1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Luận văn giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 6 tuổi dựa vào cộng đồng

149 1,9K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân cơ bản là do điều kiện tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường còn thiếu thốn: cơ sở vật chất của trường- lớp chưa đáp ứng, nhân lực chưa đảm bảo, kinh phí còn hạn hẹp…, ngoài ra,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN QUỲNH MAI

GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN QUỲNH MAI

GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Mã số: 8 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn

cô Nguyễn Thị Mỹ Trinh - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ quản lí, giáo viên chủ nhiệm cùng các bé lớp mẫu giáo lớn trường Mầm non Thanh Mỹ - Sơn Tây - Hà Nội, trường mầm non Đường Lâm - Sơn Tây - Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi

để tôi nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Trong luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự góp ý của Hội đồng khoa học, của thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng … năm 2018

Học viên

Nguyễn Quỳnh Mai

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu và dữ liệu trong luận văn là trung thực và chƣa từng công bố trong bất kì công trình khoa học nào

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đôi tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Những nghiên cứu về môi trường và giáo dục môi trường cho trẻ mẫu giáo 6

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục dựa vào cộng đồng 17

1.2 Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 18

1.2.1 Khái niệm môi trường; bảo vệ môi trường; giáo dục bảo vệ môi trường 18

1.2.2 Đặc điểm sinh lý, tâm lý, xã hội của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 22

1.2.3 Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 27

1.2.4 Các lực lượng tham gia giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non: nhà trường, gia đình, cộng đồng 33

1.3 Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 34

1.3.1 Khái niệm công cụ 34

1.3.2 Yêu cầu đối với việc lựa chọn nôi dung, phương pháp, hình thức giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 35

Trang 6

1.3.3 Yêu cầu đối với việc xây dựng các hoạt động giáo dục bảo vệ

môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 36

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 36

1.4.1 Nhận thức và năng lực chỉ đạo thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo dựa vào cộng đồng của các cấp quản lý 36

1.4.2 Năng lực của GVMN trong vận động người dân có ý thức bảo vệ môi trường để chất lượng môi trường cho trẻ mẫu giáo 38

1.4.3 Các điều kiện về CSVC, nguồn nhân lực, tài chính, tài liệu hướng dẫn phục vụ các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo dựa vào cộng đồng 38

Kết luận chương 1 39

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 40

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 40

2.1.1 Mục đích khảo sát 40

2.1.2 Nội dung khảo sát 40

2.1.3 Đối tượng, địa bàn,phương pháp và cộng cụ khảo sát 40

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 47

2.2.1 Thông tin chung về CBQL, giáo viên, PH tham gia khảo sát 47

2.2.2 Thực trạng nhận thức của CBQL, giáo viên, phụ huynh, chính quyền, cộng đồng địa phương về giáo dục bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng cho trẻ 5 - 6 tuổi 49

2.2.3 Thực trạng việc tổ chức giáo dục môi trường cho trẻ mẫu giáo dựa vào cộng đồng 52

2.3 Đánh giá chung về thực trạng 65

2.3.1 Thành công 65

2.3.2 Hạn chế 66

2.3.3 Nguyên nhân thực trạng 67

Kết luận chương 2 68

Trang 7

Chương 3 QUY TRÌNH THIẾT KẾ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI DỰA VÀO

CỘNG ĐỒNG 69

3.1 Lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 69

3.1.1 Nguyên tắc lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 69

3.1.2 Các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng được lựa chọn 70

3.1.3 Các phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng đươc lựa chọn 71

3.2 Một số hoạt động giáo dục ở trường MN có thể lồng ghép nội dung giáo dục BVMT dựa vào cộng đồng cho trẻ 5 - 6 tuổi 73

3.2.1 Hoạt động chơi 73

3.2.2 Hoạt động học 74

3.2.3 Hoạt động lao động 75

3.2.4 Hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân 75

3.2.5 Hoạt động dạo chơi, tham quan 75

3.3 Quy trình một số hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 76

3.3.1 Nguyên tắc thiết kế hoạt động GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 76

3.3.2 Quy trình thiết kế hoạt động GDBVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 76

3.3.3 Một số hoạt động giáo dục BVMT cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 77

3.4 Thử nghiệm và thăm dò tính cần thiết và khả thi của nội dung, phương pháp và các hoạt động được đề xuất trong luận văn 89

3.4.1 Tổ chức quá trình thử nghiệm và phân tích kết quả thử nghiệm một số hoạt động được xây dựng… 89

Trang 8

3.4.2 Tổ chức quá trình thăm dò và phân tích ý kiến của giáo viên,

CBQL về các hoạt động được xây dựng… 92

Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thông tin GVMN dạy trẻ 5 - 6 tuổi trường MN Thanh Mỹ và

MN Đường Lâm 47 Bảng 2.2: Số con hiện có và số con đang học ở trường Mầm non 48 Bảng 2.3: Nghề nghiệp của cha mẹ có con học ở trường Mầm non 48 Bảng 2.4: Ý kiến của giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục BVMT

đối với trẻ 5 - 6 tuổi 50 Bảng 2.5: Ý kiến của giáo viên và phụ huynh về vai trò của cộng đồng

trong giáo dục BVMT đối với trẻ 5 - 6 tuổi 52 Bảng 2.6: Nhận thức của GV, cha mẹ trẻ và cộng đồng về nội dung giáo

dục môi trường cần tăng cường giáo dục cho trẻ (%) 52 Bảng 2.7: Mức độ thực hiện các nội dung GDMT cho trẻ ở trường MN

Đường Lâm Và MN Thanh Mỹ 55 Bảng 2.8 Các phương pháp giáo viên đang sử dụng để GDMT cho trẻ ở

trường MN 58 Bảng 2.9 Bảng kết quả khảo sát thực trạng hiệu quả GDBVMT cho trẻ

mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở hai trường MN Thanh Mỹ - Sơn Tây - Hà Nội và trường MN Đường Lâm - Sơn Tây - Hà Nội 63 Bảng 3.1: Kết quả thăm dò ý kiến đánh giá của CBQL và GVMN về mức

độ khả thi hoạt động giáo dục phân loại rác cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 93 Bảng 3.2: Kết quả thăm dò ý kiến đánh giá của CBQL và GVMN về mức

độ khả thi hoạt động giáo dục tái chế, tái sử dụng cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 94 Bảng 3.3: Kết quả thăm dò mức độ khả thi của các hoạt động giáo dục sử

dụng hợp lý, tiết kiệm nước cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng 94

Trang 11

Bảng 3.4: Kết quả thăm dò mức độ khả thi hoạt động giáo dục sử dụng

tiết kiệm năng lƣợng điện 95 Bảng 3.5: Kết quả thăm dò mức độ khả thi hoạt động giáo dục sử dụng

tiết kiệm năng lƣợng ánh sáng 95 Bảng 3.6: Kết quả thăm dò mức độ khả thi hoạt động giáo dục sử dụng

tiết kiệm năng lƣợng gió 96

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất và phát triển của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNICEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động

cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường”

Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi vào năm 1977 đã đưa ra khái niệm: “Giáo dục môi trường có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường”

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người Việt Nam Giai đoạn từ 0 - 6 tuổi rất quan trọng trong cuộc đời mỗi con người, trong giai đoạn này trẻ phát triển rất nhanh và mạnh về mặt thể chất, tâm lý và xã hội, tạo ra tiền đề cho sự phát triển ở các giai đoạn lứa

Trang 13

tuổi tiếp theo, xây dựng “nền móng nhân cách” khá vững chắc cho con người trưởng thành

Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nhằm tạo ra thái độ, hành vi đúng của trẻ đối với môi trường xung quanh

Để đảm bảo cho con người được sống trong một môi trường lành mạnh thì việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cần được hình thành và rèn luyện

từ giai đoạn lứa tuổi mầm non Cần cung cấp cho trẻ những khái niệm ban đầu về môi trường sống của bản thân mình nói riêng và của con người nói chung, từ đó biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ thể và trí tuệ

Hiện nay, việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo ở các nhà trường còn có nhiều hạn chế, trẻ chưa có những hiểu biết cơ bản về môi trường sống xung quanh, ít được quan sát, tiếp cận với hoạt động bảo vệ môi trường và trải nghiệm thực tiễn Nguyên nhân cơ bản là do điều kiện tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường còn thiếu thốn: cơ sở vật chất của trường- lớp chưa đáp ứng, nhân lực chưa đảm bảo, kinh phí còn hạn hẹp…, ngoài ra, trong điều kiện nguồn lực hạn chế như vậy, nhưng đa số giáo viên mầm non không biết cách tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường cho trẻ dựa vào cộng đồng, để vừa giáo dục trẻ những vấn đề trong cuộc sống xung quanh, vừa huy động được sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục môi trường cho

trẻ như là lực lượng giáo dục quan trọng

Chính vì những lí do trên mà tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Giáo dục

bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất nội dung, phương pháp và xây dựng 1

số hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao

Trang 14

chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non

3 Khách thể và đôi tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo dựa vào cộng đồng

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng cho trẻ 5 - 6 tuổi với chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non

4 Giả thuyết khoa học

Nếu các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi được xây dựng theo quy trình thiết kế một số hoạt động GDBVMT dựa vào cộng đồng trên cơ sở nội dung, phương pháp được lựa chọn trong Chương trình GDMN, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, khả năng của trẻ, hướng đến giải quyết vấn

đề môi trường ở địa phương và thu hút được sự tham gia tích cực của cộng đồng thì có thể nâng cao được chất lượng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng

5.2 Đánh giá thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 -

6 tuổi dựa vào cộng đồng ở các trường mầm non

5.3 Lựa chọn nội dung, phương pháp và đưa ra quy trình một thết kế số hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng

Trang 15

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về nội dung: Đề tài tập chung vào các mạch nội dung giáo dục bảo vệ môi trường gần gũi với trẻ 5 - 6 tuổi, đó là: phân loại và bỏ rác đúng nơi quy định; sử dụng tiết kiệm nước; sử dụng tiết kiệm năng lượng (điện)

6.2 Giới hạn về địa bàn và đối tượng khảo sát:

- Khảo sát thực trạng: Các trường mầm non ở thị xã Sơn Tây, Tp Hà Nội, các GVMN dạy lớp 5 - 6 tuổi, trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường mầm non nói trên

- Thử nghiệm và thăm dò tính cần thiết, khả thi của các hoạt động được

đề xuất: tại trường MN Thanh Mỹ và MN Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tp Hà Nội và đại diện cộng đồng và chính quyền địa phương

6.3 Dự kiến thời gian khảo sát: từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2018

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Đề tài sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết; phân loại - hệ thống hóa lý thuyết và

mô hình hóa 1 số quan điểm lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn

đề nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: nhằm nghiên cứu thực trạng và thử nghiệm 1 số hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng được đề xuất trong luận văn Cụ thể: Phương pháp quan sát; Phương pháp đàm thoại; Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm; Phương pháp chuyên gia

7.3 Phương pháp thống kê để xử lí số liệu thu được trong đề tài, phục vụ phân tích kết quả nghiên cứu thực tiễn

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chương:

Trang 16

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo

5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng

Chương 2: Thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng ở các trường mầm non

Chương 3: Quy trình thiết kế một số hoạt động giáo dục môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về môi trường và giáo dục môi trường cho trẻ mẫu giáo

1.1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

a Những nghiên cứu về GDMT liên quốc gia và khu vực

Năm 1948, tại cuộc họp của Liên hợp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên tại Paris, thật ngữ “Giáo dục môi trường” lần đầu tiên được sử dụng Nhưng khi trái đất có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng và gây ảnh hưởng lớn thì ngành khoa học môi trường mới thực sự phát triển

Tháng 5/1958, Hội đồng cộng đồng Châu Âu đã họp và thống nhất: “Cần phải tiến hành từng bước cụ thể thông qua biện pháp toàn diện tăng cường giáo dục môi trường trên khắp cộng đồng”

Ý thức được tình trạng môi trường đang bị biến đổi do tác động của con người đến môi trường sống, ngày 5/6/1972 “Hội nghị Quốc tế về con người

và môi trường” được Liên hợp quốc tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) Hội nghị nhận định: Việc bảo vệ tài nguyên và môi trường là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn nhân loại Liên hợp quốc chọn ngày 5/6 hàng năm làm ngày môi trường thế giới nhằm khích lệ người dân, các cơ quan, các tổ chức trên thế giới xây dựng các hoạt động bảo vệ môi trường của quốc gia, địa phương mình

Năm 1975, tại hội thảo ở Belyrade chương trình IEEF được ra đời, bản tuyên bố liên chính phủ đầu tiên về giáo dục môi trường được ban hành Văn kiện “Hiến chương Belyrade - một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho giáo dục môi trường” được thể hiện tóm tắt ở những điểm cơ bản sau:

Trang 18

- Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh tế,

xã hội, chính trị, sinh thái giữa nông thôn và thành thị

- Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến thức, những giá trị quan niệm, trách nhiệm và các kỹ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường,

- Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, tổ chức cũng như toàn xã hội

Hội thảo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tại Băng Cốc (Thái Lan) vào tháng 10/ 1976 đưa ra 15 kiến nghị thuộc 4 vấn đề như chương trình GDMT, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, GDMT phi chính quy và vấn đề soạn thảo tài liệu, xây dựng các phương pháp giảng dạy GDMT

Năm 1977, Hội nghị liên chính phủ về giáo dục môi trường do UNESCO tổ chức tại Tibilisi (Liên Xô) có 66 nước thành viên tham dự Hội nghị đưa ra các văn kiện có ý nghĩa quan trọng quan tâm tới vấn đề bảo vệ

và GDMT trên toàn thế giới, được công bố năm 1980 Nội dung về GDMT trong văn kiện: “Nếu như muốn đạt được các mục tiêu bảo tồn thì hành vi cư

xử của một xã hội đối với sinh quyển bắt buộc phải thay đổi Nhiệm vụ lâu dài của GDMT là khuyến khích hoặc củng cố những hành vi, thái độ mang tính đạo đức mới”

Tháng 9/1980, hội thảo khu vưc Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 2

tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) có 17 nước tham dự Hội thảo được tổ chức nhằm trao đổi kinh nghiệm giáo dục của các nước và phân tích sự cần thiết phải đưa GDMT vào các trường đại học và GDMT cho các đối tượng khác nhau

Năm 1987 đánh dấu 10 năm kỷ niệm hội nghị Tibilisi đầu tiên, tại hội nghị này một loạt các vấn đề cơ bản được đưa ra thảo luận, trong đó đề cập tới tầm quan trọng đặc biệt của GDMT Cũng năm 1987, tại Hội nghị về môi

Trang 19

trường ở Moscow do UNICEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận

về tầm quan trọng của GDMT: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này

sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức

và trình độ hiểu biết của họ Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường”

Tác giả Ruth A Wilson đã chỉ ra rằng bồi dưỡng cảm giác qua các giác quan về thế giới tự nhiên là rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em để bảo vệ hành tinh Trái đất Ngoài việc cung cấp cơ sở lý luận cho việc tích hợp GDMT và giáo dục MN, tác giả đã đưa ra những hướng dẫn thực tế và đề xuất nội dung cho sự phát triển chương trình GDMT MN Trong đó, GDMT

là trải nghiệm cái đẹp và giúp trẻ em khám phá "vần thơ, thần bí, giàu trí tưởng tượng và sáng tạo của con người" [50]

Nghị quyết tháng 5/1988 của Hội đồng Bộ trưởng cộng đồng Châu Âu

đã đóng vai trò quan trọng trong việc đưa GDMT thành đề tài giao thoa giữa các môn học của chương trình dạy học quốc gia ở bậc phổ thông Các cá nhân và những người đứng đầu các tổ chức tiếp tục củng cố tầm quan trọng của GDMT

Tháng 6/1992, diễn ra hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về “Môi trường và phát triển” tại Brazil Tại hội nghị có 120 vị đứng đầu nhà nước và chính phủ cùng đoàn đại biểu của hơn 170 quốc gia tham dự Hội nghị diễn thuyết, thảo luận rộng rãi về vấn đề môi trường và đã ký kết nhiều văn kiện quan trọng tuyên bố sự bắt đầu của một quá trình lâu dài tìm hiểu, giải thích, phản ứng và thực hiện các điều lệ thảo luận đã ký kết nhằm thay đổi tương lai của hành

tinh [11]

Trang 20

Nghiên cứu của Elizabeth Yvonne Shaw Boileau nhấn mạnh học tập ngoài trời và GDMT có nhiều lợi ích cho trẻ em và có vai trò rất quan trọng GDMT là thiết lập lý tưởng để phát triển trí thông minh tự nhiên,

"khả năng nhận biết và phân loại thực vật, khoáng chất, và các loài động vật, bao gồm đá, cỏ và tất cả các loại thực vật và động vật" [48]

b Những nghiên cứu về GDMT của từng quốc gia

- Ở Mỹ: Liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF) đã giảng dạy ở các trường 33 bài học về môi trường có thể áp dụng vào thực tế

- Ở Nga (Liên xô cũ): Những chủ đề GDMT được lồng ghép tích hợp vào các môn học có liên quan gần (sinh học, địa lý, hóa học) và những môn học xã hội khác (giáo dục công dân, đạo đức ) Nội dung kiến thức gồm: mối quan hệ của con người với tự nhiên, vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục, luật bảo vệ môi trường và các tài nguyên thiên nhiên

- Ở Ba Lan: Kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường được lồng ghép trong các môn học của tất cả các năm học ở bậc tiểu học

- Ở Tiệp Khắc: Từ những năm 70 đã hình thành hệ thống thống nhất về giáo dục BVMT ở các bậc học

- Ở Malaisia, các hoạt động GDMT được phát triển mạnh nhờ vào sự liên kết chặt chẽ giữa các học viện trong nước và trong vùng Nhiều trường đại học đưa chương trình GDMT vào cả chính khóa và ngoại khóa Trình độ dân trí về MT và BVMT ở Malaisia tương đối cao

- Ở Singapore:đưa GDMT đi song song với xử phạt, là quốc gia bảo vệ môi trường tốt nhất Đông Nam Á

c Nghiên cứu về giáo dục môi trường cho trẻ mẫu giáo ở các nước trên thế giới

Các nước trên thế giới đã thống nhất đưa ra quan điểm: Gia đình, nhà trường và cộng đồng là các thành tố không thể thiếu trong việc GDMT cho trẻ mẫu giáo GDMT rất quan trọng ở tất cả các bậc học, và phải bắt đầu từ sớm,

Trang 21

ngay từ tuổi ấu thơ Qua những tìm hiểu về chương trình giáo dục mầm non của một số nước trên thế giới, cho thấy việc GDMT cho trẻ ngay từ nhỏ đang rất được quan tâm Mục đích là hình thành ở trẻ những hiểu biết về môi trường, kỹ năng chăm sóc, bảo vệ môi trường, yêu quý thiên nhiên Nội dung GDBVMT được tích hợp một cách tự nhiên vào chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ Việc triển khai nội dung GDMT cho trẻ mẫu giáo ở các nước cũng có nhiều điểm khác biệt:

- Ở Nhật Bản: GDMT gắn liền với nhiệm vụ giáo dục đạo đức Từ nhỏ, các em đã được giáo dục về việc phân loại rác cũng như ý thức bảo vệ môi trường

- Ở Hàn Quốc: Nội dung GDBVMT được trải đều trong các lĩnh vực khác nhau của chương trình

+ Nhận thức được giá trị của môi trường trong lành

+ Quan tâm đến môi trường, bảo vệ môi trường và vệ sinh môi trường + Sống tiết kiệm: bảo vệ các thiết bi, dùng tiết kiệm điện nước,chi tiêu hợp lý

+ Phân loại rác, hạn chế rác thải

+ Chuẩn bị đối phó với sự ô nhiễm của môi trường và thảm họa thiên nhiên

- Ở Úc: Chương trình giáo dục môi trường cho trẻ mầm non quan tâm đến việc xây dựng MT cho trẻ hoạt động, đó là môi trường sinh thái và môi trường nguyên vật liệu để trẻ sáng tạo

+ Môi trường sinh thái: cung cấp một MT có hệ thực vật và động vật khác nhau, một MT cân bằng về thẩm mỹ và cung cấp hiểu biết về cảm giác của trẻ và đánh giá vật liệu thiên nhiên

+ Môi trường nguyên vật liệu để trẻ sáng tạo: sử dụng các nguyên vật liệu đã qua sử dụng để trẻ tận dụng làm đồ chơi, đồ dùng và phục vụ cho hoạt động tạo hình

Trang 22

c Những nghiên cứu về giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo

dựa vào cộng đồng

Cộng đồng có vai trò rất quan trọng trong việc phối hợp với nhà trường chăm sóc, giáo dục trẻ Trong GDBVMT cho trẻ MN, cộng đồng đóng vai trò hợp tác, hỗ trợ nhằm hình thành ở trẻ thói quen, ý thức BVMT, cụ thể: Nghiên cứu - Community-Based Environmental Education - A Case Study of Teacher-Parent Collaboration (Tali Tal, 2004) đã nghiên cứu chương trình giáo dục bảo vệ môi trường dựa trên trường học trong đó có

sự tham gia của cha mẹ và các thành viên trong cộng đồng vào các hoạt động giáo dục đa dạng trong lớp và ngoài lớp học Một khung hành động về

sự hợp tác giữa nhà trường, giáo viên với cha mẹ và cộng đồng đã được xây dựng theo quan điểm tiếp cận dựa vào cộng đồng Ở trong các trường học này, cha mẹ được khuyến khích tham gia lập kê hoạch chương trình giáo dục

ở nhà trường và tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ Nghiên cứu cũng

đã mô tả trách nhiệm của cha mẹ và cộng đồng trong hợp tác với nhà trường Trong đó , cha mẹ và cộng đồng đều thừa nhận tính độc đáo của cách tiếp cận dạy học về môi trường dựa vào cộng đồng và nhấn mạnh vai trò của họ trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ

có sự điều chỉnh để phù hợp nhất với điều kiện địa phương Điều này tạo ra hiệu quả cao trong tổ chức hoạt động giáo dục BVMT cho trẻ

Nghiên cứu - Community based Environmental Education - Vivien M Talisayon đã chỉ ra rằng GDMT là một trong những lĩnh vực khoa học giáo dục gần gũi nhất với cộng đồng Tiếp cận GDMT dựa vào cộng đồng không chỉ đem lại nhiều nguồn lực đa dạng, phong phú, tiện ích và chi phí thấp mà còn đáp ứng nhu cầu học hỏi của trẻ em dựa trên những trải nghiệm gần gũi trong thực tiễn, từ đó , nâng cao hiểu biết và ý thức của trẻ về môi trường sống làm cơ sở chuẩn bị cho trẻ thành người công dân tốt trong tương lai Các

Trang 23

đối tượng tham gia vào mô hình GDMT dựa vào cộng đồng rất đa dạng (dân

cư, giáo viên, trẻ em ở địa phương)

1.1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

a Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về GDMT

Chỉ thị 36-CT/TW ngày 25/6/1998 về “Tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã coi vấn đề GDBVMT là giải pháp đầu tiên Chỉ thị này định hướng cho toàn dân trong việc nâng cao quyết tâm bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Chỉ thị nhấn mạnh các giải pháp GDMT: “Các nội dung bảo vệ môi trường được đưa vào chương trình học của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân từ bậc mầm non, tiểu học, THCS, THPT đến bậc đại học”

Tại điều 4 của Luật BVMT (1993) đã chỉ rõ: “Nhà nước có trách nhiệm

tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật bảo vệ môi trường” GDBVMT là một trong những biện pháp cơ bản của hoạt động BVMT

Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2001 của Thủ tướng chính phủ về chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Nghị Quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31/01/2005 về việc “Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường” Chỉ thị xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của công tác GDBVMT và đề ra các nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp học tham gia vào công tác GDBVMT

Tại điều 107, Luật BVMT (2005) “Giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực BVMT” đã nêu:

- Công dân Việt Nam được giáo dục toàn diện về môi trường nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường

Trang 24

- Giáo dục về môi trường là một nội dung của chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông

- Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nguồn nhân lực bảo

vệ môi trường

Công văn số 854/BTNMT-KH ngày 18/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn xây dựng kế hoạch BVMT năm 2015 của các Bộ, Ngành, để triển khai thực hiện nhiệm vụ BVMT trong các cơ sở giáo dục và nhiệm vụ “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, Bộ giáo dục và đào tạo hướng dẫn các cơ sở giáo dục và đào tạo, các trường đại học và cao đẳng, các viện và trung tâm nghiên cứu trực thuộc Bộ báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch BVMT

Luật BVMT số 55/2014/QH13 được Quốc Hội thông qua ngày 23/6/2014 có nêu tại điều 1: “Luật này quy định về hoạt động BVMT; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong BVMT Khoản 1 điều 6 luật này nêu rõ một trong những hoạt động được khuyến khích là:

“Truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học” hay “phổ biến, giáo dục pháp luật về BVMT phải được thực hiện thường xuyên và rộng rãi” (điều 154) Khoản 1 và 2 điều 155 của Luật quy định cụ thể công tác giáo dục về môi trường, đào tạo nguồn nhân lực: “chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông phải có nội dung giáo dục về môi trường”, “Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực BVMT; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn nhân lực BVMT”

b Một số NCKH về GDBVMT cho trẻ mầm non ở Việt Nam

GDMN cho trẻ mầm non đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc, nhất là trong giai đoạn gần đây Một số nghiên cứu về GDBVMT cho trẻ mầm non:

Trang 25

 Nghiên cứu về nội dung, phương pháp, hình thức GDMT cho

trẻ MN

Nghiên cứu về GDBVMT được triển khai trong nhiều đề tài, dự án, đề

án, qua đó chỉ rõ nội dung, phương pháp và hình thức cơ bản để GDBVMT cho trẻ MN

Về chương trình GDBVMT cho trẻ MN được triển khai nghiên cứu qua

các dự án, đề án, như: Dự án giáo dục dân số VIE/94/P01, chu kì 1994 - 1996

đã nghiên cứu việc tích hợp nội dung giáo dục môi trường vào chương trình giáo dục các cấp học; Dự án - Xây dựng chương trình đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào các trường mẫu giáo- Bộ GD&ĐT; Đề án - Xây dựng chương trình đưa giáo dục BVMT vào các trường mẫu giáo và sư phạm mẫu giáo –

Đề án cấp Bộ, trường CĐSPTW năm 2000

Về nội dung, phương thức GDMT cho trẻ MN được xác định qua các

nghiên cứu: Dự án - Thiết kế và thử nghiệm nội dung giáo dục môi trường ở mẫu giáo và tiểu học - Viện KHGD, 1998; Đề tài cấp Bộ - Xây dựng phương thức hoạt động giáo dục môi trường ở mẫu giáo và tiểu học; Dự án - Thử nghiệm đưa giáo dục môi trường vào trường mầm non Nội dung: thời tiết và cuộc sống của chúng ta - Trường CĐSP NTMG TW1, năm 2001; Đề tài - Điều tra thực trạng môi trường và giáo dục môi trường trong trường mầm non

- TT NCGDMN, 2001- 2002; Đề tài - Biên soạn nội dung GDBVMT cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi - TT NCGDMN, 2002-2005

Từ kết quả các nghiên cứu nói trên Bộ GD&ĐT đã xây dựng và biên soạn được 3 chương trình có nội dung GDBVMT liên quan đến trẻ lứa tuổi mầm non: Chương trình GDBVMT trong trường mầm non; Chương trình GDBVMT trong đào tạo giáo viên trung học sư phạm mầm non và Chương trình GDBVMT trong đào tạo giáo viên cao đẳng sư phạm mầm non Trong

đó , Chương trình GDBVMT trong trường mầm non tập trung vào 4 nội dung

Trang 26

chính: Con người và môi trường sống, Con người với động vật, thực vật, Con người với một số hiện tượng thiên nhiên, Con người và tài nguyên (đất, nước, rừng và danh lam thắng cảnh) Các nội dung GDBVMT nêu trên cần được thực hiện theo phương thức lồng ghép, tích hợp vào các hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường MN

Các đề tài, nhiệm vụ, đề án, dự án nghiên cứu nói trên đồng thời cũng xác định các phương pháp và hình thức tổ chức GDBVMT cho trẻ mầm non, trong đó coi việc phối hợp với gia đình trẻ, cộng đồng và các tổ chức xã hội là một trong những phương thức quan trọng để tổ chức hiệu quả hoạt động GDBVMT cho trẻ MN

 Nghiên cứu biên soạn tài liệu, học liệu GDMT cho GV và trẻ mầm non

Để phục vụ triển khai Chương trình, nội dung và phương thức GDMT cho trẻ MN trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu, dự án, đề án tập trung cung cấp tài liệu hướng dẫn tổ chức các hoạt động GDMT cho trẻ MN Cụ thể như sau:

Tài liệu tích hợp GDMT cho giáo viên mầm non; GDMT trong trường mầm non; Hình thành hành vi thân thiện với môi trường cho trẻ mầm non; Phương pháp cho trẻ làm quen môi trường xung quanh trong các trường sư phạm mầm non; Xây dựng sổ tay GDMT trong trường mầm non; Xây dựng các băng hình về tổ chức các hoạt động GDMT trong trường mầm non; Tài liệu giúp trẻ làm quen với môi trường xung quanh; Tài liệu tập truyện tranh cho trẻ mầm non; Tài liệu giúp trẻ học bảo vệ MT thông qua môn học tạo hình; Tài liệu GDMT cho trẻ mẫu giáo và cho các bậc cha mẹ

Nhiều tài liệu do Trường CĐSPTW tổ chức nghiên cứu và biên soạn, vì vậy có xu hướng tập trung nhiều hơn vào các vấn đề liên quan đến công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho đội ngũ giáo viên mầm non – những người

Trang 27

trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Tài liệu hướng dẫn về giáo dục môi trường ở mẫu giáo - Một số biện pháp tiếp cận giáo dục môi trường

Vụ GDMN, Bộ GD&ĐT biên soạn một số tài liệu như: Biên soạn tài liệu như về GDBVMT cho trẻ MN năm 2008; Tài liệu tập huấn GDBVMT cho giáo viên mầm non; Hướng dẫn thực hiện nội dung GDBVMT trong trường MN; Tài liệu hướng dẫn giáo viên cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh; Giúp bé BVMT - Tập 1, tập 2: Sách tranh giáo dục trẻ các hành vi BVMT; Giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong gia đình (tài liệu dành cho cha mẹ); Hướng dẫn cha mẹ GD trẻ MG sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả ở gia đình

Trung tâm NCGDMN, Viện KHGDVN đã triển khai thực hiện các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu và sản phẩm của nó cũng chính là các tài liệu hỗ trợ hoạt động GDMT cho trẻ MN, như: Biên soạn bộ truyện tranh GDBVMT cho trẻ MN (2008- 2010); Nhiệm vụ - Xây dựng mô hình cây xanh về giáo dục BVMT trong trường mầm non (2008-2009); Nhiệm vụ - Biên soạn tài liệu giáo dục BVMT cho trẻ mẫu giáo và tài liệu hướng dẫn các bậc cha mẹ (2009- 2011); Nhiệm vụ "Nghiên cứu xây dựng bộ tranh chủ đề và tài liệu hướng dẫn giáo viên sử dụng bộ tranh trong các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo BVMT" (2011- 2013); Nhiệm vụ - Nghiên cứu thiết kế băng hình và biên soạn tài liệu hướng dẫn sử dụng về hoạt động giáo dục kỹ năng sống thân thiện với môi trường cho trẻ mẫu giáo (2012- 2014); Nhiệm vụ - Thực trạng và giải pháp công tác giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong cấp học mầm non (2015); Xây dựng clip hoạt hình và tài liệu về giáo dục bảo vệ môi trường cho giáo viên mầm non (2016)

Các tài liệu hướng dẫn khá đa dạng, đã hỗ trợ tích cực các hoạt động GDMT cho trẻ MN trong nhà trường, gia đình…tuy nhiên, việc phối hợp với gia đình, cộng đồng mặc dù được xác định là một trong những giải pháp

Trang 28

quan trọng trong GDMT cho trẻ MN, nhưng lại chưa có những nghiên cứu liên quan, chưa có tài liệu hướng dẫn khai thác thế mạnh này để nâng cao hiệu quả GDMT

1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục dựa vào cộng đồng

Tại Việt Nam, có một số các nghiên cứu về cộng đồng như: Nghiên cứu một số yếu tố đào tạo nhân lực cộng đồng và gia đình trong chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho trẻ tàn tật của Trần Trọng Hải, Quản lí tài nguyên nước dựa vào cộng đồng ở Việt Nam của Nguyễn Danh Tĩnh và Nguyễn Việt Dũng, Sổ tay hướng dẫn phát triển cộng đồng do Lê Văn An và Ngô Tùng Đức chủ biên; Tiếp cận quản lí giáo dục hiện đại của Đặng Thành

Hưng [17], [41], [1], [22]

Tài liệu “Hướng dẫn cộng đồng xây dựng mô hình bảo vệ môi trường”

của NXB Chính trị Quốc gia, NXB Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam Trong tài liệu này đã trình bày tổng quan về các mô hình bảo vệ môi trường tiêu biểu và phát huy hiệu quả của các mô hình bảo vệ môi trường

có sự tham gia của cộng đồng, đưa ra những hướng dẫn về cách xây dựng

mô hình bảo vệ môi trường dựa vào cộng đồng cho toàn dân [12]

Tài liệu “Phương thức tổ chức chương trình nâng cao nhận thức công

cộng về bảo vệ môi trường dựa vào lực lượng sinh viên” của tác giả Nguyễn

Thuý Lan Chi (chủ biên), Nguyễn Thị Mai Linh đã giới thiệu tổng quan hoạt động truyền thông, vai trò, khả năng của lực lượng sinh viên, phương thức tổ chức, thực hiện chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường dựa vào lực lượng sinh viên và dự án thí điểm thành lập đội tình nguyện môi trường tại trường đại học Tôn Đức Thắng [16]

Vận dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong quá trình giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non (tạp chí Giáo dục

xã hội số 58), tác giả Lê Thị Kim Anh đã nhấn mạnh đến sự tương tác giữa

Trang 29

Nhà trường - gia đình - cộng đồng như là phương thức hiệu quả, tác động đồng bộ và thống nhất đến công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non, qua đó hình thành và rèn luyện ở trẻ ý thức, thái độ và hành vi tích cực

1.2 Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

1.2.1 Khái niệm môi trường; bảo vệ môi trường; giáo dục bảo vệ môi trường

1.2.1.1 Khái niệm về môi trường

Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau

về môi trường:

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm

Theo Luật BVMT năm 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên

và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [28]

Theo UNESCO (1981) khi nói đến môi trường cần nhắc đến khái niệm môi trường sống của con người: “Môi trường sống của con người bao gồm

Trang 30

toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa ) và những cái vô hình (tập quán, nghệ thuật ), trong đó con người sống và bằng lao động của mình họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình” Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh” của cuộc sống và sự nghỉ ngơi của con người”

Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con Môi trường của một khách thể bao gồm các điểu kiện vật chất, hoàn cảnh bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng Như vậy, khái niệm môi trường là một khái niệm phức tạp, có phạm vi rộng Tuy nhiên, có những điểm chung được thống nhất: Môi trường là không gian sống của con người và nhân loại Môi trường có thể là tổ hợp của không khí mà chúng ta thở, nước mà ta uống, thực phẩm chúng ta ăn, trái đất chúng

ta ở,thành phố, làng mạc, ngôi nhà chúng ta cư trú, những đồ vật mà chúng ta

sử dụng

Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu:

Môi trường là một hệ thống gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh có tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật

1.2.1.2 Khái niệm bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác và sử dụng hợp lí, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Trang 31

Bảo vệ môi trường không chỉ là của riêng một ai, khi làm việc gì đó hãy nghĩ rằng mỗi việc làm của chúng ta đều tác động tới môi trường Nếu

đó là tác động tốt thì chúng ta nên tích cực và phấn đấu nhiều hơn nữa Còn nếu tác động xấu nhưng ta không thể tránh được thì hãy làm sao cho tác động đó là tối thiểu, bởi môi trường đó chưa hẳn đã tác động đến chúng ta

mà nó có tác động rất lớn đến con em chúng ta, thế hệ tương lai nói riêng

và con người nói chung

Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo

vệ môi trường"

Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam nghiêm cấm các hành vi sau đây:

- Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, gây huỷ hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái

- Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát phóng

xạ, bức xạ quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh

- Thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh vào nguồn nước

- Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép

- Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý hiếm trong danh mục quy định của Chính phủ

- Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, nhập khẩu, xuất khẩu chất thải

- Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt các nguồn động vật, thực vật

Trang 32

1.2.1.3 Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường

Theo tài liệu Chương trình phát triển Liên hợp quốc năm 1998, khái niệm “Giáo dục môi trường là quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề môi trường, bao gồm kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm, kĩ năng để tự mình và tập thể đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề môi trường trước mắt và lâu dài”

Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa liên hợp quốc (UNESSCO) công

bố tại Hội nghị Liên Chính Phủ lần thứ nhất về GDMT (tại Tbilisi - USSR - 1997) đã đưa ra định nghĩa về GDMT như sau: “GDMT là một quá trình tạo dựng cho con người kiến thức về môi trường, rèn luyện kỹ năng về môi trường, hình thành thái độ về môi trường để có thể hoạt động một cách độc lập, hoặc phối hợp, nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề của hiện tại và ngăn chặn những vấn đề mới có thể nảy sinh trong tương lai”

Theo các quan niệm trên thì GDBVMT được hiểu như sau:

GDBVMT cho trẻ mầm non là quá trình giáo dục nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết sơ đẳng về môi trường, có sự quan tâm đến các vấn đề về môi trường phù hợp với lứa tuổi, thể hiện qua kiến thức, thái độ, kĩ năng, hành vi và trách nhiệm của trẻ đối với môi trường xung quanh [34 Tr 3]

Định hướng cơ bản về GDBVMT cho trẻ mầm non bao gồm:

Giáo dục về môi trường là trang bị cho trẻ các kiến thức cơ bản về môi trường, các thành phần của nó và mối quan hệ giữa chúng với nhau, cung cấp những kiến thức về những tác động của con người tới môi trường và môi trường tới con người

Giáo dục trong môi trường là sử dụng môi trường như một nguồn lực dạy học Giáo dục môi trường cần gắn liền với môi trường sống thực tế của trẻ

Giáo dục vì môi trường là giáo dục hình thành ở trẻ thái độ quan tâm đến môi trường, có trách nhiệm trước các vấn đề của môi trường trên cơ sở các kiến thức về môi trường, các kĩ năng tác động đến môi trường

Trang 33

1.2.2 Đặc điểm sinh lý, tâm lý, xã hội của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

1.2.2.1 Đặc điểm sinh học

Độ tuổi 5 - 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo Ở giai đoạn này, những cấu tạo đặc trưng của con người đã được hình thành

Về hệ vận động, trẻ 5 - 6 tuổi có sự phối hợp vận động của nhiều nhóm

cơ như người lớn Còn việc tiếp thu những thói quen vận động còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là luyện tập phù hợp.Các chức năng chủ yếu của cơ thể dần dần hoàn thiện đặc biệt là vận động phối hợp động tác khéo léo hơn, có thể làm được những công việc khó, phức tạp hơn và một số công việc tự phục vụ như: tự ăn, tự đánh răng, tự mặc quần áo, tự rửa mặt, tự

đi tất Tốc độ tăng trưởng của trẻ 5 - 6 tuổi rất nhanh, tỉ lệ cơ thể đã cân đối, tạo ra những thế vững chắc, cảm giác thăng bằng đã được hoàn thiện, sự phối hợp vận động tốt hơn

Hệ thần kinh của trẻ ở độ tuổi này tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức năng phân tích tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện nhanh, trí tuệ phát triển nhanh, do đó trẻ có thể nói được những câu dài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng sâu sắc về những người xung quanh Về hệ thần kinh, trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có cường

độ và tính linh hoạt của các quá trình thần kinh tăng rõ rệt Số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ giảm xuống còn 11 giờ trong ngày

Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ 5 - 6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất: huyết sắc tố: 80-90%, hồng cầu 4,5-5 triệu đơn vị, bạch cầu: 7-10 nghìn, tiểu cầu 200-300 nghìn Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên

từ 80-110 lần trong phút

Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển

Trang 34

1.2.2.2 Đặc điểm tâm lý

Đặc điểm nhận thức và ngôn ngữ của trẻ

Trẻ 5 - 6 tuổi đã sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày Trẻ nắm vững được ngữ âm và ngữ điệu trong khi sử dụng tiếng mẹ đẻ, trẻ biết đọc diễn cảm, biết dùng ngôn ngữ cơ thể bổ sung cho ngôn ngữ nói.Vốn từ và cấu trúc ngữ pháp khi nói phát triển, ngôn ngữ nói mạch lạc, rõ ràng Trẻ cũng đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp Trẻ thường sử dụng ngữ điệu êm ái để biểu thị tình cảm yêu thương trìu mến đối với người thân và những người xung quanh Ngược lại khi giận giữ trẻ lại sử dụng ngữ điệu thô và mạnh

Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích lũy được khá phong phú

Vì vậy trẻ mẫu giáo lớn đã có thể hiểu được phần lớn các nội dung câu chuyện mà trẻ được nghe và thể hiện chúng khá sinh động khi tham gia các tiết

kể lại chuyện hay đóng kịch Trẻ hiểu được nội dung nên dễ dàng tiếp nhận các bài học rút ra từ câu chuyện cũng như tự mình hiểu được nhân vật nào đáng khen, nhân vật nào đáng chê và ở điểm nào, cần học tập ai, phê bình ai

Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong thời gian 15-20 phút Cùng với đó là vai trò của hệ thống tín hiệu ngày càng tăng, tư duy ngày càng tăng, ngôn ngữ bên trong xuất hiện Chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt gần như ở người lớn, ở chỗ sự khái quát hóa được thể hiện theo hoạt động với đồ vật Vì vậy mà tư duy trực quan hành động vẫn giữ vai trò quan trọng trong thần kinh cấp cao của trẻ Trẻ lứa tuổi này đã có thể học đọc và học viết

Các quá trình nhận thức như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng phát triển với chất lượng mới hơn, thể hiện ở:

- Có nhiều kiểu loại tri giác hơn (tri giác không gian, tri giác thời gian ) Ngưỡng của các giác quan nhạy bén hơn

Trang 35

- Tính chủ định các quá trình tâm lí thể hiện rõ ràng hơn

Đặc điểm chú ý của trẻ:

Chú ý của trẻ đã có tính chủ định bền vững hơn Trẻ biết hướng ý thức của mình vào các đối tượng trong khi chơi, học tập hoặc lao động tự phục vụ Khả năng tập trung chú ý của trẻ sẽ cao hơn nếu đồ vật, đối tượng chú ý hấp dẫn, nhiều thay đổi Sự di chuyển chú ý của trẻ khá nhanh nếu người lớn khéo léo dẫn dắt trẻ chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác, từ hoạt động này sang hoạt động khác

Đặc điểm phát triển tư duy:

Sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo có những bước tiến vượt bậc :

- Tư duy trực quan - hình tượng vẫn phát triển mạnh mẽ như trước đây Đồng thời để thỏa mãn nhu cầu, khả năng khám phá thế giới xung quanh, một kiểu tư duy trực quan - hình tượng mới xuất hiện và dần trở lên chiếm ưu thế

Đó là tư duy trực quan - sơ đồ Kiểu tư duy này tạo cho trẻ khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay

ý muốn chủ quan của bản thân trẻ nữa Tư duy trực quan - sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng trong tư duy, song bản thân hình tượng đã được lược đi những chi tiết rườm rà, chỉ giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh khái quát sự vật hiện tượng Chính nhờ tính khái quát này, dần dần hình thành

ở trẻ kiểu tư duy mới: tư duy lôgic

- Tư duy của trẻ dần mất tính duy kỉ (lấy mình là trung tâm) tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn

Trang 36

hoàn thành nhiệm vụ Tính mục đích trong công việc càng ngày càng được trẻ

ý thức và cố gắng hoàn thành công việc (số lượng công việc được giao nhiều hơn ) Tình kế hoạch xuất hiện, trẻ biết sắp xếp "công việc" vui chơi và phải quét nhà, nhặt rau để khi mẹ về là mọi việc phải xong cho mẹ hài lòng

Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn thể hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay giái mà còn biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình Ở đây tấm gương của người lớn tác động rất mạnh đến trẻ

Đặc điểm đời sống tình cảm:

Tuy nhiên đời sống xúc cảm của trẻ còn dễ dao động, mang tính chất tình huống Trẻ thường không làm chủ được cảm xúc của mình, trẻ dễ bị xúc động, bởi lẽ đây là phản ứng tự nhiên của trẻ

Tình cảm trí tuệ: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ; tính tò mò ham hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực; trong vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ nhiều thành công thất bại củng cố sự phát triển tình cảm trí tuệ ở trẻ

Tình cảm đạo đức: Do lĩnh hội được ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt, xấu Qua vui chơi giao tiếp với mọi người; do các thói quen nếp sống tốt được gia đình, các lớp mẫu giáo xây dựng cho trẻ Trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện để vui lòng mọi người

Tình cảm thẩm mỹ: Qua các tiết học nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, tìm hiểu môi trường xung quanh Cùng với những nhận thức về cái đẹp tự nhiên, hài hoà về bố cục, sắp xếp trong gia đình và lớp học Trẻ ý thức rõ nét về cái đẹp cái xấu theo chuẩn (lúc đầu theo chuẩn của bé dần dần phù hợp với đánh giá của những người xung quanh ) xúc cảm thẩm mỹ, óc thẩm mỹ phát triển

Trang 37

Đặc điểm phát triển xã hội:

Trẻ nhận biết được các mối quan hệ xã hội: Theo độ tuổi, các mối quan

hệ xã hội của trẻ ngày càng mở rộng: quan hệ với những người thân trong gia đình, với cô và các bạn cùng lớp, với các em lớp dưới, với những người hàng xóm xung quanh Trong các mối quan hệ này, trẻ đã nhận biết được mối quan

hệ giữa mình với người khác (quan hệ thứ bậc), từ đó có cách xưng hô và các biểu hiện hành vi phù hợp

Trẻ nhận biết được vị thế của mình và điều chỉnh hành vi phù hợp theo

vị thế Trong các mối quan hệ xã hội ở nơi công cộng, trẻ biết quan sát những dấu hiệu bên ngoài như nét mặt, trang phục để xác định thứ bậc xưng hô Trẻ mẫu giáo lớn bắt đầu có khả năng tự điều chỉnh hành vi của bản thân, nghĩa là thực hiện những yêu cầu trước kia xuất phát từ người lớn Chúng có thể làm đến cùng những việc không hấp dẫn, nghĩa là trẻ đã ý thức được những chuẩn mực chung, các qui tắc hành vi, sự cần thiết phải thực hiện Tuy nhiên, việc tuân thủ các chuẩn mực đã nêu chỉ có thể thực hiện với những bạn mà trẻ có thiện cảm, với bạn thân của mình

Một số phẩm chất tốt như tính tự lực, tự tin và tự trọng đã hình thành ở trẻ Các phẩm chất đó biểu hiện ở những việc làm rất cụ thể của trẻ như: tự làm những việc phù hợp để giúp cô, để phục vụ bản thân

Trẻ tuân thủ các yêu cầu, hướng dẫn của cô giáo rất nghiêm túc nên các hành vi, lời nói của trẻ thường phù hợp với chuẩn mực xã hội

Trẻ 5 - 6 tuổi có thể kìm nén các cảm xúc mạnh của mình để thực hiện những yêu cầu của người lớn, nếu đó là những yêu cầu dễ hiểu, phù hợp với

khả năng của trẻ Ở độ tuổi này, những động cơ xã hội đã ảnh hưởng nhiều tới các hành vi của trẻ, nó góp phần hiệu quả trong việc giúp trẻ điều chỉnh và kiểm soát cảm xúc của mình,

+ Với sự phát triển về nhận thức và một số phẩm chất ý chí, trẻ 5 - 6 tuổi

đã nắm được mục đích của việc làm và khi đã thực hiện nhiệm vụ, trẻ nỗ lực, kiên trì để đạt được mục đích đặt ra

Trang 38

Quan hệ của trẻ ngày càng đa dạng hơn, chẳng khác nào một xã hội người lớn thu nhỏ lại, nhu cầu giao tiếp với bạn bè đang phát triển rất mạnh “Xã hội trẻ em ” còn khác xa so với xã hội người lớn Hợp rồi tan, tan rồi hợp, thực và chơi, chơi và thực Đó chính là nét độc đáo của cái xã hội ấy Những mối quan

hệ xã hội trong nhóm bạn bè có một ý nghĩa lớn lao đối với trẻ Trong cái xã hội ấy mỗi đứa trẻ có một vị trí nhất định, thể hiện qua việc đối xử giữa các thành viên với nhau Vị trí trong nhóm bạn cùng tuổi ảnh hưởng một cách sâu sắc đến sự phát triển nhân cách của trẻ.Vào cuối tuổi mẫu giáo, đã bắt đầu xuất hiện vai trò “thủ lĩnh” Đó là đứa trẻ được các bạn tôn sùng và vị nể nhất “Xã hội trẻ em” cũng dần dần hình thành những dư luận chung Dư luận chung thường được bắt nguồn từ những nhận xét của người lớn đối với trẻ em, cũng

có thể do trẻ em nhận xét lẫn nhau, dư luận chung ảnh hưởng khá lớn đối với

sự lĩnh hội những chuẩn mực hành vi đạo đức của trẻ trong nhóm Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ em

1.2.3 Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo

1.2.3.1 Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo

- Hợp tác với bạn bè, người thân trong việc thực hiện hành vi bảo vệ môi trường

Trang 39

c Thái độ:

- Yêu quý, gần gũi thiên nhiên

- Yêu quê hương, đất nước, thể hiện thái độ ủng hộ với hành động bảo vệ môi trường hoặc không ủng hộ trước hành vi gây ô nhiễm môi trường

- Tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường

1.2.3.2 Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo

a Nội dung GDBVMT cho trẻ MN theo các văn bản, tài liệu hướng dẫn của ngành học:

Chỉ thị 36 CT/TW của Bộ Chính trị đã đưa ra nhiệm vụ “Đưa các nội dung GDBVMT vào chương trình giáo dục các cấp học và bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân”

Tài liệu Giúp bé bảo vệ môi trường của Hoàng Thị Thu Hương (2009) chỉ

ra rằng GDBVMT cho trẻ mầm non tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

Nội dung 1: Con người và môi trường sống

+ Nhận biết môi trường: môi trường trong trường MN; môi trường ở

gia đình

+ Hiểu biết về môi trường xung quanh: phân biệt môi trường sạch, môi

trường bị ô nhiễm; Nguyên nhân làm môi trường bị ô nhiễm; Các hoạt động chăm sóc, bảo vệ môi trường

+ Quan tâm bảo vệ môi trường: Tiết kiệm trong sinh hoạt; Tham gia

bảo vệ môi trường

Nội dung 2: Con người với động vật, thực vật

+ Mối quan hệ giữa động vật với con người, thực vật và môi trường + Mối quan hệ giữa thực vật với con người, động vật và môi trường + Mối quan hệ giữa con người với động vật, thực vật và môi trường

Nội dung 3: Con người với một số hiện tượng thiên nhiên

+ Gió : Lợi ích của gió; Tác hại của gió; Biện pháp tránh gió

Trang 40

+ Nắng và mặt trời: Lợi ích của nắng; Tác hại của nắng; Biện pháp

tránh nắng

+ Mưa: Lợi ích của mưa; Tác hại của mưa; Biện pháp tránh mưa

Nội dung 4: Con người và tài nguyên (đất, nước, rừng và danh lam thắng cảnh)

+ Tác dụng của đất, biện pháp bảo vệ đất

+ Tác dụng của nước, biện pháp bảo vệ nước

+ Tác dụng của rừng, biện pháp bảo vệ rừng

+ Các danh lam thắng cảnh, biện pháp bảo vệ danh lam thắng cảnh [24]

b Nội dung GDBVMT dựa vào cộng đồng: Trẻ cần nắm được đặc điểm MT và các điều kiện tự nhiên, xã hội tại địa phương

+ Những vấn đề môi trường tại địa phương cần được quan tâm và tác động để thay đổi: vấn đề ô nhiễm môi trường, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường (ý thức của người dân, nhận thức về vấn đề MT, kĩ năng thực hành BVMT…)

+ Các điều kiện tự nhiên, xã hội sẵn có tại địa phương thuận lợi cho việc triển khai GDMT dựa vào cộng đồng: sông, núi, đồng ruộng, các công trình, di tích lịch sử-văn hóa, công xưởng, xí nghiệp, nhà cửa, tập quán sinh hoạt lao động sản xuất của người dân địa phương, kinh nghiệm của người dân, kinh nghiệm tổ chức các hoạt động dựa vào cộng đồng tại địa phương…

1.2.3.3 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo

Theo Hoàng Thị Phương, trong giáo trình GDMT cho trẻ mầm non, phương pháp GDBVMT cho trẻ mầm non được quan niệm là “phương thức hoạt động gắn bó giữa giáo viên và trẻ nhằm phát triển ở trẻ những hiểu biết

sơ đẳng về môi trường, quan tâm đến các vấn đề môi trường phù hợp với lứa tuổi được thể hiện qua kiến thức, thái độ, kĩ năng, hành vi, trách nhiệm của trẻ

Ngày đăng: 06/05/2019, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang (1997), Giáo dục học mầm non, Nxb ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm, Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1997
4. Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng đã ra chỉ thị 36/CT/TƢ về “Tăng cường công tác BVMT trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Ngày 25/6/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác BVMT trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
5. Bộ chính trị, Nghị quyết 41/ NQ/ TƢ về: “BVMT trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Ngày 15/11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BVMT trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, "Chính sách và Chương trình hành động giáo dục môi trường trong trường phổ thông giai đoạn 2001 - 2010", Quyết định số 6621/QĐ-BGDĐT-KHCN ngày 30-12-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và Chương trình hành động giáo dục môi trường trong trường phổ thông giai đoạn 2001 - 2010
7. Bộ GD&ĐT, Chỉ thị về việc “Tăng cường công tác GD&ĐT về BVMT”. Ngày 15/11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác GD&ĐT về BVMT
8. Bộ GD&ĐT, Chỉ thị số 02/2005/BGDĐT của Bộ GD&ĐT về: “Tăng cường công tác giáo dục BVMT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác giáo dục BVMT
9. Bộ GD&ĐT, Chỉ thị số 3200/2006/BGDĐT của Bộ GD&ĐT ngày 21/04/2006, Hướng dẫn thực hiện việc: "Tăng cường công tác giáo dục BVMT trong trường mầm non giai đoạn 2005- 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác giáo dục BVMT trong trường mầm non giai đoạn 2005- 2010
13. Đề án "Đƣa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân", theo Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17-10-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đƣa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân
20. Lê Xuân Hồng (2001), “Nghiên cứu xây dựng tài liệu tham khảo tích hợp nội dung GDBVMT vào chương trình đào tạo GVSPMN”, Trường CĐSP MG TW3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng tài liệu tham khảo tích hợp nội dung GDBVMT vào chương trình đào tạo GVSPMN
Tác giả: Lê Xuân Hồng
Năm: 2001
35. Thủ tướng chính phủ kí quyết định số 256 /2003 /QĐ /TTg phê duyệt về “Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, Ngày 02/12/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
36. Tài liệu tập huấn quốc gia của Chương trình Giáo dục BVMT “Những phương pháp tiếp cận cơ bản về GDBVMT trong trường phổ thông” tháng 3.1998, tháng 8.1999 và tháng 10.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phương pháp tiếp cận cơ bản về GDBVMT trong trường phổ thông
38. Nguyễn Thạc và cộng sự “Biên soạn tài liệu đưa GDBVMT vào Chương trình chăm sóc giáo dục mầm non” Dự án Môi trường - B2002-45-01 DAMT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên soạn tài liệu đưa GDBVMT vào Chương trình chăm sóc giáo dục mầm non
40. Nguyễn Thạc - Trần Lan Hương (2001): Dự án “Thử nghiệm đưa GDMT vào một số trường mầm non”, Trường CĐSP NT-MG TW1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm đưa GDMT vào một số trường mầm non
Tác giả: Nguyễn Thạc - Trần Lan Hương
Năm: 2001
50. Ruth A. Wilson, Ph.D. (1993), Fostering A Sense of Wonder During the Early Childhood Years, Program of the Ohio Environmental Protection Agency 51. http://www.ecosmagazine.com/paper/EC155p16.htm Link
1. PGS.TS Lê Văn An và TS.Ngô Tùng Đức chủ biên, Sổ tay hướng dẫn phát triển cộng đồng, Nxb Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản(JICA) Khác
2. Lê Thị Kim Anh (2016), Vận dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong quá trình giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non, Tạp chí Giáo dục và xã hội, số 58, tháng 1 - 2016, tr 57 Khác
11. Bộ GD&ĐT, Chương trình phát triển của liên hợp quốc - 1998 - Các hướng dẫn chung về GDMT dành cho người đào tạo giáo viên trường tiểu học - Dự án quốc gia VIE/95/041 - Hà Nội Khác
12. Cục bảo vệ môi trường (2015), Hướng dẫn cộng đồng xây dựng mô hình bảo vệ môi trường, NXB Chính trị Quốc gia; NXB Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam Khác
14. Nguyễn Thị Cẩm Bích và cộng sự (2013), Nghiên cứu xây dựng bộ tranh chủ đề và tài liệu hướng dẫn giáo viên sử dụng bộ tranh trong các hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo BVMT, Nhiệm vụ cấp Bộ MS B2011-03MT, Viện KHGDVN, Bộ GD&ĐT Khác
15. Lương Thị Bình và cộng sự (2011), Nghiên cứu biên soạn tài liệu giáo dục BVMT cho trẻ mẫu giáo và tài liệu hướng dẫn các bậc cha mẹ giáo dục trẻ mẫu giáo BVMT tại gia đình, Nhiệm vụ cấp Bộ Mã số: B2009 - 37 - 63MT, Viện KHGDVN, Bộ GD&ĐT Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w