Phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc KạnPhát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn
Trang 1VŨ ĐỨC CHÍNH
PHÁT TRIỂN CÂY DONG RIỀNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NA RÌ TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Quang Quý
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng để bảo vệ một học vị nào khác Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 02 năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Đức Chính
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của
nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá
nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, các khoa, văn phòng của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn
PGS.TS Đỗ Quang Quý
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các
cô chú, anh chị em và bạn bè, tôi xin chân thành cảm ơn Thêm nữa, tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, tháng 02 năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Đức Chính
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY DONG RIỀNG 4
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển cây dong riềng 4
1.1.1 Khái niệm phát triển sản xuất cây dong riềng 4
1.1.2 Nội dung phát triển cây dong riềng 8
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển cây dong riềng 13
1.2 Kinh nghiệm phát triển cây dong riềng tại một số địa phương và bài học thực tiễn cho Bắc Kạn 15
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển cây dong riềng của một số địa phương 16
1.2.2 Bài học kinh nghiệm phát triển cây miến dong cho huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 20
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 22
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 22
Trang 62.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp xử lý số liệu 24
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 24
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong đề tài 24
2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất 24
2.4.2 Các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh 25
2.4.3 Nhóm chỉ tiêu về năng lực hộ 26
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY DONG RIỀNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NA RÌ TỈNH BẮC KẠN 27
3.1 Giới thiệu về huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Na Rì 27
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 29
3.1.3 Thực trạng cảnh quan môi trường 33
3.1.4 Điều kiện kinh tế, xã hội 34
3.2 Thực trạng về sản xuất dong riềng tại huyện Na Rì 36
3.2.1 Hoạt động sản xuất dong riềng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 36
3.2.2 Thực trạng về hoạt động sản xuất cây dong riềng của các hộ dân trên địa bàn huyện Na Rì 40
3.2.3 Thực trạng phát triển tiêu thụ cây dong riềng trên địa bàn huyện 52 3.2.4 Thực trạng về liên kết sản xuất dong riềng 53
3.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển cây dong riềng tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 55
3.3.1 Các nhân tố điều kiện tự nhiên 56
3.3.2 Các nhân tố Kinh tế xã hội 57
3.3.3 Các nhân tố kỹ thuật canh tác 61
3.3.4 Các yếu tố chính sách 66
Trang 73.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển cây dong riềng tại địa
phương 66
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÂY DONG RIỀNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NA RÌ TỈNH BẮC KẠN 68
4.1 Định hướng, mục tiêu phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn 68
4.1.1 Căn cứ pháp lý của định hướng 68
4.1.2 Những chỉ tiêu dự kiến phát triển sản xuất dong riềng đến năm 2030 của tỉnh Bắc Kạn 68
4.2 Giải pháp phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn 72
4.2.1 Các giải pháp chung 72
4.2.2 Các giải pháp cụ thể cho huyện Na Rì 74
KÊT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 81
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Diện tích trồng dong riềng của tỉnh Bắc Kạn những năm gần đây 37
Bảng 3.2 Sản lượng củ dong riềng của tỉnh Bắc Kạn những năm gần đây 39
Bảng 3.3 Thông tin hộ sản xuất dong riềng 43
Bảng 3.4 Thông tin về hộ sử dụng nguồn lực cho sản xuất dong riềng 46
Bảng 3.5 Diện tích đất canh tác trung bình của hộ phân theo nhóm hộ 47
Bảng 3.6 Năng suất trung bình của các nhóm hộ trồng dong riềng 48
Bảng 3.7 Mật độ số gốc dong trên 1 ha phân theo nhóm đất 49
Bảng 3.8 Năng suất dong riềng phân theo loại đất trồng 49
Bảng 3.9 Kết quả sản xuất dong riềng của các hộ tại huyện Na Rì năm 2017 50 Bảng 3.10 So sánh kết quản sản xuất dong riềng 2015 - 2017 51
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của các yếu tố về điều kiện tự nhiên đến phát triển sản xuất dong riềng tại Na Rì 57
Bảng 3.12 Các yếu tố nguồn lực kinh tế của hộ 58
Bảng 3.13 Các yếu tố về thị trường và kế hoạch sản xuất 61
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Phân loại hộ trồng dong theo nhóm thu nhập 44 Hình 3.2 Cơ cấu hộ trồng dong theo tỷ lệ sử dụng đất 46
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện tại sự nghiệp xóa đói giảm nghèo của tỉnh Bắc Kạn đã được thực hiện và đạt được những thành tựu đáng kể, trong giai đoạn tiếp theo tỉnh vẫn tiếp tục chú trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững sinh kế của người dân Với đặc thù là tỉnh miền núi và với phần lớn lao động tham gia vào ngành nông nghiệp, đồng thời ngành nông nghiệp cũng đóng góp gần 40% cho GDP của tỉnh, trong đó khu vực trồng trọt vẫn là nhân tố chính đóng góp cho thu nhập toàn tỉnh (CTKBK, 2017) Chính vì vậy để có thể thực được mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân thì phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của tỉnh Bắc Kạn hướng đến Thực tế tỉnh Bắc Kạn đã quy hoạch và định hướng phát triển cụ thể cho các cây thế mạnh của tỉnh như: dong riềng, quýt, hồng, dược liệu Cây dong riềng là cây trồng nhận được
sự quan tâm đặc biệt của tỉnh Bắc Kạn bởi nó được coi như là cây xóa đói cho người dân ở trên địa bàn nhiều huyện của tỉnh Bắc Kạn Đối với sản phẩm củ dong riềng trồng tại Bắc Kạn được phục vụ chủ yếu cho công nghiệp chế biến miến trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận như Thái Nguyên và Hà Nội
Hiện tại trên toàn tỉnh Bắc Kạn có 907 ha diện tích trồng cây dong riềng và theo quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Kạn, đến năm 2020, tỉnh
sẽ hướng tới phát triển vùng nguyên liệu dong với diện tích là 1500 ha Do đó, việc quy hoạch sản xuất và đảm bảo đầu ra cho sản phẩm củ dong riềng là vấn đề rất quan trọng đòi hỏi địa phương cần phải quan tâm Mặc dù nhu cầu về miến rong trên thị trường đang phát triển mạnh nhưng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất miến dong trong khu vực còn hạn chế và chưa có liên kết với nhau Vì vậy, giá cả củ dong riềng trên thị trường biến động liên tục và rất khó quản lý được Kinh nghiệm thực tế cho thấy, đã nhiều năm các hộ trồng dong riềng phải đối mặt với việc giá củ dong xuống thấp, điển hình như năm 2017 giá dong có thời điểm chỉ có 1200 đồng trên 1kg và giá dong được ghi nhận thấp nhất là năm 2014 với 600-700 đồng trên 1kg Chính vì điều này mà việc quy hoạch và phát triển sản xuất cây dong riềng cần được quan tâm và tính toán một cách có hệ thống
Trang 12Trong các địa phương phát triển cây dong riềng thì Na Rì là huyện điển hình nhất khi có nghề làm miến gia truyền từ rất lâu đời và cũng là địa phương có diện tích trồng cây dong riềng thường xuyên lớn nhất của tỉnh Theo báo cáo “Kết quả trồng,
kế hoạch chế biến, tiêu thụ dong riềng năm 2017 và xây dựng kế hoạch trồng dong riềng, thuốc lá năm 2018” của huyện Na Rì, đến hết năm 2017 huyện đã trồng được
454 ha dong riềng, đạt 90,8% kế hoạch Trên toàn huyện có 2 hợp tác xã và 18 cơ sở chế biến tinh bột, miến, trong đó tập trung tại xã Côn Minh, Quang Phong, Hảo Nghĩa
và Kim Lư Thực tế kế hoạch phát vùng nguyên liệu cây dong riềng của huyện là 600
ha nhưng không dựa trên tính toán về nhu cầu của thị trường Sản phẩm làm ra không tăng theo quy mô của thị trường tiêu thụ, có những thời điểm thu hoạch chính, khả năng chế biến của các cơ sở chế biến trên địa bàn không đủ để xử lý hết sản lượng củ dong riềng, khiến người nông dân phải bán với giá thấp cho một số thương lái từ địa phương khác Thực tế ngay tại năm 2017 giá dong riềng cũng bị thấp hơn so với năm
2016 do năng lực của các cơ sở chế biến miến trong huyện không được mở rộng và phụ thuộc chủ yếu vào các thương lái đến từ các tỉnh lân cận Ngoài ra, diện tích trồng cây dong riềng trên địa bàn huyện còn khá nhỏ bé so với tiềm năng đất trên địa bàn, tốc độ phát triển của diện tích trồng dong riềng còn chậm, chưa đảm bảo được kế hoạch đề ra Để phát triển sản xuất cây dong riềng một cách bền vững cần thiết phải
có nghiên cứu thiết thực để giúp cho các hộ sản xuất giảm thiểu được rủi ro thị trường
và nâng cao được hiệu quả sản xuất của mình Chính vì lí do đó tôi đề xuất đề tài
“Phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn” làm luận văn
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển cây dong riềng;
- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn;
Trang 13- Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn theo hướng bền vững
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung liên quan đến phát triển cây dong riềng tại huyện Na Rì thông qua việc nghiên cứu các khách thể là các hộ tham gia vào canh tác cây dong riềng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung là quá trình phát triển của cây dong riềng Trong đó luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu đến những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của cây dong riềng
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện ở huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
- Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển cây dong riềng thời kỳ 2015-2017; đề xuất giải pháp đến năm 2030
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Ý nghĩa khoa học của Luận văn là góp phần tổng hợp lại lý thuyết về phát triển đối với các sản phẩm nông nghiệp nói chung và cây dong riềng nói riêng Đối với ý nghĩa thực tiễn của luận văn, kết quả nghiên cứu của Luận văn này cũng là cơ sở để xây dựng, điều chỉnh quy hoạch và phát triển sản xuất cây dong riềng cho tỉnh Bắc Kạn, từ đó giúp cho sự phát triển của sản xuất dong riềng tại địa phương được bền vững hơn
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cây dong riềng
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài
Chương 3: Thực trạng phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn
Chương 4: Giải pháp phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÂY DONG RIỀNG
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển cây dong riềng
1.1.1 Khái niệm phát triển sản xuất cây dong riềng
1.1.1.1 Khái niệm chung về phát triển
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển Theo tác giả Nguyễn Ngọc Long và cộng sự: “Phát triển được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ” Quan điểm này cũng cho rằng, “Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn” [6]
Nhà kinh tế học Dudley Seers (1967) cho rằng ít nhất phải bổ sung thêm ba đòi hỏi bắt buộc vào khái niệm phát triển, đó là (i) Giảm đói nghèo và suy dinh dưỡng; (ii) Giảm bất bình đẳng thu nhập; (iii) Cải thiện điều kiện việc làm Còn Gunnar Myrdal, nhà kinh tế được trao giải Nobel về kinh tế năm 1974, lại cho rằng có một số nhóm các “giá trị phát triển” như tăng trưởng kinh tế, tăng mức sống, giảm bất bình đẳng xã hội và kinh tế, độc lập, đoàn kết dân tộc, dân chủ hóa chính trị, những thay đổi tích cực về cấu trúc gia đình, văn hóa của các xã hội nông nghiệp, công nghiệp hóa và bảo vệ môi trường [13]
Phát triển trong sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ Trong đó, con người luôn đấu tranh với thiên nhiên làm thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải khác phục vụ cuộc sống
Sản xuất cho tiêu dùng, tức là tạo ra sản phẩm mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường
Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo kiểu sản xuất hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy mô lớn,
Trang 15khối lượng sản phẩm nhiều Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh cao, tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao
Về mặt sản xuất ra của cải cho xã hội, phát triển là tăng nhiều sản phẩm hơn, phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phù hợp hơn về cơ cấu và phân bố của cải Phát triển bên cạnh tăng thu nhập bình quân đầu người, còn bao gồm các khía cạnh khác như nâng cao phúc lợi nhân dân, nâng cao tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khoẻ và bảo vệ môi trường
Phát triển là những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và quyền tự do công dân của con người Phát triển kinh tế gắn với phát triển ngành là một khía cạnh của phát triển sản xuất vật chất
Như vậy, có thể khái quát những quan điểm chủ yếu về phát triển như sau:
- Phát triển đó là sự gia tăng về số lượng và thay đổi về chất lượng;
- Phát triển được hiểu theo nghĩa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu;
- Phát triển chính là tăng trưởng về quy mô và hoàn thiện về cơ cấu
1.1.1.2 Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Có 2 phương thức sản xuất phổ biến như sau:
Sản xuất mang tính tự cung tự cấp, quá trình này thể hiện trình độ còn thấp của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chỉ nhằm mục đích đảm bảo chủ yếu cho các nhu cầu của chính họ, không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường
Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh và tỷ
lệ sản phẩm hàng hóa cao Phát triển kinh tế thị trường phải hướng theo phương thức thứ hai Nhưng cho dù sản xuất theo mục đích nào thì người sản xuất cũng phải trả lời được ba câu hỏi cơ bản là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Tóm lại sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượng sản xuất,
Trang 16thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống con người[13]
1.1.1.3 Phát triển sản xuất
Từ những khái niệm về phát triển và khái niệm về sản xuất trên, ta có thể hiểu một cách chung nhất về phát triển sản xuất như sau: Phát triển sản xuất là quá trình nâng cao khả năng tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy mô về số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống ngày càng cao của con người
Như vậy có thể thấy phát triển sản xuất được nhìn nhận dưới 2 góc độ: Thứ nhất đây là quá trình tăng quy mô về số lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; Thứ hai
là quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Cả hai quá trình này đều nhằm mục đích phục vụ cho đời sống của con người
Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới Phát triển sản xuất càng có vai trò quan trọng hơn nữa khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ càng ngày được nâng cao, đặc biệt hiện nay với xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm
1.1.1.4 Phát triển sản xuất cây dong riềng
Khái niệm
Phát triển sản xuất cây dong riềng là hoạt động mở rộng diện tích canh tác của cây dong riềng đồng thời tăng chất lượng củ của cây dong nhằm hướng tới việc tăng hiệu quả kinh tế nói chung cho cây trồng này Phát triển sản xuất cây dong riềng có thể phân ra làm các hoạt động chính là tăng quy mô sản xuất và cải thiện năng xuất
và chất lượng củ dong riềng Ngoài ra việc phát triển sản xuất còn phải gắn liền với hoạt động chế biến miến dong
Đối với hoạt động phát triển quy mô canh tác thì chỉ đơn giản là tăng diện tích đất canh tác dong riềng của các hộ dân lên để từ đó có tăng sản lượng củ nhằm giúp tăng doanh thu từ sản xuất dong riềng của hộ Ngoài ra việc áp dụng kĩ thuật tiên tiến nhằm tăng năng suất cũng là hoạt động giúp tăng quy mô sản xuất của hộ Tăng năng suất cũng đồng nghĩa với việc hiệu quả kinh tế của hộ được cải thiện
Đối với hoạt động phát triển sản xuất liên quan đến chất lượng của sản phẩm dong riềng thì chủ yếu liên quan đến việc áp dụng các kĩ thuật canh tác tiên tiến hoặc
Trang 17việc áp dụng các giống dong riềng khác nhau nhằm tăng lượng tinh bột trong củ dong
Tóm lại hoạt động phát triển sản xuất cây dong riềng chính là việc làm tăng quy mô sản xuất, chất lượng củ dong và đảm bảo hiệu quả kinh tế của cây dong riềng được nâng cao hơn
Đặc điểm cây dong riềng
Dong riêng là loại cây thân thảo đứng, cao từ 1,2 - 1,5m, màu tía Thân ngầm phình to thành củ, chứa nhiều tinh bột Củ nằm ngay dưới mặt đất Lá hình thuôn, dài 50- 60cm, rộng 25-30cm có gân to chính giữa lá.Thời gian sinh trưởng 10 - 12 tháng:
1 tháng đầu (từ khi cây mọc) là thời kỳ cây con; 5 tháng tiếp theo là thời kỳ cây đẻ nhánh phát triển hoàn chỉnh về thân lá; 4 - 5 tháng cuối là thời kỳ củ phình to, tích luỹ tinh bột Thời kỳ này được nhận biết từ khi dong riềng đẻ nhánh đông đặc kín đất
và cây bắt đầu ra hoa Sau 12 tháng cây sinh trưởng trở lại khi đó củ non nảy mầm, hàm lượng tinh bột trong củ chính sẽ giảm dần
Cây dong riềng thích hợp từ 25-30oC, điều kiện ấm áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và đẩy nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ Tuy nhiên cây dong riềng chịu được nhiệt độ cao tới 37-380 C, gió khô và nóng và dong riềng chịu lạnh khá nên có khả năng trồng ở vùng núi cao có độ cao trên 2.500m so với mặt nước biển và nhiệt độ mùa đông có nơi xuống dưới 100C
Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng Vì vậy rất thuận lợi cho việc trồng xen với các loại cây khác trong hệ thống canh tác đất dốc bền vững Ngày dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ Điều kiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành phát triển củ, trong khi ngày dài lại thúc đẩy sự phát triển thân lá
Giá trị kinh tế cây dong riềng
Năng suất cây dong riềng rất cao, nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm dong riềng
có thể thu được 15 - 20kg củ, có thể còn lớn hơn Trồng thâm canh trên diện tích lớn dong riềng cho năng suất 50 - 60 tấn/ha, tương ứng 5-6 tấn bột/ha Giá trị kinh tế mang lại cho người trồng, chế biến dong riềng đạt hàng tỷ đồng mỗi năm
Bên cạnh đó, cây dong riêng còn có giá trị xóa đói giảm nghèo nhờ sản xuất
Trang 18miến dong Sản phẩm miến dong sản xuất từ xây dong riêng không chỉ được tiêu thụ ở thị trường trong nước mà ngày càng vươn ra thị trường nước ngoài thông qua sự liên kết sản xuất tiêu thụ của doanh nghiệp xuất khẩu và hộ nông dân Sản phẩm miến dong riêng đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp Chứng nhận nhãn hiệu tập thể, qua đó, giúp quảng bá sản phẩm, bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng, nâng cao giá trị kinh tế và thị phần trên thị trường, góp phần tăng thu nhập, giảm nghèo cho nhân dân, tạo điều kiện tốt để các cấp, các ngành và nông dân phát triển trồng và chế biến cây dong riềng tại các địa phương
Thị trường tiêu thụ
Thị trường tiêu thụ sản phẩm dong riêng mà chủ yếu là tiêu thụ miến dong phần lớn là thị trường trong nước Thị trường tiêu thụ còn nhỏ hẹp, để phát triển thị trường cần tiến hành đồng bộ các biện pháp như: nghiên cứu thị trường, xây dựng các chiến lược giá, kênh phân phối sản phẩm rộng khắp
1.1.2 Nội dung phát triển cây dong riềng
1.1.2.1 Phát triển sản xuất cây dong riềng
Để nâng cao sản lượng, diện tích trồng cây dong riềng, đòi hỏi phải nâng cao trình độ canh tác, kỹ thuật canh tác, hoàn thiện các quy trình canh tác từ khâu chọn giống đến khâu thu hoạch Do đó, phát triển sản xuất sẽ bao gồm các hoạt động nâng cao kỹ thuật nói trên, giúp việc canh tác, thu hoạt đảm bảo nâng cao năng suất, hiệu quả, từ đó đảm bảo việc phát triển diện tích cây trồng được bền vững
Kỹ thuật chọn giống dong riềng
Có nhiều giống dong riềng (có 10 loại được đưa vào khảo nghiệm) tuy nhiên giống dong riềng: thân đỏ, lá bầu, thịt củ màu trắng có nhiều đặc điểm thích nghi, sinh trưởng khỏe hơn so với các giống khác
Dong riềng được trồng bằng củ mầm, lượng giống cho 1 ha khoảng 1,5-2 tấn
Để sản xuất dong riềng đạt hiệu quả kinh tế cao cần chọn chủ nhánh, tròn chưa mọc thành cây, không nên chọn củ quá non hoặc quá giá khiến cây mọc yếu, năng suất thấp
Kỹ thuật làm đất phát triển sản xuất dong riềng
Trang 19Trồng dong riềng trên đất bằng phẳng: vườn, soi bãi, ruộng, dong riềng phát triển củ theo chiều ngang, rễ cây ăn sâu do vậy làm đất phải chú ý cày sâu 15-20 cm, bừa kỹ, nhặt sạch cỏ, lên luống, rãnh thoát nước
Trồng dong riềng trên đất dốc, đất đá, không cần phải cày bừa: Làm sạch cỏ dại, dọn sạch những củ còn sót lại từ vụ trước để quản lý tốt mật độ trồng Bổ hốc khoảng 20x20x20 cm
Khi lựa chọn vị trí đất trồng dong riềng phải thuận tiện cho vận chuyển củ đến nơi tiêu thụ bằng xe cơ giới Vì năng suất dong riềng thường rất cao nên quãng đường
từ vị trí sản xuất đến nơi tiêu thụ càng xa, công lao động càng lớn, từ đó làm giảm hiệu quả, giá trị kinh tế của dong riềng
Kỹ thuật trồng dong riềng
Sau khi xẻ rãnh hoặc bổ hốc xong, bón phân lót: bón phân lân, phân đạm, trộn phân với đất, bón phân hữu cơ đã hoai mục (nếu có), lấp đất phủ phân
Đặt củ giống sâu 10 cm so với mặt hố, phủ đất mỏng che củ giống, khi đặt củ mầm hướng lên trên, ấn nhẹ để củ giống tiếp xúc với đất đất
Trên đất tốt, đất ruộng có điều kiện thâm canh mật độ trồng cần thưa hơn điều kiện đất xấu, đất dốc
Kỹ thuật chăm sóc, bón phân
Làm cỏ, xới xáo và vun luống, bón phân thúc cần kết hợp với nhau và tiến hành làm cùng đợt chăm sóc, thu những mầm mọc ngoài hốc ngoài hàng do sót lại từ
vụ trước nhằm quản lý mật độ trồng, tránh lãnh phí phân bón
+ Chăm sóc đợt 1: Sau khi cây trồng được 1 tháng xới nhẹ, làm sạch cỏ, bón phân thúc đợt 1 rồi vun nhẹ để phủ phân
+ Chăm sóc đợt 2: Sau khi chăm sóc đợt 1 khoảng 1 tháng làm sạch cỏ, vun cao gốc cho cây phát triển khỏe
+ Chăm sóc đợt cuối: Sau trồng khoảng 4-5 tháng tiến hành làm cỏ, vun luống lần cuối, kết hợp bón thúc lần 2
Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh
- Trong rẫy dong thường xuất hiện bọ nẹt, nhưng rất ít khi phát dịch, gây hại không đáng kể, không nên dùng thuốc tốn công, tốn tiền, hại sức khoẻ và thiên địch
Trang 20- Bệnh hại: Bệnh khô vằn (thối bẹ lá) thường xuất hiện trên những ruộng ẩm thấp, đất tốt, trồng quá dầy
Biện pháp hạn chế và trừ bệnh:
+ Không lấy củ giống bị bệnh để lại vụ sau;
+ Dọn sạch tàn dư cây trước khi trồng vụ mới;
+ Không trồng dong riềng quá dầy;
+ Bón cân đối các loại phân, không bón đơn thuần một loại phân đạm Khi thấy dong quá tốt không nên tiếp tục bón phân đạm, tăng cường bón phân Kaly;
+ Đối với dong bị bệnh: Thực hiện kiểm tra và phát hiện bệnh sớm, bệnh còn trên diện tích hẹp, cắt vơ hết lá bị bệnh phía dưới gốc, sử dụng các loại thuốc phòng trừ bệnh đề phun trừ và chống lây lan
Kỹ thuật thu hoạch
Dong riêng được thu hoạch để chế biến tinh bột: sau khi trồng 10-11 tháng là thời điểm thu hoạch tốt nhất, khi thấy lá vàng, cây rạc dần, nhiều lá gần gốc đã già là cây có thể thu hoạch được
- Nếu thu hoạch sớm (khi còn non) thì sản lượng giảm nhiều, tinh bột trong củ thấp, vỏ củ dễ bị chày xát
- Nếu thu hoạch muộn (củ già) cây ra mầm mới, tinh bột giảm, không giải phóng được đất canh tác cho vụ sau
Sau khi thu hoạch, chờ chế biến đến đâu mới thực hiện tách củ đến đó để đảm bảo chất lượng củ cao nhất
1.1.2.2 Phát triển tiêu thụ cây dong riềng
Hoạt động tiêu thụ cây dong riềng đóng góp rất lớn vào việc phát triển cây dong riềng, đây là yếu tố đảm bảo việc phát triển theo chiều sâu, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho hoạt động sản xuất cây dong riềng tại địa phương
Xây dựng chính sách giá cả hợp lý
+ Đối với các hộ nông dân, doanh nghiệp sản xuất dong riêng: giá cả sản phẩm được đưa ra phải đảm bảo các nguyên tắc:
- Bù đắp được chi phí mà họ bỏ ra để tạo ra sản phẩm
- Theo đuổi các mục tiêu kinh tế của đơn vị và cá nhân
Trang 21- Được người mua chấp nhận
+ Đặc điểm của giá cả sản phẩm dong riềng trong kinh doanh nông nghiệp (1) Đối với hộ trồng trọt, đơn vị kinh doanh nông nghiệp cung cấp sản phẩm dong riềng để tiêu dùng trực tiếp:
Giá cả trong các doanh nghiệp này có tính biến động lớn và chứa đựng nhiều rủi ro mà nguyên nhân chủ yếu:
- Tính mùa vụ trong sản xuất
- Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm chịu sự chi phối của thời tiết
- Quan hệ cung cầu đối với sản phẩm rất đa dạng, phong phú, bị chi phối bởi các yếu tố tâm lý, phong tục tập quán trong tiêu dùng
- Các doanh nghiệp kinh doanh thường hoạt động trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, nhiều người bán, người mua, giá cả là giá thị trường, độ co giãn cầu theo giá thấp (sự thay đổi của số lượng không ảnh hưởng nhiều đến giá)
- Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác tác động đến giá cả sản phẩm trong doanh nghiệp cung ứng sản phẩm nông nghiệp trực tiếp như: tiến bộ kỹ thuật, sự xuất hiện của những sản phẩm thay thế; Có nhiều mức giá : - Giá mùa vụ (đầu vụ, chính
vụ, cuối vụ), giá khu vực, giá theo loại sản phẩm (phẩm cấp, chất lượng)
(2) Đối với doanh nghiệp kinh doanh dong riềng trung gian: doanh nghiệp chế biến, bảo quản
Các doanh nghiệp này làm thay đổi thuộc tính của sản phẩm dong riềng hoặc
bổ sung những dịch vụ cho sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Giá cả sản phẩm dong riềng trong các doanh nghiệp trung gian mang đặc điểm sau:
- Có tính ổn định tương đối
- Có xu hướng tăng do tăng thêm các yếu tố dịch vụ trong khâu trung gian
Tổ chức các hoạt động tiêu thụ sản phẩm dong riềng
Tổ chức các hoạt động tiêu thụ là tiến trình xây dựng và duy trì một hỗn hợp truyền thông nhằm vào thị trường mục tiêu để thu hút khách hàng, đóng góp vào mục đích ngắn hạn cũng như dài hạn của cá nhân và đơn vị Nội dung của chính sách này bao gồm: tổ chức mạng lưới tiêu thụ; Tổ chức các hình thức bán hàng; Tổ chức các dịch vụ trong bán hàng và sau bán hàng Đây thực chất là quá trình truyền thông có
Trang 22mục đích thông báo, thuyết phục khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ và duy trì mối quan hệ với khách hàng thông qua các đặc tính về sản phẩm Nội dung của một thông điệp cần nhấn mạnh những thuộc tính về lợi ích của sản phẩm một cách cụ thể, tạo cho khách hàng sự hiểu biết, gây được sự chú ý của họ và khuyến khích họ lựa chọn sản phẩm dịch vụ Các hoạt động cụ thể để phát triển tiêu thụ cây dong riềng như sau:
+ Tổ chức mạng lưới tiêu thụ là xác định hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm Việc xác định này phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất dong riêng của từng hộ cũng như đặc điểm của sản phẩm dong riềng Thực chất khi xác định hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm, các hộ trồng dong riềng đã xác định các điểm bán hàng của mình và phải dựa trên các kết quả nghiên cứu về thị trường
Xây dựng trang thiết bị cho nơi bán hàng: không những nhằm mục đích bán
hàng thuận lợi mà còn phải nhằm mục đích thu hút khách hàng
+ Tổ chức các hình thức bán hàng: các hình thức bán hàng phổ biến là: bán hàng theo hợp đồng; Bán hàng tại các cửa hàng & siêu thị; Bán hàng trực tiếp; Bán hàng qua điện thoại, qua mạng internet
+ Các dịch vụ trong bán hàng gồm: quảng cáo, tham gia hội trợ triển lãm, tiếp thị chào hàng, hoạt động chiêu khách và chiêu hàng
Trong việc tổ chức các hoạt động tiêu thụ, các hộ nông dân, cơ sở kinh doanh cần nắm bắt tâm lý, tập quán tiêu dùng của người tiêu dùng trong quá trình tiêu thụ sản phẩm Mỗi nơi người dân có sở thích về một loại sản phẩm dong riềng khác nhau nên chủng loại sản phẩm sản xuất từ dong riềng có lượng tiêu thụ khác nhau Cơ sở kinh doanh phải tìm hiểu xem ở đó người dân ưa tiêu dùng loại sản phẩm nào để từ
đó tổ chức bán loại sản phẩm mà họ ưa thích Nếu làm tốt việc này thì sản phẩm dong riềng sản xuất ra sẽ đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của người tiêu dùng Do đó, tạo điều kiện để phát triển cây dong riềng
Việc tổ chức tốt hoạt động tiêu thụ sản phẩm dong riềng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất của các hộ nông dân, cơ sở kinh doanh nông nghiệp Việc tổ chức tốt tiêu thụ sản phẩm giúp cho các cơ sở kinh doanh tiêu thụ hết lượng sản phẩm dong riềng hiện có, giúp cho họ có được định hướng về lượng sản
Trang 23phẩm tiêu thụ trong tương lai Nhờ đó, các cơ sở kinh doanh không chỉ thu được lợi nhuận tối đa mà còn giảm được chi phí bảo quản sản phẩm và những sản phẩm bị hỏng do bảo quản kém hay để lâu ngày
Thiết lập kênh tiêu thụ sản phẩm dong riềng
Kênh tiêu thụ sản phẩm là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập hay phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình tạo dòng vận chuyển hàng
hoá dịch vụ từ người sản xuất dong riềng đến người tiêu dùng
Tham gia trong kênh tiêu thụ sản phẩm bao gồm các thành viên trung gian thương mại từ nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý và môi giới
Tuỳ thuộc số lượng các trung gian thương mại tham gia trong kênh tiêu thụ sản phẩm dong riềng mà có các loại kênh tiêu thụ khác nhau, như kênh tiêu thụ trực tiếp, kênh tiêu thụ cấp 1, kênh tiêu thụ cấp 2
Chức năng chủ yếu của kênh tiêu thụ sản phẩm dong riềng là:
- Làm cho các dòng chảy của kênh thông suốt, các dòng chảy của kênh tiêu thụ sản phẩm gồm dòng vận chuyển, sản phẩm dịch vụ từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng, dòng chuyển quyền sở hữu hàng hoá, dòng thanh toán, dòng thông tin 2 chiều, dòng xúc tiến hỗ trợ
- Thực hiện một số chức năng cụ thể của hoạt động tiêu thụ như thu thập thông tin thị trường, quảng bá sản phẩm, xúc tiến thương mại, đàm phán hợp đồng kinh tế, phân phối sản phẩm, hoàn thiện hàng hoá, tài trợ và chia sẻ rủi ro
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình phát triển cây dong riềng
1.1.3.1 Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên
Là một loại cây trồng, sinh trưởng phát triển của nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, bao gồm:khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đất đai, môi trường, sinh thái,…trong đó yếu tố đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất dong riềng; các nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến các thời kỳ sinh trưởng, năng suất và chất lượng của dong riềng [12]
1.1.3.2 Nhóm yếu tố kinh tế - xã hội
Thói quen tiêu dùng: Đó là sự hình thành tập quán của người tiêu dùng, nó phụ thuộc vào đặc điểm của vùng, mỗi quốc gia, cũng như trình độ dân trí của vùng đó Đối với sản phẩm cây dong riềng thì về cơ bản được dùng làm nguyên liệu để làm
Trang 24miến, cho nên đối với các cơ sở làm miến tại Bắc Kạn sẽ thường ưu tiên đối với những sản phẩm củ dong riềng quen thuộc của địa phương Đối với các thương lái từ các tỉnh khác đến họ sẽ không chú ý đến nguồn gốc xuất xứ của củ dong riềng được trồng từ địa phương nào
Tập quán sản xuất: Liên quan tới chủng loại dong riềng, giống, kỹ thuật canh tác, thu hoạch Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng, giá trị thu hoạch được trên một đơn vị diện tích [7]
Thị trường: Trong nền kinh tế thị trường, cầu- cung là yếu tố quyết định đến
sự ra đời và phát triển một ngành sản xuất, hay một hàng hóa, dịch vụ nào đó Người sản xuất chỉ sản xuất những hành hóa, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu và xác định khả năng của mình khi đầu tư vào lĩnh vực, hàng hóa, dịch vụ nào đó mang lại lợi nhuận cao nhất, thông qua các thông tin và các tín hiệu giá cả phát ra từ thị trường Thị trường với các quy luật cầu - cung, cạnh tranh và quy luật giá trị, nó có tác động rất lớn đến các nhà sản xuất Thị trường dong riềng ở đây được đề cập đến cả hai yếu
tố cầu - cung, có nghĩa là sức mua và sức sản xuất đều ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất dong riềng, mất cân bằng một trong hai yếu tố đó thì sản xuất sẽ bất ổn [7]
Trình độ, năng lực của các chủ thể trong sản xuất kinh doanh, có tác dụng quyết định trực tiếp việc tổ chức và hiệu quả kinh tế cây dong riềng Năng lực của các chủ thế sản xuất được thể hiện qua: trình độ tổ chức quản lý và khả năng áp dụng các tiến độ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; Khả năng ứng xử trước các biến động của thị trường, môi trường sản xuất kinh doanh; khả năng vốn và trình độ trang
bị cơ sở vật chất kỹ thuật, Nếu trình độ, năng lực của các chủ thể sẽ có ảnh hưởng tích cực tới sản xuất dong riềng và ngược lại[7]
Quy mô sản xuất: Các hộ nông dân khác nhau có diện tích trồng dong riềng khác nhau Có một số hộ gia đình ngoài phần diện tích của gia đình được chi theo số khẩu còn có diện tích nhận đấu thầu Diện tích càng lớn thì công tác quản lý giảm đi
và mọi công việc như tổ chức chăm sóc, thu hoạch, chi phí cũng được tiết kiệm và ngược lại Do vậy quy mô sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm [7]
1.1.3.3 Nhóm các nhân tố kỹ thuật canh tác
Trang 25Biện pháp kỹ thuật canh tác là sự tác động của con người vào cây trồng tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế cao Cụ thể:
Giống dong riềng: Giống dong riềng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, hàm lượng tinh bột và chất lượng bột của củ dong Ngoài ra các giống khác nhau cũng có đặc điểm sinh trưởng và mùa vụ khác nhau Chọn giống cây trồng phù hợp cũng giúp cho sản xuất dong riềng đạt hiệu quả cao hơn [11]
Kỹ thuật chăm sóc: Là khâu tác động ảnh hưởng không những năm đó mà còn ảnh hưởng đến nhiều năm về sau Đối với dong riềng thì việc trồng trên ruộng hay trồng trên đồi đòi hỏi kĩ thuật canh tác rất khác nhau do đó các hộ tham gia vào sản xuất cần phải rất chú ý đến vấn đề này [11]
Phòng trừ sâu bệnh: Dong riềng là loại cây trồng có thể mắc nhiều loại bệnh,
do vậy phòng trừ sâu bệnh và kịp thời cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, là cơ sở cho cây ra hoa và nuôi quả trong suốt thời gian mang quả Nếu không làm tốt khâu này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng dong riềng [11]
Phương thức trồng: Trên cơ sở đặc tính sinh vật học và quy luật phát triển của cây dong riềng để lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn một cách hợp lý giữa các biện pháp nhằm đạt mục tiêu kinh tế song việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác phụ thuộc rất lớn vào mức độ đầu tư [11]
1.1.3.4 Yếu tố chính sách nhà nước
Vai trò của Nhà nước: Thể hiện qua các chính sách về đất đai, vốn tín dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng và hàng loạt các chính sách khác liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong đó có sản xuất dong riềng Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp tới sản xuất dong riềng, các chính sách thích hợp, đủ mạnh của Nhà nước sẽ gắn kết các yếu tố trong sản xuất với nhau để sản xuất phát triển Bao gồm: Quy hoạch vùng sản xuất chính xác, sẽ phát huy được lợi thế so sánh của vùng; Xây dựng được các quy mô sản xuất phù hợp, tổ chức các đầu vào theo đúng các quá trình tiên tiến [7]
1.2 Kinh nghiệm phát triển cây dong riềng tại một số địa phương và bài học
Trang 26thực tiễn cho Bắc Kạn
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển cây dong riềng của một số địa phương
1.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển của cây dong riềng tại huyện Bạch Thông và Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Tại Huyện Bạch Thông
Trong lĩnh vực nông nghiệp, bên cạnh việc phát huy lợi thế đất rừng để phát triển lâm nghiệp, lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát triển các loại cây cao sản, có năng suất, chất lượng và đem lại giá trị kinh tế cao cũng được chú trọng đầu tư phát triển như cây dong riềng Cây dong riềng là một trong những cây trồng có tiềm năng, năng suất cao, thích hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Bạch Thông, là cây trồng được chọn là cây xoá đói, giảm nghèo và tiến tới làm giầu cho người dân Bạch Thông Diện tích trồng dong riềng trên địa bàn huyện qua các năm: Năm 2015 tổng diện tích trồng dong riềng trên địa bàn là 60ha; năm 2016 tăng lên 46ha và năm 2017 là 86ha [5]
Để nâng cao hiệu quả, phát triển cây dong riềng, UBND huyện Bạch Thông
đã chỉ đạo các xã định hướng cho người dân lựa chọn các vùng đất thích hợp, thuận tiện giao thông để tránh tình trạng trồng ở những nơi quá xa, không thuận tiện trong việc vận chuyển Đồng thời, hướng dẫn người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm tăng năng suất và tránh được sâu bệnh hại Đối với những diện tích trồng bằng phẳng, chính quyền khuyến khích người dân trồng xen đậu tương, lạc để vừa tăng thêm thu nhập và vừa cải tạo đất Chuyển đổi mô hình các Hợp tác xã, liên kết nhóm hộ sản xuất để bà con yên tâm phát triển cây dong riềng, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu dong
củ cho các cơ sở sản xuất, chế biến miến dong trên địa bàn huyện
Tại Huyện Ba Bể
Sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản là ngành kinh tế chủ đạo và có đóng góp quan trọng nhất vào tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn huyện Ba Bể Trong đó sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ lực với các loại cây trồng chính như cây lúa, cây ngô và trong nhưng năm gần đây cây dong riềng đã được nhân dân trong huyện phát triển mở rộng và tạo ra giá trị thu nhập cao trên diện tích đất canh tác ở các xã trong huyện Trong giai đoạn 2015-2017, diện tích trồng dong riềng tại huyện liên
Trang 27tục gia tăng: Năm 2015 tổng diện tích trồng dong riềng trên địa bàn huyện là 131ha; năm 2016 tăng lên 200ha và năm 2017 là 289ha [5]
Thời vụ trồng dong riềng của huyện kéo dài từ tháng 1 đến hết tháng 3; thời gian sinh trưởng từ tháng 4 đến cuối tháng 10; thời gian thu hoạch tập trung chủ yếu vào tháng 11, 12 Nông dân trong huyện trồng mật độ dong riềng dầy từ 3-4 gốc/m2 tuân thủ theo hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan chuyên môn
Chủ yếu các hộ dân trên địa bàn huyện canh tác dong riềng trên đất nương rẫy với 70% trồng dong riềng trong huyện, 30% diện tích canh tác trên đất ruộng, soi bãi
Từ đây khiến năng suất, sản lượng dong riềng trên địa bàn hàng năm khá cao
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện phát triển tiêu thụ sản phẩm, chính quyền huyện
Ba Bể đã xây dựng các mô hình “liên kết” giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, chế biến với người nông dân trồng dong riềng Khuyến khích, đôn đốc các cơ sở chế biến trao đổi thống nhất và ký hợp đồng bao tiêu nguyên liệu với người nông dân trồng dong riềng hoặc từng nhóm hộ nông dân Đưa ra các chính sách ưu đãi đặc biệt đối với các cơ sở chế biến đầu tư vốn, phân bón, giống, công nghệ, kỹ thuật trồng, chăm sóc… cho người nông dân Từ đây giúp cho các cơ sở chế biến ổn định được vùng nguyên liệu của đơn vị, kiểm soát được chất lượng củ dong riềng và tạo mối quan hệ khăng khít giữa các cơ sở sản xuất và người trồng dong riềng
Đặc biệt, Ban thương vụ huyện ủy đã chỉ đạo sát sao công tác trồng dong riềng theo kế hoạch được giao và gắn với năng lực chế biến của các cơ sở trên địa bàn; Động viên, khuyến khích, đưa ra các hỗ trợ đặc biệt với các cơ sở chế biến ký hợp đồng bao tiêu củ dong riềng với bà con nông dân trồng dong riềng Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cơ sở chế biến sản phẩm từ miến dong trên địa bàn huyện, khuyến khích cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại vào hoạt động sản xuất nhằm giảm công lao động, giảm thất thoát nguyên vật liệu và hạ chi phí sản xuất sản phẩm, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng giá trị gia tăng cho sản phẩm dong riềng của huyện Chú trọng công tác xúc tiến đưa các sản phẩm từ dong riềng giới thiệu đến người tiêu dùng Theo đó, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện đã phối hợp với Sở Công Thương Bắc Kạn tổ chức cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến sản phẩm dong riêng tham gia Hội nghị chắp nối
Trang 28cung cầu hàng hóa giữa các cơ sở sản xuất hàng công nghiệp nông thôn với các kênh phân phối hàng hóa nội địa truyền thống và hiện đại Khu vực miền Bắc do Bộ Công Thương tổ chức, đây là cơ hội tốt để huyện phát triển cây miến dong, nâng cao thu nhập cho hộ dân
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển của cây dong riềng tại huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng
Trong những năm gần đây, huyện Nguyên Bình đã đưa giống cây dong riềng cao sản vào trồng thay thế dần giống địa phương đã bị thoái hóa, đầu tư thâm canh,
áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đến nay, trên 90% hộ dân trồng dong riềng trên địa bàn huyện đã dùng giống mới cho năng suất, chất lượng củ tốt Nhiều hộ dân như: Du Văn Sìu, xóm Phù Vài; Nông Văn Dù, Phạm Văn Lợi, xóm Phja Đén, xã Thành Công có thu nhập từ trồng và sản xuất miến dong 100 -
200 triệu đồng/năm Sản phẩm miến dong Nguyên Bình được thị trường ưa chuộng, huyện đã xây dựng được thương hiệu miến dong, nhãn hiệu tập thể miến dong Nguyên Bình đã được cấp có thẩm quyền công nhận Năm 2015, toàn huyện trồng được 134
ha, tăng 30 ha so với năm 2011, năng suất đạt 648 tạ/ha, sản lượng đạt 8.685 tấn, bình quân thu nhập đạt 91 triệu đồng/ha/năm Năm 2016, toàn huyện trồng được hơn 140
ha dong riềng, phấn đấu đến năm 2020, tăng lên 200 ha [5]
Để thực hiện hiệu quả Chương trình phát triển sản xuất hàng hóa cây cây dong riềng Nguyên Bình đã khảo sát, đánh giá điều kiện đất đai, khí hậu của từng vùng để xây dựng quy hoạch vùng sản xuất tập trung Trong đó, vùng trồng cây dong riềng và sản xuất miến dong tại các xã: Phan Thanh, Thành Công, thị trấn Tĩnh Túc và mở rộng diện tích sang các xã: Vũ Nông, Yên Lạc, Ca Thành
Các ngành chức năng liên quan tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học
kỹ thuật cho nhân dân; xây dựng các mô hình phòng trừ dịch bệnh trên cây dong riềng; phổ biến nhân rộng các mô hình đạt hiệu quả để người dân tham quan, học tập Khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các hộ dân đầu tư xây dựng các
cơ sở chế biến miến dong đáp ứng được các tiêu chuẩn về thương hiệu miến dong Nguyên Bình
1.2.1.3 Kinh nghiệm phát triển của cây dong riềng tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang
Trang 29Tại Tuyên Quang, quy hoạch của tỉnh về diện tích cây dong riềng dao động từ
500 - 600ha, tuy nhiên tại một số địa phương, người dân mở rộng diện tích trồng dong riềng một cách tự phát khiến diện tích tăng lên nhanh chóng làm ảnh hưởng đến giá
cả thị trường Khi dong riềng được giá người dân đã ồ ạt mở rộng diện tích và không tập trung chăm sóc, nâng cao chất lượng, giá trị của củ dong riềng Việc phát triển sản xuất ở đây cho thấy dấu hiệu chưa bền vững và dong riêng cũng chưa thể hiện được vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo cho nhân dân Thực tế tỉnh Tuyên Quang chưa có chính sách hiệu quả trong quy hoạch, hỗ trợ người dân từ khâu trồng, chế biến đến khâu tiê thụ sản phẩm Bên cạnh đó tỉnh cũng không có giải pháp cụ thể
để hạn chế tình trạng sản xuất không theo quy hoạch Đối với hoạt động tạo liên kết chuỗi giá trị để ổn định được đầu ra cho sản phẩm, các cơ sở chế biến không chú trọng nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng, tạo uy tín của sản phẩm trên thị trường Chính vì lý do đó mà sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dong riềng tại Tuyên Quang luôn ở tình trạng không ổn định [5]
Thực tế cho thấy những năm 2013-2014 giá dong riềng giảm xuống còn 500-
700 đồng/kg nhiều hộ trồng dong riềng chán nản không thu hoạch để cây chết, chuyển đổi sang trồng loại cây khác Nhưng đến năm 2015-2016 do thị trường khan hiếm, giá dong riềng tăng lên 2.500 - 2.700 đồng/kg, người dân lại ồ ạt trồng dong riềng trở lại, dẫn đến mùa vụ năm 2017, giá dong riềng giảm xuống còn hơn 1.000 đồng/kg
Cụ thể giá dong riềng nguyên liệu lên đến 2.000 đồng/kg năm 2016 nên nhiều gia đình đã đầu tư trồng dong riềng trở lại Tuy nhiên, hiện nay, mới vào đầu vụ thương lái chỉ trả có 1.000 đồng/kg Trong khi đó, vụ này, mưa nhiều chỉ tốt cây, củ không nhiều, với giá như hiện nay trừ tiền giống, chăm sóc, phân bón, thu hoạch dong riềng không còn lãi Giá dong riềng nguyên liệu giảm kéo theo giá tinh bột dong cũng giảm Hiện tại, giá tinh bột dong chỉ từ 11.000 - 12.000 đồng/kg, giảm 50% so với cùng kỳ năm ngoái [5]
Thực tế cho thấy, năm ngoái, giá dong riềng nguyên liệu, tinh bột tăng cao nên
bà con đua nhau trồng dong riềng trở lại Theo thống kê sơ bộ, diện tích dong riềng tại tỉnh Tuyên Quang tăng đột biến, đạt mức trên 1.000 héc-ta, trong đó nhiều nhất là huyện Yên Sơn với trên 800 héc-ta, sản lượng ước đạt khoảng trên 56.000 tấn, tập
Trang 30trung tại các xã: Phúc Ninh, Xuân Vân, Lực Hành [5]
Diện tích, sản lượng tăng cao trong khi thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp đã dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừa Đặc biệt, tinh bột dong riềng chỉ có thể làm miến, chứ không làm bánh kẹo như tinh bột sắn Ngoài ra, sản xuất dong riềng không gắn liền với công nghiệp chế biến Hiện tại ở Yên Sơn chỉ có Hợp tác xã sản xuất miến dong Hợp Thành (xã Lực Hành) là chế biến thành phẩm từ dong riềng, còn lại hầu hết là các cơ sở chế biến thô bán cho thương lái Công suất chế biến của hợp tác xã chỉ đạt
80 đến 90 tấn/ngày Quy mô sản xuất nhỏ nên hợp tác xã chỉ đủ sức thu mua hết diện tích đã ký hợp đồng liên kết sản xuất với các tổ hợp tác và một số hộ dân
1.2.2 Bài học kinh nghiệm phát triển cây miến dong cho huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Thứ nhất: Áp dung mô hình “liên kết” giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất,
chế biến với người nông dân trồng dong riềng Các cơ sở chế biến cần trao đổi thống nhất và ký hợp đồng bao tiêu nguyên liệu với người nông dân trồng dong riềng hoặc từng nhóm hộ nông dân
Thứ hai: Quy hoạch cụ thể diện tích đất thích hợp theo từng giai đoạn cho
trồng cây dong riềng của từng địa phương Các địa phương cần xác định được cụ thể diện tích đất thích hợp trồng dong riềng để tối ưu hóa đất đai, giúp người nông dân gia tăng giá trị từ chính nguồn đất đai đang có và tăng giá trị cây dong riềng tránh tình trạng phát triển ồ ạt, tràn lan theo phong trào
Thứ ba: UBND huyện cần chỉ đạo sát công tác trồng dong riềng theo kế hoạch
được giao và phù hợp với năng lực chế biến tại chỗ của các cơ sở trên địa bàn Để làm được điều này, UBND huyện cần học tập kinh nghiệm trong việc tổ chức công tác nghiên cứu, đánh giá tình hình, đặc điểm đất canh tác, điều kiện tự nhiên, khí hậu của từng khu vực, để lên kế hoạch triển khai phù hợp với điều kiện của từng địa phương
Thứ tư: Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cơ sở chế biến sản phẩm từ
miến dong trên địa bàn tỉnh, khuyến khích cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại vào hoạt động sản xuất nhằm giảm công lao động, giảm thất thoát nguyên vật liệu và hạ chi phí sản xuất sản phẩm, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng giá trị thương hiệu miến dong Bắc Kạn
Thứ tư: Tăng cường công tác xúc tiến thương mại cho sản phẩm tinh bột, miến
Trang 31dong và phát triển thị trường tiêu thụ thông qua các chương trình hội chợ triển lãm quáng bá sản phẩm trong và ngoài tỉnh được nhà nước hỗ trợ, Giới thiệu trên các website, cổng thông tin của huyện, …
Trang 32Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành nghiên cứu này thì một số câu hỏi dưới đây cần phải được trả lời:
- Thực trạng phát triển cây dong riềng trên địa bàn huyện Na Rì đang được diễn ra như thế nào?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc phát triển sản xuất cây dong riềng?
- Có thể đề xuất những giải pháp nào để thúc đẩy phát triển sản xuất cây dong riềng?
2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin liên quan tới vấn đề nghiên cứu từ UBND huyện Na
Rì, Chi cục Thống kê, Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Nông Nghiệp và các phòng ban khác trên địa bàn huyện, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Kạn, Chi cục BVTV tỉnh Bắc Kạn Thu thập các thông tin liên quan tới vấn đề nghiên cứu từ mạng Internet, các đề tài nghiên cứu ở thư viện Trường, thông tin từ Trung tâm học liệu, các chủ trương, chính sách của tỉnh Bắc Kạn về quy hoạch, phát triển cây dong riềng trên địa bàn nghiên cứu và các nguồn khác có liên quan
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
a Địa điểm và đối tượng điều tra:
Hiện tại dong riềng đang được trồng phổ biến ở các xã: Côn Minh, Quang Phong, Lam Sơn, Hảo Nghĩa, Dương Sơn, Đổng Xá, Xuân Dương, Ân Tình, Hữu Thác, Cư Lễ, Lạng San, Kim Lư, Lương Hạ, Văn Minh Tuy nhiên do điều kiện về thời gian và tài chính không cho phép điều tra được diễn ra trên toàn bộ các xã trên Chính vì vậy trong nghiên cứu này 3 xã điển hình có diện tích trồng cây dong riềng lớn nhất sẽ được tiến hành điều tra khảo sát Do đó tác giả sẽ tiến hành lấy phiếu điều tra khảo sát về thực trạng phát triển sản xuất của cây dong riềng trên địa bàn các xã Côn Minh, Quang Phong và Hảo Nghĩa
Trang 33Đối tượng khảo sát: Các hộ gia đình tham gia trồng cây dong riềng tại 3 xã chọn điểm nghiên cứu Ngoài ra nhóm đối tượng là các cơ sở chế biến miến trên địa bàn huyện Na Rì cũng sẽ được tiến hành điều tra khảo sát Để luận văn này có thể thuyết phục hơn thì tác giả cũng tiến hành lấy ý kiến đánh giá của các chuyên gia là những các bộ quản lý liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa phương
b Phương pháp chọn mẫu điều tra:
Đối với các cớ sở sản xuất và chế biến bột dong và miến dong: Toàn bộ các
cơ sở trên địa sẽ được tiến hành điều tra Trong đó 21 cơ sở tại xã Côn Minh, 3 cơ sở tại xã Quang Phong và 1 cơ sở tại xã Hảo Nghĩa
Đối với các chuyên gia: Dự tính sẽ lấy ý kiến của toàn bộ các chuyên gia phụ trách nông nghiệp của các xã có trồng dong riềng và các cán bộ quản lý nông nghiệp cấp huyện Dự tính có 14 cán bộ tại 14 xã có trồng dong riềng ở Na Rì và 3 cán bộ quản lý nông nghiệp cấp huyện và 9 cán bộ các sở, ngành liên quan Do đó số lượng chuyên gia được phỏng vấn là 26 người
Đối với các hộ dân trên địa bàn 3 xã với tổng diện tích là 184 ha (Chiếm 40%
so với tổng diện tích trồng dong riềng của huyện), có 902 hộ dân tham gia vào hoạt động trồng dong riềng Áp dụng công thức sau:
1+ N (e)2
Áp dụng công thức trên ta có thể dễ dàng xác định được tổng số mẫu điều tra
hộ trồng dong riềng trên địa bàn 3 xã là khoảng 277 hộ (với sai số lựa chọn là 5%)
c Thông tin thu thập bao gồm:
Để có thể hoàn thành Luân văn này, các thông tin cần thiết phải được thu thập
cụ thể như sau:
+ Thông tin về đặc điểm chung của hộ
+ Thông tin về tình hình lao động và sử dụng lao động
+ Thông tin về đất đai và thực trạng định hướng sử dụng đất đai
+ Thông tin về tình hình sử dụng các dịch vụ
+ Thông tin về đầu tư sản xuất, tình hình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên một đơn vị diện tích, giá bán sản phẩm
Trang 34+ Thông tin về sản phẩm của dong riềng
+ Thông tin về giá cả và thị trường tiêu thụ
+ Thông tin về kế hoạch sản xuất của hộ
+ Thông tin về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất
+ Và một số thông tin khác liên quan đến vấn đề như: khó khăn trong quá trình sản xuất, phương hướng phát triển sản xuất trong những năm tới, những đề xuất của
hộ với các chính sách của Đảng và Nhà nước
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu điều tra được xử lý qua phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu cần thiết như số tuyệt đối, số tương đối và số trung bình
2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng các phương pháp này mô tả kết quả thống
kê để nghiên cứu, phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng của từng vấn đề nghiên cứu đến sự phát triển cây dong riềng
- Phương pháp so sánh (So sánh tuyệt đối;So sánh tương đối; So sánh theo thời gian; So sánh theo địa điểm): Phương pháp này dùng để so sánh điều kiện sản xuất, kết quả và hiệu quả giữa việc áp dụng các phương pháp canh tác khác nhau, giữa các vùng sản xuất, tình hình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn nhiên cứu, đưa ra những kết luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong đề tài
2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
- Diện tích, năng suất, sản lượng củ dong riềng
- Tổng giá trị sản xuất (GO: Gross output)
Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ của từng ngành, từng đơn vị được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Đối với các hộ sản xuất cây dong riềng là toàn bộ giá trị sản phẩm (chính + phụ) thu được trong một năm (triệu đồng/ha)
Công thức tính:
i
iP Q
GO
Trang 35Trong đó: Qi : khối lượng sản phẩm loại i
Pi: giá bán sản phẩm loại i
- Giá trị gia tăng (VA: Value Added)
Là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành sản xuất tạo ra trong 1 năm hay trong một chu kỳ sản xuất, được xác định trên cơ sở lấy tổng thu trừ đi các khoản chi phí trung gian
Công thức tính: VA = GO - IC
- Chi phí trung gian (IC: Intermediate cost)
Là toàn bộ các khoản chi phí về vật chất thường xuyên dùng trong quá trình sản xuất, bao gồm các khoản chi phí về nguyên vật liệu, giống, phân bón, chi phí dịch
vụ phục vụ cho sản xuất (thực chi dùng cho quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm), thường tính theo năm hoặc quý hoặc tháng
Trong đó: C
j: chi phí đầu vào thứ j P
j: đơn giá đầu vào loại j
- Thu nhập hỗn hợp (MI: Mix Income, là phần thu nhập của người sản xuất gồm cả công lao động của họ và lợi nhuận đạt được trong một thời kỳ nhất định
Công thức tính: MI = VA - (A + Th+ Lt)
Trong đó: A: Khấu hao tài sản cố định
Th: Các khoản thuế phải nộp
Lt: Chi phí thuê mướn lao động bên ngoài
- Giá bán, lợi nhuận…
2.4.2 Các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Hiệu quả sử dụng đất đai: GO/ha; Va;ha; MI/ha
- Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí trung gian (TGO/IC) là tỷ số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian: TGO/IC = GO/IC, để biết được hiệu quả của một đồng chi phí trung gian tạo được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
- Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí trung gian (TVA/IC) là tỷ số giữa giá trị gia tăng với giá trị SX: TVA/IC = VA/IC, để biết được cứ một đồng chi phí trung gian thì
có bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
j
jP C
IC
Trang 36- Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo chi phí trung gian (TMI/IC) là tỷ số giữa thu nhập hỗn hợp với chi phí trung gian: TMI/IC = MI/IC, để biết khi bỏ ra một đồng chi phí trung gian thì người chủ trang trai, vườn sẽ có thêm bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp
- Hiệu quả sử dụng lao động: GO/Lao động (ngày công lao động); VA/Lao đông (ngày công lao động); MI/Lao đông (ngày công lao động);
2.4.3 Nhóm chỉ tiêu về năng lực hộ
- Trình độ của chủ hộ
- Số lượng lao động bình quân của hộ
- Tuổi bình quân của chủ hộ
- Diện tích bình quân của hộ sản xuất
Trang 37Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÂY DONG RIỀNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NA RÌ TỈNH BẮC KẠN
3.1 Giới thiệu về huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Na Rì
và Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn), và Phía Tây giáp huyện Bạch Thông
Thị trấn Yến Lạc là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách thị
xã Bắc Kạn 72 km và thành phố Thái Nguyên 130 km theo Quốc lộ 3B và Quốc lộ 3 Đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng như đường giao thông, trường học, điện lưới quốc gia, trạm y tế xã mặc dù đã được Nhà nước quan tâm đầu tư xong vẫn còn nhiều khó khăn
3.1.1.2 Địa hình
Na Rì có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi với nhiều núi đá vôi, thung lũng hẹp, độ dốc lớn, thuộc cánh cung Ngân Sơn Độ cao trung bình toàn huyện là 500m, cao nhất là núi Phyia Ngoằm (xã Cư Lễ) với độ cao 1.193m, thấp nhất ở xã Kim Lư với độ cao 250m so với mực nước biển Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc, được chia thành 2 dạng địa hình sau phổ biến
là địa hình núi đá và địa hình núi đất
Địa hình vùng núi đá: Các dãy núi đá trải dài trên hầu hết các địa bàn trong huyện là các xã Kim Hỷ, Ân Tình, Lạng San, Lam Sơn, Hảo Nghĩa, Cư Lễ với độ dốc trên 200 Tại nhiều nơi núi đá còn có độ dốc tới 600 với độ cao thay đổi từ 300m
- 500m Khối núi đá vôi Kim Hỷ được đánh giá là loại địa hình caxtơ trẻ với những đỉnh đá tai mèo, vách đứng, vực sâu, nhiều sông suối chảy ngầm, vô cùng nguy hiểm
Địa hình vùng núi đất: Phân bố ở hầu hết các xã trong huyện, gồm các dãy núi
Trang 38kéo dài liên tiếp nhau có độ cao thay đổi từ 300m - 700m Địa hình vùng này rất phức tạp, hầu hết các dãy núi được hình thành trên các khối đá mắc ma, biến chất, trầm tích, có đỉnh nhọn, độ dốc lớn Xen kẽ giữa các dãy núi chạy dọc theo các sông suối lớn có các thung lũng nhỏ hẹp dạng lòng máng hầu hết đã được khai thác để trồng lúa màu Ở vùng này thực vật phát triển rất đa dạng và phong phú, những nơi còn rừng đất đai còn tốt, tầng đất dày Một số nơi do việc khai thác không hợp lý, độ che phủ thực vật giảm, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, hàm lượng các chất dinh dưỡng suy giảm nhiều
Địa hình của huyện Na Rì đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất,
cụ thể là các quá trình rửa trôi và tích luỹ Quá trình rửa trôi diễn ra mạnh vào mùa mưa ở vùng núi đá chia cắt, dốc nhiều, ở vùng đồi núi thấp có những thung lũng tương đối bằng phẳng, thích nghi với các loại cây lương thực và cây ngắn ngày vùng nhiệt đới
số nhánh suối chính như suối Khuổi Súng, suối Tả Pìn, suối Khuổi Khe là nguồn sinh thuỷ dồi dào cung cấp lượng dòng chảy đáng kể cho sông chính
Sông Na Rì: Bắt nguồn từ vùng núi đá có độ cao 850m thuộc xã Yên Cư (huyện Chợ Mới) chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc qua các xã Đổng Xá, Xuân Dương, Dương Sơn, Hảo Nghĩa, Văn Minh và gặp sông Bắc Giang tại Pác Cáp (xã Lương Thành) Sông có chiều dài 55,5km, diện tích lưu vực 540km2, độ dốc bình quân
Trang 3922,70%, dòng chảy Q = 9,60m3/s Sông Na Rì là hợp lưu của một số suối chính như suối Bản Buốc (xã Liêm Thủy), suối Bản Cháo (xã Đổng Xá), suối Khuổi Lu (xã Quang Phong, Côn Minh, Hảo Nghĩa) với diện tích lưu vực 88km2 và lưu lượng dòng chảy Q = 1,46 m3/s; suối Cư Lễ với diện tích lưu vực 15km2 và lưu lượng dòng chảy
Q = 0,25 m3/s
Do ảnh hưởng của địa hình và cấu tạo địa chất đã chi phối mạng lưới sông suối khá phức tạp trên địa bàn huyện Phần lớn đồi núi sát thềm sông, thềm suối đã khống chế quá trình bồi tụ phù sa, chính vì vậy trong huyện không có những cánh đồng rộng lớn mà chỉ có những dải đất bồi tụ phù sa nhỏ, hẹp dọc theo các triền sông, triền suối
Đặc điểm chung của các sông suối trong huyện là có độ dốc lớn, lắm thác nhiều ghềnh Lưu lượng dòng chảy phân bố không đều trong năm, chủ yếu tập trung vào mùa lũ (chiếm khoảng 60 - 80% tổng lượng dòng chảy trong năm), nên việc khai thác sử dụng gặp khó khăn, đòi hỏi đầu tư lớn
3.1.2 Các nguồn tài nguyên
3.1.2.1 Tài nguyên đất
Đất Na Rì chủ yếu được hình thành do sự phong hóa trực tiếp của đá mẹ và một phần hình thành do sự bồi tụ phù sa các hệ thống sông, suối Toàn huyện gồm có
10 loại được phân thành các nhóm chính như sau:
Đất Feralít mùn vàng nhạt trên núi cao trên 700 m (FH): loại đất này có diện tích 3.297 ha, chiếm 3,87% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã Cư Lễ, Vũ Loan, Kim Hỷ, Côn Minh, Đổng Xá, Dương Sơn Hình thành trên các loại đá: Granít, Liparit, phiến thạch biến chất,… tầng đất mỏng, màu vàng nhạt có nhiều đá lộ đầu, địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, tỷ lệ mùn cao, mức độ tích luỹ sắt (Fe3+), nhôm (Al3+) không nhiều bằng vùng núi thấp và vùng trung du Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp, tuy nhiên có thể lựa chọn một số nơi để trồng cây ăn quả như: đào, lê, táo, mơ, mận,…
Đất Feralít đỏ nâu trên đá vôi (FQv): loại đất này có diện tích 23.518ha, chiếm 27,57% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đổng Xá, Xuân Dương, Dương Sơn, Hảo Nghĩa, Côn Minh, Hữu Thác, Cư Lễ, Lam Sơn, Lương Thành, Lạng San, Vũ Loan, Lương Hạ, Văn Minh, Cường Lợi, Văn Học, Kim Hỷ, Ân Tình, Liêm Thuỷ
Trang 40Đất phát triển trên đá vôi, tầng đất mỏng, tỷ lệ sét cao nhưng thường thoát nước nhanh
vì nền đá vôi có nhiều hang động và suối ngầm (hiện tượng Kastơ) nên đất thường bị hạn Loại đất này ngoài khả năng trồng các cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày còn có thể trồng được các cây ăn quả như: mận, đào, táo, lê,… nhưng diện tích không lớn
Đất Feralít đỏ vàng trên đá biến chất (FQj): loại đất này có diện tích 1.052ha, bằng 1,23% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở các xã trong huyện Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tỷ lệ sét cao, hàm lượng mùn và đạm tổng số khá giàu, hàm lượng kali, lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, loại đất này chủ yếu dành cho lâm nghiệp
Đất Feralít vàng đỏ trên phiến thạch sét (FQs): Là loại đất có diện tích lớn nhất
so với các loại đất khác với 50.416ha, bằng 59,10% diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu khắp các xã trong huyện Đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng mùn từ trung bình đến khá Phần lớn đất nằm trên địa hình hiểm trở, độ dốc lớn nên được sử dụng cho lâm nghiệp là chính Một số ít diện tích đã được cải tạo để trồng hoa màu, cây lâu năm và bãi chăn thả gia súc
Đất Feralít màu vàng nhạt trên đá cát (FQq): Loại đất này có diện tích 3.680ha, chiếm 4,31% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Lương Thượng, Lạng San, Vũ Loan, Văn Học Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cát cao, nhất là ở những vùng đồi trọc, khả năng giữ ẩm và giữ màu của đất kém, hàm lượng oxit sắt (Fe2O3), nhôm (Al2O3) Hàm lượng mùn và đạm tổng số thay đổi theo mật độ cây rừng Lân tổng số
và dễ tiêu nghèo, Kali vào loại trung bình Đất thích hợp với nhiều loại cây trồng, khi
sử dụng để trồng trọt cần phải thận trọng trong việc lựa chọn tầng đất, độ dốc, chống xói mòn rửa trôi để bảo đảm được thâm canh lâu dài
Đất phù sa sông: Phân bố chủ yếu ở các khu vực có địa hình thấp, trũng gần sông Bắc Giang tại các xã (ở địa hình thấp của sông Bắc Giang) Lương Hạ, Kim Lư, thị trấn Yến Lạc, loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ, càng xa bờ sông thành phần
cơ giới nặng thêm, loại đất này thuận lợi cho trồng lúa, màu và cây ăn quả
Đất phù sa ngòi, suối: Có diện tích 1.281ha, chiếm 1,50% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo các triền suối thuộc các xã Kim Hỷ, Đổng Xá, Kim Lư,… là sản