chủ yếu
do thiếu vitamin PP; tê phù do thiếu vitamin B (chủ yếu là B1) Ngoài ra thiếu vitamin làm giảm sức dẻo dai, hiệu suất làm việc kém, dễ phát sinh nhiều bệnh tật, khi mắc bệnh chữa cũng lâu lành Trong lao động, công tác, học tập sinh hoạt hàng ngày mỗi người đều cần một lượng vita min nhất định, nhu cầu vitamin hàng ngày mỗi người cần 100mg C trong đó 90% lấy từ rau quả
- Rau là nguồn cung cấp chất khoáng cho cơ thể :
Rau chứa các chất khoáng chủ yếu như Ca, P, Fe, là thành phần cấu tạo của xương và máu Những chất khoáng có tác dụng trung hòa độ chua do dạ dày tiết ra khi tiêu hóa các loại thức ăn như thịt, các loại ngũ cốc Hàm lượng Ca rất cao trong các loại rau cần, rau dền, rau muống, nấm hương, mộc nhĩ (100- 357 mg%)
- Rau là nguồn cung cấp các dinh dưỡng khác :
Rau cung cấp cho cơ thể các axit hữu cơ, các hợp chất thơm, các vi lượng, các xellulo (chất xơ) giúp cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ dàng, phòng ngừa các bệnh
về tim mạch áp huyết cao Ngoài ra nhiều loại rau còn chứa các kháng sinh thực vật như Linunen, Carvon, Pinen ở cần tây, allixin ở tỏi, hành có tác dụng như một dược liệu đối với cơ thể Bởi vậy nhu cầu ăn rau ngày càng cao ở tất cả mọi người Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì mức tiêu dùng rau tối thiểu cho mỗi người cần 90-110 kg/năm tức 250-300g/người/ngày Liên hệ với các nước phát triển có đời sống cao đã vượt quá xa mức quy định này: Nam Triều Tiên: 141,1 kg; Newzealands: 136,7 kg Hà Lan lên tới 202 kg/người/năm
Ở Canada mức tiêu thụ rau bình quân hiện nay là 227 kg/người/năm Xu hướng các nước phát triển là để cải thiện đời sống nhân dân cần tăng tỷ lệ thịt, trứng, sữa, rau, quả Ở nước ta, do đời sống chưa cao, nhu cầu về rau ngày càng tăng nhưng so với các nước thì sản lượng bình quân trên đầu người vẫn còn thấp Tiêu thụ rau nhiều chủ yếu ở các thành phố lớn nhưng năm 2000 trở lại đây mức
Trang 14tiêu thụ tăng lên xấp xỉ nhu cầu bình quân của thế giới: Năm 2005 cả nước có dân số 88 triệu người, phấn đấu bình quân nhu cầu tiêu thụ 96,3 kg/người/năm, tức khoảng 263,8 g/người/ ngày Phấn đấu đến năm 2010 mức tiêu thụ 105,9 kg/người/năm tức 290,1 g/người/ngày với dân số chừng 95,8 triệu người
2.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây rau
Rau là cây hoa màu đem lại thu nhập nhanh cho người sản xuất và cũng
là một mặt hàng xuất khẩu giá trị và có ý nghĩa chiến lược
Rau là cây trồng đem lại nhiều lợi nhuận góp phần phát triển kinh tế quốc dân đáng kể, ngoài ra rau còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao Trong những năm gần đây thị trường xuất khẩu rau được mở rộng, năm 2017 kim ngạch xuất khẩu của ngành rau quả Việt Nam năm đạt 3,514 tỷ USD, tăng tới 43% so với năm 2016
Các loại rau chính xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là dưa chuột, cà chua,
cà rốt, hành, ngô rau, đậu rau, ớt cay, nấm trong đó dưa chuột và cà chua có nhiều triển vọng và chúng có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định Thị trường xuất khẩu rau chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Australia, Singapore, Hàn Quốc, Mỹ và các nước châu Âu Hàng năm lượng rau được xuất khẩu rất nhiều cả dạng rau tươi và qua chế biến như rau đóng hộp, rau gia vị, rau muối trong đó rau tươi là hơn trên 200.000 tấn/năm
2.2 Các khái niệm về sản xuất rau an toàn
2.2.1 Khái niệm về sản xuất
a) Khái niệm
Sản xuất là việc sử dụng các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau gọi là đầu vào hoặc các yếu tố sản xuất, để tạo ra hàng hóa, dịch vụ mới gọi là đầu ra (hay sản phẩm) Nói ngắn gọn thì sản xuất là việc chuyển hóa các đầu vào hay tài nguyên thành đầu ra là hàng hóa và dịch vụ Sản phẩm có thể là hàng hóa cuối cùng hoặc sản phẩm trug gian”.[1]
“Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người bao gồm: Sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân
Trang 15con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau tác động qua lại với nhau, trong đó sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội”.[2] Theo tổ chức thế giới Liên Hiệp Quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tài sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất dịch vụ khác Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?
b) Các loại hình sản xuất chính
- Sản xuất hộ gia đình (chủ yếu tự cung tự cấp): Là loại hình mà các hộ nông dân tự làm ra sản phẩm để phục vụ cho chính nhu cầu của chính bản thân người sản xuất Loại hình sản xuất này gắn liền với nền sản xuất nhỏ lẻ và cũng chính bởi tính nhỏ lẻ nên lực lượng lao động và phân công lao động kém phát triển
- Sản xuất thị trường: Là quá trình sản xuất ra sản phẩm không chỉ nhằm phục vụ cho bản thân người sản xuất mà sản phẩm được đem ra buôn bán trên thị trường Đây là loại hình sản xuất với quy mô lớn bởi sản phẩm làm ra nhằm phục vụ cho nhu cầu của thị trường, năng suất lao động tăng, đặt hiệu quả kinh
tế cao
- Sản xuất theo hướng chuyên môn hóa tập trung: Là loại hình sản xuất tập trung các yếu tố nguồn lực ( tài nguyên, con người, máy móc…) của một đơn vị
Trang 16sản xuất nào đó, để sản xuất một sản phẩm hay một số đơn vị sản phẩm phù hợp từng điều kiện cụ thể của đơn vị đó cũng như là sự đăp ứng được với nhu cầu của thị trường
2.2.2 Khái niệm rau an toàn
Rau an toàn là loại rau được sản xuất theo quy trình kỹ thuật bảo đảm được tiêu chuẩn sau: Hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích nhằm giảm tối đa lượng độc tố tồn đọng trong rau như nitrat, thuốc trừ sâu, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh.[1]
Rau chỉ được coi là an toàn nếu người sản xuất tuân thủ các biện pháp kỹ thuật sau:
Chọn đất: Vùng đất trồng rau sạch, chưa bị ô nhiễm bởi các kim loại nặng (thủy ngân, asen ), chưa bị ảnh hưởng của nước thải công nghiệp (do ở gần các
xí nghiệp, nhà máy nước thải chưa được xử lý)
Giảm lượng phân đạm bón cho các loại rau xanh vì phân đạm chứa nitrat Khi ăn vào, nitrat sẽ chuyển thành nitrit, chúng kết hợp với các amin tạo nên các nitro amin gây bệnh, làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng đến các hoạt động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển các khối u, nhất là các em gái rất dễ bị ngộ độc với nitrat Lượng nitrat trong rau phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật canh tác Bón càng nhiều phân hóa học thì lượng nitrat càng lớn Bón các loại phân đạm
có chứa nitrat thì lượng nitrat cao hơn bón các loại phân urê, sulfat đạm Bón lót sớm, đúng lúc thì lượng nitrat thấp, bón muộn quá trước khi thu hoạch thì lượng nitrat trong rau cao Bón phân hóa học đúng quy định, kết hợp với phân chuồng, phân xanh và phân vi lượng là biện pháp làm giảm nitrat trong rau Nên sử dụng phân hữu cơ, phân chuồng hoai, mục để giảm các mầm bệnh, đặc biệt là các vi sinh vật có hại.[3]
Không tưới rau bằng phân bắc, phân chuồng tươi, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, các loại nước đã bị nhiễm bẩn
Không phun thuốc trừ sâu, vì thuốc trừ sâu có chứa nhiều gốc hóa học như DDT, 666, thủy ngân gây độc hại cho cơ thể Phun thuốc trừ sâu bừa bãi làm
Trang 17độc tố tồn dư trong đất cao và nguy hại hơn nữa là chúng hòa tan vào các nguồn nước sinh hoạt cho người sử dụng Hiện nay, việc sử dụng phân hữu cơ hoai, mục, phân vi sinh tổng hợp, ứng dụng các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (IPM) đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và với rau nói riêng đang được khuyến khích Với thuốc trừ sâu, không nên mua các loại thuốc không rõ nguồn gốc
Không nên thu hoạch ngay sau khi bón phân, hoặc nhất là khi mới phun thuốc trừ sâu Mỗi loại thuốc đều có thời gian phân giải, phân hủy an toàn khác nhau, cho nên thời gian thu hoạch cũng khác nhau Tuyệt đối không được thu hoạch rau ngay sau khi phun thuốc trừ sâu Phải bảo đảm đủ thời gian phân hủy sau khi phun, tưới mới được thu hoạch và mang bán
Hình 2.1: Rau xà lách đạt tiêu chuẩn an toàn
Lâu nay, người tiêu dùng đã quen với cụm từ “Rau sạch” “Rau an toàn”,
“Rau hữu cơ” Nhưng, thế nào là rau sạch, rau hữu cơ, chắc hẳn không nhiều người tường tận? Rau an toàn là gì ?Những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng như đặc tính giống của
nó, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường,
Trang 18thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn" Khái niệm rau "an toàn" được quy định là các chất sau đây chứa trong rau không được vượt quá tiêu chuẩn cho phép:
- Dư lượng thuốc hoá học (thuốc sâu, thuốc cỏ) -> Dẫn đến ngộ độc đồng loạt
- Số lượng vi sinh vật và ký sinh trùng -> Gây tiêu chảy và tiêu chảy cấp
- Dư lượng đạm nitrat (NO3) -> Gây ung thư và một số bệnh khó chữa trị khác
- Dư lượng các kim loại nặng (chì, thủy ngân, asêníc, kẽm, đồng ) -> Gây ung thư và một số bệnh khó chữa trị khác Hai tiêu chuẩn thứ 3 và thứ 4 là tác nhân chính dẫn đến bệnh ung thư, nó không gây tác hại tức thời mà tích luỹ nhiễm độc theo thời gian Nhưng khi đã phát hiện được thì khó chữa trị
Cách nhận biết rau hữu cơ, rau an toàn với các loại rau thường khác:
Dấu hiệu 1: Màu xanh trung thực
Đa phần các loại rau hữu cơ đều có màu xanh hơi vàng (xanh hữu cơ, xanh trung thực với bảng màu chuẩn đối với màu lá từng loại rau), nó không xanh đậm như các loại rau trồng bằng phân bón hóa học (đặc biệt là sử dụng phân bón
lá hóa học, lá có màu xanh đậm), màu xanh đậm như là màu xanh dư đạm, mày xanh đậm chỉ thu hút sâu bệnh gây hại cho cây và gây hại sức khỏe người sử dụng (dư lượng nitrat)
Dấu hiệu 2: Lá dày, ngắn, cân đối giữa các bộ phận
Lá rau hữu cơ luôn luôn dày, phiến lá ngắn và cân đối, dùng tay sờ vào có thể cảm nhận được độ cứng của lá, nhìn kỹ một chút sẽ thấy giữa các bộ phận phát triển rất cân đối, không có dấu hiệu thân cây mập
Dấu hiệu 3: Thân giòn, trọng lượng nặng, rắn chắc
Rau hữu cơ thường rất giòn (nhưng không có hoặc rất ít xơ), nó không yểu xìu giống như loại rau trồng bằng phân bón hóa học hoặc thuốc kích thích tăng trưởng, thân nó rắn chắc nhưng không bóng mượt (vì bóng mượt là dấu hiệu tích trữ quá nhiều nước trong cây)
Trang 19 Dấu hiệu 4: Lâu héo, rất dễ bảo quản
Cây rau hữu cơ có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng trong vòng vài ngày mà không sợ hư (hỏng), không nhất thiết phải bỏ tủ lạnh Khi cây bị héo thì phun nước sơ sơ là có cây có thể hồi phục về trạng thái ban đầu Không giống như
“rau hóa học” phun nước vào là cây sẽ hỏng
Dấu hiệu 5: Ăn rất giòn và ngon (giữ được hương vị tự nhiên)
Đẳng cấp rau hữu cơ được thể hiện ở chỗ ngon, giòn và thơm một cách tự nhiên mà không cần đến gia vị, ăn sống hoặc xào sơ với dầu ăn cũng rất ngon, càng ít sử dụng gia vị khi xào nấu thì ăn càng ngon.Bên cạnh các dấu hiệu trên, một dấu hiệu trực quan nữa là rau hữu cơ thường xấu mã hơn rau thường vì phân cũng dùng phân ủ Về hương vị thì khi các bạn ăn sẽ thấy sự khác biệt rất
Trang 202.2.3 Tiêu chuẩn rau an toàn
a) Nhật Bản
Như theo quy định Tiêu chuẩn của Nhật Bản “Japanese Agricultural Standards”, viết tắt (JAS) là tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp Nhật Bản về các loại rau quả hoa màu sạch là phải đảm bảo tuyệt đối với người tiêu dùng và môi trường xung quanh và cần đạt những yêu cầu cơ bản sau:
- Đất trồng rau phải sạch ko được phép nhiễm các kim loại nặng: nghiêm cấm sử dụng hóa chất nông nghiệp, phân bón hóa học trong vòng ít nhất 2 năm (ít nhất 3 năm đối với cây lâu năm) trước khi gieo trồng Không sử dụng hóa chất nông nghiệp, phân bón hữu cơ trong quá trình sản xuất Bạn chỉ được phép
sử dụng phân bón hữu cơ cho cây trồng
- Phân bón: Năng suất hiệu quả của đất nên được duy trì và gia tăng bằng cách sử dụng phân bón hữu cơ từ dư lượng các sản phẩm thừa trong khu vực; và
sử dụng chức năng của các vi sinh vật trong khu vực hoặc các khu vực xung quanh Việc sử dụng phân bón hóa học có thể được cho phép chỉ trong trường hợp các phương thức trên không làm duy trì và gia tăng năng suất hiệu quả của đất trồng
- Hạt giống và cây trồng: Sử dụng hạt giống và cây trồng hữu cơ; nghiêm cấm sử dụng hạt giống và cây trồng biến đổi gen trong sản xuất
- Kiểm soát động vật và thực vật gây hại: Sử dụng các biện pháp cơ học, vật lý, sinh học hoặc có thể kết hợp để phòng trừ mối nguy hại
b) Việt Nam
Ở Việt Nam, Khái niệm rau an toàn (RAT) lần đầu tiên ra đời trong Quyết định tạm thời số 67/1998/QĐ-BNN-KHCN ngày 28-4-1998 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Theo đó, những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả, hạt…) có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hóa chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người
Trang 21tiêu dùng và môi trường, thì được coi là rau bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là "rau an toàn"
Rau sạch theo tiêu chuẩn VietGAP
Theo đó, Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/1/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quy định 4 tiêu chí:
- Tiêu chuẩn về kỹ thuật sản xuất
- An toàn thực phẩm gồm các biện pháp đảm bảo không có hóa chất nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch
- Môi trường làm việc mục đích nhằm ngăn chặn việc lạm dụng sức lao động của nông dân
- Truy tìm nguồn gốc sản phẩm, tiêu chuẩn này cho phép xác định được những vấn đề từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
Cụ thể nguyên tắc sản xuất rau sạch theo tiêu chuẩn GAP:
- Chọn đất
Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt, thích hợp với quá trình sinh trưởng, phát triển của rau Tốt nhất là chọn đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20-30cm
Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất thải sinh hoạt của thành phố ít nhất 200m Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nhưng không được tồn dư hoá chất độc hại
- Nước tưới
Vì trong rau xanh nước chứa trên 90% nên việc tưới nước có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Nếu không có nước giếng cần dùng nước sông, ao, hồ không bị ô nhiễm
Nước sạch còn dùng để pha các loại phân bón lá, thuốc BVTV Đối với các loại rau ăn quả giai đoạn đầu có thể sử dụng nước từ mương, sông, hồ để tưới rãnh
Trang 22- Giống
Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khoẻ mạnh, không có mầm bệnh Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống Hạt giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật
Trước khi gieo trồng hạt giống phải được xử lý hoá chất hoặc nhiệt Trước khi trồng cây con xuống ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng và trừ sâu hại sau này
- Thuốc bảo vệ thực vật
Không sử dụng thuốc hoá học BVTV thuộc nhóm độc I và II, khi thật cần thiết có thể sử dụng nhóm III và IV Nên chọn các loại thuốc có hoạt chất thấp,
ít độc hại với ký sinh thiên địch
Kết thúc phun thuốc hoá học trước khi thu hoạch ít nhất 5 đến 10 ngày Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học như Bt, hạt củ đậu, các chế phẩm thảo mộc, các ký sinh thiên địch để phòng bệnh
Áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để phòng trừ tổng hợp IPM như: luân canh cây trồng hợp lý, sử dụng giống tốt không bệnh, chăm sóc cây theo yêu cầu sinh lý
- Thu hoạch, đóng gói
Rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ các lá già, héo, quả bị sâu, dị dạng Rau được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo cho vào bao, túi sạch trước khi mang đi tiêu thụ tại các cửa hàng
Trang 23Trên bao bì phải có phiếu bảo hành ghi rõ địa chỉ nơi sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng
Rau trồng VietGAP được lựa chọn nhiều bởi đảm bảo an toàn cho cả người trồng và người sử dụng vì ít sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật và các loại thuốc tăng trưởng
Bảng 2.1: Định mức cho phép hoạt chất Deltamethrin
có trên một số loại rau, theo quy định của Bộ NN & PTNT
(Nguồn: Thông tư số 03/2016/TT-BNNPTNT của Bộ NN& PTNT)
Chung quy lại theo quan điểm của các nhà khoa học thì: Rau sạch an toàn là rau được sản xuất theo quy trình kỹ thuật nghiêm ngạc đáp ứng các nhu cầu sau:
- Rau sạch là rau đảm bảo chất lượng độ tươi ngon không bị nhiễm các độc tố kim loại nặng như: Pb, As, Hg…
Trang 24- Hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn tại trong rau không được quá mức cho phép
Rau không được nhiễm các loại sâu bệnh và các vi sinh vật gay hại cho người và các loại vật nuôi…
2.3 Tình hình sản xuất rau sạch của một số nước trên thế giới và ở VIệt Nam
2.3.1.Tình hình sản xuất rau tại Thái Lan
Trong những năm gần đây nền kinh tế Thái Lan phát triển khá là vượt bậc trong đó nông nghiệp cũng được chính phủ Thái Lan quan tâm và đầu tư phát triển Lĩnh vực nông nghiệp đóng góp khoảng 13% vào tổng GDP của Thái Lan, trong đó các trồng trọt đóng góp khoảng 68% vào tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Với tổng diện tích đất là 51,3 triệu ha, diện tích đất trang trại chiếm khoảng 21 triệu ha, với khoảng 5,7 triệu trang trại, trung bình mỗi trang tại rộng khoảng 3,7ha
Năm 2009, xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Thái Lan đạt khoảng 1.128.060,6 triệu baht, đứng thứ 6 thế giới về xuất khẩu nông sản; trong khi nhập khẩu nông sản chỉ ở mức khiêm tốn là 456.708,4 triệu baht Sản xuất rau giữ một vai trò quan trọng trong ngành nông nghiệp Thái Lan, đồng thời có đóng góp lớn vào giá trị xuất khẩu và thu nhập của người nông dân nước này Trong giai đoạn 2007-2008, xuất khẩu rau đậu các loại của Thái Lan đạt khoảng 101.422-113.584 baht/năm Kim ngạch và lượng xuất khẩu tăng trung bình 14%/năm Tuy nhiên, theo thống kế thì chỉ khoảng 10,29-15,41% lượng rau đậu của nước này
Rau là loại nông sản có giá trị cao và đóng góp quan trọng cho việc cải thiện thu nhập của người nông dân Thái Lan Xuất khẩu rau của Thái Lan trong năm 2009 đạt 300.914,1tấn, tương đương với 9.874,45 triệu baht, tăng 4,36% so với năm 2008
Xét về tiêu dùng nội địa, rau đậu ngày càng giữ vai trò quan trọng trong bữa ăn của người Thái do nhận thức của người tiêu dùng về công dụng của rau đậu sạch đối với sức khỏe và tuổi thọ
Trang 25Tình hình sản xuất rau cũng khác nhau đối với từng loại rau đậu Các loại
ớt chiếm ưu thế tại nhiều vùng trang trại nhưng ngô bao tử và các loại rau xanh khác cũng ngày càng tăng tỷ trọng Xu hướng trong các thập kỷ tới sẽ hướng đến các loại rau có hàm lượng dinh dưỡn cao, tốt cho sức khỏe thay vì các loại rau chỉ có giá trị làm hấp dẫn thức ăn Một xu hướng khác là rau hữu cơ sẽ được sản xuất nhiều hơn tại Thái Lan
Trong những năm gần đây, Chính phủ Thái Lan cũng phát động phương pháp canh tác “trong một môi trường thân thiện”, cung cấp tiền và trợ giúp kỹ thuật cho các khu vực trọng điểm Biện pháp này nhằm tăng xuất khẩu rau quả
và giảm thiểu dùng thuốc trừ sâu Chính phủ đề ra tiêu chuẩn quốc gia về trồng rau sạch và thực phẩm an toàn, cấp giấy chứng nhận và logo cho sản phẩm Theo Ban Cấp phép rau sạch Thái Lan (ACT), kể từ năm 2002, số nông trại trồng rau sạch tăng lên gấp đôi, hiện có hơn 700 nông trại Ngoài ra có hàng ngàn nông trại khác trồng cả hai loại
Trong thập kỷ mới (2011-2020), sản xuất rau của Thái Lan sẽ tập trung vào các loại rau có chất lượng cao để phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa; lượng rau tươi, đông lạnh, chế biến và rau sẵn sang cho tiêu thụ trực tiếp sẽ gia tăng Các loại rau sạch tiềm năng của Thái Lan gồm có ngô bao tử, ngô non, ngô ngọt, tỏi, cà chua, gừng, hành tăm, mướp tây, rau lá, quả cà…Các loại rau này sẽ được giám sát và chứng nhận về thực trạng dùng thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật; trong những trường hợp được qui định, việc cấp chứng nhận sẽ được miễn phí để khuyến khích sản xuất rau an toàn trên diện rộng
Bên cạnh các giống rau mới (có được nhờ các công nghệ lai giống cao cấp), nhiều loại rau truyền thống của Thái Lan vẫn đang được sản xuất với tỷ trọng khoảng 70% Nông dân Thái Lan đã trồng rau từ qui mô vườn nhà từ nhiều thập kỷ trước đến qui mô trang trại và trong những thập kỷ gần đây học đã lựa chọn và tập hợp được những giống rau truyền thống tốt nhất Nhiều giống rau có giá trị được xử lí bằng công nghệ lai giống đã được triển khai ở các vùng
Trang 26nông thôn, nhiều trong số đó được gieo bằng hạt Những giống rau mới đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cho các sản phẩm rau hàng hóa của Thái Lan
2.3.2 Tình hình sản rau tại Israel
Israel là một quốc gia chỉ có diện tích vào khoảng 22.072km2 với hơn 50%
là sa mạc, dân ân số Theo xác định của Cục Thống kê Trung ương Israel, dân số Israel vào năm 2017 ước đạt 8.7 triệu người và mỗi năm đất nước trung đông này đã xuất khẩu hơn 20 tỷ USD rau quả sang các nước lien minh Châu Âu… Ngành nông nghiệp Israel phát triển ở trình độ cao Bất chấp điều kiện địa
lý không thích hợp cho nông nghiệp, Israel là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới
về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp Hơn một nửa diện tích đất là sa mạc, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiếu nước hoàn toàn không thích hợp cho nông nghiệp Tính đến năm 2014, 24,2% diện tích Israel là đất nông nghiệp Hiện nay, nông nghiệp chiếm 2,5% tổng GDP và 3,6% giá trị xuất khẩu Mặc dù lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng lực lượng lao động trong nước, Israel tự sản xuất được 95% nhu cầu thực phẩm, phần còn lại được bổ sung từ việc nhập khẩu ngũ cốc, các loại hạt lấy dầu, thịt, cà phê, ca cao, đường
Là một trong những nước xuất khẩu thực phẩm tươi sống lớn trên thị trường thế giới và là quốc gia đứng đầu về kỹ thuật nông nghiệp dù hơn 50% diện tích đất là sa mạc và khí hậu nơi đây khá khô cằn, thiếu nước
Tại quốc gia Trung Đông này, chỉ có khoảng 20% diện tích đất là đủ điều kiện thích hợp làm nông nghiệp Bất chấp điều đó, ngành nông nghiệp vẫn chiếm 2,5% GDP và 3,6% kim ngạch xuất khẩu
Dù chỉ có 3,7% tổng lực lượng lao động làm trong ngành nông nghiệp nhưng Israel vẫn có thể cung cấp 95% nhu cầu lương thực trong nước Hơn nữa, phần lớn những loại thực phẩm phải nhập khẩu là những loại sản phẩm phụ như đường, ca cao, cà phê
Những người Israel đã sớm hiểu được tầm quan trọng của nông nghiệp và
từ khi thành lập đất nước vào năm 1948, chính phủ và người dân quốc gia này
Trang 27đã tăng cường khai hoang, xây dựng ruộng bậc thang, tháo nước vùng đầm lầy, tái trồng rừng và chống sự xói mòn cũng như xâm nhập mặn
Kể từ khi Israel được thành lập, sản lượng nông nghiệp của nước này đã tăng trưởng gấp 15 lần, cao gấp 3 lần so với tốc độ tăng trưởng dân số Đây là một con số đáng ngạc nhiên khi quốc gia này có lượng mưa khá thấp
Số đất làm nông nghiệp của Israel cũng tăng trưởng mạnh từ 30.000 ha năm 1948 lên 190.000 ha hiện tại Với công nghệ nông nghiệp hiện đại, số lao động trong ngành này và số nước cần dùng cho tưới tiêu ngày một giảm Một số báo cáo cho thấy nông nghiệp Israel trong khoảng 1999-2009 sử dụng ít hơn 12% lượng nước tưới tiêu nhưng sản lượng lại tăng 26%
Hầu hết ngành nông nghiệp của Israel được xây dựng theo 2 mô hình là hợp tác xã (kibbutz) và làng nông nghiệp (moshav)
Theo đó, mô hình kinh doanh hợp tác xã có sở hữu chung về phương tiện sản xuất cũng như sản phẩm Trong khi đó, mô hình làng nông nghiệp có hoạt động sản xuất riêng từng hộ nhưng lại hợp tác chung về thương hiệu và các hoạt động thu mua nguyên liệu
Với phần lớn diện tích đất là sa mạc hay khô cằn, chênh lệch nhiệt độ ngày-đêm lại khá cao (từ 10-20 độ) nên việc sản xuất nông nghiệp tại Israel là
vô cùng khó khăn Nhưng với những kỹ thuật tiên tiến và chính sách khai hoang, tháo nước đầm lầy khôn ngoan, người dân quốc gia này đã tạo nên điều thần kỳ
ở Trung Đông
Dưới đây là 8 kỹ thuật tiêu biểu mà nông dân Israel đã áp dụng thành công
và được giới thiệu ở nhiều quốc gia trên thế giới:
Công nghệ tưới nhỏ giọt
Không giống các công nghệ khác bắt nguồn từ phòng nghiên cứu và cần những phân tích, thử nghiệm cầu kỳ Công nghệ tưới nhỏ giọt vô cùng đơn giản
và được người nông dân Israel sử dụng rộng rãi, qua đó làm nên điều thần kỳ tại Trung Đông
Trang 28Theo đó, một hệ thống đường ống nước sẽ được kiểm soát để tưới nhỏ giọt cho từng gốc cây trồng với liều lượng nhất định Hệ thống này chắc chắn sẽ tiết kiệm nước hơn so với việc phun nước tưới thông thường nhưng vẫn đảm bảo lượng nước cần thiết cung cấp cho cây trồng
Lấy nước từ không khí: Israel cũng sử dụng một kỹ thuật có chi phí khá thấp là xây các hộp nhựa được thiết kế bao quanh gốc cây, qua đó hấp thụ những giọt sương ban đêm và làm giảm 50% nhu cầu nước của cây trồng
Vào những ngày mưa, các hộp nhựa này nâng cao 27 lần tác dụng tưới nước trên mỗi milimet nước mưa
Hơn nữa, những hộp nhựa này có thể bảo vệ cây trồng khỏi sự thay đổi nhiệt độ đêm ngày đột ngột tại Israel
Hệ thống trồng cây Runoff Agroforestry Systems:
Theo đó, người nông dân sẽ trồng cây lâu năm xen kẽ với cây lương thực Như vậy, các rễ cây sẽ giữ được nước cho các hạt giống và lá cây sẽ trở thành nguồn dinh dưỡng cho hạt giống cây lương thực
Phát triển giống cây trồng mới:
Rất nhiều giống cây trồng chỉ cần ít nước và có thể trồng tại những vùng đất khắc nghiệt dưới ánh mặt trời nóng bỏng Nhiều tổ chức và công ty công nghệ tại Israel đã liên tục nghiên cứu và cho ra đời những giống cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng cũng như khí hậu ở đây
Năm 1973, hai nhà khoa học Haim Rabinowitch và Nachum Kedar đã phát triển thành công một giống cây cà chua mới có thể chịu được thời tiết nóng và khô hạn, qua đó tạo nên một cuộc cách mạng trong ngành xuất khẩu rau xanh của Israel
Tiêu chuẩn công nghệ cao
Bên cạnh việc phát triển những giống cây trồng mới, Israel cũng nghiên cứu các công nghệ thích hợp để tăng năng suất cho cây trồng, như đảm bảo điều kiện ánh sáng, thời điểm thụ phấn
Trang 29Tích cực trồng câyViệc trồng cây sẽ ngăn chặn được đà sa mạc hóa và cung cấp chất dinh dưỡng cho đất theo một chu kỳ tuần hoàn Trong 100 năm qua, Israel là quốc gia duy nhất trên thế giới có tốc độ tăng trưởng ròng về diện tích cây trồng
Tái sử dụng nguồn nước
Hệ thống tái sử dụng nguồn nước của Israel có chất lượng hàng đầu thế giới và không một quốc gia nào có thể so sánh
Khoảng 50% nguồn nước sử dụng của quốc gia này là được tài chế, cao hơn rất nhiều so với mức 20% của nước đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng là Tây Ban Nha
Bảo vệ giống cây trồng:
Việc để các giống cây trồng bị thất thoát, hư hỏng là điều vô cùng lãng phí với người dân Israel và họ luôn bảo quản các giống cây của mình ở điều kiện tốt nhất, tránh xa không khí bẩn và ẩm mốc
Nhiều loại vật liệu và công nghệ đã được phát triển nhằm đảm bảo rằng mỗi hạt giống sẽ được bảo quản tốt nhất và cho ra năng suất cao nhất
2.3.3 Tình hình sản xuất rau an toàn tại Nhật Bản
Nhật Bản với diện tích đất liền là 377.829 km2, dân số trên 120 triệu người, khoảng hơn 70% diện tích là núi khá là nghèo tài nguyên nhưng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật Nhật Bản là một trong những quốc gia đi đầu trong việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp hiện chỉ còn 3,9% số lao động làm nông nghiệp
Hiện nay, Nhật Bản sản xuất rau quả trong nước mới đáp ứng khoảng 70 - 80% nhu cầu tiêu thụ nội địa, số còn lại phải nhập khẩu, tuy nhiên tiêu chuẩn kỹ thuật khá cao, đặc biệt việc kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm, các chỉ tiêu phân tích, đánh giá lên tới hàng trăm Nước này cũng xuất khẩu những mặt hàng rau quả cao cấp của họ tới các thị trường khác trên thế giới và được đánh giá cao về chất lượng, độ đồng đều, an toàn thực phẩm
Trang 30Ở Nhật, các tổ hợp tác hoặc HTX, doanh nghiệp rất chú trọng tới việc tổ chức trải nghiệm cho người tiêu dùng ở thành phố với các vùng, điểm sản xuất,
đó cũng chính là hình thức du lịch trải nghiệm đồng quê để chia sẻ với nhau về nỗi cực nhọc của nông dân và họ làm thế nào để sản phẩm rau, thịt, sữa… đảm bảo an toàn thực phẩm Chính vậy người tiêu dùng rất tin tưởng vào các sản phẩm nông sản của nước họ sản xuất
Họ nói rằng, với nông dân cần đưa ra các điểm đơn giản, dễ hơn để thực hiện, và khi ý thức sản xuất an toàn đã ăn vào máu thịt thì tiêu chuẩn được nâng lên, nâng lên là để đáp ứng nhu cầu thị trường, nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, và bản thân doanh nghiệp, tổ hợp tác cũng như nông dân cũng luôn ý thức được rằng, cần phải làm tốt hơn và tốt hơn nữa để đảm bảo chữ tín với thị trường, trách nhiệm với xã hội và người tiêu dùng Chưa khi nào người tiêu dùng quay lưng lại với sản phẩm mà nông dân sản xuất
Hiện tại, các tiêu chí khuyến khích được đưa ra để đánh giá và bình chọn sản phẩm nông sản, đó là thân thiện với môi trường, giảm sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật từ 30 - 50% Thực ra trong cả một vụ trồng rau (ví
dụ cải bắp), số lần phun thuốc bảo vệ thực vật trước đây bình quân là 6 - 7 lần, hiện với quy trình kỹ thuật mới đã rút còn 3 - 4 lần CHIBA-ECO là một trong những tiêu chuẩn như vậy, nhưng phải nói rằng, nông dân tuân thủ nghiêm ngặt
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, từ chủng loại, đến liều lượng và họ ghi chép tỷ
mỉ, cảnh báo tỷ mỉ để không bị nhiễm chéo
“Nông dân Nhật Bản sản xuất rau an toàn bằng cả trái tim” Và khắp nơi trên đất nước này, ý thức và nguyên tắc, tính kỷ luật của người dân là như vậy Đúng là chất lượng, mức độ an toàn phải từ cái tâm của người sản xuất
2.3.4 Tình hình sản xuất rau tại Việt Nam
Trong nhiều năm gần đây ngành nông nghiệp của nước ta được nhà nước
và các bộ ban ngành khá là quan tâm và đã có rất nhiều những chủ trương nhằm thúc đẩy sự phát triển trong nông nghiệp
Trang 31Năm 2014, XK rau quả của Việt Nam đạt xấp xỉ 1,5 tỷ USD và dự báo sẽ vượt mốc 2 tỷ USD trong 2-3 năm tới Tuy nhiên để Việt Nam trở thành "vườn rau" thế giới cần khẩn trương đầu tư khoa học công nghệ đích đáng phát triển ngành rau quả nhanh, mạnh hơn
Nước ta có diện tích gieo trồng rau các loại khoảng 850 ngàn ha, năng suất tính bình quân cho các loại rau nói chung cả nước mới đạt khoảng gần 18 tấn/ha; sản lượng rau các loại cũng ước đạt 15 triệu tấn
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loại rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là cà chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau phát triển mạnh cả về quy
mô và sản lượng, trong đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao
Hiện nay rau được sản xuất theo 2 phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở 2 khu vực:
- Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân
cư Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao
- Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng: phục vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu
- Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quí hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường
Trang 32a) Một số vùng trồng rau hàng hoá tập trung
- Miền Bắc
+ Sản xuất rau ở Hà Nội: Năm 2005, tổng diện tích gieo trồng rau các loại của TP Hà Nội có 8,1 ngàn ha (diện tích canh tác 3 ngàn ha, hệ số sử dụng đất 2,7 lần), năng suất đạt 186,2 tạ/ha, sản lượng 150,8 ngàn tấn
Chủng loại rau rất phong phú, đa dạng Các loại rau ăn lá như cải xanh, rau muống, cải thảo, cải làn, bắp cải, cải ngọt, cải bó xôi chiếm ưu thế về diện tích
và sản lượng (chiếm khoảng 70 –80% diện tích), có tỷ suất hàng hoá cao
Tuy nhiên sản xuất rau hiện nay chủ yếu vẫn theo phương pháp truyền thống nên chất lượng rau không đảm bảo Do đó chủ chương của Thành phố là đẩy nhanh việc xây dựng các vùng sản xuất RAT, nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, người sản xuất và môi trường sinh thái Hiện nay trên địa bàn Thành phố, diện tích sản xuất RAT chiếm khoảng 20 – 25% diện tích canh tác rau, tập trung chính ở các huyện ngoại thành như Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì Lượng rau an toàn chiếm khoảng 15 – 20% sản lượng rau của toàn Thành phố Thành phố đang xây dựng các dự án nông nghiệp công nghệ cao như: mô hình rau hoa chất lượng cao ở Từ Liêm 16 ha với vốn đầu tư 24 tỷ đồng, mô hình nông nghiệp CNC Nam Hồng 30 ha, Kim Sơn 15 ha… Hà Nội hiện có 37 HTX sản xuất RAT, tập trung tại Đông Anh, Sóc Sơn, Từ Liêm , trong đó một
số HTX thực hiện tốt quy trình sản xuất RAT trong những năm qua và được cấp chứng nhận sản xuất RAT (mô hình quản lý sản xuất, đăng ký thương hiệu có