Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non” là nghiên cứu của bản thân, trung th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HUỲNH THỊ XUÂN KIỀU
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
5 - 6 TUỔI THÔNG QUA SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
TƯ DUY TRONG HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HUỲNH THỊ XUÂN KIỀU
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
5 - 6 TUỔI THÔNG QUA SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
TƯ DUY TRONG HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN
SÁNG TẠO Ở TRƯỜNG MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Mã số: 8 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Lan Anh
Hà Nội, 2018
Trang 3Để hoàn thành được đề tài luận văn này tôi rất biết ơn quý thầy cô trong khoa Giáo dục mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình tham gia học tập và hoàn thành luận văn
Đồng thời, tôi cũng gửi đến cô giáo TS Lê Thị Lan Anh, người đã hỗ trợ, tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp cho tôi thực hiện tốt luận văn lời cảm ơn sâu sắc nhất
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, bản thân sẽ không tránh khỏi sự thiếu sót, hạn chế và lỗi sai phạm Tôi kính mong nhận được nhiều ý kiến góp
ý của quý thầy cô
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 11 năm 2018
Tác giả
Huỳnh Thị Xuân Kiều
Trang 4
Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông
qua sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non” là nghiên cứu của bản thân, trung thực và chƣa công bố trong bất
kì công trình nghiên cứu khoa học nào
Hà Nội, ngày 01 tháng 11 năm 2018
Tác giả
Huỳnh Thị Xuân Kiều
Trang 5
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON THÔNG QUA SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN SÁNG TẠO 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 5
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 10
1.2 Các khái niệm về kể chuyện sáng tạo 14
1.2.1 Khái niệm kể chuyện 14
1.2.2 Khái niệm sáng tạo 14
1.2.3 Khái niệm kể chuyện sáng tạo 15
1.3 Vấn đề về sơ đồ tư duy 16
1.3.1 Khái niệm 16
1.3.2 Cấu tạo của sơ đồ tư duy 17
1.3.3 Các bước lập sơ đồ tư duy 17
1.3.4 Lưu ý khi vẽ sơ đồ tư duy 18
1.4 Đặc điểm tâm lí, sinh lí và phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi 19
1.4.1 Đặc điểm tâm lí, sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi 19
Trang 6tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non 231.5.1 Phát triển ngôn ngữ trong chương trình giáo dục mầm non hiện nay cho trẻ 5 - 6 tuổi 231.5.2 Thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng
sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non hiện nay 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN SÁNG TẠO Ở TRƯỜNG MẦM NON 44
2.1 Những biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng
sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non 442.1.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học 442.1.2 Vận dụng sơ đồ tư duy để trang trí lớp học, các góc chơi, làm đồ dùng đồ chơi theo từng chủ để nhánh phong phú, bắt mắt, hấp dẫn trẻ 622.1.3 Kết hợp sử dụng sơ đồ tư duy, giáo cụ trực quan để giúp trẻ hoạt động kể chuyện sáng tạo 642.2 Một số điều kiện cần đảm bảo khi sử dụng sơ đồ tư duy 662.2.1 Lựa chọn các tác phẩm, truyện phù hợp gắn với nội dung hấp dẫn sinh động thông qua hoạt động học mà chơi để dạy trẻ kể sáng tạo lại câu chuyện 662.2.2 Thiết kế môi trường hoạt động cho các cháu tự tin, mạnh dạn tự kể lại truyện, đóng vai sáng tạo theo câu chuyện 682.2.3 Lồng ghép, tích hợp kể chuyện sáng tạo với các môn học khác 70KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
Trang 73.1.1 Mục đích thực nghiệm: 73
3.1.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 73
3.1.3 Nội dung thực nghiệm 73
3.1.4 Tiến trình thực nghiệm 74
3.2 Giáo án thực nghiệm 75
3.3 Mô tả tiết dạy thực nghiệm 92
3.4 Kết quả thực nghiệm 107
3.4.1 Kết quả trước thực nghiệm 107
3.4.2 Kết quả sau thực nghiệm 108
3.5 Nhận xét kết quả thực nghiệm 111
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 112
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC 118
Trang 9Bảng 1.1 Kết quả điều tra thông qua dự giờ 36
Bảng 1.2: Kết quả điều tra qua phỏng vấn sâu 37
Bảng 1.3: Kết quả điều tra qua phiếu khảo sát 38
Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 107
Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của bài kiểm tra số 1 (1) 108
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của bài kiểm tra số 2 (2) 108
Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của bài kiểm tra số 3 (3) 109
Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp đối chứng 109
Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm của lớp thực nghiệm 110
Trang 10Hình 2.1: Sơ đồ tƣ duy tổ 1 58
Hình 2.2: Sơ đồ tƣ duy tổ 2 60
Hình 2.3: Sơ đồ tƣ duy hoàn chỉnh 61
Hình 2.4: Sơ đồ tƣ duy (Nhóm 1) 96
Hình 2.5: Sơ đồ tƣ duy (Nhóm 2) 98
Hình 2.6: Sơ đồ tƣ duy hoàn chỉnh 99
Hình 2.7: Sơ đồ tƣ duy tổ 1 103
Hình 2.8: Sơ đồ tƣ duy tổ 2 105
Hình 2.9: Sơ đồ tƣ duy hoàn chỉnh 106
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trẻ em chính là niềm vui, niềm hạnh phúc trong mọi gia đình, đó chính
là tương lai, là sự tự tôn, tự hào của mỗi dân tộc Để những chồi non với tâm hồn trong sáng hồn nhiên này trở thành những công dân có ích cho xã hội thì chúng ta - những người đi trước cần chú trọng, quan tâm đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên đầu đời, là nền tảng trong quá trình phát triển của con người, đầu tư vào độ tuổi mầm non
là chúng ta đang đầu tư vào sự phát triển của các thế hệ sau Trẻ thơ là độ tuổi bắt đầu nhận thức được thế giới xung quanh với nhiều tình cảm, xúc cảm mạnh mẽ giữa trẻ với các nhân vật có trong các tác phẩm văn học, ở trẻ đã
có sự đồng điệu về tâm hồn với tình cảm, phát sinh nhu cầu thích nghe kể chuyện và tự kể lại truyện Các câu chuyện là xã hội thu nhỏ của cuộc sống, gợi mở ở trẻ những cảm xúc lành mạnh, các cháu dễ dàng nhận biết những mối quan hệ giữa con người với con người chung sống xung quanh Qua đó phát triển ở các cháu khả năng thẩm mĩ tốt và ngôn ngữ nghệ thuật của trẻ cũng tiến bộ rõ hơn, nhờ đó đứa trẻ sẽ nảy sinh năng lực tự hoạt động nghệ thuật khi có điều kiện, cơ hội tiếp xúc với những tác phẩm văn học
Khi chúng ta cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn học là chúng ta đã dẫn dắt, mở ra cánh cửa để trẻ chập chững những bước đầu tiên vào thế giới của các giá trị phong phú, đa dạng chứa đựng trong văn học Trẻ được tiếp xúc thường xuyên với văn học chọn lọc hoặc theo chương trình sẽ kích thích
sự nhạy cảm về khả năng sáng tạo ngôn ngữ, góp phần phát triển trí tuệ, thẩm
mĩ, tình cảm đạo đức cũng như hội họa ở trẻ
Đồng thời, phát triển ngôn ngữ cũng là một trong những mục tiêu quan trọng, giữ vai trò quyết định quá trình phát triển tâm lí trẻ trong giáo dục mầm non Bởi ngôn ngữ chính là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, hoạt động và vui
Trang 12chơi Bên cạnh đó, nó còn là phương tiện hữu hiệu nhất để giáo dục trẻ phát triển toàn diện các mặt như trí tuệ, đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa văn minh
Trẻ lứa tuổi mầm non nói chung, trẻ độ tuổi 5 - 6 nói riêng rất nhạy cảm đối với nghệ thuật ngôn từ Âm điệu, hình tượng của các bài hát ru, đồng dao, ca dao hay dân ca sớm đã đi vào tâm hồn tuổi thơ Những mẫu truyện thần thoại, cổ tích Việt Nam thường thu hút chú ý, hấp dẫn đối với trẻ Vì thế, khi trẻ được tiếp xúc với văn học nhất là hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo
đó chính là con đường phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt, nhanh và hiệu quả nhất
Thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo, cá nhân trẻ sẽ phát triển năng lực tư duy, khả năng tưởng tượng, óc sáng tạo, biết tôn trọng, yêu quý và luôn hướng tới cái đẹp Trẻ có thể phát âm rõ ràng mạch lạc, vốn từ thêm đa dạng phong phú, diễn đạt được ý kiến, suy nghĩ của mình khi nói hoặc kể về một sự vật sự việc hay sự kiến nào đấy bằng chính ngôn ngữ của trẻ Mà sơ đồ tư duy cũng là công cụ có thể giúp trẻ trình bày, diễn đạt ý tưởng, suy nghĩ sáng tạo hay tóm tắt tổng quát một tác phẩm, một bài học hoặc hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã được lĩnh hội Do đó, sơ đồ tư duy sẽ làm tăng khả năng chú ý quan sát, trí nhớ và kích thích trẻ nảy sinh ý tưởng mới lạ, sáng tạo để trẻ nhớ nhanh, nhớ sâu và nhớ lâu kiến thức vừa được học Hiện nay, sơ đồ tư duy đang được mọi người sử dụng rộng rãi không chỉ ở bậc phổ thông mà ở bậc học mầm non cũng được quan tâm ứng dụng vào giảng dạy
Từ những vấn đề trên, chúng tôi càng thấy rõ hơn sự quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ ở trẻ thông qua sử dụng sơ đồ tư duy khi tổ chức hoạt động kể chuyện sáng tạo
Chính vì thế, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu luận văn “Phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động
kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non”
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sẽ nghiên cứu để đề xuất các biện pháp nhằm giúp trẻ 5 - 6 tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non
- Khảo sát thực trạng trong trường mầm non thông qua sử dụng sơ đồ
tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi
- Đề xuất các biện pháp giúp giáo viên mầm non kết hợp sử dụng sơ đồ
tư duy khi tổ chức hoạt động kể chuyện sáng tạo cho 5 - 6 tuổi
- Thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi từ các biện pháp mà giáo viên mầm non thông qua sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt
động kể chuyện sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non
- Phạm vi nghiên cứu: Biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động
kể chuyện sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Tuổi Thơ và mầm non 1/6 Và những câu chuyện được chọn là những câu chuyện có sẵn
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận và thực tiễn
- Phương pháp khảo sát, điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp so sánh, phân tích, thống kê
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp tổng hợp
Trang 146 Giả thuyết khoa học
Nếu luận văn đưa ra các biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non khả thi và phù hợp thì trẻ sẽ phát huy tốt trí tưởng tượng, tư duy sáng tạo, khả năng tiếp thu và ghi nhớ tác phẩm lâu hơn, nhanh hơn Qua
đó, tạo cơ hội và điều kiện cho trẻ học ngôn ngữ tự nhiên, dễ dàng, vui vẻ và thoải mái hơn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung luận văn chia làm 3 chương: Chương 1: Cở lí luận và thực tiễn của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5
- 6 tuổi thông qua sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non
Chương 2: Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua
sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON THÔNG QUA SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG
HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN SÁNG TẠO 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1 Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ
Ngay từ thời cổ đại ngôn ngữ đã được con người đề cập đến tuy nhiên vào thời điểm đó người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và logic học Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của cái bên trong là “logos”, tinh thần, trí tuệ của con người Trong cuốn “bàn về phương pháp”, Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người khác với động vật Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc
chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng “có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thật sự giữa con người và con vật”
Chỉ đến giữa thế kỉ XIX khuynh hướng tâm lí học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học Người đầu tiên đề xuất hướng nghiên cứu tâm lí học ngôn ngữ
là Shteintal (1823 - 1899) Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lí cá nhân khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc
V.Vunt (1832 - 1920) là đại biểu của thuyết tâm lí liên tưởng, đã nghiên cứu lí thuyết về dạng thức bên trong của từ, về các loại ý nghĩa chuyển đổi của từ, về nghĩa hiện có của từ và câu, về mối quan hệ liên tưởng có tính ngữ đoạn
Sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, các nhà khoa học về ngôn ngữ học, tâm lí học Xô Viết (cũ) đã vận dụng quan điểm của Mác - Lênin vào
Trang 16hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ đó là: xem xét vấn đề ngôn ngữ là một hiện tượng của xã hội, thể hiện những mối quan hệ giữa con người với con người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kì lịch sử nhất định Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp và là hiện thực trực tiếp của tư duy Tiêu biểu cho quan điểm đó có thể kể đến L.X.Vưgotxki; E.D.Polivanov; K.N.Derzhavin;… họ đã nghiên cứu tính chất xã hội của ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ, sự tác động phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ, …[15]
Nhà giáo dục nổi tiếng người Nga E.I.Tikheeva khi nói về ngôn ngữ đã
khẳng định “Tiếng mẹ đẻ là cở phát triển trí tuệ và là nguồn gốc để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và nhân loại” [7]
Bởi thế giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ em là hết sức cần thiết và phải được bắt đầu rất sớm từ lứa tuổi mầm non nhất là trẻ trong giai đoạn từ 2
- 5 tuổi, vì trong giai đoạn này ngôn ngữ của trẻ có điều kiện phát triển khá nhanh về các mặt như từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm mà không có giai đoạn nào có thể sánh bằng Nếu chúng ta bỏ qua thời kì phát cảm trong ngôn ngữ này thì đứa trẻ sẽ bị thiệt thòi lớn, trẻ khó theo kịp sự phát triển của các bạn đồng trang lứa Nhà giáo dục E.I.Tikheeva cho rằng khi đứa trẻ hoạt động trong trường mẫu giáo thì phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủ yếu, là tiền
đề cho mọi sự thành công khác
Nhìn lại các công trình nghiên cứu về lí luận và thực tiễn phát triển ngôn ngữ trong giai đoạn hiện nay chúng ta có thể thấy các tác giả đã nghiên cứu theo các xu hướng:
Hướng nghiên cứu đầu tiên là nghiên cứu vai trò, chức năng của ngôn ngữ trong quá trình phát triển và giáo dục trẻ Đây là hướng nghiên cứu nổi bật được thể hiện trong các công trình khoa học của nhiều tác giả như: E.I.Tikheeva, Ph.A.Sookhina, L.X.Vưgôtxki, J.Piaget… Các tác giả đều đi
Trang 17đến nhận định rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, là công cụ để nhận biết
mở rộng về thế giới xung quanh, là phương tiện giúp trẻ chiếm lĩnh các giá trị đạo đức, các chuẩn mực xã hội Đặc biệt các tác giả đồng thời đều nhấn mạnh đến vai trò của ngôn ngữ trong quá trình phát triển tư duy cho trẻ [15]
Hướng nghiên cứu thứ hai được các tác giả quan tâm là nghiên cứu đặc điểm phát trển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học Hướng nghiên cứu này được thể hiện trong công trình nghiên cứu của các tác giả Ph.A.Sookhina, L.P.Phêdorenko, E.I.Tikheeva,… Trong công trình nghiên cứu của mình những nhà giáo dục đã nghiên cứu về vốn từ, ngữ pháp, ngữ âm và phát triển ngôn ngữ như: đặc điểm ngữ pháp, ngữ âm, đặc điểm phát triển vốn từ, phát triển lời nói mạch lạc, … cho từng lứa tuổi khác nhau Trên cơ sở nghiên cứu
đó họ đã đưa ra một số qui luật phát triển ngôn ngữ của các cháu mà đến nay vẫn còn ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc lựa chọn phương pháp, biện pháp, nội dung khi dạy trẻ tiếng mẹ đẻ trước tuổi đi học
Hướng nghiên cứu thứ ba là nghiên cứu các điều kiện đảm bảo cho quá trình phát triển ngôn ngữ của trẻ Hướng nghiên cứu này được thể hiện trong công trình của các nhà giáo dục Ph.A.Sookhina, Kak-hainodich, E.I.Tikheeva, Gloeb, Helen, …Dựa vào đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, các nhà giáo dục đã nghiên cứu các điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển ngôn ngữ: môi trường ngôn ngữ, bộ máy phát âm hoàn chỉnh đặc biệt là ngôn ngữ của người lớn xung quanh trẻ, …từ đó họ xây dựng phương pháp, biện pháp, nội dung và những bài tập phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước độ tuổi đi học Hướng nghiên cứu này đang diễn ra mạnh mẽ ở các nước trên thế giới, đặc biệt là trong những năm trở lại đây
1.1.1.2 Sơ đồ tư duy
Tony Buzan sinh năm 1942, Anh, chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map
Trang 18Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (thế kỉ 20), như
là một cách để giúp học sinh “ghi lại bài giảng” mà chỉ dùng các từ then chốt
và các hình ảnh Cách ghi chép này sẽ nhanh hơn, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn Đến giữa thập niên 70 (thế kỷ 20), nó đã được truyền bá tới nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện giáo dục Phương pháp tư duy của ông được sử dụng và dạy ở khoảng 500 công ty, tập đoàn hàng đầu thế giới; có hơn 250 triệu người ứng dụng, sử dụng phương pháp Mind Map của ông; khoảng hơn
3 tỷ người đã từng xem và nghe chương trình của Tony Buzan (ông đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện về lĩnh vực nghiên cứu của mình)
Sử dụng trong dạy học
Khi vận dụng sơ đồ tư duy vào trong quá trình dạy học, giáo viên sẽ giúp người học rèn thói quen để bản thân tự ghi chép, khái quát một chủ đề hay tổng kết một vấn đề đã được học, đã được đọc theo cách tiếp thu của mình dưới dạng sơ đồ tư duy
Sau khi người học là quen với một vài dạng sơ đồ tư duy mẫu, có sẵn thì thầy cô giáo đưa ra một chủ đề chính đặt chủ đề này ở vị trí trung tâm bảng (hoặc vào trang vở, tờ giấy/ bìa) rồi đặt hệ thống câu hỏi hướng dẫn, gợi ý cho người học vẽ nối tiếp những nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3, cấp 4, … mỗi bài học được tự vẽ kiến thức trọng tâm trên một trang giấy, giúp người học dễ ôn tập,
dễ xem lại kiến thức khi cần
Học sinh vận dụng
Bản thân người học nếu thường xuyên tự lập, sử dụng sơ đồ tư duy sẽ phát triển khả năng tư duy sáng tạo, khiếu thẩm mĩ do việc thiết kế nó phải bố cục màu sắc, các đường nét, các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ý tưởng khoa
học, súc tích… Và đó chính là để các bạn chúng ta “Học cách học”: Chúng ta
được học để tích lũy kiến thức, nhưng đã bao giờ chúng ta học cách để lĩnh hội những kiến thức đó một cách hiệu quả chưa?
Trang 19Sơ đồ tư duy là gì?
Sơ đồ tư duy hoạt động theo nguyên tắc liên tưởng “ý này gợi ý kia”
của bộ não Các bạn có thể tạo một sơ đồ tư duy ở dạng đơn giản theo nguyên tắc phát triển ý: từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh lớn, từ mỗi nhánh lớn lại tỏa
ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận (Cách vẽ cũng rất giản đơn
và còn rất nhiều tiện ích khác khiến cho sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phổ biến toàn cầu)
Ví dụ: Bạn muốn lập sơ đồ tư duy cho một tuần làm việc, hãy vẽ chủ đề
trung tâm tuần sau vào giữa trang giấy trắng Từ chủ đề bạn vẽ 7 nhánh lớn là thứ 2, thứ 3…cho đến chủ nhật, mỗi nhánh một màu Rồi từ mỗi thứ, bạn lại
vẽ các nhánh nhỏ là các công việc bạn định làm trong thứ đó, mỗi công việc lại triển khai ra các ý chi tiết hơn như bạn định làm việc đó với ai (Who), ở đâu (Where), bao giờ (When), bằng cách nào (How)
Cứ như vậy bạn sẽ có được trên cùng một trang giấy các công việc bạn định làm trong một tuần, và cái hay của sơ đồ tư duy ở chỗ là nó giúp cho bạn
có cái nhìn tổng thể, không bỏ sót các ý tưởng; từ đó bạn có thể dễ dàng đánh
số thứ tự ưu tiên các công việc trong tuần để sắp xếp và quản lý thời gian hợp
lí và hiệu quả hơn so với một quyển sổ liệt kê các công việc thông thường
Sử dụng bản đồ tư duy là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng được liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ, nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn
Tổ chức dạy học với sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy được mệnh danh “công cụ vạn năng cho bộ não”, là phương pháp ghi chú đầy sáng tạo, hiện đang được hàng trăm triệu người trên thế giới sử dụng, đã và đang đem lại những hiệu quả thực sự đáng kinh ngạc, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và kinh doanh Vận dụng sơ đồ tư duy là một phương thức cực kỳ thành công để ghi chú Các sơ đồ tư duy không chỉ cho
Trang 20thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu trúc tổng thể của một chủ đề và mức
độ quan trọng của những phần riêng lẻ trong đó đối với nhau Nó giúp liên kết các ý tưởng và tạo những kết nối với các ý khác
Sử dụng sơ đồ tư duy sẽ giúp chúng ta tiết kiệm thời gian, là dụng cụ ghi chép bài học tối ưu vì nó thường dùng các từ khóa để diễn đạt ý chính Nó cũng giúp việc ghi nhớ và phát triển nội dung khi vận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ (sự liên tưởng, sự hình dung làm nổi bật sự vật, sự việc, …) Quan trọng hơn, nó kích thích hoạt động của cả hai bán cầu não cùng một lúc, giúp cho việc liên tưởng, ghi nhớ và sáng tạo đạt hiệu quả hơn Nếu chúng ta
sử dụng sơ đồ tư duy trong khi giảng dạy và học tập đúng cách sẽ giúp giải phóng những năng lực tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, chắc chắn sẽ tạo ra những
sự chuyển biến tích cực từ người dạy và người học
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ
Ở Việt Nam những công trình nghiên cứu của các chuyên gia giáo dục
về phát triển ngôn ngữ rất đa dạng, phong phú: Các nhà giáo dục đã nghiên cứu quá trình phát triển của trẻ theo từng giai đoạn khác nhau 12 - 24 tháng,
24 - 36 tháng, 1 - 3 tuổi, 3 - 4 tuổi, 3 - 5 tuổi, 4 - 5 tuổi, … như tác giả Lưu Thị Lan (1986), Bùi Việt Anh (1989), …
Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ (vốn từ, ngữ pháp, hiểu từ, ngôn ngữ mạch lạc) của trẻ em các độ tuổi khác nhau có thể nói đến công trình nghiên cứu của những tác giả sau: Lưu Thị Lan (1996) [19], Dương Thị Diệu Hoa [13], Nguyễn Thị Mai (1998), Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989), Đỗ Thị Xuyến (2000), Nguyễn Thị Oanh (2000), Bùi Thị Thanh (2005), …
Nghiên cứu đề ra các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Nhà trẻ - Mẫu giáo qua các công trình nghiên cứu của những tác giả trong nước như
Trang 21Nguyễn Xuân Khoa [17], Trần Nguyễn Nguyên Hân [12], Trần Thị Mai – Đinh Hồng Thái [26], Nguyễn Thị Băng Tâm (2000), Nguyễn Thị Yến (2004), Nguyễn Thị Hằng (2008), …
Tác giả Lưu Thị Lan (1989), Võ Phan Thu Hương (2006), … đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ (sức khỏe, giáo dục gia đình, môi trường sống, …)
Ngày nay, việc sử dụng ngôn ngữ cho trẻ càng được xã hội quan tâm hơn nhất là việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong các trường mầm non Vì thế ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đi sâu vào nghiên cứu quá trình phát triển lời nói của trẻ 5 - 6 tuổi Đây là độ tuổi chuyển tiếp giữa trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị vào học lớp 1, độ tuổi rất quan trọng về tất cả các mặt mà quan trọng nhất là tiếng mẹ đẻ của trẻ
Tác phẩm “Phương phát phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tác
giả Nguyễn Xuân Khoa [17] cũng đề cập rất nhiều về các mặt của quá trình phát triển ngôn ngữ, đồng thời ông cũng đưa ra các phương pháp, biện pháp giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ hay: dạy trẻ nghe và phát âm đúng, phương pháp dạy trẻ cách đặt câu hỏi, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc, phát triển từ ngữ, chuẩn bị để trẻ học đọc, học viết, …
Nhóm tác giả Nguyễn Kim Đức, Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội/2005 trong phẩm “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi” thì xoáy sâu vào việc tìm hiểu các vấn đề luyện phát
âm cho trẻ các lứa tuổi [28]
Tác phẩm “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” do tác giả Đinh
Hồng Thái biên soạn cũng đề cập đến những vấn đề chung dạy nói cho trẻ trong ba năm đầu, dạy nói cho trẻ tuổi mẫu giáo, chuẩn bị dạy trẻ nói tiếng Việt ở trường phổ thông [31]
Trang 22Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phương Nga “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” bà cũng đã đưa ra các mặt phát
triển của ngôn ngữ giống như tác giả Nguyễn Xuân Khoa tuy nhiên công trình này được bổ sung nhiều tài liệu và hướng nghiên cứu mới ở lĩnh vực giúp trẻ phát triển vốn từ Công trình nghiên cứu đã xác định nhiệm vụ cần phát triển: dạy trẻ nghe và phát âm đúng, nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc, phát triển vốn từ, chuẩn bị cho trẻ học ngôn ngữ viết, … [27]
Nói chung các vấn đề về phát triển ngôn ngữ của trẻ được các nhà giáo dục nghiên cứu ở nhiều lứa tuổi, nhiều lĩnh vực khác nhau Có nghiên cứu về cấu trúc đặc biệt của ngôn ngữ, có nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ, một số tác giả khác lại nghiên cứu những biện pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, … Những nghiên cứu trên đều chứng tỏ sử dụng ngôn ngữ là một điều kiện vô cùng quan trọng để giúp trẻ tiếp xúc với môi trường mới lạ ở các cấp bậc học, giúp trẻ lĩnh hội được những kiến thức mang tính chất khoa học của các môn học ở trường mầm non,… Do đó, vấn đề nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ mầm non về ngữ pháp, ngữ điệu, vốn từ, ngôn ngữ mạch lạc, ngữ âm, … là hết sức cần thiết Tuy nhiên chưa có nhà nghiên cứu nào đề cập đến phát triển ngôn ngữ thông qua
sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo trong trường mầm non Đây chính là khoảng trống bỏ ngỏ mà chúng tôi đi vào Vì thế, chúng tôi lựa
chọn đề tài “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non” với mong muốn
hoàn thiện hơn nữa những vấn đề mà các tác giả trước đây đã nghiên cứu
1.1.2.2 Sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, là bản đồ các kế hoạch trong ngày Mỗi nhánh chính được phát triển từ hình ảnh trung tâm có liên quan tới các việc cần phải làm trong ngày
Trang 23Ví dụ: Đi siêu thị mua thức ăn, đi thăm ông bà vào cuối tuần, đi học vẽ,
đi bơi, …
Sơ đồ tư duy là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của bạn rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó Bản chất của sơ đồ tư duy chính là sự sơ đồ hóa mạch tư duy logic Chính vì điều này tạo sự khác biệt rõ nét giữa sơ đồ tư duy với các loại sơ đồ thông thường khác
Tất cả các sơ đồ tư duy đều giống nhau ở một số điểm Chúng đều sử dụng màu sắc, có một cấu trúc cơ bản được phát triển rộng ra từ trung tâm, chúng dùng các đường kẻ, các biểu tượng, từ ngữ và hình ảnh theo một bộ các quy tắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và dễ hiểu Với một sơ đồ tư duy, một danh sách dài những thông tin đơn điệu có thể biến thành một bản đồ đầy màu sắc, sinh động, dễ nhớ, được tổ chức chặt chẽ Nó kết hợp nhịp nhàng với cơ chế hoạt động tự nhiên của não bộ Sử dụng sơ đồ tư duy không yêu cầu về tỉ lệ,
có cách thức xây dựng nhất định, linh hoạt trong khi thiết kế đường nét, dùng hình ảnh, màu sắc, từ ngữ, cách bố trí, … người dùng nó có thể thêm hoặc bớt các nhánh không cần thiết, thể hiện độ đậm nhạt màu sắc, kích cỡ to nhỏ lớn
bé, … miễn sao phù hợp với từng đối tượng, độ tuổi và khả năng tư duy khác nhau của mọi người
Ngày nay, rất nhiều người đều biết khi đề cập đến sơ đồ tư duy và họ vận dụng chúng vào công việc của chính mình nhằm giúp công việc cũng như cuộc sống thú vị và đơn giản hơn Nó góp phần rất lớn trong việc giúp giảng viên, học sinh, trẻ hệ thống hóa kiến thức, tăng cường khả năng tư duy, ghi nhớ, phân tích, tổng hợp và giải quyết vấn đề, họ sẽ nhớ nhanh nhớ lâu, hiểu sâu những kiến thức trọng tâm, liên kết liên tưởng hệ thống kiến thức có liên quan với nhau và quan trọng là có thể nhớ kiến thức ngay tại lớp, tự tin, sáng tạo và tập trung được sức mạnh tập thể Do đó, sử dụng sơ đồ tư duy không
Trang 24chỉ giúp các cháu nhớ lại nội dung các câu chuyện mà còn giúp trẻ phát triển
tư duy sáng tạo khi các cháu kể lại câu chuyện theo ngôn ngữ riêng của mình Với bất kì vận dụng nào khi sử dụng sơ đồ tư duy thì nó luôn mang lại cho chúng ta những lợi ích thiết thực, chính đáng để kiểm soát được những công việc đã đề ra
1.2 Các khái niệm về kể chuyện sáng tạo
1.2.1 Khái niệm kể chuyện
Câu chuyện kể cho trẻ nghe phải có ý nghĩa giáo dục Kể chuyện là kể lại một chuỗi các sự vật, sự việc, có cốt truyện, có nhân vật và các sự kiện liên quan đến những nhân vật đó
1.2.2 Khái niệm sáng tạo
Sáng tạo là một ý tưởng mới, phù hợp với thời đại và không gian sinh ra
nó, và ý tưởng đó mang lại giá trị Là sự sắp xếp mọi thứ đã có sẳn theo một trật tự mới Là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụ thuộc vào những cái đã có Là trong quá trình làm việc luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi và học hỏi để tìm ra cái mới, cách giải quyết tốt nhất để đạt được hiệu quả tốt nhất Hay chỉ đơn giản là dám làm ra một cái gì đó mới mẻ, táo bạo, khác thường nhưng vẫn rất hữu dụng Là nghĩ ra một ý tưởng hoặc một sản phẩm mới hay cải biên chúng
Sáng tạo là với bất cứ cái gì, ở bất cứ lĩnh vực nào của thế giới cả vật chất lẫn tinh thần Là cách bạn tạo ra sự khác biệt với thứ bạn đã có trước với cái hình thành sau giúp tăng năng suất, tiết kiệm hay thân thiện với môi
Trang 25trường, tính ích lợi có thể mang đến cho gia đình, bản thân, cộng đồng
1.2.3 Khái niệm kể chuyện sáng tạo
1.2.3.1 Khái niệm:
Sáng tạo trong khi diễn đạt ngôn ngữ kể chuyện là giữ nguyên nội dung cốt truyện, làm đa dạng, phong phú cốt truyện giúp cho câu chuyện thêm hấp dẫn, sinh động nhưng không làm thay đổi nội dung tác phẩm
Sáng tạo không có nghĩa là thay đổi tạo ra một câu chuyện khác mà phải căn cứ vào các yếu tố động, biến đổi linh hoạt trong truyện để sáng tạo khi kể chuyện nhằm làm cho trẻ yêu thích các câu chuyện và phát triển ngôn ngữ ở trẻ
Đồng thời cũng giáo dục cho trẻ nhân cách đạo đức, phát triển trí nhớ, nâng cao trí tuệ, tư duy, phát triển trí tưởng tượng sáng tạo và mở rộng nhận
thức ở trẻ về nét đẹp truyền thống của dân tộc “Lòng nhân ái, thủy chung; tính công bằng, yêu lẽ phải; tính cần cù chịu khó; yêu nước, thương nòi; tính
tự tin và lạc quan yêu đời”
Kể chuyện sáng tạo là sự thể hiện bằng ngôn ngữ của bản thân mỗi trẻ về các câu chuyện, sự vật, sự việc, bức tranh, hiện tượng diễn ra xung quanh mà đứa trẻ nghe được, thấy được hoặc đã trải nghiệm
1.2.3.2 Các kiểu kể chuyện sáng tạo
- Kể chuyện qua tranh minh họa, diễn đạt bằng cử chỉ, điệu bộ và giọng
Trang 26- Sáng tạo về tên truyện
- Sắp xếp tranh theo trình tự cốt truyện
- Kể chuyện sáng tạo với đồ chơi, theo kinh nghiệm
- Ứng dụng công nghệ thông tin
- Thay đổi nhiều hình thức khác nhau để tổ chức, gây hứng thú vào bài
- Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với từng tuyến nhân vật khi kết hợp kể chuyện sáng tạo
- Phối hợp cùng gia đình trẻ giáo dục, tuyên truyền về nội dung tác phẩm
1.3 Vấn đề về sơ đồ tư duy
1.3.1 Khái niệm
“Sơ đồ tư duy (Mind map), còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy, là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một kiến thức bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời đường nét, màu sắc, hình ảnh, chữ viết với sự tư duy tích cực” [34; tr.22]
Sơ đồ tư duy là phương pháp giúp chúng ta tự động liên kết, móc nối bộ nhớ vào mỗi mẫu thông tin ở trong trí não của bản thân Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, khái quát, tổng hợp hoặc phân tích các sự vật sự việc, sự kiện thành dạng lược đồ phân nhánh [34; tr.34]
Trang 271.3.2 Cấu tạo của sơ đồ tư duy
Hình ảnh trung tâm hay một ý tưởng đặt ở giữa, sau đó nối chúng lại từ cách nhánh lớn diễn đạt những vấn đề có liên quan với nhau Từ các nhánh lớn này sẽ tiếp tục phân nhánh ra nhiều nhánh nhỏ - nhỏ hơn để là rõ chủ đề, vấn đề ở mức độ sâu và rộng hơn Sự phân nhánh cứ diễn ra liên tiếp với các hình ảnh và kiến thức kết nối chặt chẽ với nhau Sự kết nối này tạo thành “bức tranh tổng thể” mô tả, thể hiện rõ nét ý tưởng chính, trung tâm của người thiết
kế ra nó rõ ràng và đầy đủ nhất
1.3.3 Các bước lập sơ đồ tư duy
Bước 1: Xác định từ khóa
Dùng những từ khóa sẽ giúp chúng ta tóm tắt, khái quát hết nội dung
mà mình muốn ghi nhớ, thể hiện Nó là một yếu tố không thể thiếu khi sử dụng sơ đồ tư duy
Bước 2: Vẽ chủ đề trung tâm
Dùng một hình ảnh hay bức tranh cho ý tưởng trung tâm Bắt đầu từ trung tâm của một tờ giấy trắng và kéo sang một bên, sử dụng trí tưởng tượng của mình để làm cho hình ảnh trung tâm thú vị hơn sau đó phát triển ra các ý khác xung quanh nó Chúng ta có thể tự do sử dụng nhiều màu sắc khác nhau bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc sẽ mang đến những rung động cộng hưởng, sức sống và năng lượng vô tận cho
tư duy sáng tạo và nó cũng rất vui mắt
Bước 3: Vẽ nhánh cấp một
Nối các nhánh chính tới hình ảnh trung tâm, các nhánh này nên viết bằng chữ in hoa để làm nổi bật chúng Nhánh cấp một này nên được vẽ theo hướng chéo góc không nên vẽ ngang để khi vẽ các nhánh cấp hai, cấp ba chúng ta vẽ tỏa ra sẽ dễ dàng hơn nhưng cũng cần chú ý đến cách chia các góc sao cho cân đối, đủ chỗ cho các nhánh sau
Trang 28 Bước 4: Vẽ nhánh cấp hai, cấp ba
Nối các nhánh cấp hai, cấp ba (nhánh chi tiết cho mỗi ý) với nhánh cấp một, liên tiếp phân nhánh cho đến khi có được sơ đồ chi tiết để hiểu và nhớ nhiều thứ dễ dàng nhất Ở đây nên vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng để nhằm lôi cuốn, thu hút sự chú ý của mắt, tạo cho sơ đồ mềm mại, uyển chuyển và nhớ lâu hơn
Bước 5: Sử dụng từ khóa trong mỗi dòng
Sử dụng một từ khóa trong mỗi dòng bởi vì các từ khóa mang lại cho
sơ đồ sức mạnh và khả năng linh hoạt cao Mỗi từ hay hình ảnh đơn lẻ sẽ mang đến những sự liên tưởng và liên kết của nó diện mạo đặc biệt, có khả năng khơi dậy các ý tưởng, suy nghĩ mới Tất cả các nhánh trong một ý thì nên tỏa ta từ một điểm và cùng một màu sắc
Bước 6: Dùng hình ảnh xuyên suốt
Bởi vì giống như hình ảnh trung tâm, mỗi hình ảnh cũng có giá trị của
một ngàn từ Vì vậy nếu chúng ta chỉ có mười hình ảnh trong sơ đồ tư duy của mình thì nó đã ngang bằng với mười ngàn từ của những lời chú thích
Bước 7: Hoàn thiện sơ đồ tư duy
Trong bước cuối cùng này, chúng ta có thể vẽ bổ sung thêm hình ảnh,
sử dụng màu sắc để là nổi bật các ý quan trọng, các liên kết cần thiết để hoàn thành sơ đồ tư duy Chúng ta cứ vẽ theo những gì mình liên tưởng, suy nghĩ, đừng sợ mình vẽ xấu như vậy sẽ giúp chúng ta ghi nhớ lâu hơn
1.3.4 Lưu ý khi vẽ sơ đồ tư duy
- Luôn bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề, đối tượng Bố trí thông tin tỏa đều xung quanh hình ảnh trung tâm Nó sẽ giúp chúng ta tập trung, xoáy sâu vào chủ đề trung tâm và gây hưng phấn cho bộ não
- Sử dụng giấy ruki hoặc giấy Ao khi tạo ra sơ đồ tư duy, dùng bút chì khi vẽ để dễ dàng chỉnh sửa, bổ sung các ý tưởng chưa thích hợp và kết hợp
Trang 29màu sắc bắt mắt kích thích, làm nổi bật các ý tưởng chính
- Luôn lựa chọn, sử dụng đa dạng màu sắc để phân loại phân nhóm thông tin, gây sự hấp dẫn cho người theo dõi đồng thời giúp chúng ta tăng cường phát triển trí nhớ, kích thích thị giác, vỏ não rung động tốt hơn Những đường
kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì cần phải bôi dày và đậm hơn để giúp chúng ta ghi nhớ thông tin lâu hơn Khi vẽ bổ sung hoặc thêm bớt nhánh thì trình bày sao cho dễ nhìn tránh tẩy xóa nhiều và các nhánh tỏa ra không cân bằng, cân đối
1.4 Đặc điểm tâm lí, sinh lí và phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi
1.4.1 Đặc điểm tâm lí, sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi
Tư duy trực quan hình tượng ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển rất mạnh, đây là điều kiện thuận lợi giúp trẻ độ tuổi này tiếp thu, cảm thụ tốt các hình tượng về nghệ thuật có trong những tác phẩm văn học Thông qua quá trình lĩnh hội và cảm thụ các tác phẩm, đứa trẻ sẽ tích lũy được nhiều vốn biểu tượng, ham học hỏi, khám phá, tìm tòi hoạt động và khả năng nhận thức tăng rõ nét hơn
Giai đoạn 5 - 6 tuổi là giai đoạn trẻ phát triển và lĩnh hội hai hình thức cơ bản của ngôn ngữ: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ thực hành và thông hiểu được điều người lớn nói Chính đặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ thích nghe kể chuyện, lĩnh hội và tích lũy những ngôn ngữ thể hiện trong câu chuyện và giúp chúng diễn đạt lại câu chuyện bằng chính ngôn ngữ của mình
Do đó, đề xuất các biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi
sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non xuất phát từ vấn đề này
Trẻ 5 - 6 tuổi là thời kì hình thành một kiểu tư duy mới - đó là tư duy trực quan sơ đồ góp phần giúp trẻ mở rộng các thuộc tính của sự vật, hiện tượng Đây là một bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển tư duy ở trẻ, là bước chuyển tiếp từ tính hình tượng sang tính trừu tượng Ở tuổi này do sự
Trang 30phát triển về thể lực, cơ bắp và sự khéo léo của vận động, trẻ đã có khả năng tạo nên các đường nét với tính chất khác nhau khá phức tạp Cùng với sự tăng lên ngày càng phong phú của các kinh nghiệm nhận thức, các ấn tượng, xúc cảm, tình cảm, trẻ bắt đầu nhận ra được sự hạn chế và vẻ hấp dẫn của các hình
vẽ khái quát với những đường nét đơn điệu, sơ lược
Đặc biệt trẻ ở tuổi này khá linh hoạt trong việc biến đổi, phối hợp tính chất của các đường nét và hình thể để thể hiện hình vẽ độc đáo, rất riêng của mỗi hình tượng, sự việc, sự vật, sự kiện cụ thể Trong lứa tuổi này rất nhiều
bé có vốn hiểu biết khá phong phú về cảm giác màu sắc, đã có khả năng độc lập quan sát để thấy được sự linh hoạt trong sự thay đổi màu sắc của các sự vật hiện tượng trong hiện thực và làm quen các quá trình tri giác với một số cách phối hợp màu sắc Tính tích cực quan sát, nhận thức là điều kiện giúp trẻ
sử dụng màu sắc một cách sinh động để thể hiện một cách sáng tạo nội dung tranh vẽ, qua đó mà bộc lộ thể hiện tình cảm, xúc cảm, suy nghĩ của bản thân trẻ qua các câu chuyện mà trẻ diễn đạt, mô tả trên sơ đồ
Cho trẻ kể chuyện sáng tạo góp phần phát triển toàn diện nhân cách của mình, vì trẻ tiếp nhận, lĩnh hội, thuộc truyện rất nhanh nhất là lời thoại đối đáp giữa các nhân vật trong tác phẩm Trẻ hòa mình, liên tưởng, đặt bản thân vào nhân vật trong truyện và bộc lộ cảm xúc rõ rệt giữa trẻ với thế giới nghệ thuật và hiện thực cuộc sống xung quanh trẻ Từ đó, trẻ tích lũy được nhiều bài học làm người bổ ích đóng góp lớn trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ lứa tuổi mầm non
Vì thế, khi người giáo viên mầm non dạy trẻ kể chuyện sáng tạo là cô đã giúp trẻ phát triển về mặt ngôn ngữ, trí tưởng tượng và tư duy sáng tạo ở trẻ
1.4.2 Đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi
1.4.2.1 Đặc điểm phát triển vốn từ
Vốn từ của trẻ mẫu giáo luôn phản ánh những đặc điểm đặc trưng của
Trang 31các sự vật, hiện tượng Trẻ càng lớn thì sẽ tích lũy càng nhiều vốn từ để diễn đạt, thể hiện rõ về đặc điểm các sự vật, hiện tượng chính xác bằng từ ngữ của mình, kết hợp tư duy trực quan hành động giải thích cho việc trẻ 3 - 4 tuổi, trẻ 4-5 tuổi chủ yếu có vốn từ biểu danh Tư duy logic và tư duy trừu tượng bắt đầu xuất hiện khi trẻ 5 tuổi, nó cho phép đứa trẻ lĩnh hội, tiếp nhận nhiều khái niệm: đồ dùng gia đình, động vật, thực vật, gia súc, gia cầm, giao thông, … khi vốn từ phong phú, chính xác còn giúp cho trẻ dễ phát triển khả năng định hướng trong không gian Ở trẻ đã phát triển ba loại vốn từ sau:
- Vốn từ cơ bản với tần số xuất hiện cao nhất trong quá trình giao tiếp của trẻ Do đó dạy trẻ phát triển ngôn ngữ là tập trung phát triển vốn từ cơ bản
ở trẻ vì chỉ những thời điểm đó đứa trẻ mới giao tiếp tốt
- Vốn từ chủ động là chủ thể hoạt động tích cực trong khi giao tiếp, ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo vốn từ chủ động ít hơn vốn từ thụ động
- Vốn từ thụ động là vốn từ khi trẻ sử dụng chúng ta có thể hiểu nhưng chưa biết cách ứng biến trong khi giao tiếp Vì thế ở trường mầm non người giáo viên phải linh hoạt chuyển vốn từ thụ động sang vốn từ chủ động cho trẻ
Cấu trúc hạt nhân C - V là mô hình câu chủ yếu khi trẻ thể hiện lời nói Chủ ngữ luôn bắt đầu là danh từ, trẻ rất ít khi sử dụng một loại từ khác Còn
vị ngữ phổ biến là động từ, danh từ cũng ít xuất hiện, cũng có trường hợp vị ngữ là tính từ
Trang 32Câu nói trẻ dùng đã chính xác và dài hơn Trẻ ít sử dụng câu cụt hơn Tuy nhiên trong một số trường hợp trẻ dùng từ trong câu vẫn chưa thật chính xác Trẻ đã có khả năng kể một câu chuyện theo trình tự, logic và có thể kể lại một câu chuyện dài
1.4.2.3 Phát triển lời nói mạch lạc
Bước sang độ tuổi thứ 6, trẻ có thể tự mình đặt ra các câu chuyện miêu tả hay theo một chủ đề chủ điểm nào đó cho trước theo tuần tự tương đối, rõ ràng nhưng vẫn cần đến những mẫu lời nói của cô Thời điểm này, ở trẻ đã phát triển kĩ năng nhận xét lời nói và cả những câu trẻ lời từ các bạn, trẻ có thể tự bổ sung, thêm bớt hay chỉnh sửa những câu trả lời đó Và lúc này lời nói mạch lạc ở trẻ đã đạt đến trình độ khá cao
1.4.2.4 Vận dụng được các câu, từ phức tạp
Trẻ 5 - 6 tuổi đã sử dụng tốt những loại câu cảm thán, nghi vấn, tường thuật để miêu tả các sự vật hiện tượng, sự việc, con người, … để mở rộng nhận thức về thế giới xung quanh, trẻ không ngừng đưa ra hàng loạt câu hỏi với nhiều câu chữ đa dạng, dùng từ nối, từ đệm để làm phong phú thêm vốn
từ của trẻ (tăng khoảng 1500 vốn từ), trẻ có thể phân loại phân biệt nhiều màu sắc, hình thể, thích đặt câu hỏi “vì sao”, “tại sao”, “ai đó”, … đồng thời trẻ cũng sử dụng ngôn ngữ nói để bày tỏ cảm xúc, ý kiến, suy nghĩ hay nhu cầu của mình cho mọi người hiểu
Ví dụ: Con nhớ bà ngoại rất nhiều và mẹ con cũng nhớ bà ngoại nhiều
hơn nữa
Trẻ còn biết sử dụng lời nói để thảo luận, hội ý, trao đổi, chỉ dẫn, hợp tác cùng bạn chơi trong khi tham gia các hoạt động học tập, vui chơi hay kể chuyện về một sự việc, sự kiện, sự vật hiện tượng nào đó để người nghe hiểu
rõ về chúng
Trang 331.4.2.5 Sử dụng và diễn giải các biểu tượng, kí hiệu
Hầu hết trẻ ở độ tuổi này rất nghiêm túc muốn học hỏi và một số có thể học các cơ chế đọc viết nhanh hơn những đứa trẻ khác Chúng thích tự mình đọc menu và gọi món, diễn giải các biển báo giao thông, tự viết danh sách các món đồ cần mua và tự viết tên lên nhãn tập hoặc các bức tranh do chúng vẽ Chúng có thể hình dung ra trong đầu những vấn đề đơn giản và có thể nắm bắt khái niệm cộng trừ, dù có thể chúng phải xòe tay ra đếm trước khi trả lời
1.4.2.6 Trẻ đã biết lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp
Khi sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, lúc này trẻ đã biết kiên nhẫn chờ đến lượt trong giao tiếp, trò chuyện, thảo luận (không nói leo, không ngắt lời người khác); bé cũng biết hỏi lại hoặc có những biểu hiện qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt khi không hiểu người khác nói Thậm chí bé đã biết cảm ơn, xin lỗi, xin phép, thưa, vâng ạ kết hợp nét mặt, cử chỉ, điệu bộ đúng ngữ cảnh hoàn cảnh Đôi lúc, bé sẽ làm bạn ngạc nhiên bởi cái cách cư xử như một người lớn thực sự của bé
1.5 Thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng
sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non
1.5.1 Phát triển ngôn ngữ trong chương trình giáo dục mầm non hiện nay cho trẻ 5 - 6 tuổi
Mầm non là bậc học nền tảng đầu tiên trong hệ thống giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng và phải phối kết hợp chặt chẽ cùng gia đình trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Bậc học này sẽ giúp trẻ phát triển, bộc lộ các khả năng vốn có của bản thân, trẻ có nhiều cơ hội, trải nghiệm trong cuộc sống thực tế với nhiều điều may mắn chào đón Qua đó, trẻ sẽ phát triển toàn diện, hài hòa, cân đối tất cả các mặt, là tiền đề xây dựng cho mỗi trẻ một nền tảng nhân cách vững chắc vừa mềm mại, vừa khỏe khoắn, tràn đầy sức sống cả về thể chất lẫn tinh thần
Trang 34Theo chương trình giáo dục mầm non hiện nay tại các trường mầm non tập trung phát triển cho trẻ những kĩ năng: nghe, nói, tiền đọc và tiền viết Chính vì vậy, chúng ta cần xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, an toàn, thích hợp cho từng độ tuổi Xây dựng môi trường ngôn ngữ tại lớp học với đầy đủ về cơ sở vật chất hiện đại bên cạnh đó có các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu đa dạng, phong phú, hấp dẫn trẻ Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ nhanh và hiệu quả tốt nhất thì trong các trường mầm non nên đầu tư xây dựng thư viện Bên cạnh đó cần tạo ra cơ hội, môi trường hoạt động để trẻ được trải nghiệm, giao tiếp, kết nối sự trao đổi thân thiện giữa trẻ với những người xung quanh Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa khuyến khích trẻ tích cực tham gia hoạt động cùng nhau có cả cô giáo
Để tạo ra môi trường phát triển ngôn ngữ hiệu quả cần phải tạo ra:
- Vận dụng ngôn ngữ khi trẻ hoạt động trong phòng, trong lớp
Trang trí, sắp xếp phòng, lớp các góc chơi đảm bảo thẩm mĩ, thân thiện,
an toàn, thích hợp gắn liền với nội dung chủ đề giáo dục Có các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu đa dạng, phong phú, hấp dẫn trẻ, tạo môi trường ngôn ngữ để trẻ tương tác và phát triển các kĩ năng
Kĩ năng đọc sớm: Nhận biết các kí hiệu, chữ viết có ý nghĩa; quy luật
đọc sách (từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, từ trang đầu đến trang cuối);
sự liên tục của câu chuyện
Kĩ năng vận động tinh: Mở sách, lật từng trang, chỉ theo tranh hoặc dòng
chữ
Kĩ năng giao tiếp: Lắng nghe cô hoặc bạn kể chuyện; bắt chước những
từ hoặc câu nói trong truyện; tự kể lại truyện; trả lời những câu hỏi theo truyện; học từ mới
Trang 35Kĩ năng nhận thức: Nhớ cốt truyện và tự kể lại; dự đoán diễn biến sẽ xảy
ra tiếp theo của câu chuyện; giải quyết vấn đề nảy sinh trong câu chuyện; liên
hệ câu chuyện với những kinh nghiệm khác
Tùy vào vị trí của lớp mà giáo viên bố trí góc thư viện gần nơi có nhiều ánh sáng, yên tĩnh, ít người qua lại Ở đó có thảm, đệm sẽ làm cho góc này trở nên ấm cúng hơn và mời gọi hơn với trẻ Trẻ có thể theo đuổi các hoạt động đọc viết do trẻ tự khởi xướng hoặc tự thực hiện các kĩ năng phát triển của trẻ Hình thành góc đọc hấp dẫn nơi mà có những cuốn sách yêu thích của trẻ luôn có sẵn Khuyến khích trẻ mang những cuốn sách hay từ nhà đến lớp
để cùng chia sẻ
Đặt một cái radio ở góc đọc, có những chiếc băng đọc chuyện và những cuốn truyện tương ứng trong góc này Có thêm những chiếc bút chì màu và bút màu với giấy cho trẻ tự do viết một mình
Hãy làm cho lớp học của trẻ tràn ngập sách Để sách ở những nơi vừa tầm với của trẻ Có những cuốn sách mà cả lớp có thể đọc cùng nhau, những cuốn sách mà trẻ “có thể đọc được” và những cuốn tạp chí, sách nhiều tranh ảnh
Ngoài ra, với sự sáng tạo của giáo viên và của trẻ cùng làm những đồ dùng tự tạo để trang trí góc sách Những khung rối làm từ các vỏ thùng catton, những cuốn sách làm từ những bìa lịch cũ, những con rối que, rối bóng, rối ngón tay cho trẻ diễn rối, tập đóng kịch, … cũng sẽ góp phần làm cho góc sách trở nên ngộ nghĩnh và sinh động hơn rất nhiều
Khuyến khích trẻ cùng cô trang trí, sắp đặt các đồ dùng trong góc theo ý thích phù hợp dễ lấy, dễ cất, dễ sử dụng Trong lớp học, chúng ta cũng có thể tạo môi trường chữ viết xung quanh trẻ
Ví dụ: Ghi tên các góc chơi, tên các đồ dùng đồ chơi, ghi tên trẻ trên các
sản phẩm, …
Trang 36Việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ sẽ càng có hiệu quả hơn khi trong các giờ hoạt động học có một hệ thống các trò chơi về ngôn ngữ như:
Các trò chơi luyện kĩ năng nghe - nói
Nói chuyện vòng tròn; Đối tác chuyện trò; Bảng “nói chuyện” hàng ngày (Ngày/tháng/thời tiết/sinh nhật); Xúc xắc kì diệu; Trò chơi đóng vai; Bàn cờ chữ cái; Cánh cửa kì diệu; Tập làm phóng viên; …
Các trò chơi luyện kĩ năng đọc - viết
Ngân hàng từ; Sách ngân hàng từ; Biểu đồ vần; Tạo chữ; Viết sáng tạo; Những ô cửa bí mật; Hòm thư của lớp; Chiếc thảm kỳ diệu; Tôi thấy; Tôi nghĩ; Tôi muốn biết,…
Các bài tập thực hành cuộc sống giúp trẻ phát triển ngôn ngữ như: Xâu chữ cái thành tên, xếp hột hạt tạo thành các chữ, tìm và kẹp các chữ cái, gắp hạt, xâu vòng tạo thành các nét chữ, …
- Môi trường ngôn ngữ cho trẻ hoạt động ngoài lớp học
Xây dựng thư viện của nhà trường cho trẻ hoạt động
Thư viện của bé trong trường mầm non có vai trò quan trọng Đó là nơi tạo cơ hội cho trẻ được khám phá, tìm tòi, trải nghiệm, phát triển khả năng sáng tạo Thư viện có thể tạo ra sự thay đổi tích cực đối với sự tự tin của trẻ, khả năng học tập độc lập và tinh thần trách nhiệm về việc học của bản thân trẻ, góp phần giúp nhà trường thực hiện tốt mục tiêu giáo dục toàn diện mầm non
Xây dựng thư viện của bé với hệ thống “Giá sách - Truyện thân
thiện” nhằm tạo môi trường giúp trẻ tích cực, chủ động làm quen với “văn
hóa đọc”, làm quen với cách “đọc” sách, làm quen với các câu chuyện, bài thơ… một cách tự nhiên và hứng thú hơn, ngoài ra nơi đây trẻ còn được tìm hiểu, khám phá và trải nghiệm những sáng tạo của bản thân, được hoạt động với đồ vật, đồ chơi, … tạo cơ hội để trẻ tích cực hoạt động
Trang 37Thư viện được bố trí sắp xếp thuận tiện, hợp lí, đủ ánh sáng, tạo không gian mở cho trẻ dễ dàng tiếp cận các nguồn thông tin, tư liệu trong thư viện Việc trang trí góc sách, đồ dùng đồ chơi nên hợp lí tránh trình bày quá rườm
rà, nhiều quá Tăng cường tổ chức, tạo cơ hội, điều kiện cho trẻ tích cực tham gia hoạt động cá nhân và theo nhóm nhỏ Trẻ được rèn luyện khả năng quan sát, cảm thụ, giúp trẻ yêu thích văn học, phát triển năng khiếu
Thư viện thân thiện của bé được bố trí đa dạng các góc, như: góc “đọc”, góc vẽ, góc “viết”, góc nghệ thuật, góc cha mẹ đọc cùng con,…
Thư viện thân thiện cần hội tụ các yếu tố sau:
Yếu tố khoa học: Các loại giá sách truyện được thiết kế khoa học, trẻ có
thể đứng về các phía khác nhau để lựa chọn sách truyện, tranh ảnh, bìa sách được bày ngay trên mặt giá thuận tiện cho việc lựa chọn và là nơi trưng bày các sản phẩm hoặc tranh truyện, ảnh tư liệu, chữ số, chữ cái, của cô và trẻ
sưu tầm
Yếu tố sư phạm, thẩm mỹ: Màu sắc sơn gỗ và vải tự nhiên đảm bảo an
toàn thân thiện, chính xác, hấp dẫn trẻ, dẫn dắt trẻ trong hoạt động, giúp trẻ có
những khoảng không gian, thời gian đẹp trong thư viện và góc sách truyện Yếu tố sáng tạo: Sáng tạo trong thiết kế, chức năng sử dụng đa dạng với mọi hoạt động của trẻ
Yếu tố thực tiễn: Hệ thống giá, túi để sách, truyện, học liệu sưu tầm được
làm bằng chất liệu dễ kiếm tìm, an toàn, giá thành hợp lý, có thể phổ biến ở tất cả các cơ sở giáo dục khác Ngoài ra cũng cần thêm một số phương tiện, học liệu, đồ dùng do giáo viên và trẻ tự làm đã bổ sung nguồn tư liệu cho thư viện phong phú, đa dạng hơn tạo môi trường tốt nhất cho trẻ trong thời gian tham gia trải nghiệm ở thư viện
- Môi trường xã hội để trẻ phát huy về ngôn ngữ
Trang 38Chú trọng tạo môi trường xã hội thuận lợi để cho trẻ thường xuyên được giao tiếp, tương tác, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên với trẻ, trẻ với trẻ, giữa trẻ với những người xung quanh
Chúng ta cần tạo môi trường giao lưu ngôn ngữ tích cực cho trẻ Để phát triển khả năng nghe nói cho trẻ, không gì nhanh chóng và tích cực bằng việc thường xuyên cho trẻ nghe - nói Người giáo viên cần thường xuyên trò chuyện với trẻ và khuyến khích trẻ nói Khi trẻ có khó khăn hay
có tâm lí ngập ngừng, nhút nhát, cô cần khích lệ, hỗ trợ, động viên để trẻ tích cực trò chuyện
Cô cần tạo ra các kênh giao tiếp thường xuyên, được tiến hành giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với cô và giữa trẻ với mọi người xung quanh
Khi giao tiếp với trẻ, cô chú ý đến giọng nói và thái độ, giọng nói dịu dàng, ánh mắt trìu mến, tình cảm nồng ấm của cô sẽ khiến trẻ tự tin hơn rất nhiều Ngoài ra, cô tạo cơ hội để trẻ được nghe các âm thanh khác nhau từ môi trường
Ví dụ: Tiếng kêu của các con vật, tiếng đàn, tiếng mưa rơi, âm thanh
của các phương tiện giao thông, … Âm thanh từ các môi trường khác nhau có tác dụng kích thích thính giác cũng như các giác quan của trẻ rất lớn
Bên cạnh đó, tổ chức cho trẻ hoạt động kết hợp với lời nói trong các trò chơi, bài hát, đóng kịch kết hợp sử dụng các con rối que, rối bông, rối bóng,
… là cơ hội để trẻ trải nghiệm, vận dụng vốn ngôn ngữ đã tích lũy được vào hoạt động của bản thân, là điều kiện rất tốt để trẻ phát huy tối đa khả năng vận dụng ngôn ngữ Khuyến khích các cháu cố gắng vận dụng ngôn từ hay để lưu lại những ý tưởng và suy nghĩ của mình Giáo viên phải có tác phong sư phạm
và lời nói chuẩn mực, với ngôn ngữ giao tiếp trong sáng luôn biết lắng nghe một cách trí tuệ và trân trọng trẻ
- Tổ chức các hoạt động ngoại khóa khuyến khích trẻ tham gia
Trang 39Hoạt động ngoại khoá ở trường mẫu giáo là sân chơi mà ở đó trẻ được hoạt động với sự tham gia của cô giáo, ông bà, cha mẹ trẻ Các hoạt động ngoại khoá được thiết kế đa dạng, phong phú, gắn với các nội dung, chủ đề học và chơi của trẻ giúp thay đổi trạng thái cho trẻ giữa hoạt động động và hoạt động tĩnh Tăng cường cho trẻ tiếp xúc với thiên nhiên, khắc phục việc trẻ ở nhiều thời gian trong không gian ở lớp còn hạn chế
Thông qua việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, trẻ học được rất nhiều kĩ năng sống cần thiết cho bản thân, trẻ được mạnh dạn, tự tin thể hiện bản thân mình, trẻ phát triển hài hòa các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - kĩ năng xã hội và thẩm mĩ theo mục tiêu của chương trình Giáo dục mầm non
Tùy theo các lứa tuổi của trẻ mà chúng ta tổ chức các hoạt động khám phá, trải nghiệm như: thăm làng Gốm Bát Tràng, thăm nhà bạn, thủy cung, xem xiếc, tham quan trường Tiểu học, đi Siêu thị, tham quan khu phố cổ, thăm khu hướng nghiệp tại Vince, Kinder Park, thăm doanh trại quân đội, thăm Lăng Bác, hoặc mời Phụ huynh đến trò chuyện với trẻ Thông qua các buổi tham quan dã ngoại trẻ sẽ vẽ, kể lại cho mọi người nghe về những chuyến đi, nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản thân để nâng cao khả năng diễn đạt làm cho ngôn ngữ phát triển ngày càng phong phú, hoàn thiện hơn
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tổ chức các ngày hội, sự kiện của trường
và của lớp như chúc mừng sinh nhật; Mừng ngày của Bà của Mẹ (8/3), Chào đón năm mới, Noel, Tết Nguyên đán, khuyến khích cho trẻ làm người dẫn chương trình, cùng nhau thỏa thuận, bàn bạc các tiết mục phân công sắp xếp công việc chuẩn bị, … qua đó trẻ nghe hiểu lời nói và sử dụng chúng trong giao tiếp cuộc sống hàng ngày mạch lạc, trôi chảy và hiệu quả hơn
Việc xây dựng môi trường ngôn ngữ tại các trường mầm non chặt chẽ, phối hợp tốt và hiệu quả sẽ tạo ra những đứa trẻ mạnh dạn, tự tin, năng động, sáng tạo, ham hiểu biết, có suy nghĩ và biết giao tiếp
Trang 40Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ đạt kết quả cao thì giáo viên phải chuẩn
bị môi trường cho trẻ hoạt động, vì môi trường đóng vai trò rất quan trọng Môi trường có phù hợp, đa dạng, phong phú thì sẽ gây hứng thú cho trẻ Đây
cũng là nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” mà những năm gần đây Bộ Giáo dục, Phòng Mầm non Sở
GD&ĐT đã triển khai
Xây dựng môi trường nhằm tạo điều kiện để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là công việc hết sức có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng thực hiện đổi mới chương trình giáo dục mầm non hiện nay, tăng cường đổi mới các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm nhằm đáp ứng xu thế chung của xã hội hiện nay
1.5.2 Thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua sử dụng
sơ đồ tư duy trong hoạt động kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non hiện nay
Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi đã có thể tư duy trừu tượng và khái quát hóa nhưng còn rất hạn chế, vì vậy khi làm quen các tác phẩm văn học với những câu chuyện dài, nhiều tình tiết thì các bé không thể nào nhớ hết được toàn nội dung tác phẩm Tuy nhiên sử dụng sơ đồ tư duy kết hợp khi kể chuyện thì các bé dễ dàng nhớ lại, sắp xếp và xâu chuỗi những tình tiết lại với nhau theo đúng trình tự câu chuyện Bên cạnh đó, các bé còn “thỏa sức sáng tạo” câu chuyện theo hướng riêng của mình từ việc lựa chọn nhân vật, trang trí đường nét, màu sắc, … để thể hiện Đối với những câu chuyện có nhiều tình tiết để thể hiện yếu tố sáng tạo cần vận dụng sơ đồ tư duy sẽ giúp trẻ phát huy tích cực trí tưởng tượng hơn, trẻ có thể thêm bớt tình tiết, thay đổi kết thúc trong các câu chuyện hoặc vẽ bổ sung thêm các nhánh phụ là nổi bật những tình tiết đã thay đổi (nhân vật, địa điểm, không gian, thời gian, … diễn
ra câu chuyện)