1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Luận văn giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

134 819 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu tìm được những biện pháp giáo dục phù hợp với nhu cầu, hứng thú và khả năng của trẻ khi tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ thì có thể nâng cao hiệu quả giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

VŨ THỊ HUYỀN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI QUA TRÒ CHƠI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

VŨ THỊ HUYỀN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI QUA TRÒ CHƠI

Ở TRƯỜNG MẦM NON

Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

Mã số: 8 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Văn Vang

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Đinh Văn Vang, người Thầy trực tiếp hướng dẫn, định hướng, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và sửa chữa, đóng góp nhiều ý kiến quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt

tình của các cá nhân và tập thể

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

* Các Thầy giáo, Cô giáo trong Hội đồng bảo vệ đề cương đã cho tôi những lời nhận xét, góp ý rất chi tiết để tôi có được sự định hướng đúng đắn ban đầu

* Ban cán sự cùng tập thể lớp K20 Cao học Giáo dục mầm non

* Gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, chia sẻ

và khích lệ để tôi hoàn thành luận văn của mình

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự thông cảm, chia xẻ và đóng góp ý kiến của quý các thầy giáo, cô giáo, các anh chị và những người cùng quan tâm tới những vấn đề được trình bày trong luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Vũ Thị Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì một nghiên cứu nào

Tác giả luận văn

VŨ THỊ HUYỀN

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

ĐVTCĐ: Đóng vai theo chủ đề ĐC: Đối chứng

GVMN: Giáo viên mầm non KNTPV: Kỹ năng tự phục vụ MN: Mầm non

TN: Thực nghiệm

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Những đóng góp mới của đề tài 6

9 Câu trúc luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ TỰ PHỤC VỤCHO TRẺ 3- 4 TUỔI QUA TRÒ CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non ở nước ngoài 7

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non ở Việt Nam 20

1.2 Kỹ năng tự phục vụ và giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non 22

1.2.1 Khái niệm về kỹ năng tự phục vụ và giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi 22

1.2.2 Ý nghĩa của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi 25

1.2.3 Những KNTPV cần giáo dục cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non 26 1.2.4 Những yếu tố tác động đến việc giáo dục KNTPV của trẻ 3 - 4 tuổi 27

Trang 7

1.2.5 Trò chơi là phương tiện để giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3

- 4 tuổi 30

1.3 Lí luận về biện pháp và biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non 35

1.3.1 Khái niệm biện pháp 35

1.3.2 Khái niệm biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non 36

1.2.3 Vai trò của giáo viên mầm non trong việc sử dung các biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi 37

Kết luận Chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤCHO TRẺ 3- 4 TUỔI QUA TRÒ CHƠI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN NAM SÁCH - TỈNH HẢI DƯƠNG 39

2.1 Vài nét về đối tượng khảo sát 39

2.1.1 Mô tả địa bàn khảo sát 39

2.1.2 Cơ sở vật chất 39

2.1.3 Khách thể nghiên cứu 40

2.2 Mục đích khảo sát 40

2.3 Phương pháp khảo sát 40

2.3.1 Phương pháp điều tra viết (anket) 40

2.3.2 Phương pháp trò chuyện 41

2.3.3 Phương pháp quan sát 41

2.3.4 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động 41

2.4 Tiêu chí và thang đánh giá kĩ năng tự phục vụ của trẻ 3 - 4 tuổi 41

2.4.1 Tiêu chí đánh giá 41

2.4.2 Thang đánh giá 50

2.5 Kết quả khảo sát 50

Trang 8

2.5.1 Nhận thức của giáo viên mầm non về việc giáo dục kĩ năng tự

phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non 50

2.5.2 Thực trạng biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non 54

2.5.3 Mức kĩ năng tự phục vụ của trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non 56

2.5.4 Những khó khăn của giáo viên mầm non trong việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi 60

Kết luận Chương 2 61

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤCHO TRẺ 3 - 4 TUỔI QUA TRÒ CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63

3.1 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non 63

3.1.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non 63

3.1.2 Một số biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non 67

3.2 Thực nghiệm các biện pháp 74

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 74

3.2.2 Nội dung thực nghiệm và thời gian thực nghiệm 74

3.2.3 Tiêu chí và thang đánh giá kết quả thực nghiệm 75

3.2.4 Tiến hành thực nghiệm 75

3.2.5 Kết quả thực nghiệm 78

Kết luận Chương 3 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước Đất nước có giàu mạnh, phồn vinh hay không là nhờ vào thế hệ trẻ, chính vì vậy phải chăm sóc giáo dục thật tốt ngay từ khi trẻ còn ở độ tuổi mầm non Người giáo viên mầm non, ngoài việc hướng dẫn cho trẻ vui chơi, cho ăn, cho ngủ Giáo dục trẻ trở thành những đứa trẻ lễ phép, ngoan ngoãn cần phải chú trọng tới việc giáo dục

kỹ năng sống cho trẻ Kĩ năng sống giúp con người có khả năng học tập, lao động, khả năng thích ứng với mọi biến động trong đời sống kinh tế - xã hội Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập khu vực và quốc tế về mọi lĩnh vực văn hoá, kinh tế, xã hội, vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ lại càng trở nên bức thiết Vì thế giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ được xem là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng của đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam

Kĩ năng sống không phải là cái bẩm sinh, mà nó là sản phẩm của quá trình giáo dục Cha ông ta đã dạy: “Uốn cây từ thủa còn non, dạy con từ thủa hãy còn thơ ngây” Do vậy, giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ cần được đặt

ra ngay từ lứa tuổi mầm non - lứa tuổi nhân cách đang hình thành, chưa định hình Một trong những kĩ năng sống quan trọng cần giáo dục cho thể hệ trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non đó là kĩ năng tự phục vụ (KNTPV) Bởi lẽ, nếu các con không có KNTPV bản thân, các con sẽ không thể chủ động và tự lập trong cuộc sống hiện đại Mặt khác, đây cũng là công việc phù hợp với nhu cầu, sở thích và khả năng của trẻ mầm non Điều này được thể hiện rất rõ trong cuộc sống hằng ngày của trẻ: Các con rất hào hứng khi được giúp cô những việc đơn giản như: chuẩn bị bàn ghế cho bữa ăn, giờ học hay tự mình sắp xếp đồ dùng ngay ngắn để vào cặp, Hiểu được điều này, giáo viên mầm non cần khuyến khích trẻ rèn luyện tính tự lập, tự phụ vụ ngay từ khi còn nhỏ

Trang 10

Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo không chỉ vì trẻ mẫu giáo dành nhiều thời gian cho nó, mà chính là trò chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ) đã gây ra những biến đổi về chất trong tâm lý của trẻ Nó chi phối các dạng hoạt động khác làm cho chúng mang màu sắc độc đáo của tuổi mẫu giáo Vui chơi là dạng hoạt động không mang tính bắt buộc, trẻ tham gia nhiệt tình do chính sức hấp dẫn của trò chơi Ví dụ: Trò chơi "khám bệnh" hấp dẫn trẻ là hành động bác sĩ đeo ống nghe vào tai, đặt ống nghe lên người bệnh Ở đây động cơ chơi nằm ngay trong quá trình chơi, hành động chơi, nên trò chơi mang tính tự nguyện rất cao, mang lại niềm vui sướng cho trẻ Đây là tính chất đặc biệt của vui chơi Đối với trẻ, trò chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập Trong khi chơi, trẻ mẫu giáo thể hiện rõ ý thức làm chủ, trẻ hoạt động hết mình, tích cực và độc lập Trong hoạt động vui chơi, người lớn chỉ có thể gợi ý, hướng dẫn mà thôi Tác dụng giáo dục của người lớn trong hoạt động vui chơi là ở chỗ người lớn biến những yêu cầu giáo dục thành nội dung của hoạt động vui chơi và hướng dẫn

tổ chức cho trẻ chơi sao cho vừa thoả mãn những nhu cầu, hứng thú của trẻ,

mà lại đạt được những yêu cầu giáo dục

Xuất phát từ những lý do trên đây tôi chọn đề tài Giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non làm đề tài nghiên

cứu của mình Hy vọng két quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm phong phú cơ sở lí luận và thực tiễn về việc giáo dục kĩ năng sống nói chung, KNTPV nói riêng cho trẻ mầm non

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn việc giáo dục KNTPV cho trẻ

3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non; những nguyên nhân dẫn đến thực trạng… đề tài nghiên cứu đề xuất những biện pháp giáo dục KNTPV cho trẻ, góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ mầm non

Trang 11

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

4 Giả thuyết khoa học

KNTPV của trẻ 3 - 4 tuổi ở nhiều trường mầm non còn nhiều hạn chế Nguyên nhân có thể là do giáo viên mầm non chưa có những biện pháp giáo dục phù hợp khi tổ chức các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là hoạt động vui chơi Nếu tìm được những biện pháp giáo dục phù hợp với nhu cầu, hứng thú và khả năng của trẻ khi tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ thì có thể nâng cao hiệu quả giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua

trò chơi ở trường mầm non

5.2 Đánh giá thực trạng giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi

ở trường mầm non và xác định nguyên nhân của thực trạng

5.3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục KNTPV cho trẻ

3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

6 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

6

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ĐVTCĐ của trẻ và những biện pháp giáo dục những kỹ năng này

6.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu

Trang 12

- Khách thể khảo sát thực trạng: 120 trẻ 3 - 4 tuổi và 60 giáo viên mầm non

- Khách thể thực nghiệm sư phạm: 120 trẻ 3 - 4 tuổi và 60 giáo viên mầm non

6.3 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Đề tài được tiến hành ở một số trường mầm non trên địa bàn huyện Nam

Sách, tỉnh Hải Dương

7 Phương pháp nghiên cứu

7

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Đọc, phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá những tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

7.2.1 Phương pháp quan sát

- Quan sát những biện pháp giáo viên mầm non sử dụng để giáo dục KNTPV cho trẻ trong quá trình tổ chức trò chơi ĐVTCĐ ở trường mầm non; quan sát những biểu hiện về KNTPV của trẻ trong cuộc sống và hoạt động ở trường mầm non … để xác định thực trạng và nguyên nhân dẫn đến thực trạng KNTPV của trẻ 3 - 4 tuổi

- Quan sát những thay đổi về KNTPV của trẻ ở trường mầm non khi có những biện pháp tác động thực nghiệm để khẳng định hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non do chúng tôi đề xuất

7.2.2 Phương pháp điều tra viết (Anket)

Dùng phiếu Anket để khảo sát nhận thức, thái độ, những việc làm cụ thể của giáo viên khi tổ chức các trò chơi

Trang 13

ở trường mầm non nhằm giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi Kết quả điều tra sẽ là cơ sở quan trọng để xác định nguyên nhân của thực trạng giáo dục KNTPV cho trẻ qua trò chơi ở trường mầm non

7.2.3 Phương pháp trò chuyện

Trò chuyện, trao đổi với giáo viên để có thêm thông tin về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến thực trạng… Những thông tin này là cơ sở phân tích, đánh giá khách quan thực trạng và nguyên nhân dẫn đến thực trạng

Trò chuyện trực tiếp với trẻ để có thêm thông tin về mức KNTPV của trẻ trước và sau thực nghiệm

7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Nghiên cứu vận dụng linh hoạt những kinh nghiệm của các đồng nghiệp

về việc giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non phù hợp với thực tiễn giáo dục mầm non trên địa bàn huyện Nam Sách, tỉnh

Hải Dương

7.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

đã đề xuất Trên cơ sở đó có những kiến nghị sư phạm hợp lí để nâng cao hiệu

quả giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

7.3 Phương pháp xử lí số liệu

Để lượng hóa kết quả nghiên cứu thực tiễn của đề tài làm cơ sở phân tích kết quả khảo sát thực trạng và kết quả thực nghiệm, chúng tôi sử dụng một số công thức toán học thống kê sau:

Trang 14

8 Những đóng góp mới của đề tài

- Góp phần làm phong phú cơ sở lí luận về giáo dục KNTPV cho trẻ 3 -

4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

- Đánh giá được thực trạng và nguyên nhân của thực trạng giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

- Đề xuất được một số biện pháp giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

9 Câu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4

tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua

trò chơi ở một số trường mầm non huyện Nam Sách - tỉnh Hải Dương

Chương 3:Một số biện pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4

tuổi qua trò chơi ở trường mầm non và thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ TỰ PHỤC VỤCHO TRẺ 3- 4

TUỔI QUA TRÒ CHƠI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non

ở nước ngoài

* Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng tự phục vụ

Giáo dục là một hiện tượng xã hội được nảy sinh trong cuộc sống ,đó là quá trình truyền thụ và tích lũy kinh nghiệm, bắt chước lẫn nhau giữa thế hệ này với thế hệ khác, giữa người có kinh nghiệm và người thiếu kinh nghiệm Trải qua nhiều thời kỳ, thực tiễn giáo dục ngày càng đa dạng, phong phú cùng với sự phát triển của xã hội loài người Có thể nói rằng giáo dục được coi là sản phẩm của sự phát triển, đồng thời cũng là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội và hoàn thiện con người Hay nói cách khác, giáo dục mang tình phổ biến, là phương thức tồn tại của xã hội loài người

Vấn đề giáo dục cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 3 - 4 tuổi nói riêng đã được các nhà tâm lý, giáo dục học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên họ đều có điểm chung là khẳng định vai trò to lớn và quan trọng của hai mặt cơ bản là năng lực và phẩm chất đối với sự giáo dục

và phát triển nhân cách con người nhằm phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

Ngay từ thời cổ đại các nhà triết học phương đông cũng như ở phương Tây đã rất quan tâm đến vấn đề làm thế nào để nhà giáo dục truyền thụ tri thức cho học sinh, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tương ứng cho họ

Khổng Tử (551- 479 TCN) - nhà giáo dục, nhà văn hóa lớn của Trung Quốc và của thế giới cho rằng giáo dục là một thành tố không thể thiếu được của mỗi người dân, mỗi dân tộc; một dân tộc ngu dốt không thể mạnh được

Trang 16

“ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo”(nghĩa là viên ngọc không được rũa không thành đồ dùng, người không học không thể biết đạo được) Một trong những phương pháp và nguyên tắc dạy học của Khổng Tử

là coi trọng việc rèn luyện bản thân Ông nói “không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật có

4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa”(bất phẫn bất phải, bất nhị bất phát, cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã) [Dẫn theo 1; tr.76] Cách dạy của Khổng Tử chỉ là gợi mở để học trò tự suy nghĩ, tự tìm tòi khám phá để tìm ra chân lý, dựa trên chính khả năng của mình Đây chính là cách dạy học của nhà Nho - không bao giờ làm thay tất cả cho học trò Chính vì vậy mà người học cần phải có những kỹ năng cơ bản, cần thiết cho chính mình để có thể tự tu dưỡng theo nguyên tắc “tu thân”và luôn học thầy, học bạn trong cuộc sống, học mọi điều hay, lẽ phải, tránh điều dở làm điều tốt

Socrate (469-399 TCN) là một nhà triết học, một nhà giáo dục nổi tiếng của Hy Lạp Quan điểm của ông là con người luôn luôn phải suy nghĩ về mình để tìm tòi mục đích, ý nghĩa thiết thực của cuộc sống và sống tự lực tự cường câu nói của miệng của ông là “Điều mà tôi biết là tôi không biết gì hết”câu nói này luôn thôi thúc ông và mọi người đi tìm chân lý để giải quyết mâu thuẫn Trong hoạt động giáo dục ông nổi tiếng là nhà sáng tạo, “phương pháp đỡ đẻ”do ông sang tạo nên là phương pháp dạy học bằng cách hỏi-đáp giữa hai người giúp cho người học đi tới chân lý và tự rút ra chân lý Đây chính là cách hướng người học phát huy cao độ tính tự lực trong tư duy, và điều đó cho thấy vai trò của KNTPV bản thân người học đúng như quan niệm của ông: Giáo dục phải giúp con người tìm thấy, tự khẳng định chính bản thân mình, vì thế mang giá trị nhân văn rất cao

Trang 17

Mạnh Tử (372-289 TCN) một nhà triết học, một nhà giáo dục nổi tiếng của Trung Quốc cũng coi tự lực là một nguyên tắc dạy học, dạy học phải dựa trên sự phát huy tính tự lực của người học Ông chủ trương bắt học trò phải tự

cố gắng tự học lấy, tự làm lấy, tự chiếm lĩnh kiến thức Ông cho rằng có năm cách dạy học “có cách như trời mưa xuống mà hóa đi, có cách làm cho thành tựu cái đức, có cách làm cho đạt cái tài, có cách trả lời cho những câu hỏi, có cách học riêng với một người mà thành”(hữu như thời vũ hóa chi giả, hữu thành đức giả, hữu đạt tài giả, hữu tư thục ngải giả)

J.A.Cômenxki (1592-1670) một nhà giáo dục vĩ đại Tiệp Khắc, ông tổ của nền sư phạm cận đại, rất coi trọng việc giáo dục tính tự lập cho trẻ, phát huy cao độ những năng lực bẩm sinh của trẻ Ông đưa ra một hệ thống các nguyên tắc dạy học, trong đó nguyên tắc trực quan là nguyên tắc quan trọng nhất ( ông gọi là nguyên tắc vàng ngọc) Trong quá trình học tập trẻ được cảm nhận thế giới bằng các giác quan của mình để tìm hiểu về thế giới xung quanh mình Đây là quan điểm học thuật tiến bộ mang tính duy vật và tiếp cận với tư tưởng tiến bộ là “dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm”qua đó phát huy cao độ tính tích cực hoạt động học tập của trẻ dưới sự giúp đỡ của thầy giáo.[Dẫn theo 1; tr.24]

John Locke(1632-1704) nhà giáo dục Anh Quốc Quan điểm của ông là phải khơi dậy ở trẻ lòng ham mê say sưa, qua đó hướng trẻ đến với tri thức Phải cung cấp cho trẻ những gì hết sức thiết thực, tránh xa với không thực tế, tránh sự giả dối và quan trọng hơn cả là phải phát triển khả năng độc lập suy nghĩ và chủ động trong học tập của trẻ em trong quá trình nhận thức Với ông, giáo dục cho trẻ tính kiên cường ngay từ lứa tuổi mầm non để tạo cho trẻ phẩm chất tự lực và như thế khẳng định việc giáo dục KNTPV cho trẻ là hết sức cần thiết và quan trọng

Trang 18

J.J.Ruxo (1712-1778) nhà giáo dục nổi tiếng của Pháp và của thế giới, ông đi từ một luận đề nổi tiếng là “giáo dục tự nhiên và tự do” để làm xuất phát điểm cho công tác giáo dục của mình Giáo dục tự nhiên là dựa vào đặc điểm cá nhân của mỗi con người, tôn trọng và phát huy năng lực cá nhân Giáo dục tự do là tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện kỹ năng của trẻ nói chung và KNTPV của trẻ, phương pháp của ông là đào tạo nên những con người thông minh, có sự tự tin giải quyết công việc của bản thân sau này Phương pháp của ông không chỉ mang tri thức đến cho trẻ mà quan trọng hơn là dạy trẻ phương pháp tư duy, phương pháp hành động

Maria Montessori (1870-1952) nhà giáo dục Ý cũng đánh giá cao quyền

tự do của trẻ Theo bà chỉ có tự do trẻ mới có thể tự mình làm những công việc của mình Trao cho trẻ sự tự do, để chúng học tập, vươn lên bằng chính những cố gắng của bản thân, đó chính là điểm xuất phát và mục đích đích thực của công tác giáo dục trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo Theo bà chính trẻ em mới

là người nhào nặn bản thân và có khả năng tự thực hiện mọi hành động, vai trò người sáng tạo thuộc về trẻ chứ không một ai Chỉ có như vậy trẻ mới phát triển đúng khả năng của mình Con người muốn được tự do, tự thể hiện mình trong mọi hoạt động thì cần phải có KNTPV bản thân Tất cả những biện pháp giáo dục của bà đều hướng tới việc giáo dục và rèn luyện KNTPV ở trẻ nhất là những trẻ nhỏ ở lứa tuổi mẫu giáo

Các nhà giáo dục học macxit khẳng định: Để nhận thức và cải tạo thế giới thì con người phải vươn lên để làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ quá trình phát triển của mỗi cá nhân với tư cách là chủ thể tích cực của hoàn cảnh sống Các nhà giáo dục cho rằng, muốn đưa xã hội đi lên, con người cần phải có những tri thức khoa học hiện đại, phải biết sử dụng những kỹ năng cơ bản của bản thân để tự chủ trong các hoạt động, bởi những kỹ năng đó là một trong những yếu tố quyết định cho sự phát triển của xã hội

Trang 19

Trong tác phẩm “Tâm lý học trẻ em” của A.A.Liublinxkaia[21],KNTPV

được giáo dục trong quá trình hoạt động của trẻ; kỹ năng này phụ thuộc vào

sự phát triển của trẻ, vào những kinh nghiệm riêng của trẻ về cuộc sống xung quanh Trẻ càng lớn thì kinh nghiệm của trẻ càng nhiều, KNTPV càng thể hiện rõ nét và đa dạng trong những hành động của trẻ, đó là những hành động mang tính chất độc lập Cơ sở của những hành động độc lập và chủ định đó là phản xạ tìm tòi (định hướng) mạnh mẽ Sự nghịch ngợm, tò mò của trẻ là hình thức thể hiện KNTPV của trẻ và khả năng tự khẳng định bản thân của mình

K.D.Usinxki(1824-1870) trong công trình nổi tiếng của mình “Con

người như là đối tượng của giáo dục” đã đưa ra một hệ thống sư phạm dạy trẻ

các mặt nhân cách như: trí nhớ và tư duy, tình cảm và ý chí của nó Đặc biệt khi nêu lên vai trò hoạt động tích cực của trẻ, ông cho rằng sự phát triển của trẻ em là kết quả lao động của bản thân trẻ, của hoạt động nhận thức và trí tuệ tích cực của trẻ [Dẫn theo 1; tr20] Như vậy, để giáo dục KNTPV ở trẻ trước hết phải làm cho trẻ hứng thú với lao động cũng như tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào lao động Mức độ KNTPV ở trẻ phụ thuộc vào lao động và mức

độ tham gia của trẻ vào hoạt động lao động trong môi trường xung quanh trẻ N.K.Krupxcaia và A.S.Macarenco là những nhà giáo dục học vĩ đại của Nga và thế giới đã rất quan tâm tới việc giáo dục KNTPV cho trẻ mầm non và

họ cho đó là nhiệm vụ mang tính xã hội rộng lớn Với trẻ mầm non cần phải

giáo dục ở trẻ thói quen sinh hoạt, thói quen văn hóa, sinh hoạt có kế hoạch,

ý thức tự lập, khả năng tự kìm chế những ước muốn, tinh thần vượt khó, ý thức trách nhiệm đối với bản thân và với mọi người Họ quan tâm trước tiên tới sự giáo dục và phát triển KNTPV ở trẻ thông qua trò chơi, chính trò chơi phát triển rất nhiều kỹ năng ở trẻ.[6; tr20]

Trang 20

* Những nghiên cứu về hoạt động vui chơi của trẻ mầm non

Hoạt động vui chơi của trẻ mầm non là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Mỗi người có quan điểm tiếp cận khác nhau, song tập trung vào hai xu hướng cơ bản: một là sinh vật hóa trò chơi trẻ em, hai là xã hội hóa trò chơi trẻ em

- Xu hướng sinh vật hóa trò chơi trẻ em: Những người theo hướng này

coi trò chơi trẻ em có nguồn gốc sinh học Đại diện cho xu hướng này có thể

kể đến Siller, Spencer, Kari Groos, Stenlin Kholl, Freud, Adler, Boitendaik… Tính theo thời gian thì học thuyết đầu tiên về trò chơi theo xu hướng này là học thuyết “Sức dư thừa” của Ph.Siler và G.Spencer

Ph.Siler (1756-1800) là một nhà thơ Đức nổi tiếng và cũng là một nhà triết học Ông coi trò chơi là cơ sở của tất cả các nghệ thuật Nghệ thuật cũng như trò chơi được xuất hiện khi những nhu cầu sơ đẳng, cần thiết cho việc tồn tại của cuộc sống được đáp ứng Trong những thời gian rảnh rỗi con người dùng sức lực của mình để đáp ứng những nhu cầu tinh thần, nhu cầu sáng tạo Việc đáp ứng những nhu cầu đó được thực hiện trong trò chơi và trong nghệ thuật Trong những việc đó, con người được nâng cao lên trên thực tế bình thường và thực sự có được tự do sáng tạo

Những tư tưởng của Ph.Siler được G.Spencer (1820-1903) nhà triết học, nhà xã hội học và nhà sư phạm người Anh phát triển Chính lúc đó học thuyết của ông mới được mang tên gọi “Sức dư thừa”.G.Spencer đã đánh đồng trò chơi của trẻ em với trò chơi của những con vật bậc cao Những năng lực dư thừa của cơ thể con vật non không được sử dụng cho hoạt động thực, nên đã được tiêu khiển qua con đường bắt chước các hoạt động thực đó bằng trò chơi, ở trẻ em trò chơi là sự bắt chước các hoạt động thực của bản thân và cả của người lớn Bên cạnh đó, G.Spencer cũng ho rằng, trong trò chơi những bản năng nghịch ngợm, phá phách của đứa trẻ được đáp ứng qua hình thức

Trang 21

tinh thần Học thuyết “Sức dư thừa” của Ph.Siler và G.Spencer có những khía cạnh được thừa nhận, nhưng rõ ràng là mâu thuẫn với các sự kiện thực tế Bởi

vì tham gia vào trò chơi không những chỉ có các cháu khỏe mạnh mà còn cả những cháu đang bị bệnh (tức là sức khỏe yếu) Hơn nữa trò chơi không chỉ

có tiêu hao sức lực mà còn có tác dụng đến việc khôi phục lại sức khỏe Sự dư thừa năng lượng trong cơ thể trẻ đang trên đà phát triển chỉ tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện trò chơi mà thôi chứ không phải là nguyên nhân tạo ra trò chơi Hai ông đã không giải đáp được vấn đề đó

Học thuyết cổ điển về trò chơi của nhà tâm lí học người Đức Karl Goos (1861- 1946) cũng xuất hiện vào cuối thể kỉ trước Cũng như Ph.Siler và G.Spencer, Karl Goos đã đánh đồng những trò chơi của trẻ và của động vật non đều mang tính chất thuần túy sinh học Trò chơi là một hình thức hoạt động sống mà trong đó các cơ thể non trẻ được hoàn thiện Cơ thể sống càng

ở mức phát triển cao thì thời kì thơ ấu càng dài Trong quá trình vui chơi, cơ thể được thích nghi với cuộc sống mà hoàn thiện thêm các bản năng di truyền, các năng lực và sức lực Trò chơi tựa như trường học đặc biệt chuẩn bị cho cuộc sống sắp tới Nhưng theoKarl Goos trò chơi chính là phương thức biểu hiện đặc thù của các loại bản năng Học thuyết của Karl Goos mang tính sinh vật rõ rệt, trò chơi mang tính ý nghĩa sinh vật sâu sắc, còn thời thơ ấu là chỉ để dành riêng cho vui chơi

Vào những năm sau đó, học thuyết của Karl Goos được nhà tâm lí học người Đức là V Stern (1871- 1938) công nhận, ông đã gọi vui chơi là bình minh của bản năng đúng đắn và đã nhấn mạnh ý nghĩa của trò chơi trong việc rèn luyện những cơ chế di truyền của phẩm hạnh Điều cơ bản trong học thuyết của Karl Goos là ông đã đánh đồng trò chơi của con người với trò chơi cảu con vật Sự đánh đồng đó không hoàn toàn đúng Vì trong trò chơi con vật chỉ rèn luyện cơ chế di truyền, nhưng đứa trẻ còn lĩnh hội những kinh

Trang 22

nghiện lịch sử của loài người nữa (đó là những tri thức, những kĩ năng, những mối quan hệ) Nhưng việc biểu hiện bản chất của trò chơi là sự chuẩn bị cho hoạt động sống thực sự sau này của đứa trẻ là hoàn toàn đúng

Cho đến nay, ở một số nước phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ đang lan truyền rộng rãi học thuyết di truyền sinh học và trò chơi của Stenlin Kholl (1846- 1924) nhà tâm lí học người Mỹ nổi tiếng Ông và các cộng sự đã coi sự phát triển tâm lí của đứa trẻ là sự thu gọn, lặp lại những thời kì phát triển của loài người Học thuyết này dựa vào quy luật di truyền sinh học nổi tiếng của E.Gekkel, rằng ở thời kì phát triển phôi thai di truyền cá thể lặp đi lặp lại di truyền chủng loại Theo quy luật đó sự phát triển sau này của đứa trẻ dẫn đến

sự lặp lại toàn bộ tiến trình phát triển của loài người Do đó cả nội dung lẫn hình thức của trò chơi cũng lặp đi lặp lại lịch sử phát triển của nhân loại đã trải qua từ thời kì nguyên thủy đến xã hội ngày nay Chẳng hạn các trò chơi với cát của các cháu nhỏ là sự lập lại của thời đại mà con người còn sống ở hang động, trò chơi săn bắn là sự lặp lại bản năng săn bắn của tổ tiên chúng ta…

Dựa vào sự quan sát các trò chơi và lịch sử phát triển xã hội, nhà tâm lí học người Anh Stanlay Hall cũng cho rằng, theo quy luật “Mỗi cá thể đều theo một con đường phát sinh như giống nòi” những trò chơi của trẻ con ngày nay lần lượt diễn lại những hành động tương tự của loài người trong quá trình tiến hóa Reaney, nhà tâm lý học người Mỹ cũng đã kể ra những trò chơi của trẻ con tương đương với những bước tiến hóa của loài người như sau:

3.1 Thời kì thú vật 0-7 tuổi trò chơi vận động, leo trèo…

3.2 Thời kì dã man 7-8 tuổi trò chơi săn bắn, đuổi tìm nhau, bắn bia, chơi

gậy

3.3 Thời kì du mục 9-12 tuổi, đua nhau khéo léo, sưu tập đồ vật, chơi dùng

trí tưởng tượng, chơi búp bê, làm vườn, xây dựng 3.4 Bộ lạc 12-17 tuổi kết thành đoàn mà chơi

Trang 23

Học thuyết này của Stenlin Kholl và của Stanlay Hall đều không thể đứng vững được trước sự phê phán của quan điểm khoa học hiện đại về sự hình thành nhân cách con người Bởi vì chính học thuyết này đã mâu thuẫn với nội dung thực tế của trò chơi trẻ em, bất cứ ở đâu thì trò trơi trẻ em cũng phản ánh cuộc sống xã hội hiện đại, phản ánh các mối quan hệ xã hội hiện đại

Quan điểm sinh vật hóa trò chơi trẻ em cũng thể hiện rõ nét ở nhà trò chơi học người Áo S.Freud (1856-1933) là người đứng đầu trường phái phân tâm học Học thuyết về trò chơi của S.Freud được hình thành từ học thuyết về cấu trúc nhân cách trong đời sống vô thức của con người Cơ sở hành vi của con người, theo S.Freud là bản năng bảo tồn nòi giống Bản năng đó được thể hiện trong nhiều hoạt động khác nhau của con người Sự phát triển của đứa trẻ cũng chịu ảnh hưởng của bản năng tình dục Nhưng chúng không thể hiện trực tiếp trong cuộc sống thực của đứa trẻ nên chỉ biểu hiện trong những trò chơi

Người học trò nối nghiệp của S.Freud là K.Adlenr (1870- 1937) đã phát triển tiếp tục những quan điểm trên Theo ông, trong trò chơi đứa trẻ được bù lại những cảm giác yếu đuối, làm cho nó đau buồn khi giao tiếp với người khác, nhất là người lớn Trong cuộc sống thường ngày đứa trẻ cảm thấy nhỏ

bé, yếu đuối, luôn luôn phải vâng lời người lớn Thế nhưng trong trò chơi, đứa trẻ được làm chủ, nó cảm thấy khỏe mạnh hẳn lên Theo Adlenr sự đam

mê quyền lực và ưu thế đã thúc đẩy trẻ đến với trò chơi Trong trò chơi nó sẽ

tự khẳng định và sẽ thỏa mãn được những đam mê của mình

Quan điểm của S.Freud là nền tảng của thuyết “Trò chơi trị liệu” Airan Sumo Seipt là một trong những người đại diện cho thuyết đó Trong cuốn

“Niềm hạnh phúc của con bạn” Bà đã xem trò chơi là phương tiện để làm

bình thường hóa các quan hệ của đứa trẻ với thực tế xung quanh, xua tan đi

Trang 24

những nỗi bực tức, bướng bỉnh Trò chơi có thể giúp đứa trẻ loại bỏ khỏi nhân cách một loạt những điểm yếu như tính nhõng nhẽo, ích kỉ… Trong trò chơi trẻ mô phỏng lại tình huống này hoặc tình huống kia và như thế sẽ dẫn đến kết quả trị liệu tốt, làm lành lại những chấn thương, làm bình thường hóa những mối quan hệ của đứa trẻ với người lớn Mặc dầu lí thuyết “trò chơi trị liệu” chưa thật đúng về phương pháp luận, nhưng những sự kiện mà Airan Seipt nêu ra cũng làm cho chúng ta phải chú ý Điểm chung nhất của học thuyết nói trên về trò chơi là:

Khẳng định trò chơi là một hiện tượng hoàn toàn mang tính sinh vật Điều đó sẽ dẫn đến kết quả là bác bỏ tính xã hội trong nội dung trò chơi và dẫn đến mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa một bên là bản tính sinh vật của trò chơi với nội dung xã hội của nó

Trong việc nghiên cứu trò chơi, quan điểm lịch sử đã bị loại bỏ Ở đây người ta đã tách trò chơi ra khỏi các mối quan hệ xã hội và sự phát triển xã hội, xem như là một lĩnh vực riêng biệt của thế giới trẻ em, hoàn toàn đóng kín, tách biệt ra khỏi thế giới người lớn Như vậy trò chơi chỉ là phương tiện khẳng định của đứa trẻ, người lớn không nên quấy rầy trò chơi của trẻ em

- Xu hướng xã hội hóa trò chơi trẻ em: Những người theo xu hướng này

cho rằng trò chơi trẻ em có nguồn gốc xã hội, có bản chất xã hội, phản ánh cuộc sống xã hội mà trẻ sống Đại diện cho xu hướng này có thể kể đến G.V.Plekhanov, L.X.Vưgotxki, A.N.Leonchiev, L.X.Rubinstein, Đ.B.Enconin, Henri-wallon,

Không loại trừ hoàn toàn một số yếu tố sinh học của trò chơi, trong nhiều công trình nghiên cứu của đông đảo các nhà tâm lí học ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nhà tâm lí học macxit đã khẳng định bản chất xã hội của trò chơi trẻ em Trò chơi được xem là một hoạt động xã hội cả về nguồn gốc ra đời, về khuynh hướng, về nội dung và hình thức biểu hiện

Trang 25

Về nguồn gốc ra đời của rò chơi, ngay từ năm 1925, trong khi tìm hiểu nguồn gốc nghệ thuật, Plekhanov đã chú ý đến trò chơi trẻ em Phân tích trò chơi trẻ em ở nhiều dân tộc khác nhau (chủ yếu của thời đại nguyên thủy) đã cho nhận xét rằng, trong lịch sử loài người, trò chơi là một nghệ thuật xuất hiện sau lao động và trên cơ sở của lao động Trò chơi phản ánh hoạt động lao động của người lớn Các cháu trai thì bắt chước người cha, các cháu gái thì bắt chước người mẹ Các cháu lĩnh hội một cách thực tế các kĩ năng lao động đơn giản của cha mẹ và lĩnh hội cả những thói quen của người lớn trong xã hội Từ nhận xét đó G.V.Plekhanov đã xem trò chơi là sợi dây nối liền các thế

hệ với nhau và truyền đạt những kinh nghiệm, những thành quả văn hóa tự thế

hệ này đến thế hệ khác

Tư tưởng của G.V.Plekhanov về lịch sử ra đời của trò chơi được các nhà tâm lí học Nga L.X.Vưgotxki, A.N.Leonchiev, L.X.Rubinstein, Đ.B.Enconin phát triển đầy đủ hơn sau này

Các nhà tâm lí học Xô viết (trước đây) đã nghiên cứu lịch sử phát triển trò chơi trong mối liên quan với chính sự phát triển của xã hội loài người và với sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ xã hội

Những giai đoạn đầu của sự phát triển của xã hội loài người, khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ rất thấp và phương thức kiếm sống chỉ là hái lượm và săn bắn thì trẻ em bắt đầu tham gia vào lao động chung với người lớn rất sớm, bằng con đường trải nghiệm thực tế, các cháu lĩnh hội cách thức

sử dụng những công cụ thô sơ và như vậy chúng đã trở thành thành viên thực

sự của xã hội Ở giai đoạn phát triển đó chưa có trò chơi

Việc xuất hiện công cụ lao động phức tạp đòi hỏi trẻ em cần phải có sự chuẩn bị lao động Người lớn làm cho chúng những công cụ lao động nhỏ,

Trang 26

nhẹ hơn và các trò chơi để luyện tập bắt đầu xuất hiện Trong các trò chơi đó trẻ em chuẩn bị những kĩ năng cần thiết để sử dụng công cụ lao động Như vậy hoạt dộng của chúng gần giống với lao động của người lớn

Khi điều kiện lao động cũng như công cụ lao động trở nên phức tạp, xuất hiện việc phân công lao động, từ đó vị trí của trẻ trong xã hội cũng bị thay đổi Các cháu không thể tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất và các mối quan hệ xã hội của người lớn Do tính chất phức tạp của công cụ lao động, không thể thu nhỏ khích thước lại cho vừa với trẻ em, chỉ có thể làm những

đồ chơi mô phỏng các công cụ lao động, nghĩa là chỉ giữ lại vẻ bề ngoài của chúng mà thôi Những đồ chơi đó không thể sử dụng để lao động được mà chỉ

dùng để mô phỏng những hành động lao động, khi đó trò chơi đóng vai theo

chủ đề xuất hiện để mô phỏng lại đời sống xã hội của người lớn Trong trò

chơi đó trẻ thỏa mãn ước muốn của mình là được sống và làm việc như người lớn Như vậy trò chơi là một hiện tượng mang bản chất xã hội

Trong lịch sử, mỗi dân tộc đều có một kho tàng lớn trò chơi trẻ em được tích lũy và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong đó trẻ em một mặt được giải trí, mặt khác lại được hiểu biết thêm về thế giới xung quanh và hoàn thiện những khả năng của mình, làm quen với những phương thức hoạt động của loài người Mỗi xã hội đều có ảnh hưởng đến nội dung trò chơi của trẻ em bằng con đường tự phát hay tự giác Hơn thế nữa trò chơi còn được sử dụng như một phương tiện giáo dục, như một phương tiện truyền đạt những kinh nghiệm xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác

Bản chất xã hội của trò chơi cũng được thể hiện bởi những điều kiện mà mỗi xã hội tạo ra cho trẻ em chơi Nhưng không phải xã hội nào cũng đều có thể tạo ra được những điều kiện đó Trong một số xã hội mà trẻ em ở các gia

Trang 27

đình đã tham gia rất sớm vào công việc lao động nặng nhọc, làm cho chúng bị tước mất đi tuổi thơ và mất đi người bạn đồng hành đó là trò chơi

Bản chất của trò chơi còn được thể hiện trong nội dung của trò chơi, đặc biệt là trong nội dung của trò chơi đóng vai theo chủ đề Trò chơi này là trò chơi trẻ mô phỏng lại đời sống xã hội của người lớn Trong đó các nhân vật của trò chơi là những con người cụ thể có tư tưởng, đạo đức… phản ánh lối sống, nghề nghiệp của một xã hội nhất định Trong trò chơi của trẻ, ta có thể nhìn thấy dấu vết của thời đại

Như vậy, các trò chơi của trẻ em ở các dân tộc và ở mọi thời đại đều mang trong mình những dấu ấn sâu sắc về sự phát triển của xã hội Chỉ có xuất phát từ bản chất xã hội của trò chơi mới có thể giải thích được tính chất lịch sử cụ thể của nội dung các trò chơi trẻ em Nhà tâm lí học nổi tiếng người Pháp là Henri-wallon (1879- 1962), khi nghiên cứu tâm lí trẻ em đã xem trò chơi của chúng là một hiện tượng xã hội đáng quan tâm Ông đã chỉ ra đặc tính phức tạp và đầy mâu thuẫn trong hoạt động vui chơi của đứa trẻ và xác định một loạt mức độ phát triển hoạt động vui chơi qua các lứa tuổi Động chơi của trẻ em, theo Henri-wallon là sự cố gắng tích cực của đứa trẻ để tác động lại thế giới bên ngoài nhằm lĩnh hội cho được những năng lực của con người chứa trong thế giới đó Trong trò chơi trẻ luyện tập được những năng lực vận động, cảm giác và những năng lực trí tuệ, luyện tập những chức năng

và các mối quan hệ xã hội Khẳng định bản chất xã hội của trò chơi trẻ em cũng là khẳng định tác động tích cực của người lớn lên trò chơi trẻ em Trong khi vẫn để trẻ em chơi một cách tự nhiên chủ động, người lớn có thể hướng dẫn chúng chơi một cách có mục đích, có định hướng và có kế hoạch, nhằm tạo ra sự phát triển có hiệu quả nhất Nói cách khác là có thể sử dụng trò chơi như một phương tiện giáo dục quan trọng đối với trẻ em

Trang 28

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non

ở Việt Nam

Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Dạy con từ thủa còn thơ” đó chính là những đúc kết kinh nghiệm của cha ông ta trong việc giáo dục trẻ em, việc giáo dục trẻ phải bắt đầu ngay từ khi rất sớm, có như vậy thì việc giáo dục trẻ mới đạt được kết quả cao, do đó việc giáo dục KNTPV ở trẻ cần phải thực hiện càng sớm càng tốt

Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, nhà giáo dục lớn của thế giới đã nêu cao tinh thần tự lực cách sinh trong việc học tập của trẻ theo mục tiêu giáo dục mới Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quá trình giáo dục

và phát triển con người mới XHCN cũng là quá trình con người cải tạo xã hội đồng thời hoàn thiện bản thân theo hướng XHCN Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn việc giáo dục và đào tạo con người với hoạt động thực tiễn và lấy kết quả trong hoạt động thực tiễn làm thước đo tác dụng của giáo dục đào tạo con người Theo Người con người chỉ tham gia vào hoạt động thực tiễn thì mới góp phần cải tạo xã hội và đồng thời tự cải tạo mình

Gần đây, ở Việt Nam nổi lên phong trào tự học Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn là người tiên phong trong việc phát triển lý luận và triển khai công tác tự học trong thực tiễn Thực chất của quá trình dạy - học là nhằm phát huy hết những kỹ năng của người học trong hoạt động học tập, đó cũng chính là đòi hỏi cấp bách về giá trị tự lực của con người trong thời đại mới hiện nay Nếu con người không có những KNTPV thì không thể tự lực tự cường trong cuộc sống

Trong lĩnh vực giáo dục mầm non, ở Việt Nam cũng có một số tác giả nghiên cứu về tính tự lực của trẻ mẫu giáo và việc giáo dục, rèn luyện các kỹ năng học tập ở trẻ mẫu giáo như:

Trang 29

Tác giả Mai Ngọc Liên đã nghiên cứu một số biện pháp giáo dục tính tự lập của trẻ 24-36 tháng thông qua hoạt động tự phục vụ Tác giả cho rằng: ngay từ lứa tuổi còn rất nhỏ(2 tuổi) cần giáo dục cho trẻ tính tự lập bằng cách động viên, khuyến khích trẻ luyện tập những KNTPV, sử dụng những trò chơi, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ tự phục vụ bản thân mình và đây là phương tiện hữu hiệu nhất để giáo dục tính tự lập cho trẻ tuổi ấu nhi (24-36 tháng) Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân nghiên cứu một số biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ 24-36 tháng tuổi trong hoạt động với đồ vật Tác giả đã đề xuất và thực nghiệm có kết quả một số biện pháp giáo dục tính tự lực của trẻ trong hoạt động với đồ vật

Tác giả Phạm Thị Huyên đã nghiên cứu một số biện pháp phát huy tính

tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi (tổ chức dưới hình thức hoạt động ở các góc) ở trường mầm non Tác giả đã chứng minh được tính tự lực của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có thể được phát huy tốt trong hoạt động vui chơi dựa trên những biện pháp cụ thể như: xây dựng góc chơi đa dạng, phong phú; cung cấp, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi phù hợp, hấp dẫn; cung cấp kinh nghiệm cho trẻ; tạo mối thân tình giữa cô và trẻ; tạo ra các tình huống có vấn đề trong các góc chơi; luôn ủng hộ sáng kiến của trẻ; tạo cho trẻ quyền tự chọn góc chơi và vai chơi mà trẻ thích; kích thích trẻ tích cực đánh giá và tự đánh giá trong các góc chơi, động viên khen trẻ

Tác giả Nguyễn Thanh Huyền trong luận án tiến sĩ của mình cũng nghiên cứu các biện pháp giáo dục tình tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt tại trường mầm non Tác giả cho rằng chế độ sinh hoạt ở trường mầm non là sự phân chia các hoạt động của trẻ trong một ngày với những yêu cầu cụ thể là điều kiện cơ bản giáo dục tính tự lực cho trẻ Tác giả

đã đề xuất những biện pháp giáo dục như là: tổ chức, hướng dẫn trẻ thực hiện

Trang 30

chế độ sinh hoạt tại trường mầm non; sử dụng kết hợp biện pháp đọc và kể chuyện nhằm phát triển nhận thức, thái độ và phẩm chất tự lực cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt tại trường mầm non; hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng tự đánh giá, kiểm tra thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt tại trường mầm non; hướng dẫn trẻ rèn luyện kỹ năng tự tổ chức thực hiện các hoạt động thông qua hoạt động tự lực trong chế

độ sinh hoạt tại trường mầm non

Như vậy có thể khẳng định, ở Việt Nam có khá nhiều công trình nghiên cứu về tính tự lực của trẻ mẫu giáo Các tác giả tuy đã khái quát hóa những vấn đề lý thuyết, đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục phẩm chất tự lực trong các hoạt động khác nhau của trẻ ở trường mầm non Tuy nhiên chưa

có công trình nào đi sâu nghiên cứu các biện pháp giáo dục KNTPV cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi qua trò chơi Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung nghiên cứu những biện pháp giáo dục KNTPV cho trẻ 3-4 tuổi qua trò chơi nhằm góp phần hoàn thiện nhân cách cho trẻ mẫu giáo

1.2 Kỹ năng tự phục vụ và giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi qua trò chơi ở trường mầm non

1.2.1 Khái niệm về kỹ năng tự phục vụ và giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi

* Khái niệm kĩ năng

Kĩ năng là một vấn đề phức tạp, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ này, song xoay quanh hai hướng: hoặc nghiêng về mặt kĩ thuật hành động, hoặc nghiêng về mặt năng lực hành động của con người

Những người xem xét kĩ năng nghiêng về kĩ thuật hành động cho rằng kĩ năng là kĩ thuật thực hiện hành động để đạt mục đích phù hợp với điều kiện

mà con người đã nắm giữ Chẳng hạn, theo Hà Nhật Thăng: “Kĩ năng là mặt

Trang 31

kĩ thuật của hành động thể hiện thao tác hành động” [26; tr16]; theo Trần Trọng Thuỷ: “Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được hành động tức là kĩ thuật hành động có kĩ năng [27; tr65]; hay theo V.A.Kruchetxki: “Kĩ năng là thực hiện một hành động hay một phương thức nào đó nhờ sử dụng những kĩ thuật, những phương thức đúng đắn [18; tr88] Những người nghiêng về mặt năng lực hành động cho rằng kĩ năng là năng lực thực hiện một công việc nào đó Chẳng hạn, H.D Levitov cho rằng “Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một tác động nào đó hay một hành động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng đúng đắn các hình thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả” [20; tr70]; Vũ Dũng quan niệm rằng: “Kĩ năng

là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng [8; tr131]

Như vậy kĩ năng vừa là năng lực của mỗi cá nhân vừa là kĩ thuật thực hiện hành động dựa trên sự vận dụng kiến thức một cách linh hoạt vào thực tiễn

Từ đó ta có thể hiểu: Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành

động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với điều kiện cho phép

Người có kĩ năng về một hoạt động nào đó thể hiện ở các dấu hiệu sau:

- Có tri thức về hoạt động đó: Có nghĩa là nắm được mục đích, cách thức, các điều kiện để thực hiện hoạt động

- Tiến hành hoạt động theo đúng yêu cầu của nó

- Đạt kết quả hoạt động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện khác

* Khái niệm KNTPV

KNTPV là những kĩ năng liên quan lao động nhằm thỏa mãn những nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của cá nhân để duy trì cuộc sống, thực hiện các chức năng của cơ thể và thích nghi với nền văn hóa Đó là những kĩ năng mang tính

Trang 32

chu trình nhằm duy trì sức khỏe và vệ sinh cá nhân, như: ăn, mặc, vệ sinh thân thể, chơi, học,

Từ đó ta có thể hiểu: KNTPV là khả năng thực hiện có kết quả những

hành động mang tính chu trình như: ăn, mặc, vệ sinh thân thể, chơi, học, phù hợp với điều kiện cho phép nhằm duy trì sức khỏe và vệ sinh cá nhân

KNTPV được hình thành trong quá trình con người thực hành, trải nghiệm những hành động mang tính chu trình như ăn, mặc, vệ sinh cá nhân, chơi, học, trong cuộc sống hằng ngày

Theo Nguyễn Thị Thu Hà[10], sự hình thành KNTPV diễn ra theo bốn giai đoạn:

-Giai đoạn nhận thức: Là giai đoạn con người nhận thức đầy đủ mục

đích, cách thức, điều kiện hành động (mới nắm được lí thuyết chưa hành động thực sự) Giai đoạn này rất quan trọng, bởi vì không xác định được mục đích

sẽ không có hướng hành động và để hành động có kết quả con người cần phải hiểu được các điều kiện cần thiết đối với hành động đó

- Giai đoạn làm thử: Là giai đoạn bắt đầu hành động, có thể hành động

theo mẫu trên cơ sở đã nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động, có thể tự hành động theo hiểu biết của mình Ở giai đoạn này hành động vẫn còn nhiều thiếu sót, các thao tác còn lúng túng, hành động có thể đạt mức thấp nhất, hoặc chưa có kết quả

- Giai đoạn kĩ năng bắt đầu hình thành: Ở giai đoạn này người ta có thể

hành động độc lập, ít sai sót, các thao tác thành thục hơn, hành động có kết quả trong những điều kiện quen thuộc

- Giai đoạn kĩ năng được hoàn thiện: Là giai đoạn hành động được thực

hiện có kết quả ngay cả trong những điều kiện khác nhau, các thao tác thành thục, hành động thực hiện có sáng tạo

Trang 33

*Khái niệm giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi

Giáo dục KNTPV cho trẻ 3 - 4 tuổi là quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến trẻ em nhằm hình thành cho trẻ những kĩ năng trong những hành động mang tính chu trình như: ăn, mặc, vệ sinh thân thể, chơi, học, phù hợp với điều kiện cho phép để duy trì sức khỏe

và vệ sinh cá cho bản thân

1.2.2 Ý nghĩa của giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 3 - 4 tuổi

Như đã trình bày, KNTPV là loại kĩ năng quan trọng, cần thiết cho mỗi con người, từ người lớn cho đến trẻ em KNTPV không phải là cái bẩm sinh

mà nó sản phẩm của quá trình con người thực hành, trải nghiệm thường xuyên trong cuộc sống thường ngày Trẻ 3 - 4 tuổi, giai đoạn đầu trong lứa tuổi mẫu giáo - giai đoạn nhân cách nói chung, tính tự lập của trẻ được hình thành và bộc lộ Trẻ có nhu cầu được sống và làm việc như người lớn, có nhu cầu tự làm lấy mọi việc, nhất là những việc quen thuộc phù hợp với khả năng của trẻ, như tự xúc cơm ăn, tự uống nước, tự mặc quần áo, tự đi giầy dép, không muốn người lớn can thiệp vào việc của mình Có thể nói đây là giai đoạn thuận lợi nhất cho việc giáo dục những KNTPV cho trẻ khi tổ chức các hoạt động cho trẻ ở trường mầm non Giáo dục các KNTPV cho trẻ ở giai đoạn này sẽ đáp ứng được những nhu cầu cá nhân, góp phần phát triển tính tự quyết

và nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ Trẻ tự thực hiện được các kĩ năng

ăn, mặc, đi vệ sinh và vệ sinh thân thể, sẽ giúp cho cơ thể trẻ được khỏe mạnh, sạch sẽ; trẻ tự tin hơn trong cuộc sống, góp phần phát triển tích cực hoạt động và nhân cách của mỗi đứa trẻ Đặc biệt, các kĩ năng này là điều kiện cần thiết để đứa trẻ được chấp nhận trong nhóm bạn và hòa nhập vào môi trường cộng đồng Một đứa trẻ có bề ngoài không sạch sẽ thì sẽ khó nhận được sự kết bạn từ phía mọi người Do vậy, nếu được hướng dẫn, trẻ có thể đạt được những tiến bộ trong các KNTPV và thể hiện tính độc lập đối với cha

Trang 34

mẹ và người trợ giúp Điều này sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống, tăng khả năng tự quyết, tạo nhiều cơ hội hơn để tương tác với bạn cùng lứa, hướng tới các quan hệ xã hội tích cực Như vậy, việc giáo dục các KNTPV cho trẻ là một việc hết sức cần thiết và mang ý nghĩa lớn lao

1.2.3 Những KNTPV cần giáo dục cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non

Dựa vào đặc điểm phát triển của tâm lí, sinh lí trẻ 3 - 4 tuổi và các hoạt động trong cuộc sống thường ngày của trẻ ở trường mầm non, chúng tôi xác định nội dung giáo dục các KNTPV như sau:

- KNTPV trong ăn, mặc, bao gồm các kĩ năng thành phần:

+ Biết tự ăn uống: Biết tự chuẩn bị bàn ăn, ghế ngồi, bát, thìa, dĩa, khăn lau; biết tự chia cơm, chia thức ăn; biết tự xúc ăn, tự lấy thêm cơm, thêm canh; ăn uống không rơi vãi, không vừa nhai vừa nói chuyện; tự lau chùi, cất dọn bàn ghế, lau miệng, uống nước,

+ Biết tự mặc quần áo, đi giày dép: biết tự chọn trang phục phù hợp với thời tiết, tự mặc quần áo, tự đi giày dép; biết giữ vệ sinh quần áo, biết gấp và cất quần áo; biết tự chuẩn bị quần áo, đồ dùng cần thiết cho vào balo khi đi học hoặc đi dã ngoại; biết tự cất, lấy balo, đồ dùng đồ chơi cá nhân ở nơi quy định;

- KNTPV trong vệ sinh cá nhân, bao gồm các kĩ năng thành phần:

+ Biết tự rửa chân, tay, tự rửa mặt, chải đầu: tự rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; biết tự rửa mặt sau khi ngủ dậy, sau khi đi chơi về; tự chải đầu; biết giữ cho chân tay, mặt mũi, đầu tóc sạch sẽ, gọn gàng;

+ Biết tự vệ sinh răng miệng, mắt, tai, mũi, họng: biết súc miệng, đánh răng hằng ngày; biết lau mắt bằng khăn riêng sạch sẽ, không dụi tay vào mắt, không để nước vào mắt khi tắm gội, không ngồi gần tivi khi xem tivi, không

để sát mắt vào sách vở khi xem tranh; biết lau rửa tai, mũi đúng cách, không

Trang 35

dùng vật cứng, nhọn để ngoáy mũi, ngoáy tai; biết giữ ấm cho tai, mũi, họng vào mùa đông, không ăn kem, uống nước quá lạnh;

+ Biết tự đi vệ sinh đúng cách: Biết tự đi tiểu, tiện đúng nơi quy định; biết sả nước sau khi tiểu, tiện, rửa tay sau khi tiểu, tiện, không để giây nước ra quần áo, sàn nhà;

- KNTPV khi ngủ: Biết tự chuẩn bị phòng ngủ, đồ dùng cá nhân (cởi bớt

quần áo nếu là mùa đông, chuẩn bị chăn, chiếu, gối, đệm, ); ngủ đúng giờ, đúng tư thế, giữ im lặng trong giờ ngủ; thức dậy đúng giờ, mặc ngay quần áo

ấm (nếu là mùa đông); biết tự cất dọn đồ dùng cá nhân, vệ sinh phòng ngủ (gấp chăn, chiếu, cất gối, đệm vào nơi quy định);

- KNTPV khi học, khi chơi, bao gồm các kĩ năng thành phần:

+ Biết tự phục vụ khi học: biết tự chuẩn bị bàn ghế, đồ dùng học tập phù hợp với giờ học; biết ngồi học đúng tư thế; biết cất dọn đồ dùng học tập vào nơi quy định;

+ Biết tự phục vụ khi chơi: Biết tự chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi phù hợp với trò chơi; biết sử dụng đồ dùng đồ chơi chơi, giữ gìn đồ dùng đồ chơi trong khi chơi; biết hợp tác - chia sẻ cùng bạn khi chơi; biết tự cất dọn đồ dùng đồ chơi vào nơi quy định sau khi chơi;

1.2.4 Những yếu tố tác động đến việc giáo dục KNTPV của trẻ 3 - 4 tuổi

KNTPV của trẻ mầm non nói chung, của trẻ 3 - 4 tuổi nói riêng được hình thành, phát triển dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố Dưới đây là những yếu tố cơ bản:

* Đặc điểm phát triển trẻ 3 - 4 tuổi

- Về phương diện sinh học: Ở lứa tuổi này sự phát triển thể chất diễn ra

khá nhanh, mạnh Các tế bào thần kinh đã được myelin hóa mạnh, các cơ quan phân tích đã phát triển gần như người lớn, các chức năng chủ yếu của cơ thể dần được hoàn thiện, đặc biệt là chức năng phối hợp vận động, các phản

Trang 36

xạ có điều kiện của trẻ ngày càng nhiều, giúp cho khả năng tri giác, khả năng vận động và sự phối hợp vận động của trẻ ngày một tốt hơn và trẻ dễ dàng thực hiện được những việc làm mang tính chu trình gần gũi với cuộc sống thường ngày của chúng như: ăn, ngủ, chơi, học, theo giờ

- Về phương diện tâm lí: Sự phát triển mạnh của các phân tích quan giúp

cho hoạt động nhận cảm, đặc biệt là tri giác của trẻ được phát triển mạnh mẽ: trẻ tri giác nhanh hơn, chính xác hơn các sự vật hiện tượng tác động vào các giác quan của chúng Cùng với hoạt động nhận cảm (cảm giác, tri giác), tư duy trực quan hành động của trẻ phát triển mạnh mẽ và đang chuyển dần sang

tư duy trực quan hình tượng Bước chuyển này một mặt do trẻ tích cực hoạt động với đồ vật (ở lứa tuổi trước đó) mà nhập tâm thành những hình ảnh, những biểu tượng trong óc, một mặt do hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi ĐVCCĐ - trò chơi mang tính tượng trưng giúp trẻ chuyển những hành động định hướng bên ngoài (hành động bằng tay) vào những hành động định hướng bên trong (hành động thử ngầm trong óc)

Nét nổi bật nhất trong sự phát triển tâm lí của giai đoạn này là nhân cách của trẻ được hình thành và bộ lộ khá rõ rệt: trẻ không chỉ ý thức được bản thân (về tên gọi, giới tính, sở thích, ) mà còn có nhu cầu, ý thức tự làm lấy mọi việc, nhất là những việc quen thuộc phù hợp với khả năng của trẻ, như tự xúc cơm ăn, tự uống nước, tự mặc quần áo, tự đi giầy dép, không muốn người lớn can thiệp vào việc của mình Và nhờ những thành tựu phát triển thể chất và tâm lí của mình, đứa trẻ đã có khả năng tự thực hiện được những việc làm đó, mặc dù còn nhiều vụng về

* Môi trường sống

KNTPV chỉ có được khi trẻ có môi trường sống thuận lợi Trong Luận văn này chúng tôi đề cập đến những môi trường sống gần gũi trong cuộc sống hằng ngày của trẻ

Trang 37

- Môi trường gia đình

Gia đình là cái nôi đầu tiên để đứa trẻ được phát triển về mọi mặt, đặc biệt là những kĩ năng sống nói chung, KNTPV của trẻ Trong cuộc sống gia đình, nếu đứa trẻ được người lớn quan tâm chỉ dạy, tạo cơ hội để tự làm lấy những công việc đơn giản phục vụ cho cuộc sống của mình, như: tự xúc cơm

ăn, tự lấy nước uống, tự rửa mặt, chân tay, tự mặc quần áo, tự đi giày dép, thì NTPV của trẻ sẽ được hình thành và phát triển Ngược lại, nếu người lớn không quan tâm chỉ dạy, không tạo cơ hội cho trẻ được tự thực hiện những công việc nói trên và làm thay trẻ những công việc lẽ ra trẻ có thể tự làm được dưới sự chỉ dẫn của mình thi KNTPV của trẻ sẽ không được hình thành

- Môi trường nhà trường

Đến trường mầm non trẻ được chơi, được học, được giao lưu với cô, với bạn một cách thường xuyên qua các hoạt động nối tiếp nhau trong hoạt động hằng ngày ở trường Nếu cô xây dựng được môi trường thuận lợi tạo cơ hội cho trẻ được thực hành, trải nghiệm KNTPV trong mọi hoạt động một cách thường xuyên thì KNTPV của trẻ được hình thành và phát triển

Hơn nữa trong cuộc sống nhà trường, cũng như nhiều kĩ năng khác, trẻ thường học tập, bắt chước lẫn nhau thực hiện những KNTPV khi tham gia các hoạt động theo yêu cầu, nhiệm vụ của cô và được sự khích lệ của cô, trẻ thi đua nhau thực hiện đúng KNTPV (thi xem ai cất dọn đồ dùng, đồ chơi gọn gàng hơn, nhanh hơn; thi xem ai rửa tay, chân sạch sẽ, đúng cách hơn; ) Như vậy, cuộc sống nhà trường là môi trường quan trọng để giáo dục KNTPV cho trẻ mầm non nói chung, cho trẻ 3 - 4 tuổi nói riêng

- Môi trường xã hội

Ngoài gia đình và nhà trường, trẻ còn được sống, giao lưu với những người khác nơi công cộng, hàng xóm - láng giềng, qua đó trẻ học tập, bắt chước KNTPV từ những người xung quanh Trong thực tế, trẻ không chỉ học

Trang 38

tập, bắt chước những hành vi, việc làm đúng, mà còn học tập, bắt chước những hành vi, việc làm mà người lớn không mong muốn (như: nói tục chửi bậy, tè bậy, vứt rác bừa bãi, ) Điều quan trong là người lớn (các bậc cha mẹ, GVMN, ) phải dạy trẻ biết học tập những điều hay lẽ phải từ cuộc sống xã hội, biết phê phán, không làm theo những hành vi, việc làm của người khác trong cuộc sống xã hội

* Năng lực của giáo viên

Nói đến năng lực của GV chúng ta nghĩ ngay đến: Năng lực chuyên môn, năng lực nghiệp vụ sư phạm Những năng lực này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục nói chung và quá trình giáo dục KNTPV cho trẻ mầm non nói chung và cho trẻ 3 - 4 tuổi nói riêng

Trong quá trình chăm sóc - giáo dục trẻ, nếu người GVMN nắm vững đặc điểm phát triển tâm lí, sinh lí của lứa tuổi và của từng trẻ; xác định được những KNTPV cần giáo dục cho trẻ phù hợp với giai đoạn phát triển của trẻ; lựa chọn được những phương pháp, hình thức giáo dục KNTPV hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu, hứng thú, khả năng của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được thực hành trải nghiệm thường xuyên những công việc tự phục vụ trong các hoạt động của trẻ ở trường mầm non thì quá trình giáo dục KNTPV cho trẻ sẽ mang lại hiệu quả

1.2.5 Trò chơi là phương tiện để giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 3 -

4 tuổi

1.2.5.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ 3 - 4 tuổi

Như chúng ta đã biết, cuối tuổi ấu nhi ở trẻ xuất hiện một mâu thuẫn, đó

là mâu thuẫn giữa một bên là tính độc lập đang được phát triển mạnh, muốn được tự mình làm tất cả mọi việc như người lớn, và một bên là khả năng còn non nớt của trẻ, không thể làm nổi những việc đó Trong trường hợp này, người lớn không thể dùng biện pháp cấm đoán, vì như vậy là ngăn chặn bước

Trang 39

đường phát triển của trẻ Tình trạng trẻ luôn luôn đòi hỏi “ để con làm lấy” đã dẫn đến hiện trượng “khủng hoảng trẻ lên 3” Để giải quyết mâu thuẫn này, trẻ phải tìm đến một hoạt động mới Không làm thật được mọi việc như người lớn thì làm giả vờ (tức là làm chơi) vậy Trẻ không làm thế nào tiêm thuốc cho người bệnh được, nhưng đóng vai bác sĩ để giả vờ tiêm cho người bệnh thì lại được; trẻ không thể lên lớp giảng bài như cô thật, nhưng đóng vai cô giáo giả vờ giảng bài cho họ sinh lại được; Từ đó trò chơi đóng vai theo chủ

đề đã xuất hiện để thỏa mãn nhu cầu được sống và làm việc như người lớn

của trẻ

Hoạt động vui chơi (mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề) đã xuất hiện ở cuối thời kì ấu nhi và kéo dài theo sự nảy sinh những đặc điểm tâm lí mới ở trẻ em, nhưng đó mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu và còn hết sức đơn giản Những cấu tạo tâm lí mới đó sẽ được phát triển trong suốt thời kì mẫu giáo, dần dần mới được xác định rõ ràng mỗi đứa trẻ là một con người có

ý thức bản ngã Điều đó diễn ra cùng với sự kiện hoạt động vui chơi được chuyển thành hoạt động chủ đạo Đó chính là một bước chuyển cơ bản trong hoạt động của trẻ khi bước vào tuổi mẫu giáo Hoạt động với đồ vật nguyên là hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi, nay lùi xuống hàng thứ 2 (tuy nó vẫn đang tiếp tục phát triển) nhường chỗ cho hoạt động vui chơi nổi lên chiếm ưu thế

và giữ vai trò chủ đạo để tạo ra một chuyển biến cơ bản trong tâm lí trẻ, tức là bắt đầu hình thành một nhân cách con người Quan sát thực tế ở giai đoạn trước chúng ta thấy rõ là trẻ ấu nhi thường chơi một mình với đồ vật Nhiều cháu chỉ hí húi chơi với những chiếc ô tô hoặc vài mẩu gỗ Nếu có vài ba đứa trẻ nữa thì chúng cũng chỉ là chơi cạnh nhau thôi, mỗi đứa làm một việc không cần biết đến nhau hoặc nếu có để ý đến bạn thì cũng chỉ là để dành lấy những thứ gì mình đang cần Nhưng khi trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện để mô phỏng lại cuộc sống của người lớn thì việc chơi một mình không

Trang 40

đủ để thỏa mãm nhu cầu của đứa trẻ nữa, vì trẻ nhận thấy người lớn thường hoạt động cùng với người khác Vậy việc chơi bây giờ phải khác trước và một trò chơi bao giờ cũng phải có nhiều vai, ví dụ có bác sĩ thì phải có bệnh nhân,

có người bán hàng thì phải có người mua hàng Tóm lại có nhiều người để chơi với nhau, hoạt động cùng nhau mới giống như thật được Như vậy là từ chơi một mình, chơi cạnh nhau đến chơi với nhau là một bước phát triển cơ bản trong hoạt động của trẻ Cũng từ đây, việc chơi với nhau trong các trò chơi được chuyển thành hoạt động chủ đạo, tạo ra tính độc đáo trong sự phát triển tâm lí của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo

1.2.5.1 Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ 3-4 tuổi

Từ hoạt động với đồ vật (hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi) sang hoạt động vui chơi (mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ) là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, là một bước nhảy vọt trong cuộc sống và hoạt động của trẻ

Ở giai đoạn đầu (trẻ 3 - 4 tuổi - lứa tuổi mẫu giáo bé), ngoài những đặc điểm chung về hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo, như: Chơi không phải là thật mà chỉ là giả vờ (giả vờ làm bác sĩ, giả vờ làm chú lái xe, ); chơi không buộc phải tuân theo một phương thức chặt chẽ nào cả, mà nguyên cớ thúc đẩy trẻ tham gia vào trò chơi là sức hẫp dẫn của bản thân trò chơi và không hề bị rằng buộc bởi những cái khác, ngay cả kết quả của sự vui chơi Như vậy động

cơ chơi nằm ngay trong quá trình chơi chứ không phải nằm ở kết quả (A.N.Leeonchiep- Đ.B.Enconin) [Dẫn theo 30; tr223] Chính vì vậy trẻ chơi mang tính sáng tạo, tự nguyện, tự chủ (tự lập) rất cao Trẻ thích chơi trò chơi nào thì chơi một cách say sưa trò chơi đó Có vui thì mới chơi và đã chơi thì phải vui, đó là tính chất đặc biệt của hoạt động vui chơi chơi của trẻ mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi) có những đặc điểm đặc trưng sau:

- Hoạt động chơi của trẻ 3 - 4 tuổi đang ở dạng sơ khai nên vẫn bị ảnh hưởng nhiều của hoạt động với đồ vật (Hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi): Trẻ

Ngày đăng: 06/05/2019, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (2009), Lịch sử giáo dục thế giới, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục thế giới
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2009
2. Lương Thị Bình, Lê Bích Ngọc (2007), Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi,sách hướng dẫn các cha mẹ vùng nông thôn khó khăn tại trung tâm học tập cộng đồng, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi
Tác giả: Lương Thị Bình, Lê Bích Ngọc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
3. Nguyễn Thanh Bình, Lê Thị Thu Hà, Trịnh Thúy Giang (2014), Giáo trình chuyên đề giáo dục kĩ năng sống, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên đề giáo dục kĩ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Lê Thị Thu Hà, Trịnh Thúy Giang
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2014
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình Giáo dục mầm non (ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT - BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục mầm non (ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT - BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Chương trình giáo dục mầm non, NXBGiáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2009
6. N.C. Crupxkaia (1988), Bàn về công tác mẫu giáo, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về công tác mẫu giáo
Tác giả: N.C. Crupxkaia
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1988
8. Vũ Dũng (2000), Từ điển tâm lí học, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lí học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
9. Thái Hà (2009), Hoàn thiện kỹ năng sống cho trẻ - Hướng dẫn bé tự bảo vệ, NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện kỹ năng sống cho trẻ - Hướng dẫn bé tự bảo vệ
Tác giả: Thái Hà
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2009
10. Nguyễn Thị Thu Hà (2010), “Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non”, Tạp chí Giáo dục mầm non, 3, tr18-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2010
11. Phạm Minh Hạc (Chủ biên), (1982), Tâm lí học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
12. Bùi Hiển, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển giáo dục, NXB Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục
Tác giả: Bùi Hiển, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: NXB Bách khoa
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Hòa (2011), Giáo trình giáo dục học mầm non, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục học mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2011
14. Nguyễn Thị Hòa (2011), Giáo trình giáo dục tích hợp cho trẻ ở trường mầmnon, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục tích hợp cho trẻ ở trường mầmnon
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2011
15. Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai (2000), Phát triểnnhững kĩ năng cần thiết cho trẻ mầm non, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phát triểnnhững kĩ năng cần thiết cho trẻ mầm non
Tác giả: Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
16. Ngô Thị Hợp, Nguyễn Thị Bích Hạnh (2010), Những kiến thức ban đầu hìnhthành kĩ năng sống cho trẻ mầm non,NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kiến thức ban đầu hìnhthành kĩ năng sống cho trẻ mầm non
Tác giả: Ngô Thị Hợp, Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2010
17. Vũ Ngọc Khánh, Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa
18. Kruchetxki.V.A (1981), Những cơ sở của tâm lý học sư phạm Tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của tâm lý học sư phạm Tập 1
Tác giả: Kruchetxki.V.A
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
19. Leonchiev.A.N (1989), Hoạt động - ý thức - nhân cách, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động - ý thức - nhân cách
Tác giả: Leonchiev.A.N
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1989
20. Levitov.N.D (1971), Tâm lí học trẻ em và tâm lí học sư phạm. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Levitov.N.D
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1971
21. Liublinxkaia.A.A (1971), Tâm lí học trẻ em, NXB Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em
Tác giả: Liublinxkaia.A.A
Nhà XB: NXB Matxcova
Năm: 1971

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w