Với những đặc điểm mang tính thời sự đó, tập thơ là một nguồn ngữ liệu mới mà giáo viên có thể khai thác để thiết kế những trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ, làm phong phú hơn hệ
Trang 1THƠ RA VƯỜN NHẶT NẮNG CỦA TÁC GIẢ
NGUYỄN THẾ HOÀNG LINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THƠ RA VƯỜN NHẶT NẮNG CỦA TÁC GIẢ
NGUYỄN THẾ HOÀNG LINH
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Mã số: 8 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Lan Anh
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đề tài này em vô cùng cảm ơn các thầy cô giáo khoa
Giáo dục Mầm non Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Các giáo viên chủ
nhiệm cùng các trẻ lớp lá Trường Mầm non Tuổi Thơ, thành phố Phan Thiết đã
tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Đặc biệt hơn em xin chân thành biết ơn cô TS Lê Thị Lan Anh, giảng
viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình
hướng dẫn em thực hiện đề tài này
Đề tài được hoàn thành là niềm vui rất lớn đối với chúng em Hi vọng
nó sẽ có ích được cho những GV mầm non khi tổ chức các trò chơi nhằm
PTNN cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non hiện nay
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Mai Lan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu và dữ liệu trong luận văn là trung thực và chƣa từng công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Mai Lan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Giả thuyết khoa học 5
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA THIẾT KẾ TRÕ CHƠI PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ DỰA TRÊN NGỮ LIỆU TẬP THƠ RA VƯỜN NHẶT NẮNG 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động chơi 7
1.1.2 Những nghiên cứu về sử dụng trò chơi trong hoạt động giáo dục 8
1.1.3 Những nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non 10
1.2 Một số vấn đề về trò chơi phát triển ngôn ngữ 12
1.2.1 Một số khái niệm 12
1.2.2 Vị trí của trò chơi phát triển ngôn ngữ trong hệ thống trò chơi 14
1.2.3 Phân loại trò chơi ngôn ngữ 16
1.2.4 Ngôn ngữ và trò chơi ngôn ngữ ở lứa tuổi mầm non 16
1.3 Đặc điểm trẻ lứa tuổi mầm non 20
1.3.1 Đặc điểm sinh lí của trẻ 3-4 tuổi 20
1.3.2 Đặc điểm tâm lí 22
1.3.3 Đặc điểm tư duy 25
1.3.4 Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ 26
Trang 61.3.5 Đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi 28
1.4 Tập thơ Ra vườn nhặt nắng 35
1.4.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Thế Hoàng Linh 35
1.4.2 Một số vấn đề tập thơ Ra vườn nhặt nắng 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC TRÕ CHƠI NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON HIỆN NAY 40
2.1 Khái quát địa bàn khảo sát 40
2.2 Mục đích khảo sát 45
2.3 Đối tượng khảo sát 46
2.4 Nội dung khảo sát 46
2.5 Phương pháp khảo sát 46
2.6 Kết quả khảo sát 49
2.6.1 Thực tiễn việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 49
2.6.2 Thực tiễn viêc tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non 51
2.6.3 Nhận thức của giáo viên về tập thơ Ra vườn nhặt nắng 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ TRÕ CHƠI PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3-4 TUỔI DỰA TRÊN NGỮ LIỆU TẬP THƠ RA VƯỜN NHẶT NẮNG 60
3.1 Các nguyên tắc thiết kế trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng 60
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 60
3.1.2 Đảm bảo phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ 61
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 62
3.2 Phân loại ngữ liệu và hệ thống từ vựng 62
Trang 73.3 Các trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập
thơ Ra vườn nhặt nắng 65
3.3.1 Phân loại trò chơi trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng 65
3.3.2 Hướng dẫn các trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng… 68
3.3.3 Tiến trình tổ chức trò chơi và những yêu cầu khi vận dụng trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng 85
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
4.1 Mục đích thực nghiệm 88
4.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian thực nghiệm 88
4.3 Nội dung thực nghiệm 89
4.4 Tiêu chí và công cụ đánh giá thực nghiệm 91
4.5 Kết quả thực nghiệm 94
4.5.1 Kết quả đánh giá trước thực nghiệm 94
4.5.2 Kết quả đánh giá sau thực nghiệm 96
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong chương trình GDMN 50
Bảng 2.2 Các nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ 51
Bảng 2.3 Vai trò của trò chơi PTNN trong PTNN cho trẻ 52
Bảng 2.4 Thời gian tổ chức trò chơi PTNN 53
Bảng 2.5 Mục đích của tổ chức trò chơi PTNN 54
Bảng 2.6 Cảm xúc của trẻ khi tham gia trò chơi 55
Bảng 2.7 Ngữ liệu được sử dụng trong trò chơi PTNN 55
Bảng 2.8 Các loại trò chơi PTNN được sử dụng 56
Bảng 2.9 Hiểu biết của GV về tập thơ Ra vườn nhặt nắng 58
Bảng 3.1 Hệ thống phân loại các bài thơ trong tập thơ theo chủ đề 63
Bảng 3.2 Hệ thống trò chơi được xây dựng dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng của tác giả Nguyễn Thế Hoàng Linh 66
Bảng 4.1 Bảng đánh giá sự PTNN của trẻ ở lớp ĐC và TN trước thực nghiệm 94
Bảng 4.2 Bảng đánh giá số lượng từ của trẻ ở lớp ĐC và TN sau thực nghiệm 96
Bảng 4.3 Đánh giá mức độ hiểu nghĩa của từ của trẻ ở lớp ĐC và TN sau thực nghiệm 98
Bảng: 4.4 Đánh giá khả năng phát âm của trẻ ở lớp ĐC và TN sau thực nghiệm 100
Bảng 4.5 Đánh giá mức độ tham gia của trẻ ở lớp ĐC và TN 101
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ đo sự PTNN của trẻ ở lớp ĐC và TN trước thực nghiệm
95 Biểu đồ 4.2: Biểu đồ đánh giá số lượng từ của trẻ ở lớp ĐC và TN sau thực
nghiệm 97 Biểu đồ 4.3 Đánh giá mức độ hiểu nghĩa của từ của trẻ ở lớp ĐC và TN sau
thực nghiệm 99 Biểu đồ 4.4 Đánh giá mức độ tham gia của trẻ ở lớp ĐC và TN 102
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong cuộc đời mỗi con người, là bước đi chập chững khi trẻ bước vào nhận thức những tri thức nhân loại thông qua hoạt động giáo dục, có ý nghĩa quan trọng giúp trẻ hình thành và phát triển toàn diện nhân cách Để đáp ứng được mục tiêu giáo dục này, cần thiết phải hình thành, phát triển ngôn ngữ cho trẻ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản, quan trọng nhất của loài người, mặt khác ngôn ngữ còn là công cụ cho sự nhận thức quan trọng Nhờ đó, con người có thể giao tiếp với nhau và truyền đạt các kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác Với cá nhân, ngôn ngữ là lớp vỏ của tư duy, là công cụ để con người biểu đạt suy nghĩ, hệ thống, khái quát lưu trữ, ghi nhớ được các biểu tượng Nhưng ngôn ngữ không có sẵn do di truyền, mà được trau dồi trong suốt quá trình sinh sống và học tập của cá nhân Do đó, phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục
Phát triển ngôn ngữ được xác định là một trong 5 lĩnh vực giáo dục trong chương trình giáo dục mầm non hiện hành Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non hiện nay được thực hiện qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học và làm quen với chữ cái Bên cạnh các giờ hoạt động học có chủ đích, phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn được tích hợp trong hầu hết các hoạt động của trẻ ở trường mầm non Tuy nhiên, thực tế trong các trường mầm non, các giờ học để phát triển ngôn ngữ cho trẻ tập trung vào các nội dung như học thuộc thơ, đọc truyện, làm quen chữ cái… có thể gây nhàm chán, áp lực cho trẻ Điều này đòi hỏi GV phải linh động trong việc tổ chức các hình thức cũng như nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ
“Thỏ thẻ như trẻ lên ba" hay "Trẻ lên ba, cả nhà học nói” là những câu tục ngữ nhằm nhấn mạnh đến đặc trưng về ngôn ngữ ở trẻ khi tuổi đời lên ba
Trang 12Đây là giai đoạn khả năng ngôn ngữ của trẻ phát triển vượt bậc so với trước
đó Ở giai đoạn này, vốn từ vựng của trẻ ở khoảng từ 500-900 từ, trẻ biết dùng các cụm từ và câu dài từ 7-8 từ để diễn đạt suy nghĩ, đặt câu hỏi và bày
tỏ ý kiến, nhu cầu của cá nhân Lúc này, câu nói của trẻ đã có đầy đủ thành phần (chủ ngữ và vị ngữ) và có thể hoàn thiện hơn với những câu kép, câu có thán từ ngộ nghĩnh Tuy nhiên, tùy theo từng trẻ, vốn từ của trẻ cũng khác nhau rất nhiều Trẻ có thể gặp những khó khăn về ngôn ngữ trong quá trình phát triển, bởi sự không tương xứng giữa nhận thức và ngôn ngữ như việc trẻ hiểu ý nghĩa lời nói nhưng lại không biết dùng lời nói để thể hiện nhu cầu và hiểu biết của mình Do đó việc hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở giai đoạn này là vô cùng quan trọng
Bên cạnh những đặc điểm về ngôn ngữ, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non Trẻ học mà chơi, chơi mà học, do đó, mọi hoạt động giáo viên tổ chức cho trẻ đều được xây dựng dựa trên quan điểm này Có nhiều hình thức, trò chơi đã được GV vận dụng để phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trẻ
có thể học ngôn ngữ thông qua các bài đồng dao, câu đố, bài hát, bài thơ bằng cách vừa đọc vừa tham gia trò chơi Dần dần, trẻ thuộc các bài thơ, bài đồng dao một cách tự nhiên, vui vẻ Và cũng học được từ mới, câu mới qua những vần điệu vui tươi, dí dỏm đó Không chỉ có vậy, ngôn ngữ của trẻ còn được
mở rộng hàng ngày thông qua hàng loạt các trò chơi được GV sử dụng kết hợp với lô tô, tranh ảnh như gọi tên ba thứ; chiếc túi bí mật…Tuy nhiên, ở các trường mầm non hiện nay, trò chơi phát triển ngôn ngữ chủ yếu vẫn dựa trên các ngữ liệu dân gian như đồng dao, ca dao, câu đố hoặc những bài thơ cũ mà chưa khai thác được những ngữ liệu mới hơn
Ở thế hệ trước, nhắc đến tuổi thơ là luôn gắn liền với những hình ảnh
thân thuộc của làng quê Việt Nam với thời “chăn trâu cắt cỏ”, bên "giếng
nước, cây đa, sân đình","cây dừa" hay "hạt gạo làng ta" "bác giun" "bác
Trang 13kiến" "em luộc khoai" "chị giã gạo" trong các tập thơ Góc sân và khoảng trời
của Trần Đăng Khoa, Chú bò tìm bạn của Phạm Hổ, những bài thơ chan chứa
tình cảm dành cho thiếu nhi của Định Hải, Xuân Quỳnh… thì tuổi thơ của trẻ
em thời công nghệ có lẽ sẽ quen thuộc hơn với những hình ảnh trong tập thơ
Ra vườn nhặt nắng của Nguyễn Thế Hoàng Linh Tập thơ không chỉ mang
hơi thở của nhịp sống hiện đại với tuổi thơ lớn lên nơi thành thị của những đưa trẻ yêu quý động vật, thú cưng chưa một lần đếm sao mà tác giả còn níu lại cho những đứa trẻ không bị quên lãng đi tuổi thơ của mình và khi viết về thiếu nhi không bị lỗi nhịp phách Những tâm hồn trong trẻo, vàng óng vẫn còn
đó những nét hồn nhiên, bay bổng và đầy mơ ước xanh non 33 bài thơ với bố cục sống động, phần tranh tinh tế và đặc sắc, giọng điệu, lối tư duy khác hẳn so với lời thơ cho thiếu nhi hôm qua giúp thế hệ trẻ dễ đọc, dễ hiểu và có những cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới mà chúng đang được sống, nuôi dưỡng Với những đặc điểm mang tính thời sự đó, tập thơ là một nguồn ngữ liệu mới mà giáo viên có thể khai thác để thiết kế những trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ, làm phong phú hơn hệ thống các trò chơi đang được sử dụng trong trường mầm non hiện nay
Từ những lí do trên, người nghiên cứu đi sâu tìm hiểu và đề xuất các
biện pháp cho đề tài nghiên cứu "Thiết kế trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng của Nguyễn Thế Hoàng Linh"
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra các trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ
liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng của Nguyễn Thế Hoàng Linh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non
Trang 143.2 Đối tượng nghiên cứu
Trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 3-4 tuổi
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và xây dựng các trò chơi phát triển ngôn
ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng của tác giả
Nguyễn Thế Hoàng Linh trên địa bàn Phan Thiết và tiến hành thực nghiệm ở Trường mầm non Tuổi thơ, thành phố Phan Thiết
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp tài liệu, nghiên cứu, xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Nghiên cứu thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non qua các trò chơi
- Đề xuất các biện pháp xây dựng, thiết kế các trò chơi phát triển ngôn
ngữ dựa trên tập thơ Ra vườn nhặt nắng
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả giáo dục của các trò chơi
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm nghiên cứu lí luận
Thu thập tài liệu, nghiên cứu, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát và hệ thống hóa các vấn đề cần nghiên cứu
6.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động tổ chức trò chơi ngôn ngữ của giáo viên ở một số trường mầm non và quan sát trẻ khi tham gia các trò chơi, từ đó đề xuất những trò chơi PTNN cho trẻ
Phương pháp đàm thoại
Trao đổi với GV nhằm điều tra về hiểu biết của giáo viên về tập thơ Ra
vườn nhặt nắng và sự cần thiết của trò chơi PTNN đối với sự PTNN ở trẻ 3-4 tuổi
Trang 15 Phương pháp điều tra bằng phiếu
Dùng phiếu điều tra thăm dò nhận thức của giáo viên về tập thơ Ra vườn
nhặt nắng và sự cần thiết của trò chơi PTNN đối với sự PTNN ở trẻ 3-4 tuổi
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết về việc sử dụng một số trò chơi PTNN trong việc PTNN cho
trẻ MGB
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm thăm dò: Tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức trò chơi
PTNN cho trẻ ở trường MN hiện nay và các ngữ liệu đang được sử dụng
Thực nghiệm tác động: Tiến hành thực nghiệm các trò chơi đã xây
dựng đối với nhóm trẻ thực nghiệm
Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng công thức toán thống kê để phân tích những số liệu thu được
Sử dụng các phương tiện kĩ thuật để nghiên cứu (lấy thông tin, lưu giữ
và xử lí thông tin, trình bày kết quả nghiên cứu…)
7 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp thiết kế các trò chơi phát triển ngôn
ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên tập thơ Ra vườn nhặt nắng của tác giả Nguyễn
Thế Hoàng Linh sẽ góp phần làm phong phú hệ thống trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non hiện đang có Qua đó, tạo cơ hội cho trẻ học ngôn ngữ
dễ dàng, vui vẻ và tự nhiên hơn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của thiết kế trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng của tác giả Nguyễn Thế Hoàng Linh
Trang 16Chương 2: Thực trạng việc tổ chức trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non hiện nay
Chương 3: Một số biện pháp thiết kế các trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ dựa trên tập thơ Ra vườn nhặt nắng của tác giả Nguyễn Thế Hoàng Linh
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 171.1.1 Những nghiên cứu về hoạt động chơi
Những thập niên cuối của thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất hiện nhiều
học thuyết về trò chơi, trong đó nổi bật lên quan điểm sinh vật hóa trò chơi
mà tiêu biểu là Ph Siller, G Spencer, Karl Gross và V Stern Ph Siller (1756
- 1800) Quan điểm này coi trò chơi là cơ sở của nghệ thuật, xuất hiện khi nhu cầu cần thiết của con người đã được đáp ứng, và là một cách đáp ứng nhu cầu tinh thần bằng cách dùng sức lực [28] Vì vậy, ở trẻ em, chơi là sự giải tỏa năng lượng dư thừa, không sử dụng trong hoạt động thực, giống như con vật non bằng việc bắt chước hành động thực, qua đó trẻ thích nghi, hoàn thiện với cuộc sống Các nhà tâm lí học đã đánh đồng trò chơi của trẻ với trò chơi của con vật bậc cao Dù còn nhiều hạn chế về động cơ của hoạt động chơi, nhưng
lí thuyết này phần nào chỉ ra được vai trò của hoạt động chơi ở trẻ em
Với thuyết phân tâm, Freud đưa ra khái niệm về hoạt động chơi ở trẻ như một cách trẻ chuyển hoá xung lực tính dục bị kiềm chế Đó là những tình cảm hai chiều trái ngược nhau mà trẻ được tự do giải phóng trên đồ chơi Bên cạnh đó, G Piagie coi chơi là một hoạt động trí tuệ, tạo sự thích nghi của trẻ với môi trường, giúp trẻ chuyển hóa từ trí tuệ cảm giác vận động sang trí tuệ thao tác Như vậy quan niệm của các nhà phân tâm học cho rằng: Chơi là hoạt động cho phép trẻ chủ động trong những tình huống khó khăn bằng việc đóng vai người lớn trong những tình huống tưởng tượng, lấy cảm giác làm chủ trong hoạt động chơi sao chép vào những tình huống thật
Trang 18Theo Vygotsky, chơi là một hiện tượng tâm lí có vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ Thông qua hoạt động chơi, trẻ có những nhận thức
ý nghĩa trừu tượng về vật, phân biệt vật này với vật khác, diễn giải trong sự tưởng tượng những ham muốn không thực hiện được ngoài cuộc sống Phát triển học thuyết của Vygotsky, các nhà tâm lí học cho rằng chơi là chuẩn bị cho trẻ cuộc sống trưởng thông qua việc trẻ hình thành các ứng xử, luyện tập những hành vi tốt giống như người lớn
Các nhà giáo dục học, tâm lí học phương Tây như Vallon, N.Khrixtencer chỉ ra rằng trò chơi của trẻ là sự phản ánh cuộc sống luôn vận động và phát triển, được quy định bởi những điều kiện xã hội Trẻ phản ánh lại những ấn tượng đã được trải nghiệm thông qua trò chơi một cách có chọn lọc và có tính sáng tạo của tuổi thơ
Các nhà giáo dục học, tâm lí học Mác xít coi chơi là hoạt động đặc trưng của xã hội loài người, phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt của con người Do đó, trò chơi của trẻ có nguồn gốc xã hội và mang tính lịch sử, nó được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.G.V Plêkhanốp và Đ.B Encônhin cho rằng trò chơi là cầu nối các thế hệ với nhau, là phương tiện truyền tải những thành tựu văn hoá từ đời này sang đời khác, là nguồn gốc động lực giúp trẻ tích cực hoạt động ở nhiều khía cạnh khác nhau
Các quan niệm trên dù có hạn chế, nhưng đều khẳng định vai trò của trò chơi đối với việc phát triển và hình thành nhân cách của con người, đặc biệt là trẻ em
1.1.2 Những nghiên cứu về sử dụng trò chơi trong hoạt động giáo dục
Ngay từ những năm 40 của thế kỷ XIX, việc sử dụng trò chơi dân gian trong hoạt động dạy học đã được các nhà giáo dục Nga đánh giá cao như các tác giả P.A.Bexonova, OP.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki Trong đề tựa cho
Trang 19tuyển tập“Trò chơi của trẻ em Nga” E.A Pokrovxki đã chỉ ra nguồn gốc, giá
trị và tính hấp dẫn của các trò chơi dân gian Nga
Không chỉ các trò chơi dân gian, mà cả những hệ thống trò chơi được các nhà giáo dục xây dựng với nhiều khuynh hướng sử dụng khác nhau cũng
được xem xét Với khuynh hướng sử dụng trò chơi trong dạy học làm phương
tiện phát triển toàn diện cho trẻ cả về thể chất lẫn trí tuệ và ngôn ngữ,
I.A.Komenxki (1592-1670) coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ, đó là niềm vui, sự sáng tạo của trẻ thơ, là những bước phát triển toàn diện của trẻ Đồng thời, I.B.Bazedov đã đưa ra hệ thống các trò chơi học tập sử dụng lời nói như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kĩ năng khái quát tên gọi của từng cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, bổ sung những từ còn thiếu Theo tác giả, nếu vận dụng những trò chơi này sẽ
là động lực, tạo niềm vui mang lại hứng thú cho trẻ, giúp trẻ phát triển trí lực cho trẻ
Ph.Phroebel (1782-1852) đưa ra quan điểm sử dụng trò chơi với mục
đích dạy học Theo quan điểm của ông học tập thông qua trò chơi, trẻ sẽ được
phát triển nhận thức thông qua cái khởi đầu do thượng đế sinh ra, nhận thức được những qui luật tạo ra thế giới và chính bản thân mình Do đó ông phủ nhận tính sáng tạo và khả năng tích cực ở trẻ trong quá trình chơi và theo quan điểm đó nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có của trẻ, không cần phải tác động sâu vào năng lực tư duy và phát triển toàn diện cho trẻ
Ở Việt Nam, việc thiết kế và sử dụng các trò chơi trong dạy học cũng được nghiên cứu dưới các góc độ và các bộ môn khác nhau bởi các tác giả như: Nguyễn Thị Ngọc Chúc, Đặng Thành Hưng, Bạch Văn Quế [3]; [7]; [17] Các trò chơi được xây dựng nhằm phục vụ củng cố kiến thức ở một
số môn học như: Hình thành biểu tượng toán; Bé làm quen với môi trường xung quanh; rèn các giác quan, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ
Trang 20Trong tác phẩm “trò chơi trẻ em” tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đề cập đến trò
chơi trí tuệ và giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ em [27]
Gần dây có rất nhiều đề tài nghiên cứu xoay quanh đến việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học như Trương Thị Xuân Huệ trong nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi; Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi, đề tài khoa học công nghệ cấp cơ
sở của thạc sĩ Nguyễn Kim Chuyên - Trường Đại học Đồng Tháp về Xây dựng và
sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của sinh viên sư phạm trong dạy học môn giáo dục học ở trường Đại học Đồng Tháp (mã sô CS2011.01.41), Nguyễn Thị Kim Thoa (2017) Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập củng cố kiến thức phân số cho học sinh lớp 4,… Tuy nhiên các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc xem xét các trò chơi trong dạy học ở các bộ môn cụ thể, khác nhau chưa có đề tài đi sâu nghiên cứu việc sử dụng trò chơi trong dạy học một tác phẩm văn học cho trẻ một cách tỉ mỉ, kỹ lưỡng, ở nhiều góc độ khác nhau
1.1.3 Những nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non
Thời cổ đại, ngôn ngữ được đề cập gắn liền với triết học và logic học Các nhà triết học cổ đại coi ngôn ngữ là hình thức biểu hiện bề ngoài của “cái bên trong” Đặc biệt, ngôn ngữ được xem như tiêu chí phân biệt con người với động vật Đến giữa thế kỉ XIX khuynh hướng tâm lí học nảy sinh trong ngôn ngữ học Người đầu tiên đề xuất hướng nghiên cứu tâm lí học ngôn ngữ
là Shteintal (1823 - 1899) Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lí cá
nhân khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc Sau Cách Mạng tháng Mười Nga
1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lí học Xô Viết như L.X.Vưgotxki; E.D.Polivanov; K.N.Derzhavin đã vận dụng quan điểm của Mác-Lênin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ, xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người được quy
Trang 21định bởi những điều kiện cụ thể Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy
và là phương tiện giao tiếp chủ yếu nhất của con người
Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non đã được các
nhà khoa học nghiên cứu theo các hướng sau: Một là, nghiên cứu chức năng,
vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển và giáo dục của trẻ Các công trình
khoa học của nhiều tác giả như: E I Tikheeva, Ph A Sookhina, L X Vưgôtxki, J Piaget… đều nhận định ngôn ngữ là công cụ nhận thức thế giới xung quanh của trẻ, là phương tiện giao tiếp, giúp trẻ chiếm lĩnh các giá trị
đạo đức, chuẩn mực xã hội, phát triển tư duy Thứ hai là nghiên cứu đặc điểm
phát trển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học, các tác giả: E.I.Tikheeva,
Ph.A.Sookhina, L.P.Phêdôrenko… đã nghiên cứu về vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp và sự phát triển ngôn ngữ ở từng độ tuổi khác nhau.Từ đó các tác giả đưa ra một số quy luật phát triển ngôn ngữ của trẻ, điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc lựa chọn nội dung, phương pháp, biện pháp dạy tiếng mẹ đẻ
cho trẻ Thứ ba là nghiên cứu các điều kiện đảm bảo sự phát triển ngôn ngữ
của trẻ với các tác giả như E.I.Tikheeva, Helen Gloeb, Kak-hainodich… Trên
cơ sở các đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, các tác giả đã nghiên cứu những điều kiện cần thiết cho sự phát triển ngôn ngữ, qua đó xây dựng nội dung, phương pháp, biện pháp, bài tập phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ em như Lưu Thị Lan (1996) [10], Bùi Việt Anh (1989), các tác giả đã nghiên cứu
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em theo từng giai đoạn khác nhau ở lứa tuổi như nhóm trẻ 12-24 tháng, 24-36 tháng, 3 tuổi, 4-5 tuổi, 1-3 tuổi, 3-5 Ngoài
ra, một số nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989), Dương Diệu Hoa (1985) xoay quanh sự phát triển các thành phần ngôn ngữ như vốn từ, ngữ pháp, hiểu từ hay ngôn ngữ mạch lạc của trẻ
em ở các độ tuổi khác nhau Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát
Trang 22triển ngôn ngữ của trẻ em như môi trường sống, sức khoẻ, giáo dục gia đình… được nghiên cứu qua công trình nghiên cứu của Võ Phan Thu Hương
(2006) Nguyễn Thị Phương Nga với công trình nghiên cứu “Giáo trình
phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” [13] đã đưa ra các hướng
phát triển ngôn ngữ, tài liệu và các lĩnh vực phát triển vốn từ cho trẻ Trong
đó, tác giả đưa ra các nhiệm vụ cần phát triển như dạy trẻ lắng nghe, cách phát âm đúng, phương pháp phát triển vốn từ phong phú, hình thành cho trẻ nói đúng ngữ pháp, dạy trẻ cách nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ phương pháp
học ngôn ngữ viết Đinh Hồng Thái đã biên soạn cuốn “Phương pháp phát
triển ngôn ngữ tuổi mầm non” [20] đã đề cập đến cách dạy trẻ sử dụng ngôn
ngữ nói trong ba năm đầu đời và những năm học vấn đề dạy nói cho trẻ trong
ba năm đầu, dạy nói cho trẻ mẫu giáo, chuẩn bị dạy cho trẻ tiếng Việt ở trường phổ thông
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi và việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở nhiều góc độ khác nhau Song các công trình mới đi sâu nghiên cứu về mặt lí luận và các trò chơi cho phát triển các môn học tổng quan, khái quát, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc sử dụng trò chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ Qua tổng hợp những nghiên cứu cho thấy
đó là cơ sở cho tác giả đề xuất đề tài nghiên cứu Thiết kế trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi dựa trên ngữ liệu tập thơ Ra vườn nhặt nắng của tác giả Nguyễn Thể Hoàng Linh làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
1.2 Một số vấn đề về trò chơi phát triển ngôn ngữ
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động chơi
Hiện nay, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động chơi, tùy thuộc vào quan điểm, góc nhìn của từng tác giả trong mỗi phạm vi khác nhau Dưới đây, người nghiên cứu đưa ra một số khái niệm về hoạt động chơi
Trang 23Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Chơi là hoạt động giải trí hoặc nghỉ ngơi” [15, tr.171] Hoạt động chơi nằm trong quá trình chơi chứ nó không nằm trong kết quả chơi, trẻ tham gia chơi vì trẻ thích chơi chứ không vì bất kì một lợi ích nào Trong trò chơi các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
và xã hội được mô phỏng lại, chơi mang lại cho trẻ trạng thái vui vẻ, tinh thần phấn chấn, dễ chịu và trẻ cảm thấy hạnh phúc
Theo tác giả Đặng Thành Hưng “Chơi là kiểu hành vi hoặc hoạt động
tự nhiên, tự nguyện, có động cơ thúc đẩy là những yếu tố bên trong quá trình chơi và chủ thể không nhất thiết theo đuổi những mục tiêu là lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó Chơi là hành vi có thể có tính xã
hội (ở người) và có thể chỉ là hành vi bản năng (ở động vật)” [7] Ở đây, chúng tôi lựa hiểu hoạt động chơi theo cách tiếp cận này
1.2.1.2 Khái niệm trò chơi
Trò chơi là phương tiện góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ
[26] Nhân cách của trẻ sẽ được hình thành thông qua hoạt động chơi, nổi bật
là tính tưởng tượng và xúc cảm, thông qua một trò chơi tính độc đáo sẽ thể hiện khác nhau ở từng độ tuổi và cá nhân Do vậy nhà giáo dục khi tổ chức trò chơi phải luôn tạo ra hứng thú để trẻ có nhu cầu học hỏi làm người
Quan điểm của Đặng Thành Hưng lí giải rằng trò chơi là thuật ngữ có
hai nghĩa khác nhau tương đối xa: 1 Một kiểu loại phổ biến của Chơi - chính
là Chơi có luật (tập hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia; 2 Những công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi, bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi đá bóng [7]
Từ những phân tích trên cho thấy Trò chơi là tổ hợp những hành động
(nhận thức, giao tiếp, tương tác) của người với người hoặc nhóm người với
Trang 24nhau thông qua những luật chơi phù hợp được đưa ra nhằm đạt được mục đích và lợi ích nhất định
1.2.1.3 Khái niệm trò chơi phát triển ngôn ngữ
Trò chơi ngôn ngữ là một hình thức hoạt động được học sinh hứng thú tham gia trong và ngoài lớp học Bằng việc tham gia vào các trò chơi ngôn ngữ, trẻ có cơ hội rèn luyện, phát triển về cả trí tuệ, thể lực và nhân cách
Trò chơi ngôn ngữ trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ là trò chơi mà luật của nó bao gồm các qui tắc gắn với những kiến thức kĩ năng trong hoạt động học tập và nội dung bài học, giúp người học biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân để chơi, thông qua hoạt động chơi học sinh thường xuyên rèn luyện kiến thức, kĩ năng, và vốn từ vựng và cách sử dụng từ
và câu đúng ngữ cảnh, ngữ pháp
Các trò chơi sẽ được phân loại và xác định tên gọi tùy theo mục đích sử
dụng của từng môn học, bài học Trong phạm vi của luận văn, trò chơi ngôn
ngữ được hiểu là dạng trò chơi giáo dục sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện
và mục đích, có nội dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ trên ba bình diện (1) nội dung (vốn từ và nghĩa của từ); (2) hình thái hay cấu trúc (ngữ pháp và cú pháp); (3) chức năng của ngôn ngữ với các nội dung cụ thể: Mở rộng vốn từ và Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
1.2.2 Vị trí của trò chơi phát triển ngôn ngữ trong hệ thống trò chơi
Trước khi đưa ra các cách nhằm phân loại trò chơi ngôn ngữ, người nghiên cứu cần làm rõ vị trí của trò chơi ngôn ngữ trong hệ thống trò chơi nói chung Có thể thấy, trò chơi ngôn ngữ thực chất là một loại trò chơi mà việc phân chia hay đưa trò chơi ngôn ngữ vào nhóm trò chơi hay đứng độc lập còn tùy thuộc vào tiêu chí phân loại của người nghiên cứu
- Ở hầu hết các giáo trình, tài liệu đã đưa ra cách phân chia trò chơi thành từng loại khác biệt: trò chơi góc phân vai (theo chủ đề), trò chơi đóng
Trang 25kịch (theo kịch bản), bé tập làm bác sĩ, bé tập làm kĩ sư, Theo cách phân chia đó thì sẽ có trò chơi nghệ thuật, trò chơi ngôn ngữ, khoa học, giao thông, truyền tin,
- Theo Đặng Thành Hưng có thể phân loại trò chơi theo một số cách tiếp cận sau:
+ Tiếp cận theo định hướng văn hóa, có thể phân loại trò chơi thành các nhóm trò chơi sau: Những trò chơi nhai lại hay phóng tác (Simulations); Những trò chơi sáng tạo hay kiến tạo (games); Những trò chơi nửa phóng tác nửa sáng tạo (simualated games)
+ Tiếp cận theo lịch sử: Những trò chơi dân gian, có tính truyền thống; Những trò chơi hiện đại, có tính chất công nghiệp và văn minh phổ biến
+ Tiếp cận ở góc độ tâm lí: Những trò chơi thi đấu, có tính chất tranh đua để giành thành tích tốt nhất hoặc vượt qua thử thách một cách xuất sắc nhất; Những trò chơi không thi đấu, không có tính chất thi thố, tranh đua
+ Tiếp cận theo chức năng: Những trò chơi giải trí, tiêu khiển; Những trò chơi công vụ; Những trò chơi dùng sức lực thể chất; Những trò chơi trí tuệ
- Theo hình thức tổ chức hoạt động chơi: chơi đơn độc, chơi song song, chơi hội, chơi hợp tác, chơi chức năng, chơi kiến tạo, chơi tự do, chơi có nghi thức, chơi sao chép lại mẫu, chơi có liên hệ, chơi sáng tạo…)
- Theo mục đích chơi, có thể phân loại trò chơi thành:
Trang 26khác, trò chơi ngôn ngữ có thể xuất hiện trong tất cả các loại Mỗi cách phân loại đó đều nhằm khai thác một khía cạnh khác nhau của trò chơi ngôn ngữ
1.2.3 Phân loại trò chơi ngôn ngữ
Trong phạm vi trò chơi ngôn ngữ, trò chơi ngôn ngữ lại có thể được phân chia thành các đơn vị nhỏ hơn để phục vụ những mục đích khác nhau Dựa vào nội dung giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non cũng như phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu phân loại trò chơi ngôn ngữ dựa trên mục tiêu giáo dục và đặc điểm ngôn ngữ của trẻ mầm non với những nhóm trò chơi ngôn ngữ:
- Trò chơi ngôn ngữ về từ vựng: gồm nhóm các trường từ như giao thông, màu sắc, đồ ăn, quần áo…
- Trò chơi ngôn ngữ về phát âm (luyện, sửa): âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối; thanh điệu gồm dấu hỏi, ngã…
- Trò chơi ngôn ngữ về giao tiếp: lắng nghe, đặt câu hỏi và trả lời…
- Trò chơi ngôn ngữ về ngữ ngữ pháp: Nói câu đơn, câu đủ thành phần chủ vị, câu có nghĩa, câu có trật tự từ…
- Mặc dù có nhiều cách khác nhau để phân loại trò chơi ngôn ngữ, dựa vào mục đích giáo dục hay khả năng tiếp của trẻ, vì vậy các cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối, đôi khi sẽ có những trò chơi ngôn ngữ có thể đồng thời vừa nằm trong nhóm này và vừa nằm trong nhóm khác
1.2.4 Ngôn ngữ và trò chơi ngôn ngữ ở lứa tuổi mầm non
1.2.4.1 Đặc điểm trò chơi ngôn ngữ
- Trò chơi ngôn ngữ là sự trò chơi có sự kết hợp các yếu tố chơi và các yếu tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động và quan hệ hiện thực
- Mục đích chơi hay còn gọi chơi có chủ định là những nhiệm vụ học tập của học sinh trong khi tham gia chơi Mục đích này chi phối toàn bộ các yếu tố của trò chơi Kết quả hoạt động của trò chơi được phản ánh ở kết quả
Trang 27hiện thực mà học sinh thu được khi trò chơi kết thúc, đó cũng là kết quả của nhiệm vụ học tập, học sinh học được những gì thông qua hoạt động chơi dưới
sự đánh giá của giáo viên và nhà giáo dục
- Các hoạt động hay hành động chơi là những hoạt động mà người tham gia chơi tiến hành đóng vai và thực hiện vai trò của cá nhân trong trò chơi
- Luật chơi hay quy tắc chơi là những quy định được đưa ra nhằm định hướng cho người chơi nhằm thực hiện đúng các hành động hay nhiệm vụ học tập, xác định trình tự và tiến độ của các hành động nhằm đạt được kết quả tốt nhất trong giáo dục
- Đối tượng hoạt động giao tiếp là những thành tố chính của các hoạt động, tuy nhiên để đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ học tập thì chúng cần được xác định và thiết kế chặt chẽ, được chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng hơn trong luật chơi
- Các quá trình, tình huống và quan hệ là biến số, tiến trình và khuynh hướng của các hành động chơi, bộc lộ từ sự tác động của luật chơi Ảnh hưởng của luật chơi mục đích dạy học được thể hiện kết quả được diễn ra như
là động thái của trò chơi
- Bên cạnh đó, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, nhằm phục vụ mục đích thiết kế trò chơi phát triển ngôn ngữ trong trường mầm non, người nghiên cứu xem xét trò chơi phát triển ngôn ngữ là một nhánh của trò chơi học tập, vì vậy ngoài những đặc điểm trên, trò chơi phát triển ngôn ngữ còn
có những đặc điểm của trò chơi học tập như sau:
- Mặt khác, trẻ có nhu cầu khám phá những điều mới và hăng hái tham gia các trò chơi, vì các trò chơi có tính hấp dẫn trẻ ngay từ những hành động, hoạt động của chúng Trò chơi tạo sự vui vẻ, sảng khoái ở những đứa trẻ khi chúng muốn tham gia vào hoạt động chơi
- Ở bậc mầm non, trẻ tham gia chơi trò chơi một cách tự động, độc lập, khi chơi trẻ thể hiện ý thức làm chủ trò chơi và tham gia một cách tích cực, hết mình dưới sự hướng dẫn của người lớn
Trang 28- Người lớn có vai trò hướng dẫn, chỉ bảo cách chơi của từng trò chơi cho trẻ, nêu ra các luật chơi cho trẻ hiểu và đảm bảo tính vừa sức của trẻ, giúp trẻ chơi tích cực, đạt mục tiêu giáo dục đề ra
- Trong quá trình chơi, người lớn cần hướng dẫn trẻ chơi hợp tác, đó là nội dung vô cùng quan trọng khi đưa ra mục tiêu giáo dục mầm non Đối với trẻ mầm non trò chơi phải phản ảnh một mặt của xã hội của môi trường sống xung quanh trẻ, giúp trẻ tái hiện cuộc sống thực của người lớn mà trẻ đã quan sát và mặt khác giáo dục tính đoàn kết và làm việc nhóm ở trẻ
- Khi tổ chức trò chơi cho trẻ, giáo viên (người lớn) phải tạo ra những
ký hiệu nào đó hay những hình ảnh tượng trưng để trẻ đóng vai, thực hiện tái hiện nhân vật nào đó trong trò chơi giúp trẻ phát triển tính sáng tạo trong nhận thức Mặt khác trẻ biết được vật nào sẽ thay thế được vật nào hay nhân vật nào được thay thế bằng trẻ nào,… để rồi từng trẻ có thể gọi tên nhân vật hay vật thay thế nó
1.2.4.2 Mục đích của trò chơi ngôn ngữ
Bất kì một phương pháp dạy học được sử dụng đều hướng tới mục đích
là giúp người học có thể lĩnh hội kiến thức được chính xác, đầy đủ và dễ dàng nhất Dạy học thông qua trò chơi cũng không nằm ngoài mục đích đó, thực tiễn cho thấy thông qua những trò chơi, trẻ bị cuốn hút vào môi trường đó và tiếp nhận kiến thức kinh nghiệm một cách tự nhiên, không gò ép Khi tham gia vào quá trình chơi, trẻ không mang tâm lí sợ sai, sợ hỏng vì vậy có thể nói đây là lúc trẻ bộc lộ khả năng, hiểu biết của mình một cách vô tư, tự nguyện
mà có thể trong hoạt động học không dễ gì giáo viên có thể khai thác được từ
trẻ “Có thể thấy thông qua trò chơi, hiệu quả của việc học ngôn ngữ cũng rất
cao, phát triển lĩnh vực ngôn ngữ thông qua các trò chơi là cách làm tích cực nhất và hiệu quả nhất” [32]
Trang 29Có thể nói thông qua trò chơi, đặc biệt là các trò chơi phát triển ngôn ngữ thì ngoài mục đích truyền kiến thức ngôn ngữ cho trẻ, trò chơi ngôn ngữ cũng mang theo những mục đích đặc trưng, tiến bộ hơn so với các phương pháp giáo dục đơn thuần:
- Tính cực chủ động: với việc tham gia vào trò chơi, để hoàn thành nhiêm vụ chơi trẻ đã phát huy được tính tích cực chủ động trong quá trình chơi, nhất là khi chơi trẻ biểu đạt ý tưởng, suy nghĩ, nhận định, giải thích, kết luận của bản thân
- Tạo sự say mê, phấn khởi, vui vẻ cho trẻ trong quá trình học tập
- Trẻ không bị áp lực gò ép, do đó sẽ phát triển tự nhiên, toàn diện, lĩnh hội được nhiều tri thức, tư duy linh hoạt,sử dụng lời nói mạch lạc, nói năng tự nhiên, lưu loát, nhớ lâu
- Thông qua trò chơi, trẻ được rèn luyện kĩ năng thực hành, kĩ năng giao tiếp trong nhóm bạn, từ đó trẻ được rèn luyện và phát triển ngôn ngữ qua các tình huống và môi trường cụ thể hằng ngày Trẻ nhanh chóng học được văn hoá giao tiếp, hiểu được sức mạnh của ngôn ngữ, phát triển khả năng ngôn ngữ của bản thân trẻ
- Khi tham gia chơi, trẻ không có tâm lí chán nản, mệt mỏi “không bị ngồi yên một chỗ, không phải lúc nào cũng trật tự” từ việc tiếp nhận kiến thức thụ động trẻ chuyển sang trạng thái chủ động tư duy sáng tạo, yêu thích việc học - thông qua chơi
1.2.4.3 Yêu cầu khi tổ chức trò chơi ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non
Cũng như các trò chơi khác, để tổ chức và thực hiện trò chơi phát triển ngôn ngữ ở trong lớp học hay ngoài lớp học cũng cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Xác định mục tiêu dạy học (tính giáo dục của mỗi trò chơi): cần thể
hiện rõ đâu là nhiệm vụ, mối quan hệ và nội dung cũng như tình huống chơi
từ đó xác định mục tiêu giáo dục cần đạt được
Trang 30- Môi trường hoạt động của người học là trò chơi, trẻ học thông qua
những ứng xử, xử lí tình huống và giải quyết các mối quan hệ trong tiến trình chơi của trẻ
- Trò chơi phải đảm bảo đúng nội dung học tập và phù hợp với điều
kiện tổ chức trò chơi
- Trong quá trình tổ chức trò chơi nên lựa chọn những yếu tố chủ đạo,
quan trọng và cần thiết thích hợp với phương thức chơi, hiệu quả học tập sẽ
cao hơn khi sử dụng trò chơi trong tổ chức học tập
- Khi tổ chức trò chơi, các vai chơi phải được xác định rõ ràng và đúng người, tránh hiện tượng chơi lẫn lộn và nhốn nháo, đặc biệt các trò chơi đóng kịch, các cá nhân cần nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với nội dung và vị trí trẻ chịu trách nhiệm
- Chỉ những nhóm người tham gia chơi mới được hành động còn những
người còn lại quan sát, học tập và sẵn sàng cho việc thay thế, nhằm tất cả mọi người đều có điều kiện tham gia chơi và quan sát người khác chơi
- Vai trò của giáo viên là vô cùng quan trọng trong việc chuẩn bị các điều kiện thiết yếu để tổ chức trò chơi và là người trả lời và gỡ những rắc rối khi tổ chức trò chơi theo đúng luật đề ra
- Các quy định và quy tắc chơi cần được thể hiện tự nhiên, không gò bó
và dễ hiểu dễ học, người học chấp nhận
- Mọi hoạt động phải có sự tổng kết, thảo luận rút kinh nghiệm sau
những trò chơi Người học tiếp thu đến đâu phụ thuộc vào giáo viên; người học phải được lắng nghe những nhận xét, góp ý giúp trẻ nhận biết được những gì trẻ làm được và chưa làm được, những gì cần phát huy
1.3 Đặc điểm trẻ lứa tuổi mầm non
1.3.1 Đặc điểm sinh lí của trẻ 3-4 tuổi
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm phát triển của trẻ em như công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Hoàng Thị Phương, Đặng Hồng Phương … Dựa trên những công trình nghiên
Trang 31cứu đó, người nghiên cứu tổng hợp được các đặc điểm phát triển chung của trẻ em như sau:
* Đặc điểm hệ thần kinh
Ở thời điểm mới trào đời, cấu tạo và hình thái não trẻ không khác so với người lớn, tuy nhiên bộ não của trẻ chưa phát triển đầy đủ để thực hiện chức năng của mình, trọng lượng lúc sơ sinh là 370 - 392 gam, khi 6 tháng trọng lượng tăng gấp đôi, 3 tuổi tăng gấp 3, 9 tuổi thì nặng đến 1300 gam Mọi vận động của cơ thể được chi phối và điều tiết bởi hệ thần kinh, cải thiện tính không cân bằng của quá trình thần kinh Trong quá trình vận động của trẻ có sự luân phiên giữa động và tĩnh
* Đặc điểm hệ vận động
Hệ vận động của trẻ mầm non bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp Quá trình phát triển diễn ra nhanh và xương mang tính đàn hồi cao Hệ xương gồm: xương sọ, xương thân và xương chi Xương sống và các xương khác còn mềm và yếu vì chủ yếu mang tính chất sụn Thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước, chất hữu cơ nhiều hơn chất vô cơ so với người lớn nên rất dễ cong và gãy Cấu tạo của một số xương chưa kết thúc, tuy nhiên sự cung cấp máu ở trẻ nhỏ tốt hơn so với người lớn
Sự vận động các khớp của trẻ rất linh hoạt, dây chằng dễ bị dãn, các gân còn yếu Vị trí các khớp còn nông, cơ bắp xung quanh các khớp còn mềm
và yếu, dây chằng lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp tương đối kém
Hệ cơ bao gồm trên 600 cơ, chiếm 42% trọng lượng cơ thể Chia thành 4 nhóm cơ chính: cơ đầu, cơ cổ, cơ mình và cơ chi Hệ cơ của trẻ phát triển yếu,
tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ, mảnh, thành phần nước trong cơ thể tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ dễ mệt mỏi khi vận động
* Đặc điểm hệ tuần hoàn
Hệ tim mạch của trẻ bắt đầu hoạt động sớm hơn các hệ khác và các mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn (về tỉ lệ) nên áp lực của máu vào
Trang 32thành mạch yếu, để bù đắp vào đó tần số co bóp của tim lại nhanh Vận động của tim chủ yếu dựa vào sự co bóp của cơ tim Sức co bóp cơ tim của trẻ còn yếu, mỗi lần co bóp chỉ chuyển đi được một lượng máu rất ít, nhưng mạch đập nhanh hơn ở người lớn Sự điều hòa thần kinh tim còn chưa hoàn thiện nên nhịp co bóp dễ mất ổn định và cơ tim rất nhanh mệt mỏi khi tham gia vận động kéo dài [16] Tuy nhiên khi thay đổi hoạt động theo xu hướng giảm dần thì tim trẻ lại phục hồi nhanh hơn Chính vì vậy, để tăng cường công năng của tim, khi tổ trò chơi cho trẻ 3-4 tuổi nên đa dạng hoá các trò chơi kết hợp trò chơi động - tĩnh, tăng dần lượng vận động cũng như cường độ chơi trò chơi một cách nhịp nhàng
1.3.2 Đặc điểm tâm lí
Mỗi giai đoạn phát triển, trẻ không chỉ có những sự phát triển và hoàn thiện về mặt sinh học, mà những đặc điểm tâm lí của trẻ cũng có những thay đổi rõ rệt Việc hiểu và nắm rõ tâm lí lứa tuổi giúp giáo viên có thể lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tiến hành các hoạt động phù hợp Qua đó trẻ có điều kiện thuận lợi để phát triển một cách tối đa Ở lứa tuổi 3-4, trẻ có các đặc điểm tâm lí nổi bật bao gồm:
Khủng hoảng tuổi lên 3 và sự thay đổi hoạt động chủ đạo Khi lên 3,
trẻ xuất hiện mâu thuẫn giữa một bên là tính độc lập đang được phát triển
Trang 33mạnh, trẻ muốn tự mình làm tất cả mọi việc như người lớn và một bên là khả năng thực của trẻ còn quá non yếu Tình trạng này đã dẫn đến hiện tượng khủng hoảng ở trẻ Để giải quyết mâu thuẫn này, trẻ tìm đến một hoạt động mới: không làm thật được mọi việc như người lớn thì làm giả vờ (tức là làm chơi) Do đó trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện nhằm thoả mãn nhu cầu của trẻ luôn được sống và làm việc như người lớn Đó chính là một bước chuyển biến cơ bản trong hoạt động của trẻ khi bước vào tuổi mẫu giáo Hoạt động với đồ vật vốn là hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi, nay lùi xuống hàng thứ hai (tuy nó vẫn đang tiếp tục phát triển), nhường chỗ cho hoạt động vui chơi nổi lên chiếm ưu thế và giữ vai trò chủ đạo Để đáp ứng sự thay đổi hoạt động chủ đạo này, trẻ chuyển dần từ chơi một mình, chơi cạnh nhau đến chơi với nhau, vị trí chủ đạo ở trẻ chưa thể đạt tới dạng chính thức mà mới ở dạng
sơ khai
Tính tự kỷ trong sự hình thành ý thức về bản thân Ở giai đoạn này ý
thức về bản thân của trẻ đã chớm được nảy sinh khi trẻ biết tách mình ra khỏi mọi người xung quanh để nhận ra chính mình Nhưng ý thức về bản thân của trẻ cuối tuổi ấu nhi còn hết sức mờ nhạt Cùng với sự thay đổi của hoạt động chủ đạo, trẻ bắt đầu tìm hiểu thế giới của chính con người và nhập vào những mối quan hệ trong trò chơi Từ đó, trẻ phát hiện ra mình trong nhóm bạn bè cùng chơi, thấy được vị trí của mình trong nhóm chơi Đây là điểm khởi đầu của sự hình thành ý thức bản ngã Tuy nhiên trẻ em 3 tuổi chưa phân biệt được ý muốn chủ quan và mong muốn khách quan, vì vậy trẻ thường đem ý muốn chủ quan của mình gắn cho sự vật xung quanh Khi trẻ không phân biệt được giữa mong muốn bên trong và bên ngoài còn dẫn đến đặc điểm tự kỷ (lấy mình làm trung tâm) trong ý thức của trẻ J Piaget cho rằng đặc điểm tiêu
biểu nhất trong tâm lí trẻ em từ 3 tuổi trở xuống là tính tự kỷ
Trang 34Sự xuất hiện động cơ hành vi Ở lứa tuổi mẫu giáo bé bắt đầu bước vào
giai đoạn đầu của việc chuyển từ những hành vi bột phát sang hành vi mang tính xã hội, hay còn gọi là hành vi mang tính nhân cách Trẻ dần chuyển động
cơ hành động từ những nguyên nhân trực tiếp sang hành vi có động cơ Lúc đầu, động cơ còn đơn giản và mờ nhạt Khi tham gia hành động, trẻ thường
bị kích thích bởi những động cơ sau đây:
+ Động cơ gắn liền với ý thích: trẻ muốn mình được giống như người lớn Nguyện vọng này dẫn trẻ đến việc sắm các vai trong những trò chơi đóng vai theo chủ đề khác nhau
+ Động cơ gắn liền với quá trình chơi: Động cơ có tác động khá mạnh
mẽ thúc đẩy hành vi của trẻ Trẻ ham chơi không phải là do kết quả của trò chơi mang lại mà trẻ cảm thấy thích thú chính từ quá trình chơi
+ Động cơ nhằm làm cho người lớn cảm thấy vui lòng, yêu mến cũng bắt đầu xuất hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trẻ thực hiện những hành động tích cực hơn Động cơ hành vi của trẻ thường để được người lớn yêu mến và nó đi đôi với nhu cầu cụ thể
Ở lứa tuổi mầm non nói chung, và ở lứa tuổi 3-4 tuổi nói riêng, đặc điểm tâm lí của trẻ chịu ảnh hưởng của 4 yếu tố sau: (1) Đặc điểm tâm lí trẻ mầm non chịu ảnh hưởng của nền văn hóa xã hội và nền văn hóa gia đình; (2) Hoạt động mà đặc biệt là hoạt động chủ đạo có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với
sự phát triển của trẻ em; (3) Điều kiện sinh học có ảnh hưởng tới sự phát triển
tâm lí của trẻ; (4) Ảnh hưởng của giáo dục đối với phát triển
Những đặc điểm tâm lí của trẻ 3-4 tuổi có những nét độc đáo, mọi hoạt động của trẻ lúc này cần tổ chức dưới hoạt động chơi, gắn liền với những động cơ cụ thể Hơn nữa, có thể thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tâm lí của trẻ, nhưng giáo dục vẫn giữ một vai trò vô cùng quan trọng Việc nắm bắt được điều này sẽ giúp người lớn thiết kế được các hoạt động phù hợp với trẻ
Trang 351.3.3 Đặc điểm tư duy
Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh của sự vật
và hiện tượng đã được bộ não ghi nhớ, việc chuyển từ tư duy trực quan - hành động sang tư duy trực quan - hình tượng như sau: thứ nhất là trẻ tích cực hoạt động với đồ vật, hoạt động đó được lặp đi lặp lại nhiều lần, lâu dần được nhập tâm thành hình ảnh, thành biểu tượng trong óc; thứ hai là do hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ giúp trẻ hình thành chức năng ký hiệu tượng trưng của ý thức, dùng một vật này thay thế cho một vật khác Tuy nhiên bước chuyển này mới chỉ mới chỉ là điểm khởi đầu của loại tư duy mới
Do đó tư duy của trẻ ở đầu tuổi mẫu giáo có những đặc điểm sau đây:
+ Tư duy của trẻ 3-4 tuổi đã đạt tới ranh giới của tư duy trực quan-hình tượng, nhưng các hình tượng, biểu tượng trong vẫn còn gắn liền với hành động
+ Tư duy của trẻ 3-4 tuổi còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan Trẻ mới bước tới ngưỡng cửa của tư duy trong khi thế giới nội tâm của trẻ còn chưa được phân hoá thành những chức năng rõ ràng
+ Cách nhìn nhận sự vật của trẻ 3 tuổi theo lối trực giác toàn bộ có nghĩa là trước một sự vật nào đó trẻ nhận ra ngay, chộp lấy rất nhanh một hình ảnh tổng thể chưa phân chia ra thành các bộ phận Trẻ để ý đến những chi tiết vụn vặt- những chi tiết đối với trẻ là những tổng thể, vì trẻ không bao quát được khi nhìn một sự vật bao gồm nhiều chi tiết phức tạp, không nhận ra những mối liên quan giữa các chi tiết bộ phận trong một sự vật
Có thể thấy, tư duy của trẻ 3-4 tuổi mang nặng tính cụ thể, trực quan và thiên về cảm tính, nghĩa là trẻ thường chú ý và dễ bị lôi cuốn vào những đặc điểm bên ngoài (nhất là những đặc điểm nổi bật về màu sắc, âm thanh, hình dạng, kích thước ) mà ít chú ý đến các dấu hiệu bên trong của đối tượng Điều này dẫn tới nhiều khi trẻ khái quát hóa và phân loại các đối tượng vào nhóm chung mà chỉ dựa vào một vài dấu hiệu riêng lẻ (dấu hiệu không bản chất)
Trang 361.3.4 Đặc điểm bộ máy phát âm của trẻ
Trẻ phát âm tốt là phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm cũng như khả năng điều khiển hoạt động của bộ máy này Do vậy bộ máy phát âm có đặc điểm riêng biệt và nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình trẻ phát âm
Bộ máy phát âm gồm các bộ phận chính sau:
* Bộ phận cung cấp làn hơi
Cấu tạo của bộ phận này gồm hai lá phổi, dưới sự tác động của cơ hoành, cơ sườn, cơ ngực, cơ bụng và các mô nó giúp trẻ đẩy hơi từ khoang bụng và bật ra ngoài theo âm Trẻ sơ sinh đến khi lên 8 tuổi, phổi phát triển chủ yếu bằng cách tăng số lượng phế nang Phổi của trẻ có đặc điểm nhiều mạch máu và bạch mạch, nhiều cơ trơn, ít tổ chức đàn hồi, đặc biệt là quanh các phế nang và thành bạch mạch Các cơ hô hấp của trẻ chưa phát triển hoàn chỉnh nên lồng ngực di động kém Từ những lí do nêu trên cho thấy trẻ càng nhỏ khả năng phát âm càng kém, chủ yếu chỉ là những tiếng ê a chưa rõ ràng, ngắn gọn
* Bộ phận phát thanh
Ở lưa tuổi mầm non bộ phận này của trẻ mới chỉ phát ra âm thanh chưa
có lời, tiếng Đặc điểm của bộ phận này gồm hai thanh đới nằm trong thanh quản, thanh quản của trẻ có hình phễu mở rộng ở phía trên Ở lứa tuổi đang ăn sữa mẹ, thanh quản của trẻ nằm ở vị trí cao hơn hai đốt sống so với người lớn Thanh quản phát triển từ từ ở giai đoạn trẻ con và phát triển mạnh ở giai đoạn thanh thiếu niên Trẻ dưới 6 - 7 tuổi, thanh môn hẹp, thanh đới ngắn do đó ta thấy giọng nói của trẻ em thường cao hơn của người lớn Khi trẻ lên 12 tuổi, cấu tạo có chút thay đổi, thanh đới ở trẻ em trai dài hơn thanh đới ở trẻ gái, do
đó con trai thường có giọng nói trầm hơn con gái
Trang 37* Bộ phận truyền tăng âm
Bao gồm cuống họng (hay còn gọi là yết hầu) thông với đường miệng hoặc mũi Ở trẻ em họng hầu tương đối ngắn và hẹp, có hình phễu, sụn mềm
và nhẵn, họng thường phát triển mạnh trong năm đầu đời và ở tuổi dậy thì Niêm mạc họng được phủ bằng lớp biểu mô rung hình trụ
Âm thanh do thanh đới tạo ra được bộ phận truyền âm gom lại và dẫn
ra ngoài theo hai hướng miệng hoặc mũi Bên cạnh vai trò truyền âm thì cuống họng và miệng còn làm tăng âm
* Bộ phận phát âm (nhả chữ)
Bộ phận phát âm gồm miệng với việc sử dụng linh hoạt các bộ phân như môi, răng, lưỡi, hàm dưới và vòm mềm (hàm ếch mềm, cúa mềm, ngạc mềm) Khi nghe giọng nói phát ra người nghe có thể nhận ra ý nghĩa của nó,
đó là sự vận động kết hợp của các bộ phận trên Ở trẻ nhỏ, do sự hoạt động của môi, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm chưa linh động và răng chưa phát triển đầy đủ nên phát âm chưa chuẩn, chưa rõ ràng Đặc biệt đối với trẻ mắc bệnh
dị tật bẩm sinh ở các bộ phận phát âm sẽ dẫn tới rất nhiều khó khăn trong việc phát âm đúng và chuẩn
* Bộ phận dội âm
Bao gồm tất cả các khoảng trống trong cơ thể, chủ yếu là các khoảng trống trên đầu, trên mặt, gọi là xoang cộng minh (cộng hưởng) Ngoài khoang họng và khoang miệng vừa tăng âm vừa dội âm, thì các xoang mũi, xoang vòm mặt, xoang chán… chủ yếu có tính chất dội, tức là làm cho âm thanh được cộng hưởng, âm vang và phát ra ngoài
Cơ thể, các hệ cơ quan, hệ vận động của trẻ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện Vì vậy, trẻ lứa tuổi này rất ưa hoạt động, sẵn sàng và tích cực tham gia các hoạt động mà GV tổ chức, đặc biệt là các hoạt động tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh Dựa vào những đặc điểm thể chất/ sinh lí và đặc biệt là những đặc điểm về bộ máy phát âm của trẻ mà GV có thể sử dụng
Trang 38những trò chơi ngôn ngữ động - tĩnh kết hợp để sử dụng vào việc giáo dục phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt được kết quả cao
1.3.5 Đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi
“Trẻ lên 3 cả nhà học nói” hay “thỏ thẻ như trẻ lên 3” là những câu ca dao, tục ngữ của cha ông ta cho thấy sự phát triển ngôn ngữ vượt bậc của trẻ trong giai đoạn 3-4 tuổi Thật vậy, ở tuổi lên 3 cùng với nhu cầu học tập, khám phá thế giới xung quanh, nhu cầu giao tiếp ngôn ngữ của trẻ có sự tăng mạnh Theo bảng kiểm do các chuyên gia của Viện Y tế Quốc gia Mỹ đưa ra,
ở giai đoạn 3-4 tuổi, trẻ biết:
+ Nhóm tên đối tượng: Ví dụ: “Quần áo”, “Thức ăn”
+ Phân biệt được các màu sắc
+ Sử dụng được hầu hết các âm nhưng có thể chưa tròn âm đối với các
âm khó: tr, ch, ngh, l, s, r, v, y
+ Người lạ có thể chưa hiểu những gì trẻ nói
+ Có thể mô tả được tác dụng của các đồ vật như: dao, cốc, ô tô…
+ Thích thú với ngôn ngữ, hào hứng với thơ ca và nhận ra những điều
vô lí trong ngôn từ, như “Có con voi trên đầu bạn phải không?”
+ Diễn tả ý tưởng và cảm xúc, không dừng lại ở việc chỉ nói về thế giới xung quanh
+ Diễn tả thì của động từ “đang”
+ Trả lời các câu hỏi đơn giản: “Bé làm gì khi đói bụng?”
Song song với những đặc điểm đó, ngôn ngữ của trẻ có cả sự hoàn thiện và thông hiểu lời nói của người lớn, sự hình thành ngôn ngữ tích cực
Điều này được thể hiện ở các phương diện: (1) Sự hoàn thiện về mặt ngữ âm;
(2) Sự phát triển về mặt ngữ nghĩa bao gồm: (2.1) Sự phát triển về vốn từ; (2.2) Sự phát triển về cấu trúc ngữ pháp; (2.3) Sự phát triển lời nói mạch lạc
(1) Sự hoàn thiện về mặt ngữ âm, ngữ điệu
Trang 39Trẻ 3-4 tuổi đang ở trong giai đoạn ngôn ngữ Các âm vị xuất hiện trong từ trong lời nói của trẻ có một số đặc điểm như:
+ Phụ âm đầu: Đã bắt đầu xuất hiện trong của trẻ 2 tuối Các phụ âm môi như m, b… xuất hiện trước, sau đó đến các phụ âm dễ phát âm khác như
d, t, n, c Các phụ âm ít xuất hiện hơn là ph, p, r, s Lúc này, trẻ còn mắc nhiều lỗi khi phát âm các phụ âm đầu như “quả cam” trẻ đọc thành “tỏa tam”,
“con gà” thành “ton hà” …
+ Âm đệm: Trẻ bắt đầu điều khiển tròn môi để phát âm các âm đệm, tuy nhiên, các âm vẫn chưa hoàn chỉnh Ví dụ: trẻ nói “quả cam” thành “cả cam”; “hoa huệ” thành “ha hệ”
+ Âm chính: Hầu hết cấc nguyên âm, kể cả các nguyên âm đôi đều đã xuất hiện trong các từ của trẻ, nhưng trẻ có thể phát âm sai một số từ Ví dụ:
(2) Đặc điểm về mặt ngữ nghĩa:
(2.1) Đặc điểm vốn từ của trẻ 3-4 tuổi
– Quy luật tăng số lượng từ của trẻ
+ Số lượng từ tăng theo thời gian;
+ Sự tăng tốc không đều, có giai đoạn tăng nhanh, có giai đoạn tăng chậm;
+ Đặc biệt, năm thứ 3 là giai đoạn tốc độ tăng vốn từ nhanh nhất
Trang 40– Đặc điểm vốn từ xét về mặt số lượng:
+ Sau khi kết thúc giai đoạn tiền ngôn ngữ, bước vào giai đoạn ngôn ngữ chính thức, vốn từ của trẻ nhìn chung có sự tăng mạnh
+ Từ 12 tháng trở đi, trẻ bắt đầu xuất hiện các từ chủ động đầu tiên
+ 18 tháng tuổi số từ bình quân của trẻ là 11 từ, nhiều nhất là 24 từ
+ Từ 19- 21 tháng, số lượng từ tăng nhanh, 21 tháng trẻ đạt 220 từ
+ 24 tháng, trẻ có 234 từ; 30 tháng: 434 từ; Số lượng từ tiếp tục tăng đến
36 tháng, trẻ đạt 486 từ
+ Đến năm thứ 3, trẻ đã sử dụng trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ
và tính từ, các loại từ khác rất ít, cho đến năm 4 tuổi, số lượng từ của trẻ xấp xỉ 700 từ, ưu thế vẫn là danh từ, động từ Cuối tuổi lên 3, trẻ sử dụng được khoảng 1500 từ
+ Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi: Cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi, vốn từ tăng nhanh, tăng khoảng 10,7%
– Đặc điểm vốn từ xét về mặt từ loại
Đến năm 3-4 tuổi về cơ bản vốn từ của trẻ đã có đủ các loại từ Tuy nhiên,
tỷ lệ danh từ và động từ cao hơn nhiều so với các từ loại khác:
+ Danh từ chiếm 38%; Các danh từ trẻ sử dụng chỉ đồ dùng, đồ chơi
quen thuộc, gần gũi như: Mèo, chó, chim…
+ Động từ chiếm 32%, Động từ chỉ hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh
+ Tính từ chiếm 6,8% Việc tiếp thu tính từ của trẻ mẫu giáo bé khó khăn hơn so với việc tiếp thu danh từ và động từ Theo nghiên cứu của Lưu Thị Lan, trẻ 3-4 tuổi có thể cảm nhận được các từ biểu thị kích thước, số lượng, hình dạng
+ Đại từ 3,1% trẻ hay dùng ngôi thứ 3 để thay thế cho các danh từ trong
ngôn ngữ giao tiếp và các từ: này, ấy, kia, đây… thay thế cho các từ