1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng một số chủ đề ôn tập môn toán lớp 4 theo định hướng tích hợp, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

121 389 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2LÊ THU HUYỀN XÂY DỰNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ ÔN TẬP MÔN TOÁN LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP, PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH Chuyên n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THU HUYỀN

XÂY DỰNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ ÔN TẬP MÔN TOÁN

LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP,

PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THU HUYỀN

XÂY DỰNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ ÔN TẬP MÔN TOÁN

LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP,

PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH

Chuyên ngành: Giáo dục học (Tiểu học)

Mã số: 8 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Mai Lê

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “ Xây dựng một số chủ đề ôn tập môn Toán lớp

4 theo định hướng tích hợp, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bàytrong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì côngtrình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Lê Thu Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Hoàng Mai Lê - người thầy đãtận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại trên con đườngnghiên cứu khoa học Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trongKhoa Giáo dục Tiểu học, phòng Sau Đại học - trường ĐHSP Hà Nội 2 đã luôn hếtlòng hướng dẫn, nhiệt tình chỉ bảo, cung cấp tài liệu và thông tin cho tôi trong suốtquá trình học tập và làm luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo vàcác em học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Nam Từ Liêm và quậnĐống Đa đã ủng hộ, cộng tác và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, đánh giá và tổchức thực nghiệm các nội dung có liên quan đến luận văn Cuối cùng, tôi xin gửi lờicảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Ban giám hiệu trường Tiểu học Nam TừLiêm, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiện tốt nhất chotôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 20

Tác giả luận văn

Lê Thu Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP .8

1.1 Tích hợp 8

1.1.1 Khái niệm tích hợp .8

1.1.2 Khái niệm về dạy học tích hợp 9

1.1.3 Bản chất của dạy học tích hợp 9

1.1.4 Các hình thức và mức độ của dạy học tích hợp 10

1.1.5 Yêu cầu của việc dạy học tích hợp ở Tiểu học 14

1.2 Yêu c dựng trên cơ sở những quan niệm tí của học sinh tiểu học

16 1.2.1 Năng lực cần phát triển trong nhà trường tiểu học 16

1.2.2 Các phẩm chất cần hình thành và phát triển của học sinh tiểu học 20

1.3 Môn Toán ở Tiểu học 23

1.3.1 Mục tiêu môn Toán ở Tiểu học .23

1.3.2 Chương trình môn Toán Tiểu học .23

1.3.3 Nội dung môn Toán lớp 4 26

1.3.4 Dạy học tích hợp trong môn Toán lớp 4 27

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học .

29 1.4.1 Sự phát triển của quá trình nhận thức 29

Trang 6

61.4.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học: 31

Trang 7

1.5 Các phương pháp tổ chức dạy học và đánh giá nên sử dụng khi dạy học các chủ đề ôn tập theo định hướng tích hợp, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh32

1.5.1 Các phương pháp dạy học tích cực: 32

1.5.2 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá 36

1.6 Thực trang việc xây dựng chủ đề ôn tập môn Toán 4 theo định hướng tích hợp, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

39 1.6.1 Mục đích điều tra 39

1.6.2 Nội dung điều tra 40

1.6.3 Đối tượng điều tra 40

1.6.4 Phương pháp điều tra 40

1.6.5 Kết quả điều tra 40

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG MỘT SỐ CHỦ ĐỀ ÔN TẬP MÔN TOÁN LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP, PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH 46

2.1 Quy trình xây dựng chủ đề ôn tập Toán 4 theo định hướng tích hợp, phát triển năng lực học sinh 46

2.2 Định hướng xây dựng một số chủ đề tích hợp trong dạy học môn Toán lớp 4 51

2.3 Xây dựng một số chủ đề tích hợp trong dạy học môn Toán lớp 4 52

2.3.1 Chủ đề 1: Chúng ta đã sử dụng túi nilon như thế nào? 53

2.3.2 Chủ đề 2: Cuộc đua kì thú 60

2.3.3 Chủ đề 3: Diện tích quanh ta 69

2.3.4 Chủ đề 4: Các phần bằng nhau 75

2.3.5 Chủ đề 5: Em là giám đốc xưởng may 81

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89

3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 89

3.1.1 Mục đích TN sư phạm 89

3.1.2 Yêu cầu TN sư phạm 89

Trang 8

3.2 Quy mô và địa bàn thực nghiệm 89

3.3 Kế hoạch thực nghiệm 90

3.4 Đối tượng thực nghiệm: 90

3.5 Thời gian thực nghiệm 90

3.6 Nội dung TN 90

3.7 Quy trình TN sư phạm 91

3.8 Các phương pháp đánh giá TN 91

3.9 Đánh giá kết quả thực nghiệm 92

3.9.1 Về định tính 92

3.9.2 Về mặt định lượng 96

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH

Bảng 1.1 NL cần phát triển trong môn Toán 19

Bảng 1.2 Phẩm chất cần hình thành và phát triển ở HS 21

Bảng 1.3 Phương pháp tổ chức dạy học tích hợp của môn Toán 41

Bảng 1.4 Mức độ liên hệ kiến thức Toán với thực tiễn đời sống trong quá trình dạy học 41

Bảng 1.5 Mức độ vận dụng kiến thức giữa các môn học khác với những nội dung kiến thức môn Toán trong quá trình giảng dạy .41

Bảng 1.6 Suy nghĩ của HS về môn Toán 43

Bảng 2.1 Gợi ý nội dung tích hợp 48

Bảng 3.1 Bảng thống kê kết quả của trường Tiểu học Nam Từ Liêm 96

Bảng 3.2 Bảng thống kê kết quả của trường Tiểu học Thái Thịnh 98

Hình 2.1 Trái đất với nguy cơ về túi nilon 56

Hình 2.2 Chú cá voi bên bờ biển Thái Lan 56

Hình 2.3: Biểu đồ về việc sử dụng túi nilon hiện nay 57

Hình 2.4 Tranh bảo vệ môi trường 58

Hình 2.5 Tranh cổ động không sử dụng túi nilon 58

Hình 2.6 Sử dụng thang máy đúng cách 64

Hình 2.7 Ô tô chở quá trọng lượng 64

Hình 2.8 Thuyền chở quá số người quy định 64

Hình 2.9 Tìm cân nặng của mỗi người 65

Hình 2.10 Văn hóa xếp hàng nơi công cộng 67

Hình 2.11 Bồn hoa của trường 71

Hình 2.12 Hình bánh Lan đã ăn 76

Hình 2.13 Hình bánh Hoa đã ăn 76

Hình 2.14 Hướng dẫn gấp phi tiêu Origami 79

Hình 3.1: Biểu đồ thống kê kết quả trường Tiểu học Nam Từ Liêm 97

Hình 3.2 Biểu đồ thống kê kết quả trường Tiểu học Thái Thịnh 99

Trang 10

1

Trang 11

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

1.1 Kể từ năm 1975, khi Việt Nam hoàn toàn được thống nhất, khi trẻ em

được cắp sách đến trường cho tới nay, đất nước ta đã xoay mình, hội nhập để sánhvai cùng các nước trên thế giới Nền kinh tế của chúng ta đã phát triển, con ngườiđầy đủ cơm ăn áo mặc… Chúng ta đã đi lên và học hỏi được biết bao điều từ bè bạnquốc tế từ kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hóa, … và đặc biệt là giáo dục Nghị quyết

số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa và hội nhập quốc tế đã được hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông qua chỉ ra

rõ rằng: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”.

Giáo dục, với mục tiêu đào tạo ra những con người phụ hợp với thời đại,những sản phẩm lao động đáp ứng được với thế giới đang ngày một đi lên, tiến bộ

về công nghệ, cũng đã đổi thay rất nhiều Thay vì những bài giảng chỉ mang tínhthuyết trình, đào tạo ra những con người thụ động, giáo dục ngày nay được “đặthàng” phải tạo ra những con người năng động, sáng tạo, tự tin… Từ “đơn hàng” đó,ngành giáo dục phải thay đổi từ chương trình, phương pháp, nội dung…, năng lực vàphẩm chất của người học được đưa ra là những mục tiêu cần đạt trong giáo dục.Chương trình tổng thể của bộ giáo dục và đào tạo ban hành vào tháng 7 năm 2017

cũng đã ghi rõ về yêu cầu này “Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó”.

Trang 12

1.2 Khái niệm dạy học tích hợp bắt đầu đi vào các nhà trường, đặc biệt phổ

biến trong trường tiểu học theo chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 Khôngqua đào tạo bài bản, chỉ qua chỉ đạo văn bản, có lẽ mỗi người giáo viên tiểu học khigiảng dạy chỉ “lờ mờ” hiểu thế nào là tích hợp

Hoạt động dạy học theo định hướng tích hợp được xem là hoạt động có tínhthực tiễn nên tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh giúp các em nắm vữngtri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển tư duy sáng tạo Bản thân dạy họctích hợp mang trong mình các chức năng: chức năng giáo dưỡng, chức năng giáodục, chức năng phát triển và kiểm tra Vì vậy hoạt động dạy học theo định hướngtích hợp là điều kiện để thực hiện tốt các mục tiêu dạy học và tổ chức có hiệu quảviệc dạy học theo định hướng tích hợp có vai trò quyết định đối với chất lượng dạyhọc

Ở tiểu học, các tiết học “tích hợp” chủ yếu mới chỉ dừng lại ở liên hệ thực tế.Khi giảng dạy, người giáo viên tự mày mò, nghiên cứu và đưa vào trong nội dungbài dạy Như vậy tích hợp chưa đạt được hiệu quả thực sự của nó Trong thực tế nộidung chương trình hiện hành, các bài học tích hợp chưa phong phú, đặc biệt là cácbài dạy học tích hợp được xây dựng nhằm kiểm tra kĩ năng tổng hợp của học sinh

1.3 Môn Toán là môn học bắt buộc ở tiểu học Giáo dục toán học hình thành

và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực tư duy và lập luậntoán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, nănglực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; pháttriển kiến thức, kỹ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, ápdụng toán học vào đời sống thực tiễn Giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữacác ý tưởng toán học, giữa Toán học với các môn học khác và giữa Toán học vớiđời sống thực tiễn

1.4 Trong giai đoạn 1 (ở lớp 1, 2, 3), tư duy học sinh phần nhiều là tư duy cụ

thể Bước sang giai đoạn 2 (lớp 4, 5) tư duy đã dần chuyển sang tư duy trừu tượng

Ở giai đoạn này, học sinh đã nắm được kiến thức đúng bản chất hơn, khối lượngkiến thức cũng nhiều hơn và tư duy logic cũng tốt hơn Nếu trong giai đoạn nàychúng ta có thể cung cấp cho học sinh vốn kiến thức và yêu cầu áp dụng trong thực

Trang 13

tiễn bằng những nội dung tích hợp thì chắc chắn học sinh sẽ hiểu rõ vấn đề hơn, gắn vấn đề trong thực tiễn tốt hơn thay vì đặt câu hỏi: “Học nội dung này để làm gì?”

Với những lí do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Xây dựng một số chủ

đề ôn tập môn Toán lớp 4 theo định hướng tích hợp phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”.

2 Tổng quan các nghiên cứu của đề tài

2.1 Các nghiên cứu về tích hợp trên thế giới

Dạy học tích hợp là cần thiết, một xu hướng tối ưu của lý luận dạy học ngàynay và đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện Hầu hết các nước trong khu vựcĐông Nam Á đã thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học ở những mức độ nhấtđịnh Trong những năm 70 và 80 vủa thế kỷ XX, UNESCO đã có những hội thảovới các báo cáo về việc thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học của các nướctới dự Khi xây dựng chương trình giáo dục phổ thông, xu hướng chung của cácnước trên thế giới hiện nay là tăng cường tích hợp, đặc biệt ở cấp tiểu học và THCS.Theo thống kê của UNESCO (từ năm 1960 – 1974) có 208/392 chương trình mônKhoa học trong chương trình giáo dục phổ thông các nước thể hiện quan điểm tíchhợp ở các mức độ khác nhau Một nghiên cứu mới đây của Viện Khoa học giáo dụcViệt Nam về chương trình giáo dục phổ thông 20 nước cho thấy 100% các nước đềuxây dựng chương trình theo hướng tích hợp

Phần Lan- một trong những nước có nền giáo dục hàng đầu thế giới- đangbắt tay vào một trong những cải cách có thể nói là triệt để nhất trong giáo dục thờihiện đại Đất nước này lên kế hoạch từ nay đến năm 2020 sẽ từng bước giảm thiểuviệc dạy từng môn học riêng biệt và thay vào đó sẽ dạy học sinh theo các chủ đềthực tế, tích hợp nhiều lĩnh vực

Ở nhiều nước phát triển như Mĩ, Anh, Đức, Thụy Điển, Australia, Hàn QuốcSingapore… trong chương trình phổ thông đã xuất hiện chương trình và sách giáokhoa cho những môn học tích hợp như: nghiên cứu xã hội, nghiên cứu môi trường,nghiên cứu tự nhiên, Địa lý – Chính trị - Giáo dục công dân…

Trang 14

Như vậy, có thể thấy, khi nhắc đến tích hợp, khái niệm này không hề mớitrên thế giới và đang là xu thế của mọi nền giáo dục.

2.2 Các nghiên cứu về tích hợp ở Việt Nam

Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng mônhọc tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu,thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậc Tiểu học và cấpTHCS và gần đây áp dụng vào trong việc thiết kế chương trình, lập kế hoạch và tổchức đào tạo ở lĩnh vực chuyên nghiệp trong đó có lĩnh vực đào tạo nghề Trước đó,tinh thần giảng dạy tích hợp chỉ mới được thực hiện ở những mức độ thấp như liên

hệ, phối hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học hay phân môn khác nhau đểgiải quyết một vấn đề giảng dạy Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếptục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình chương trình đàotạo ở các cấp bậc học

Trong những năm gần đây, một số đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến cácgiải pháp phát triển năng lực cho học sinh thông qua dạy học Toán như:Đỗ Đình

Hoan (2002), Một số vấn đề cơ bản của chương trình tiểu học mới, NXB giáo dục,

Hà Nội; Cao Thị Thặng (2010), Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình Giáo dục phổ thông sau năm 2015, Báo cáo tổng kết Đề tài cấp Bộ, mã

số: B2008-37-60 Đặc biệt, năm 2016, nhiều hội thảo khoa học cấp quốc gia đã trìnhbày đề án xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng dạy học tích hợp

Như vậy, đề tài mà chúng tôi nghiên cứu đã và đang nhận được sự quan tâmsâu sắc của các nhà khoa học cũng như các nhà giáo dục.Tuy nhiên, cho đến naychưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra một chuỗi các chủ đề ôn tập môn Toán củalớp 4 để người giáo viên có thể trực tiếp áp dụng vào giảng dạy Trên cơ sở kế thừakết quả của các công trình nghiên cứu mang tính lí luận và định hướng, chúng tôitiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu sâu để xây dựng được các chủ đề ôn tập mônToán lớp 4 theo định hướng tích hợp góp phần phát triển năng lực học sinh, nângcao chất lượng dạy và học môn Toán trong trường Tiểu học

Trang 15

3 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng một số chủ đề tích hợp trong dạy học Toán lớp 4 nhằm nâng caohiệu quả dạy học môn Toán lớp 4 góp phần hình thành và phát triển phẩm chất,năng lực của học sinh

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các chủ đề ôn tập môn Toán theo định hướng tích hợp, phát triển phẩmchất, năng lực học sinh ở lớp 4

4.2 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học tích hợp toán lớp 4 ở một số trường tiểu học trong quậnNam Từ Liêm

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu xây dựng một số chủ đề ôn tập môn Toán lớp

4 theo định hướng tích hợp, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

5 Giải thuyết khoa học

Nếu xây dựng, thiết kế được một số chủ đề ôn tập môn toán lớp 4 theođịnh hướng tích hợp sẽ góp phần nâng cao kết quả dạy học môn Toán, phát triểnphẩm chất, năng lực cho học sinh

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về dạy học tích hợp

6.2 Điều tra khảo sát thực trạng về việc dạy học tích hợp trong môn Toánlớp 4 theo định hướng phát triển năng lực ở một số trường tiểu học trên địa bànquận Nam Từ Liêm

6.3 Xây dựng một số chủ đề ôn tập môn Toán lớp 4 theo định hướng tíchhợp, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

6.4 Thực nghiệm sư phạm các chủ đề tích hợp môn Toán lớp 4 tại một sốtrường tiểu học trong quận Nam Từ Liêm để đánh giá tính hiệu quả và khả thi củacác nội dung nghiên cứu

Trang 16

7 Các phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về tổ chứccác hoạt động dạy học tích hợp, phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản;đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở líluận cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi về vấn đề dạy

học môn Toán lớp 4 theo định hướng dạy học tích hợp cho học sinh và cách tổ chứccác hoạt động này Đối tượng khảo sát là giáo viên và học sinh lớp 4

- Quan sát: tiến hành quan sát hoạt động dạy học của giáo viên, thái độ và ý

thức học của học sinh trong các tiết dạy thực nghiệm

- Điều tra bằng phiếu bài tập: phiếu bài tập gồm các bài toán có nội dung dạy học tích hợp lớp 4 ở lớp có và không đẩy mạnh tổ chức hoạt động dạy học môn

Toán lớp 4 theo định hướng dạy học tích hợp

- Phỏng vấn: Kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những thông tin sâu về

một số vấn đề cốt lõi của đề tài Đối tượng được phỏng vấn là giáo viên và học sinhlớp 4

7.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng

Dựa trên các số liệu thống kê được về chất lượng của học sinh qua từng nămhọc gần đây, về thực trạng tổ chức hoạt động dạy toán lớp 4 qua các nguồn số liệu,nhằm đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp tổ chứchoạt động dạy học giải toán lớp 4 theo định hướng dạy học tích hợp cho học sinh

7.4 Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ

Thống kê, biểu bảng, sơ đồ…

8 Dự kiến đóng góp của luận văn

8.1 Về lý luận

Hệ thống hóa được cơ sở lí luận về dạy học tích hợp trong hệ thống giáo dụcnói chung và trong nhà trường tiểu học nói riêng; đề xuất được một số hình thứctích hợp phù hợp với môn Toán lớp 4; bước đầu làm sáng tỏ về phương pháp vàhình thức tổ chức dạy học tích hợp môn Toán lớp 4

Trang 17

8.2 Về thực tiễn

Thiết kế được một số chủ đề ôn tập môn Toán ở lớp 4 theo định hướng tíchhợp, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các biểu bảng và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực trạng của việc dạy học môn Toán lớp 4

theo định hướng dạy học tích hợp

Chương 2: Xây dựng một số chủ đề tích hợp trong dạy học toán lớp 4

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN TOÁN

LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP 1.1 Tích hợp

1.1.1 Khái niệm tích hợp

Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực

Theo từ điển Anh - Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary), từIntergrate (tích hợp) có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trongmột tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp vớinhau

Theo từ điển Bách khoa Khoa học giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức

(Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984), từ integration có hai

khía cạnh: (1) Là quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từnhững cái riêng lẻ; (2) Là trạng thái mà trong đó có cái chung, cái toàn thể được tạo

Trong dạy học ở bậc phổ thông, tích hợp được hiểu là sự tổ hợp hay tạo sự liênkết một số nội dung cần thiết cho việc hình thành, phát triển năng lực người họcthành một môn học mới; hoặc tạo môn học mới từ một số nội dung của các môn họckhác; hay có thể lồng ghép thêm các nội dung cần thiết vào nội dung vốn có củamôn học…

Tuy có nhiều cách phát biểu không như nhau, nhưng cũng có những điểmchung trong quan niệm về TH, có thể hiểu: TH là một quá trình kết hợp các đốitượng khác nhau vào một chỉnh thể thống nhất Kết quả quá trình kết hợp đó là sựhình thành một hệ thống mới hoặc có thể bao gồm chính các phần có ít nhiều liên hệvới các hệ thống trước đó, chúng có mối liên hệ với nhau chặt chẽ hơn và có sự thayđổi về chất trong bản thân thuộc tính của mỗi bộ phận

Trang 19

1.1.2 Khái niệm về dạy học tích hợp

Từ quan niệm trên về tích hợp, có thể hiểu rằng dạy học tích hợp chính làviệc lồng ghép, đan xen tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau vào trongcùng một chương trình, cùng một môn học, cùng một hoạt động dạy học để dạy chongười học, tổ chức cho người học tìm hiểu, khám phá tri thức nhằm trong mộtkhoảng thời gian xác định có thể giúp người học học được nhiều nhất và học mộtcách tự nhiên, đơn giản, nhẹ nhàng [8]

Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều ít nhiều có mối liên hệvới nhau; nhiều sự vật, hiện tượng có những điểm tương đồng và cùng một nguồncội…Để nhận biết và giải quyết các sự vật, hiện tượng ấy, cần huy động tổng hợpcác kiến thức và kĩ năng từ nhiều lĩnh vực khác nhau, môn học khác nhau Dạy họctích hợp chính là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở học sinh những nănglực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn như đã nói dựa trên sự huy độngnội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Quan điểm này hướngtới việc mỗi học sinh biết cách vận dụng kiến thức học được trong nhà trường vàocác hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân cótrách nhiệm, một người lao động có năng lực

Từ phân tích trên, có thể thấy, dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập trongnhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này học sinh cóthể đối mặt Vì thế việc dạy học tích hợp trở nên vô cùng ý nghĩa với các em

- Tích hợp như là một phương tiện giáo dục, hội tụ các chủ đề kiến thức đểngười học có thể học nhiều nhất một cách nhanh nhất

Trang 20

- Quan trọng và ý nghĩa hơn cả vì tích hợp giúp tích cực hóa các hoạt độnghọc tập và phát triển năng lực cho HS Trẻ em có tiềm năng lớn trong phát triển trítuệ, do vậy cách đào tạo truyền thống trong đó các môn học đ ược truyền tải mộtcách riêng biệt sẽ không đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực trí tuệ và hạn chếtính tích cực học tập của trẻ Đỗ Ngọc Thống trong một thuyết trình [11] đã nêu:

“Dạy học tích hợp là tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiếnthức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết c ác nhiệm vụ họctập; thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được nhữngnăng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thựctiễn cuộc sống” Dạy học tích hợp cũng là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất đểhình thành và phát triển năng lực của học sinh, đặc biệt năng lực giải quyết nhữngvấn đề trong thực tiễn đời sống Đó là lí do tại sao ngay từ tiểu học cần thiết phảitrang bị cho mỗi học sinh cách nhìn nhận một đối tượng hoặc các hiện tượng thực

tế từ những quan điểm, góc nhìn đôi khi rất khác nhau, chẳng hạn, khi xem xétvấn đề gia tăng dân số, HS có thể xem xét qua môn Toán như là một bài toán cộngtrừ, tính trung bình, cũng có thể xem xét qua môn Địa lý như một vấn đề xã hộicần được quan tâm và giáo dục…

Như vậy, dạy học tích hợp còn theo một cách thức nào đấy giúp tổ hợp một

số nội dung cần thiết cho việc hình thành, phát triển năng lực người học thành một

“môn học” mới; hay có thể lồng ghép thêm các nội dung cần thiết vào nội dung vốn

có của “môn học”…

1.1.4 Các hình thức và mức độ của dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp là vấn đề được nghiên cứu từ rất lâu rồi Mỗi một nhàkhoa học lại có những cách tiếp cận cũng như nghiên cứu, phân chia ở các mức độtích hợp khác nhau Tuy nhiên về cơ bản, có thể phân chia tích hợp dựa theo độ sâu,rộng như sau:

Dạng 1: Tích hợp nội môn

Là tích hợp các phân môn nhỏ trong phạm vi một chủ đề để đạt mục tiêu đãđịnh Chẳng hạn, tích hợp đọc, viết và giao tiếp trong dạy học ngôn ngữ là một ví

Trang 21

dụ phổ biến cho cách tiếp cận này Hay trong môn Toán ở tiểu học, các mạch kiếnthức môn Toán được phân chia rõ ràng song giữa chúng lại có mối quan hệ khôngthể tách rời Ví như khi học mạch kiến thức đại lượng và đo đại lượng, học sinh biếtcách đo đạc, ước lượng song bên cạnh đó, học sinh cần biết tính toán với các số đođại lượng (mạch kiến thức số và các phép tính), ứng dụng các đại lượng đó vào tínhchu vi, diện tích (mạch kiến thức hình học), ứng dụng các đại lượng đó vào giảitoán (mạch kiến thức giải toán có lời văn).

Tích hợp trong nội bộ môn học còn được đặc trưng bởi cấu trúc đồng tâm mởrộng, trong đó vòng xoắn sau phát triển sâu sắc hơn vòng xoắn trước Với cấu trúcnày, người ta có thể sắp xếp, hệ thống hoá các kiến thức theo cách đi từ cái riêng(cái chi tiết) đến cái tổng thể, hoặc từ tổng quát đến riêng biệt tùy thuộc vào trình độnhận thức của học sinh Nội dung dần dần được làm phong phú bởi các thông tinmới, các liên kết và các quan hệ mới Đặc trưng của hình thức tích hợp này là họcsinh không bị che lấp vấn đề ban đầu trong tầm nhìn, trong khi vẫn mở rộng và làmsâu sắc thêm được những kiến thức có liên quan bằng cách liên hệ chúng với nhau

Dạng 2: Tích hợp đa môn

Trong tích hợp đa môn, các môn học là riêng biệt nhưng có những liên kết cóchủ đích giữa các môn học và trong từng môn bởi các chủ đề hay các vấn đề chung.Khi học hay nghiên cứu về một vấn đề nào đó HS đồng thời được tiếp cận từ nhiều

bộ môn khác nhau, thậm chí một vấn đề được dạy ở nhiều môn cùng một lúc Điều

đó cho phép học sinh giải quyết vấn đề dựa trên kiến thức thu được ở nhiều bộ mônkhác nhau, tạo ra những kết nối giữa các môn học và lĩnh vực giáo dục

Với cách tích hợp này, người làm tích hợp có thể nghiên cứu nội dung, bàihọc có trong chương trình, rồi đưa ra kế hoạch hợp tác với các môn khác, theo mộtchủ đề, hay bài học có tính đa môn Theo đó, phải xác định được mục tiêu chung vàphương thức làm việc, hợp tác giữa các môn khi cùng dựa vào chủ đề chung nhằmgiải quyết vấn đề đặt ra, đạt mục tiêu đã định Thường thì vài ba môn học có liênquan phải nghiên cứu và đề xuất các đơn vị kiến thức chung, sao cho sau khi học,hay kết thúc hoạt động, người học đạt được mục tiêu, nhờ vận dụng hiểu biết, hay

Trang 22

kiến thức của nhiều môn, nhiều lĩnh vực Tức là HS có được hiểu biết, có kiến thứcnhờ chương trình được xây dựng ở mức tích hợp cao Theo cách này các chủ đề tíchhợp có thể được thực hiện với thời lượng vài tuần và với chủ đề đó thì các nhóm,thậm chí toàn trường có thể tham gia.

Chương trình tiểu học có một số môn được xây dựng theo chủ đề như mônTiếng Việt, Đạo đức Các chủ đề này tuy không trùng khít nhưng cũng có mối liên

hệ tương đối, người dạy có thể tích hợp các nội dung này trong quá trình học đểcủng cố thêm tri thức và nâng cao năng lực cho HS

Dạng 3: Tích hợp liên môn

Trong tích hợp liên môn, các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng

có những chủ đề, vấn đề, những khái niệm lớn và những ý tưởng chung Ngoài ra,các khái niệm hoặc các kĩ năng liên môn được nhấn mạnh giữa các môn chứ khôngphải trong từng môn riêng biệt, người học cần huy động kiến thức của nhiều mônhọc để giải quyết vấn đề đặt ra

Theo đó, GV tổ chức nội dung giảng dạy hay bài học quanh chủ đề chungvới tất cả các môn liên quan và có thể đóng góp ít nhiều vào mục tiêu, thành tíchchung Bài học thường được nhúng trong các môn học để làm rõ, nhấn mạnh các kỹnăng liên môn và các khái niệm, kiến thức Bên cạnh các kiến thức thuộc từng bộmôn cụ thể được HS chiếm lĩnh, thì điều quan trọng hơn là giúp các em phươngpháp tiếp cận nhiều môn học, nhiều mảng kiến thức, để tìm ra, hiểu, rồi giải quyếtvấn đề đặt ra Cách này chú trọng kĩ năng, phương pháp học, cách suy nghĩ giảiquyết vấn đề là chính mà không quá chú trọng dạy kiến thức, kĩ năng theo cáchtruyền thống

Trong tích hợp liên môn, việc tạo sự liên hệ, kết nối lẫn nhau giữa nội dungcủa hai hoặc nhiều môn học, cần bảo đảm những yêu cầu cơ bản sau:

- Các thành tố nội dung của các môn học có thể liên kết được với nhau thìsắp xếp liền nhau một cách có ý nghĩa

- Các môn học được thực hiện tích hợp thì phải sử dụng các phương pháp vàhình thức dạy học tương ứng

Trang 23

- Các kĩ năng, kĩ xảo được hình thành theo hướng có thể sử dụng một cáchtổng hợp khi giải quyết các nhiệm vụ học tập.

Tuy nhiên, cần chú ý thống nhất về kế hoạch và trình tự của các đơn vị kiếnthức để chúng được đồng bộ Điều này có nghĩa là giáo viên có thể phải thay đổitrình tự của các chủ đề có trong sách giáo khoa theo chương trình đã có

Dạng 4: Tích hợp xuyên môn

Điểm khác duy nhất so với tích hợp liên môn là ở chỗ chúng bắt đầu bằngngữ cảnh cuộc sống thực và sở thích của HS Cách tiếp cận này không bắt đầu bằngmôn học hay bằng những khái niệm hoặc kĩ năng chung Điều quan tâm nhất ở đây

là sự phù hợp đối với HS Theo cách này, các thành phần kiến thức chủ đạo của haihay nhiều môn học được tổ chức xoay quanh một bối cảnh gắn với thực tế đời sống,gắn với nhu cầu của người học, qua đó giúp học sinh được phát triển các kĩ năngcần thiết cho cuộc sống, và cũng từ đó xây dựng thành các môn học mới khác vớimôn học truyền thống

Theo đó, ND giảng dạy được tổ chức xoay quanh và dựa trên những vấn đề

mà HS quan tâm, gắn liền với bối cảnh thực HS phát triển được các kỹ năng cầnthiết cho cuộc sống (vì HS phải áp dụng các kỹ năng xuyên môn trong một bối cảnhgần hoặc gắn với cuộc sống thực) Có 2 phương pháp chính để TH xuyên môn là:(1) Tổ chức học tập theo dự án; (2) Thương lượng, điều chỉnh chương trình giảngdạy, môn học

(1) Tổ chức học tập theo dự án:

+ GV, HS chọn một CĐ nghiên cứu dựa trên lợi ích, nguyện vọng của HS,yêu cầu, tiêu chuẩn đề ra của chương trình giảng dạy và các nguồn lực, điều kiệnsẵn có của địa phương

+ GV tìm những gì HS đã biết, giúp HS tạo ra những câu hỏi để khám phá.+ GV cung cấp nguồn lực và phương pháp cho HS, để họ có nhiều cơ hội tìmhiểu về lĩnh vực hay vấn đề quan tâm đó

+ HS chia sẻ công việc với những người khác thông qua các hoạt động

+ HS thăm dò, hiển thị các kết quả, tự đánh giá dự án thực hiện

Trang 24

(2) Thương lượng, điều chỉnh chương trình giảng dạy, môn học:

Chương trình giảng dạy thường được các chuyên gia GD đề xuất theo kinhnghiệm của họ, vì thế, nhiều khi mang tính tư biện, chưa sát hợp với nhu cầu,nguyện vọng của HS, hay chưa phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi,… Vì thế,

cần phải thương lượng, điều chỉnh CT giảng dạy sao cho thích hợp Theo đó, các

câu hỏi, vấn đề, nguyện vọng mà HS đề ra phải được xem như cơ sở cho điều chỉnh

CT giảng dạy

Cho đến nay, nhiều nước đã có CT GD phổ thông xây dựng theo quan điểm

TH từ tiểu học đến trung học Tuy nhiên, mức độ TH trong CT GD các môn học ởmột số nhóm nước thể hiện có một số điểm chung, nhưng cũng có những khác biệt.Việc thực hiện TH rất đa dạng, phong phú, không chỉ một mức độ mà có thểthực hiện một cách linh hoạt các mức độ TH, như: TH nội bộ môn học, TH đa môn,

TH liên môn, TH xuyên môn, trong CT GD phổ thông Có thể TH nhưng khônghình thành môn học mới và cũng có thể TH hình thành môn học mới Tuỳ theo đặcthù môn học và điều kiện thực tiễn mà chọn hình thức nào cho phù hợp

1.1.5 Yêu cầu của việc dạy học tích hợp ở Tiểu học

Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mớichương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông xác định đổi mới nội dung giáodục phổ thông theo hướng “tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hoá dần ở cáclớp học trên Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở thực hiện lồng ghép những nộidung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục, một số môn học trongchương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp”

Dạy học tích hợp đóng góp cho sự phát triển toàn diện của HS và tạo nênmột hình ảnh toàn diện về thế giới ở các em, tạo ra một sự học tập sâu sắc hơn vềcác chủ đề học tập, góp phần tạo nên một sự hiểu biết về các mối quan hệ giữa cáchiện tượng trong tự nhiên, xã hội và thế giới

Dạy học tích hợp có những ưu điểm chính sau đây:

- Mục tiêu học tập được người học xác định rõ ràng ngay tại thời điểm học

Trang 25

- Tránh những kiến thức, kĩ năng trùng lặp; phân biệt được nội dung trọngtâm và nội dung ít quan trọng; các kiến thức hình thành trong bài học gắn liền vớikinh nghiệm sống của học sinh.

- Sự phát triển của khoa học ngày càng nhanh, nhiều vấn đề mới cần phảiđưa vào nhà trường như: bảo vệ môi trường, giáo dục sức khỏe, an toàn giaothông…, nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học Tích hợp nộidung một số môn học là giải pháp có thể thực hiện được nhiệm vụ giáo dục nhiềumặt cho học sinh mà không gây quá tải

- Dạy học tích hợp không gây xáo trộn về số lượng và cơ cấu giáo viên,không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên đề dạy họctích hợp, không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạyhọc

- Dạy học tích hợp tạo động lực để học sinh tích cực học tập, giúp học sinhhọc tập thông minh, vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng một cách toàn diện, hàihòa và hợp lí để giải quyết các tình huống mới mẻ, đa dạng trong cuộc sống hiện đại

- Các bài dạy theo hướng tích hợp góp phần làm cho hoạt động dạy học trongnhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, làm cho học sinh có nhu cầu học tập đểgiải đáp được những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của bản thân và cộng đồng

- Tích hợp góp phần giúp đào tạo những người học có đầy đủ phẩm chất vànăng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Tích hợp cũng góp phầnđào tạo giáo viên biết cách xử lí các tình huống giáo dục một cách linh hoạt và hiệuquả

Với những ưu việt đó, tích hợp được đưa ra như một yêu cầu trong quá trìnhdạy học

Trong dạy học các bộ môn, tích hợp có thể kết hợp, tổ hợp các nội dung từcác môn học, lĩnh vực học tập khác nhau thành một “môn học” mới hoặc lồng ghépcác nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học Đối với môn Toán,việc tích hợp thường được thực hiện theo hướng thứ hai Toán học là khoa học công

cụ cho các khoa học khác và việc lồng ghép các nội dung có thể trong môn Toánhoặc các môn khoa học khác phù hợp với cấu trúc “xoáy trôn ốc” của cấu trúcchương trình môn Toán, cách làm này tạo cơ hội cho học sinh liên tục xây dựng trên

Trang 26

những kiến thức họ đã biết Việc lồng ghép các kiến thức cũng giúp học sinh thấyđược thấy được sự “ẩn giấu” của kiến thức Toán trong các môn học khác cũng nhưtrong thực tiễn cuộc sống Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trởthành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông vàtrong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tíchhợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quátrình dạy học.

1.2 Yêu cầu phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh tiểu học

Nghị quyết 29-NQ/TW ban hành ngày 04/11/2013 đã nêu rõ cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục và đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực người học.[25]

Ngày 27/3/2015,quyết định 404/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án đổi mới

chương trình sách giáo khoa giáo dục tổng thể cũng yêu cầu chương trình sách giáo khoa mới cần xây dựng theo hướng coi trọng dạy người và dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học của học sinh…[26]

Tháng 7 năm 2017, bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành chương trình giáo

dục tổng thể, trong đó có ghi rõ cần bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục, tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên [3]

Chương trình giáo dục cũng nêu: Phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơbản trong cấu trúc nhân cách nói chung và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách củamột con người[3] Đây cũng chính là mục tiêu mà giáo dục hướng tới

1.2.1 Năng lực cần phát triển trong nhà trường tiểu học

1.2.1.1 Khái niệm năng lực:

Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tựnhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó [21]

Năng lực là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềmnăng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công

Trang 27

nhiệm vụ Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ứng mức độ nănglực của người đó Chính vì thế, thuật ngữ “năng lực” khó mà định nghĩa được mộtcách chính xác Năng lực hay khả năng, kĩ năng trong tiếng Việt có thể xem tươngđương với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capability”, … trong tiếng Anh

Tài liệu hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong chương

trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo [3] đưa ra “NL là sự huyđộng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú,niềm tin, ý chí để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định

Do các nhiệm vụ cần phải giải quyết trong cuộc sống cũng như công việc vàhọc tập hàng ngày là các nhiệm vụ đòi hỏi phải có sự kết hợp của các thành tố phứchợp về tư duy, cảm xúc, thái độ, kĩ năng vì thế có thể nói năng lực của một cá nhân

là hệ thống các khả năng và sự thành thạo giúp cho người đó hoàn thành một côngviệc hay yêu cầu trong những tình huống học tập, công việc hoặc cuộc sống, haynói một cách khác năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩnăng, thái độ để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống

đa dạng của cuộc sống

Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể Năng lực chỉtồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể Vì vậy, nănglực vừa là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưngcũng phát triển trong chính hoạt động đó

Trong luận văn này, mọi sự phân chia mức độ NL được đề cập, NL cần pháttriển của HS được hướng đến đều dựa trên bản Dự thảo chương trình giáo dục tổngthể được ban hành vào tháng 7/2017

1.2.1.2 Các năng lực cần phát triển trong trường tiểu học

Người ta cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lựcchuyên môn, trong đó, năng lực chung, cốt lõi là năng lực cơ bản cần thiết làm nềntảng để phát triển năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn là năng lực đặctrưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ như năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ[3] Tuy nhiên, năng lực chung và năng lực chuyên môn không tách rời mà quan hệ

Trang 28

chặt chẽ với nhau Các hoạt động giúp phát triển không chỉ một loại năng lực mànhiều loại năng lực Đặc biệt, khi người học hoạt động, các năng lực sẽ được hìnhthành và phát triển để học sinh có thể giải quyết được các vấn đề Trong hệ thốnggiáo dục phổ thông nói chung và trong nhà trường tiểu học nói riêng, có 10 năng lựccần hướng học sinh hình thành và phát triển [3] gồm:

và sáng tạo NL chung là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào cũng cần có

để sống, học tập và làm việc Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học vàhoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mụctiêu hình thành và phát triển các NL chung của HS

Ngoài ra, NL của HS có thể hiểu là khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩnăng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiệncác nhiệm vụ học tập, giải quyết các vấn đề của chính các em trong cuộc sống Sựkết hợp hài hòa ba yếu tố kiến thức, kĩ năng, thái độ tạo nên khả năng hành động(thực tiễn) hiệu quả và sẵn sàng hành động

1.2.1.3 Năng lực cần phát triển trong môn Toán

Toán học là môn học quan trọng, chiếm thời lượng lớn trong giáo dục nóichung và trong trường Tiểu học nói riêng Học và thực hành môn Toán giúp ngườihọc hình thành và phát triển những năng lực như sau [3]:

Trang 29

Bảng 1.1 NL cần phát triển trong môn Toán

- Biết đặt và trả lời câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấnđề

- Bước đầu biết chỉ ra chứng cứ và lập luận có cơ sở, có lí

lẽ trước khi kết luận

- Giải quyết được các bài toán liên quan tới các mô hình được thiết lập

- Nêu được cách thức giải quyết vấn đề

- Thực hiện và trình bày được cách thức giải quyết vấn đề

- Kiểm tra giải pháp đã thực hiện

4 Năng lực giao

tiếp toán học

- Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép tóm tắt được các thôngtin toán học trọng tâm trong nội dung văn bản hay dongười khác thông báo (ở mức độ đơn giản), từ đó nhậnbiết vấn đề cần giải quyết

- Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ýtưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với ngườikhác (chưa yêu cầu phải diễn đạt đầy đủ, chính xác) Biếtđặt và trả lời câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề

- Biết sử dụng ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữthông thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dungtoán học ở những tình huống không quá phức tạp

Trang 31

- Sử dụng các công cụ, phương tiện học toán để thực hiệnnhững nhiệm vụ học tập toán đơn giản.

- Làm quen với máy tính cầm tay, phương tiện công nghệthông tin hỗ trợ học tập

- Bước đầu nhận biết được một số ưu điểm, hạn chếcủa

những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụnghợp lí

1.2.2 Các phẩm chất cần hình thành và phát triển của học sinh tiểu học

a) Khái niệm phẩm chất

Theo từ điển Tiếng Việt, phẩm chất được định nghĩa là cái làm nên giá trịcủa một người hay một vật, đó là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xửcủa con người [21]

Chương trình giáo dục tổng thể mới nhất cũng đã nêu phẩm chất là nhữngtính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nênnhân cách con người [3]

Năng lực và phẩm chất là hai yếu tố tạo nên nhân cách của con người Mộtcon người phát triển đầy đủ nhân cách là có sự phát triển song song của năng lực vàphẩm chất (tài và tâm)

Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển khiến con n gười trở nên lạnh lung

và biến chất hơn, điều đó đòi hỏi sự giáo dục đạo đức, phát triển phẩm chấtnhiều hơn từ phía gia đình và nhà trường Cũng giống như năng lực, phẩm chấtcần được xây dựng và bồi đắp một cách từ từ, qua thời gian Không thể bắt mộtđứa trẻ từ khi mới sinh ra đã có phẩm chất tốt Đứa trẻ biết yêu thương cha mẹmình là do người cha, người mẹ dành tình cảm, yêu thương và chăm sóc nó Khithấy những điều đó, đứa trẻ sẽ nảy sinh ra tình cảm với người chăm sóc mình, từ

đó nó biết yêu thương, quan tâm đến cha mẹ

Trang 32

Vậy muốn rèn phẩm chất cho học sinh, người thầy cũng cần dùng thời gian,qua các hoạt động để học sinh nhận ra sự đúng đắn, cái gương mẫu để học tập vànoi theo Phẩm chất ấy nếu được hình thành từ chính suy nghĩ, từ nhu cầu của họcsinh thì sẽ trở nên bền vững và lâu dài hơn.

b) Các phẩm chất cần hình thành và phát triển::

Với HS tiểu học, giáo dục hướng vào 5 phẩm chất: Yêu nước, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực, Trách nhiệm Các phẩm chất đó có biểu hiện cụ thể như sau [3]:

- Yêu quê hương, tự hào về quê hương

- Kính trọng, biết ơn người lao động, người có công vớinước; tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa đối vớinhững người có công với nước

- Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của bạn

- Đi học đầy đủ, đúng giờ

- Thường xuyên hoàn thành nhiệm vụ học tập

- Thích đọc sách để mở rộng hiểu biết

- Có ý thức vận dụng kiến thức, kỹ năng học được ở nhà trường vào đời sống hằng ngày

Trang 33

- Không nói dối; luôn giữ lời hứa với người thân, bạn bè,thầy cô và những người khác; mạnh dạn nhận lỗi, nhậnthiếu sót của bản thân - Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạccủa người thân, bạn bè, thầy cô và những người khác.

- Không đồng tình với các hành vi thiếu trung thực tronghọc tập và trong cuộc sống

- Tự giác thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường

và các quy định, quy ước của tập thể; giữ vệ sinh chung;bảo vệ của công

- Không gây mất trật tự, cãi nhau, đánh nhau tại trường học, nơi ở và nơi công cộng

- Nhắc nhở bạn bè chấp hành nội quy trường lớp; nhắc nhở người thân chấp hành luật lệ nơi công cộng

- Có trách nhiệm với công việc được giao ở trường, ở lớp

- Tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội

- Có ý thức giữ vệ sinh môi trường, không xả rác bừa bãi

- Không đồng tình với những hành vi xâm hại thiên nhiên

Trang 34

1.3 Môn Toán ở Tiểu học

1.3.1 Mục tiêu môn Toán ở Tiểu học

Môn Toán giúp học sinh có cái nhìn tương đối tổng quát về Toán học, hiểuđược vai trò và những ứng dụng của Toán học trong đời sống thực tế, những ngànhnghề có liên quan đến toán học để học sinh có cơ sở định hướng nghề nghiệp, cũngnhư có đủ năng lực tối thiểu để tự tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến toán họctrong cuộc đời

Theo chương trình mới, môn Toán cấp tiểu học nhằm giúp học sinh đạt cácmục tiêu chủ yếu sau [3]:

- Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt:thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản; đặt và trả lời câu hỏi khi lậpluận, giải quyết vấn đề đơn giản; sử dụng được các phép toán và công thức số học

để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, cách thức giảiquyết vấn đề; sử dụng ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường, độngtác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống không quá phứctạp; sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán đơn giản để thực hiện cácnhiệm vụ học tập

- Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về: Số vàthực hành tính toán với các số; Các đại lượng thông dụng và đo lường các đại lượngthông dụng; Một số yếu tố hình học và yếu tố thống kê – xác suất đơn giản Trên cơ

sở đó, giúp học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng này trong học tập và giảiquyết các vấn đề gần gũi trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày, đồng thời làm nềntảng cho việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh

- Phát triển hứng thú trong học toán; góp phần hình thành bước đầu các đứctính kỉ luật, chăm chỉ, kiên trì, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, thói quen tự học

1.3.2 Chương trình môn Toán Tiểu học

Nhìn một cách tổng thể, chương trình môn Toán ở Tiểu học được chia thànhhai giai đoạn:

Trang 35

Giai đoạn 1 (các lớp 1,2,3), đặc biệt là lớp 1, việc học tập của HS chủ yếudựa vào các phương tiện trực quan, nói chung chỉ đề cập đến nội dung có tính tổngthể, gắn bó với kinh nghiệm sống của trẻ Giai đoạn này bước đầu phát triển NL tưduy, biết lựa chọn và tìm cách GQVĐ một cách hợp lí.

Giai đoạn 2 (các lớp 4,5), yêu cầu HS sử dụng đúng mức các phương tiệntrực quan và các hình thức học tập có tính chủ động, sáng tạo hơn, giúp HS làmquen với các nội dung có tính khái quát hơn, có cơ sở lí luận hơn Giai đoạn nàytiếp tục phát triển NL tư duy ở mức độ cao hơn cho HS, các em có thể bước đầu tựhọc, tự GQVĐ để phát triển các kĩ năng tư duy và hình thành phẩm chất trí tuệ

Chương trình toán ở tiểu học thống nhất với 5 mạch nội dung như sau:

a) Số và các phép tính

Trong chương trình toán tiểu học, mạch kiến thức Số và phép tính đóng vaitrò hạt nhân và chiếm thời lượng nhiều nhất Trong mạch kiến thức này, HS đượchọc các khái niệm ban đầu về số tự nhiên, phân số và số thập phân Trong phần nộidung này, HS được học cách đọc, viết, quan hệ giữa các số cũng như học các phéptính cộng, trừ, nhân, chia với các số đó và các tính chất cơ bản của phép tính

b) Đại lượng – Đo đại lượng:

Đây là mạch kiến thức khá gần gũi với HS vì nó nhắc đến các đơn vị đo trongcuộc sống Trong chương trình tiểu học, HS được làm quen với các khái niệm banđầu về đại lượng thông dụng như: Độ dài, khối lượng, thời gian, diện tích, thể tích,tiền Việt Nam

Ở đó, HS được học về các kí hiệu đơn vị đo, quan hệ giữa các đơn vị đo

và sự chuyển đổi giữa chúng Bên cạnh đó, HS còn được thực hành với một số đơn

vị đo gần gũi, sử dụng một số dụng cụ đo quen thuộc như thước dây, cân, …

c) Yếu tố hình học

HS được tìm hiểu về các biểu tượng hình học từ đơn giản (điểm, đoạnthẳng, hình tam giác, hình tứ giác,…) đến những hình khối phức tạp hơn (hình hộpchữ nhật, hình lập phương …) Ở những lớp dưới, HS được nhận diện các hình quahình dáng thì ở những lớp trong giai đoạn 2 (lớp 4,5), HS được học thiên về bản

Trang 36

chất, được gọi tên một số hình đặc biệt như hình thoi, hình thang, … Ví như khi học

về hình chữ nhật, ở lớp 1, HS được xem một biểu tượng chuẩn mực và gọi tên nó làhình chữ nhật thì ở lớp 4, HS được học về hình chữ nhật là hình có 2 cặp cạnh đốidiện song song và bằng nhau, hình chữ nhật có 4 góc vuông

HS cũng được làm quen với các khái niệm ban đầu về chu vi, diện tích củacác hình, cách tính diện tích, chu vi một số hình như:

+ Chu vi, diện tích hình vuông, chữ nhật, hình tam giác (Lớp 3)

+ Chu vi, diện tích hình bình hành, hình thoi (Lớp 4)

+ Chu vi, diện tích hình thang, hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật, hình lập phương (Lớp 5)

Ở lớp 5, HS làm quen với hình khối (hình lập phương, hình hộp chữ nhật)

và làm quen với khái niệm thể tích

d) Giải toán có lời văn:

Trong chương trình toán, mạch giải toán có lời văn bao trùm tất cả các nộidung khác, từ số và phép tính, cho đến đo đại lượng hay các yếu tố hình học Nhữngnăm đầu cấp (lớp 1, 2), HS được học giải các bài toán đơn đơn giản (1 bước tính)bằng các phép cộng, trừ, nhân, chia Đến lớp 3, HS mới được học đến bài toán giảibằng nhiều phép tình Từ đây, các em được học để giải một số dạng toán như: Rút

về đơn vị; Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi biếttổng/hiệu và tỉ số của hai số đó; Bài toán tỉ số phần trăm; Bài toán chuyển động; …Các bài toán trong chương trình không có quá 4 phép tính

e) Các yếu tố thống kê:

Trong chương trình tiểu học, các bài toán thống kê thường ở dạng xử lícác số liệu dưới dạng đơn giản như: Giới thiệu và làm quen về dãy số liệu từ đơngiản như sắp xếp số theo thứ tự từ bé đến lớn; Giới thiệu bảng số liệu thống kê đơngiản: gồm các hàng và các cột; Tập nhận xét bảng số liệu: biết cách đọc, xử lí các sốliệu trong bảng; Giới thiệu cấu tạo của biểu đồ tranh, biểu đồ cột, biểu đồ quạt; Tậpđọc các số liệu trên mỗi loại biểu đồ, nhận xét biểu đồ; Thực hành lập biểu đồ từmột quan sát cụ thể,…

Trang 37

Như vậy, có thể thấy, chương trình toán tiểu học hiện hành cung cấp cho

HS được toàn bộ tri thức, kĩ năng cần thiết, đáp ứng được mục tiêu toán mới Tuynhiên, chương trình này chưa thể hiện được các năng lực và phẩm chất cần đạt Nhưvậy, việc xây dựng thêm chủ đề ôn tập toán góp phần hoàn thiện hơn mục tiêu củamôn toán ở tiểu học

1.3.3 Nội dung môn Toán lớp 4

Nội dung chương trình Toán lớp 4 thể hiện trong 175 bài học hoặc bài thựchành, luyện tập, ôn tập Mỗi bài thường được thực hiện trong 1 tiết học, trung bìnhmỗi tiết học kéo dài 40 phút Để tăng cường luyện tập, thực hành, vận dụng các kiếnthức và kĩ năng cơ bản, nội dung dạy học về lí thuyết đã được tinh giản trong quátrình thử nghiệm và hoàn thiện SGK Toán 4, chỉ lựa chọn các nội dung cơ bản vàthiết thực Các bài học có nội dung lí thuyết chiếm 46,86% (82 tiết); các bài học cónội dung thực hành, luyện tập, ôn tập chiếm 53,14% (93 tiết) Trong đó, nội dungtừng mạch kiến thức như sau:

có đến ba chữ số (chủ yếu là chia cho số có đến hai chữ số)

- Tìm một thành phần chưa biết của phép tính khi biết kết quả tính và thànhphần kia

- Tính giá trị của biểu thức có đến ba dấu phép tính (có hoặc không có dấungoặc) và biểu thức có chứa một, hai, ba chữ dạng đơn giản

- Vận dụng tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng và phép nhân, tínhchất nhân một tổng với một số để tính bằng cách thuận tiện nhất

- Tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, nhân với 10; 100; 1000; …; chiacho 10; 100; 1000; …; nhân số có hai chữ số với 11

- Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9

Trang 38

b) Phân số:

- Nhận biết về phân số qua hình ảnh trực quan

- Đọc, viết phân số; tính chất cơ bản của phân số; rút gọn, quy đồng mẫu sốcác phân số; so sánh hai phân số

- Cộng, trừ, nhân, chia hai phân số dạng đơn giản (mấu số không vượt quá 100)

1.3.3.2 Về đo lường:

- Nhận biết và vận dụng mối quan hệ giữa yến, tạ, tấn với ki-lô-gam; giữagiây, phút, giờ; giữa ngày và giờ, năm và thế kỉ; giữa dm2 và cm2, giữa dm2 và m2,giữa km2 và m2

- Chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng thông dụng trong một số trường hợp cụthể khi thực hành, vận dụng

1.3.3.3 Về các yêu tố hình học:

- Nhận biết: góc nhọn, góc góc tù, góc bẹt; hai đường thẳng vuông góc, haiđường thẳng song song; một số đặc điểm về cạnh, góc của hình chữ nhật, hìnhvuông, hình bình hành, hình thoi

- Vẽ: đường cao của hình tam giác, hai đường thẳng vuông góc; hai đườngthẳng song song; hình chữ nhật, hình vuông khi biết độ dài các cạnh

- Tính chu vi, diện tích của hình bình hành, hình thoi

1.3.3.4 Về một số yếu tố thống kê và tỉ lệ bản đồ:

- Đọc và nhận định (ở mức độ đơn giản) các số liệu trên biểu đồ cột

- Biết một số ứng dụng của tỉ lệ bản đồ trong thực tế

1.3.3.5 Về giải bài toán có lời văn:

- Tự tóm tắt được bài toán bằng cách ghi ngắn gọn hoặc vẽ sơ đồ, hình vẽ

- Giải và trình bày bài giải các bài toán có đến ba bước tính, trong đó có cácbài toán: Tìm số trung bình cộng, Tìm hai số biết tổng và hiệu của hai số đó, Tìmhai số biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của hai số đó

1.3.4 Dạy học tích hợp trong môn Toán lớp 4

Bản thân môn Toán đã có sự tích hợp trong nó (tích hợp nội môn) Các mạchkiến thức môn Toán được phân chia rõ ràng song giữa chúng lại có mối quan hệ

Trang 39

không thể tách rời Điều này được thể hiện rõ trong nội dung từng tiết học củachương trình Toán 4 Ví như khi học mạch kiến thức đại lượng và đo đại lượng, họcsinh biết cách đo đạc, ước lượng song bên cạnh đó, học sinh cần biết tính toán vớicác số đo đại lượng (mạch kiến thức số và các phép tính), ứng dụng các đại lượng

đó vào tính chu vi, diện tích (mạch kiến thức hình học), ứng dụng các đại lượng đóvào giải toán (mạch kiến thức giải toán có lời văn) Hay trong các tiết học Luyệntập, Luyện tập chung, HS được ôn tập nhiều mạch kiến thức cùng lúc: Số và phéptính, Giải toán có lời văn, Hình học, Đại lượng và đo đại lượng, Yếu tố thống kê

Bên cạnh đó, chương trình Toán 4 cũng được tích hợp với các yếu tố thựctiễn HS bước đầu biết sử dụng các kiến thức về đo khối lượng, đo diện tích, đo thờigian trong việc giải quyết một số vấn đề thực tế

Ví dụ 1: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng:

Nếu 1 quả táo cân nặng 40g thì 4kg táo có bao nhiêu quả táo như thế?

Chương trình Toán được xây dựng đồng tâm Đến lớp 4, các em đã có đượclượng kiến thức nền tảng để bản thân vận dụng và tìm hiểu Điều đó giúp ích rất

Trang 40

nhiều cho các em khi tham dự các tiết học ôn tập mang tính tích hợp cao Các em sẽvận dụng những kiến thức đó để giải quyết những vấn đề, những tình huống đặt ra.Việc bổ sung thêm các bài dạy tích hợp toán học vào cuối mỗi chương góp phầnvào việc củng cố kiến thức, kĩ năng toán học của chương đó, hơn nữa đưa Toán họcvào bối cảnh cùng mối tương quan trong các môn học khác để học sinh thấy được

sự liên hệ giữa các môn học Cuộc sống là sự hòa trộn, đan xen của tất cả các kiếnthức thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều môn học Các tiết học tích hợp giúp người họcnhận ra: cần áp dụng mềm dẻo, ứng dụng linh hoạt các kiến thức được học để giảiquyết các vấn đề trong thực tế Các tiết học tích hợp này có thể xây dựng ở cuốichương hay ngay sau các bài học có nội dung cần nhấn mạnh Chắc chắn điều này

sẽ giúp việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh đạt kết quả cao hơn bởinhững bài học tích hợp này cần có nội dung gắn với thực tế, phương pháp dạy họctích cực, học sinh được làm việc nhiều nên sẽ thu hút học sinh, tạo nên hứng thútrong học tập

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học

1.4.1 Sự phát triển của quá trình nhận thức

Từ giai đoạn 1 (lớp 1,2,3) sang giai đoạn 2 (lớp 4,5), quá trình nhận thức củatrẻ đã có nhiều thay đổi Điều đó chi phối phần nào việc xây dựng chương trình họctập các môn nói chung và môn Toán nói riêng, điều đó cũng ảnh hưởng tới việc lựachọn các phương pháp và hình thức của người dạy

Ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổitiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm Những gì phù hợp với nhu cầu của họcsinh, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn bó với hoạt động củachúng thì mới được các em tri giác Đến giai đoạn 2 của bậc tiểu học, tri giác của trẻ

đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định Trẻ biết lập

kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,

Để có được sự phát triển này, vai trò định hướng của người giáo viên là vôcùng quan trọng Người giáo viên cần sử dụng các phương tiện trực quan thu hút,đưa ra các vấn đề gắn liền với thực tiễn để thu hút sự tìm tòi, hứng thú của học sinh

Ngày đăng: 06/05/2019, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), Chương trình Tiểu học, ngày 28/8/ 2014 NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Tài liệu hội thảo chuyên đề tích hợp sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo chuyên đề tích hợp sáchgiáo khoa theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2016
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Tài liệu hội thảo Dạy học tích hợp môn Toán, tháng 3/ 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo Dạy học tích hợp mônToán, tháng 3/ 2016
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2016
9. Cao Thị Thặng (2010), Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình Giáo dục phổ thông sau năm 2015, Báo cáo tổng kết Đề tài cấp Bộ, mã số: B2008-37-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triểnchương trình Giáo dục phổ thông sau năm 2015
Tác giả: Cao Thị Thặng
Năm: 2010
10. Cao Thị Thặng, Lương Việt Thái, Vấn đề tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục phổ thông các môn học ở trường phổ thông Việt Nam.Kỉ yếu Hội thảo Quốc Gia về KHGD VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Thị Thặng, Lương Việt Thái", Vấn đề tích hợp trong việc phát triểnchương trình giáo dục phổ thông các môn học ở trường phổ thông Việt Nam
12. Đỗ Đức Thái (2014), Một số quan điểm cơ bản về việc xác định nội dung dạy học môn Toán trong trường phổ thông Việt Nam, Tạp chí Khoa học giáo dục (104) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quan điểm cơ bản về việc xác định nội dungdạy học môn Toán trong trường phổ thông Việt Nam
Tác giả: Đỗ Đức Thái
Năm: 2014
13. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2011), tập thể các tác giả, Sách giáo khoa Toán 4, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Toán4
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
14. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2011), cùng tập thể các tác giả, Sách giáo viên Toán 4, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viênToán 4
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
16. Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thụy (1999), Phương pháp dạy học môn Toán ở tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương phápdạy học môn Toán ở tiểu học
Tác giả: Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thụy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
17. Hoàng Mai Lê – Nguyễn Đình Khuê (2011), Đổi mới dạy học môn Toán lớp 5 (trên cơ sở chuẩn kiến thức, kĩ năng), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới dạy học môn Toánlớp 5
Tác giả: Hoàng Mai Lê – Nguyễn Đình Khuê
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
18. Hoàng Mai Lê (2015), “Một số vấn đề về thực hiện đổi mới đánh giá học sinh Tiểu học theo thông tư 30/2014 TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo”, Tạp chí Giáo dục Tiểu học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về thực hiện đổi mới đánh giá họcsinh Tiểu học theo thông tư 30/2014 TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của BộGiáo dục và Đào tạo
Tác giả: Hoàng Mai Lê
Năm: 2015
19. Hoàng Mai Lê (2017), “Suy nghĩ về đổi mới đồng bộ phương pháp và đánh giá chất lượng học tập môn Toán ở Tiểu học”, Tạp chí Giáo dục, số 7, NXBGDVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về đổi mới đồng bộ phương pháp vàđánh giá chất lượng học tập môn Toán ở Tiểu học
Tác giả: Hoàng Mai Lê
Nhà XB: NXBGDVN
Năm: 2017
21. Nguyễn Thế Sơn (2016), chủ nhiệm đề tài: “Xây dựng một số chủ đề tích hợp trong chương trình môn Toán ở trường Trung học phổ thông Việt Nam”.Đề tài luận án tiến sĩ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một số chủ đề tíchhợp trong chương trình môn Toán ở trường Trung học phổ thông Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thế Sơn
Năm: 2016
1. Chính phủ, 2012. Quyết định số 711/QĐ-TTg, ngày 13/6/2012 về chiến lược phát triển giáo dục đào tạo giai đoạn 2011 – 2020 Khác
8. Bùi Hiền, 2001. Từ điển Giáo dục học. Hà Nội: Nhà xuất bản từ điển Bách khoa Khác
15. Đỗ Đình Hoan (2002), Một số vấn đề cơ bản của chương trình tiểu học mới, NXB giáo dục, Hà Nội Khác
20. Hoàng Thị Tuyết ( 2012), Đào tạo - Dạy học theo quan điểm tích hợp:Chúng ta đang ở đâu?, www.h c mup.edu. v n/i n dex.php ? option=c o m_ c o Khác
22. Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông xác định đổi mới nội dung giáo dục phổ thông Khác
23. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w