1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học một số chủ đề khoa học lớp 4, 5 qua trò chơi học tập

165 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 4,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chínhđiều này đã gây khó khăn, trở ngại cho giáo viên khi dạy môn Khoa học nóichung và sử dụng trò chơi trong dạy học có hiệu quả nói riêng.Là một giáo viên trẻ, nhiệt huyết cùng với mon

Trang 1

QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

BÙI THỊ LANH

DẠY HỌC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ KHOA HỌC LỚP 4, 5

QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP

Chuyên ngành: Giáo dục học (Tiểu học)

Mã số: 8 14 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤCNgười hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Dục Quang

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc đến thầygiáo - PGS.TS Nguyễn Dục Quang, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo vàgiúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, thầy cô và các em học sinhcủa trường Tiểu học dân lập Vietkids (Đống Đa - Hà Nội) đã hợp tác và tạođiều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu, điều tra, thực nghiệm và hoànthành luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sâu sắc tới tất cả người thân, bạn bè đã luônđộng viên và ủng hộ tôi suốt thời gian qua

Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn còn nhiều sai sót, mongđược sự góp ý của quý thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2018

Tác giả

Bùi Thị Lanh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những gì viết trong luận văn là do sự tìm tòi, học hỏicủa bản thân và sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo - PGS.TS Nguyễn DụcQuang Tôi c ng xin cam đoan r ng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luậnvăn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ

rõ nguồn gốc Đề tài luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳmột hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và c ng chưa hề được công bố trênbất kỳ một phương tiện nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên

Hà Nội, tháng 9 năm 2018

Tác giả

Bùi Thị Lanh

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BIỂU BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ KHOA HỌC Ở LỚP 4,5 QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.2 Trò chơi học tập 7

1.1.3 Môn Khoa học ở trường Tiểu học 17

1.1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4,5 và việc sử dụng trò chơi học tập 27

1.1.5 Các nguyên tắc sử dụng trò chơi học tập 31

1.1.6 Quy trình tổ chức trò chơi học tập 33

1.2 Thực trạng của việc dạy học một số chủ đề khoa học ở lớp 4, 5 qua trò chơi học tập 36

1.2.1 Khái quát về quá trình điều tra 36

1.2.2 Thực trạng các chủ đề khoa học trong môn Khoa học lớp 4, 5 37 1.2.3 Thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 38

1.2.4 Kết quả điều tra 39

1.2.5 Đánh giá chung về thực trạng 48

Kết luận chương 1 49

Trang 6

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP DẠY HỌC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ KHOA HỌCỞ

LỚP 4, 5 QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP 51

2.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 51

2.2 Các biện pháp dạy học một số chủ đề khoa học ở lớp 4, 5 qua trò chơi học tập 52

2.2.1 Nâng cao nhận thức cho giáo viên về vai trò của phương pháp trò chơi trong quá trình dạy một số chủ đề khoa học ở lớp 4,5

52 2.2.2 Lựa chọn nội dung bài dạy phù hợp với nội dung trò chơi 54

2.2.3 Xây dựng trò chơi học tập 56

2.2.4 Tiến hành tổ chức trò chơi học tập 58

Kết luận chương 2 78

CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM 79

3.1 Khái quát về quá trình thử nghiệm 79

3.1.1 Mục đích thử nghiệm 79

3.1.2 Địa bàn và đối tượng thử nghiệm 79

3.1.3 Nội dung và thời gian thử nghiệm 79

3.1.4 Tổ chức thử nghiệm 79

3.2 Kết quả thử nghiệm 82

3.2.1 Kết quả định lượng 82

3.2.2 Kết quả định tính 86

Kết luận chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 1 94

Trang 7

hành 43

Bảng 7: Kết quả thăm dò về thời lượng thực tế giáo viên sử dụng để tổ chức

trò chơi cho học sinh trong giờ Khoa học 44

Bảng 8: Kết quả ý kiến của giáo viên về những nguyên tắc khi lựa chọn trò

chơi vào dạy môn Khoa học 45

Bảng 9: Kết quả thăm dò về các bước GV thường làm khi tổ chức trò chơi 46 Bảng 10: Xếp loại học lực môn TN - XH của lớp 4A1 và lớp 4A2 trong năm

Trang 8

1

Trang 9

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Thế kỉ 21, đất nước ta đang chuyển mình mạnh mẽ trong sự hội nhập cả

về kinh tế lẫn tri thức Toàn cầu hóa đòi hỏi chúng ta phải tạo ra nguồn nhânlực mạnh mẽ, sáng tạo, chủ động, trở thành những công dân toàn cầu khôngchỉ đáp ứng nhu cầu của xã hội mà rộng hơn là của thế giới Trong đó giáodục đóng vai trò đặc biệt quan trọng, đây chính là nguồn động lực để pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia Vì vậy cần đầu tư cho giáo dục một cách toàndiện và đúng mức

Tiểu học là cấp học đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành nhân cáchcủa học sinh, nền móng đó phải được xây dựng thật vững chắc Vì vậy, mỗigiáo viên Tiểu học cần phải trang bị cho mình những kiến thức, phương pháp

cơ bản cho việc dạy học, nh m đáp ứng mục tiêu của giáo dục hiện nay, giáodục con người Việt Nam phát triển toàn diện: Đức - Trí - Thể - Mỹ Ngườigiáo viên cần biết kết hợp hài hòa giữa vốn kiến thức của bản thân và sáchgiáo khoa để truyền thụ cho học sinh giúp các em tiếp nhận được kiến thức và

có những hiểu biết nhất định về cuộc sống từ đó đáp ứng được yêu cầu, đòihỏi của xã hội

Thực hiện phương châm “vui mà học, học mà vui” Trò chơi trong họctập được coi là hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả bởi nó làm cho học sinhsay mê, hứng thú với hoạt động học tập Trò chơi học tập có thể đảm bảo trọnvẹn trọng trách giáo dục của nó vì nó phù hợp với đặc điểm nhận thức và đặcđiểm tâm lý của học sinh Tiểu học Trò chơi nói chung và trò chơi học tập nóiriêng giúp cho học sinh phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Tròchơi làm cho học sinh được phát triển các năng lực một cách tự nhiên, giúpcác em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau Từ đó các em tiếp thu kiếnthức được dễ dàng, góp phần đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh

ở bậc Tiểu học

Trang 10

Khổng tử từng dạy học trò r ng: “Biết mà học không b ng thích màhọc, thích mà học không b ng vui say mà học” Vì vậy một trong những giảipháp đảm bảo thành công trong dạy học là tạo được hứng thú học tập cho các

em Trò chơi với tính hấp dẫn tự thân của mình có một tiềm năng lớn để trởthành một hình thức tổ chức dạy học hiệu quả, kích thích sự hứng thú, niềmsay mê học tập và tính tích cực sáng tạo ở học sinh trong học tập

Khoa học là một môn học về các sự vật, sự kiện, hiện tượng và các mốiquan hệ giữa chúng trong môi trường xung quanh, về cơ thể và sức khỏe conngười Đây chính là đối tượng học tập trực tiếp mà học sinh cần lĩnh hội trongmôn Khoa học Những kiến thức này luôn gắn liền với thực tiễn và phục vụthiết thực cho cuộc sống Không những thế mà môn Khoa học góp phần vàoviệc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Khoa học là môn học

mà các em có nhiều kinh nghiệm và vốn sống để tham gia khi học bài Chínhđặc điểm này rất phù hợp với việc sử dụng trò chơi học tập ở một số chủ đềtrong môn Khoa học ở Tiểu học Mà điển hình ở đây là chủ đề Con người vàsức khỏe lớp 4 và 5, chủ đề về vật chất và năng lượng lớp 4, chủ đề về Thựcvật và động vật lớp 5 Thông qua hoạt động trò chơi, học sinh phải sử dụngnhững kiến thức, kĩ năng của các chủ đề này một cách tự nhiên mà không ápđặt vào bài học Mặt khác sử dụng trò chơi trong một số chủ đề của mônKhoa học còn tăng cường khai thác kinh nghiệm và vốn sống của học sinhtrước khi hình thành kiến thức mới và tích cực liên hệ những kiến thức mớivới thực tế cuộc sống để làm cho chúng dễ hiểu và gần g i với học sinh hơn

Trong thực tế giảng dạy môn Khoa học ở Tiểu học có rất nhiều nộidung khoa học có thể được tổ chức dưới dạng trò chơi học tập Tuy nhiên vìnhững lí do khác nhau mà nội dung dạy học đó vẫn dạy theo phương pháptruyền thống và việc khai thác nội dung đó dưới hình thức trò chơi c ng chưathực sự có hiệu quả Một trong những lí do khách quan đó là lượng kiến thứctrong môn Khoa học ở lớp 4, 5 tương đối nhiều, giáo viên không đủ giờ đểdạy nên các trò chơi bị bỏ qua, tiết học có vẻ nặng nề Trong khi đó, tài liệu

Trang 11

hướng dẫn trò chơi chỉ có ở lớp 1, 2, 3, Lịch sử và Địa lí lớp 4, 5 còn với mônKhoa học thì vẫn chưa có tài liệu hướng dẫn trò chơi chính thức nào Chínhđiều này đã gây khó khăn, trở ngại cho giáo viên khi dạy môn Khoa học nóichung và sử dụng trò chơi trong dạy học có hiệu quả nói riêng.

Là một giáo viên trẻ, nhiệt huyết cùng với mong muốn góp phần nângcao chất lượng dạy học phân môn Khoa học và tạo cho các em sự hứng thú,

lòng say mê đối với phân môn này, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Dạy học

một số chủ đề khoa học lớp 4, 5 qua trò chơi học tập” để nghiên cứu và

Hoạt động dạy học môn Khoa học ở Tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa chủ đề dạy học trong môn khoa học lớp 4, 5 với tròchơi học tập

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học chủ đề trong môn học ởTiểu học qua trò chơi học tập

- Khảo sát thực trạng dạy học một số chủ đề khoa học lớp 4, 5 qua tròchơi học tập

- Đề xuất biện pháp dạy học một số chủ đề khoa học lớp 4, 5 qua tròchơi học tập

Trang 12

+ Vật chất và năng lượng lớp 4.

+ Thực vật và động vật lớp 5

- Phạm vi điều tra và thử nghiệm:

+ Điều tra được tiến hành trên giáo viên lớp 4, 5 ở các tỉnh: Hà Nội,Hưng yên, Thái Bình

+ Thử nghiệm được tiến hành ở trường Tiểu học Vietkids quận Đống

Đa, thành phố Hà Nội

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được các chủ đề khoa học một cách hợp lí và phù hợpvới đặc điểm học tập của học sinh trong dạy học môn Khoa học lớp 4, 5 quatrò chơi học tập thì sẽ góp phần nâng cao kết quả dạy - học môn học này

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn có cấu trúc gồm

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ KHOA HỌC Ở LỚP 4, 5 QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ngày nay cuộc cách mạng đại công nghệ có ảnh hưởng sâu sắc đến đờisống xã hội đòi hỏi chúng ta phải đổi mới giáo dục Đổi mới phương pháp,hình thức tổ chức dạy học là vấn đề then chốt của chính sách đổi mới giáo dụcViệt Nam hiện nay Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục sẽ làmthay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệ học trò Đổi mới giáo dục sẽtác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và đào tạp nh m tạo ranhững thế hệ tương lai mới đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại

Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học được các nhà giáodục quan tâm bởi nhu cầu vui chơi không thể thiếu của con người ở mọi lứatuổi Trong thực tiễn dạy học ở nhà trường Tiểu học, trò chơi học tập phầnlớn được xem như một thủ thuật biện pháp củng cố kiến thức cho học sinhngay sau bài học, c ng như kiểm tra bài c hay hình thành kiến thức mớitrong bài học

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu

về trò chơi học tập trong các môn học ở Tiểu học như: Toán, Tiếng Việt, Đạođức, Tự nhiên và Xã hội, ………

Trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học, có luận văn Thạc sĩ khoahọc giáo dục (trường Đại học sư phạm HN, 2005) “Nâng cao hiệu quả dạyhọc vần b ng trò chơi học tập” của tác giả Ngô Hải Chi Trong luận văn tácgiả đã đề cập đến ưu điểm của trò chơi học tập và đưa ra một hệ thống tròchơi để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Học vần Công trình nghiêncứu Trò chơi học tập Tiếng Việt 2; 3; 4; 5 của tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ

Trang 14

biên) đã khẳng định: Thông qua trò chơi học tập, học sinh còn được phát triển

cả về trí tuệ, thể lực, nhân cách giúp cho việc học Tiếng Việt thêm nhẹ nhàng

và hiệu quả

Trong dạy học môn Toán, có 112 trò chơi Toán lớp 1 và 2 của nhà giáoPhạm Đình Thực, tác giả đưa ra quan niệm Giúp trẻ học Toán qua các tròchơi là một trong những hướng đổi mới phương pháp dạy học Toán ở Tiểuhọc Tác giả Nguyên Thị Hồng Hà đã nghiên cứu “Thiết kế và sử dụng các tròchơi toán học nh m nâng cao hiệu quả dạy học toán học các lớp đầu cấp Tiểuhọc Trong đó tác giả đã đưa ra một số trò chơi trong dạy học toán góp phầnnâng cao hiệu quả dạy môn Toán ở các lớp đầu cấp Tiểu học

Trong dạy học môn Đạo đức có “Trò chơi học tập môn Đạo đức ở Tiểuhọc” của tác giả Lưu Thu Thủy hay “Vận dụng phương án tổ chức trò chơitrong dạy học môn Đạo đức lớp 3” của tác giả Đoàn Kim Phúc, luận văn Thạc

sĩ khoa học giáo dục Đại học sư phạm Hà Nội Các tác giả đã đưa ra một sốtrò chơi học tập trong dạy học môn Đạo đức rất thiết thực và bổ ích

Đối với môn Tự nhiên và Xã hội có Trò chơi học tập môn Tự nhiên và

Xã hội do tác giả Bùi Phương Nga chủ biên Học mà vui, vui mà học của tácgiả V Xuân Đĩnh c ng giới thiệu một số trò chơi dùng trong dạy học môn

TN &XH Thiết kế trò chơi học tập trên máy tính để giáo dục môi trường quamôn Tự nhiên xã hội lớp 2 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nương đã xây dựngmột số trò chơi trên máy tính rất bổ ích góp phần giáo dục môi trường

Như vậy Trò chơi học tập đã được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu Tuynhiên các công trình nghiên cứu đó chủ yếu tập trung vào việc sử dụng tròchơi trong các môn học như: Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hộicòn ít có tài liệu nghiên cứu về việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn Khoahọc Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi thấy r ng việc nghiên cứu: “Dạyhọc một số chủ đề Khoa học ở lớp 4,5 qua trò chơi học tập” là rất cần thiếttrong tình hình đổi mới hiện nay và lựa chọn làm đề tài luận văn của mình

Trang 15

1.1.2 Trò chơi học tập

1.1.2.1 Khái niệm trò chơi

Theo quan điểm Mác - xít, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định tròchơi có nguồn gốc từ lao động Trong buổi đầu của xã hội loài người, việcsinh sống của người thượng cổ còn hết sức đơn giản chỉ là hái lượm, đàobới… Trẻ sinh ra, đã theo cha mẹ đi kiếm ăn Phương thức kiếm ăn của ngườilớn và trẻ em khi đó không khác nhau nhiều lắm, chỉ khác nhau về cỡ vềlượng chứ không khác nhau về chất Do đó tuy còn bé nhưng trẻ đã biết kiếm

ăn thực sự Lúc này hoạt động vui chơi chưa xuất hiện

Xã hội ngày càng phát triển, công cụ lao động của con người ngày càngphức tạp hơn đòi hỏi con người phải có trình độ hiểu biết và nắm một số kĩthuật nhất định mới thực hiện các thao tác sử dụng công cụ lao động được Dovậy, đứa trẻ chưa thể lao động giống người lớn như trước kia Chúng cầnđược tập dượt làm thử trên những đồ vật thay thế cho công cụ sản xuất

Như vậy, bản chất của trò chơi là hoạt động phản ánh lao động và cuộcsống của con người Hoạt động chơi liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của

xã hội và sự thay đổi vị trí của trẻ em trong các mối quan hệ xã hội Do vậytrò chơi được coi là phương tiện giáo dục trẻ một cách nhẹ nhàng và lí thú

Trò chơi là một trong những hoạt động đa dạng, quen thuộc và gần g ivới mọi người Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thốngnhất về trò chơi Mặc dù những vấn đề đặt ra như: “Chơi là gì?”, “Tại saoxuất hiện trò chơi?”, “Các trò chơi giữ vai trò gì và chúng được hình thànhnhư thế nào trong đời sống con người?’’…được bắt đầu từ thế kỉ XIX

Dựa vào nguồn gốc của trò chơi, Antonnop đã cho r ng: “Trò chơi làmột hoạt động chuyên biệt - mô phỏng tình huống có thật tạo thành tìnhhuống giả định - được tổ chức có dụng ý nh m chuẩn bị cho trẻ bước vàocuộc sống và lao động

Trang 16

Theo Karin Eden Hamman (một nhà tâm lý học Đức) và ChiristinaWakhend (một nhà giáo dục học Đức) thì: “C ng giống như cuộc sống và tìnhyêu, vui chơi là một khái niệm không thể định nghĩa vì nó là một quá trình thì

nó luôn luôn sống động, luôn luôn đổi thay và phát triển” Điều này chính làmảnh đất màu mỡ để giúp cho sự tồn tại và phát triển của nhiều quan điểm,nhiều học thuyết khác nhau bàn luận về nó

Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa trò chơi như sau: “Trò chơi là hoạt độngbày ra để vui chơi giải trí” Đấy chưa thể gọi là khái niệm của trò chơi vì nómới chỉ giải thích rất chung chung, chưa cụ thể và chưa có đặc trưng riêngcủa nó

Theo quan điểm của tác giả trong cuốn “Giải thích thuật ngữ tâm lí giáo dục học’’ thì trò chơi là hoạt động lí học hay tinh thần hoàn toàn không

-có tính vụ lợi thường -có cơ sở là quy ước hay tưởng tượng trong ý thức củangười chơi, không ngoài mục đích tự thân và mục tiêu khác là tạo khoáicảm’’ Khái niệm này đã khẳng định trò chơi là hoạt động tinh thần của conngười, có quy ước trong ý thức và tạo khoái cảm trong khi tham gia chơi, kháiniệm này c ng khẳng định tác động tích cực của trò chơi đối với trẻ

Có thể đưa ra khái niệm trò chơi theo từ điển tâm lý học như sau: “Tròchơi là một loại hình hoạt động trong các tình huống có điều kiện mà hoạtđộng đó hướng đến sự tái tạo và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội được ấn địnhtrong các phương phức tồn tại của các hành động vật chất, trong các đốitượng của khoa học và văn hóa Qua trò chơi, với tư cách là dạng hoạt độngthực tiễn xã hội, các tiêu chuẩn của cuộc sống và hoạt động của con ngườiđược tái tạo, việc tuân thủ các tiêu chuẩn đó đảm bảo việc nhận thức và lĩnhhội hiện thực vật chất và xã hội đảm bảo sự phát triển trí tuệ, tình cảm và đạođức nhân cách Khái niệm này đã khẳng định bản chất xã hội của trò chơi Trò

Trang 17

chơi được xem là hoạt động xã hội Nó mang tính xã hội cả về nguồn gốc rađời, nội dung và hình thức biểu hiện Và khái niệm này c ng khẳng định tácđộng tích cực của trò chơi với sự phát triển của nhân cách.

Trong tài liệu “Tổ chức hoạt động vui chơi nh m phát triển tâm lực, trítuệ và thể lực học sinh” của tác giả Hà Nhật Thăng có đưa ra khái niệm tròchơi như sau: “Trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề, mang mộtnội dung nhất định và có những quy định mà người tham gia phải tuân thủ.Như vậy, trò chơi có nội dung, có tổ chức của nhiều người và có quy định,luật lệ riêng Nó mang ý nghĩa giáo dục, rèn luyện đối với người tham gia,góp phần hình thành nên những phẩm chất nhân cách cho trẻ

Trên đây là khái niệm chung về trò chơi Có nhiều trò chơi cụ thể khácnhau, mỗi trò chơi cụ thể lại có những đặc điểm riêng của mình Tùy theo góc

độ nghề nghiệp, tùy theo góc độ quan sát mà các nhà nghiên cứu đưa ra cácđịnh nghĩa về trò chơi khác nhau

1.1.2.2 Khái niệm trò chơi học tập

Các tài liệu nghiên cứu về tâm lí học và giáo dục học trẻ em đưa ra kháiniệm trò chơi học tập như sau: Trò chơi học tập là trò chơi có luật và nhữngnội dung cho trước, là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng,chính xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nh m phát triển các nănglực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết của trẻ - trong đó nội dung học tập kếthợp với hình thức chơi

Như vậy, trò chơi học tập có thể được hiểu là loại trò chơi có nội dungtrí thức gắn với hoạt động học tập của học sinh và gắn với nội dung bài học.Trò chơi học tập giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân đểchơi và để học Từ đó trò chơi học tập có tác dụng rèn luyện về cả mặt thểchất, trí tuệ c ng như các phẩm chất đạo đức

Trang 18

1.1.2.3 Phân loại trò chơi học tập

Trò chơi của trẻ em rất phong phú, đa dạng về nội dung c ng như hìnhthức tổ chức Tùy theo gốc độ nghề nghiệp, góc độ quan sát, các nhà nghiêncứu đã đưa ra các loại trò chơi khác nhau Vì vậy, việc phân loại trò chơi hiệnnay vẫn chưa thống nhất Tuy nhiên dựa vào đặc điểm của trò chơi, ta có thểphân loại trò chơi như sau:

+ Phân loại trò chơi theo sự năng động của trò chơi

Trò chơi động là những trò chơi có sự chuyển động hoặc vận dụng đến

cơ bắp của người chơi như: chạy, nhảy, nhào lộn, kéo đẩy, gồng gánh, vượtchướng ngại vật……

Trò chơi tĩnh là những trò chơi cần vận dụng trí óc và giác quan, ngườichơi ít, di chuyển c ng như ít vận dụng trí óc và giác quan, người chơi ít, dichuyển c ng như ít vận dụng cơ bắp Những trò chơi tĩnh như: bắn tên, ghinhớ lâu………

+ Phân loại trò chơi theo không gian chơi:

Trò chơi ngoài trời là trò chơi có thể tổ chức chơi được ngoài trời,nhưng chúng ta phải lưu ý sân chơi phải phù hợp với trò chơi Ví dụ: sân đấtcứng, sân gạch hay xi măng…… thì không nên chơi những trò chơi mạnhbạo, nên chơi rượt đuổi hay bịt mắt……

Trò chơi trong nhà thường áp dụng trong giờ giải lao của một buổi hộihọp, học tập……… hoặc vì mưa gió không thể chơi ngoài trời được Tròchơi trong nhà trường thường là trò chơi tĩnh, ít di chuyển…………

+ Phân loại trò chơi theo thời gian chơi

Trò chơi nhỏ là những trò chơi được tổ chức trong nhà hay trên bãinhỏ, ứng dụng trong sinh hoạt, học tập, họp mặt, tiệc vui…….và thời gianchơi c ng rất ngắn chỉ khoảng 5 - 10 phút

Trang 19

Trò chơi lớn là những trò chơi được dàn dựng công phu dựa theo mộtcâu chuyện, một truyền thuyết, một lịch sử C ng có khi dùng trò chơi lớnnhư một cách ôn tập các kiến thức đã học Trò chơi lớn được dàn dựng ởnhững địa thế rộng lớn như núi rừng, đồng ruộng, sông biển được tổ chức từvài giờ, và đặc biệt có những trò chơi dài đến hàng tháng.

Mặt khác, trong nhiều tài liệu về trò chơi lại đưa ra cách phân loại tròchơi như sau:

+ Trò chơi với đồ vật (hay trò chơi xây dựng)

Trẻ thường chơi với những vật thể đơn giản như cát, các hình khối, cácmảnh gỗ nhựa……hay với những đồ chơi, kể cả đồ chơi chuyển động (ô tô,tàu hỏa)

+ Trò chơi theo chủ đề:

Trò chơi theo chủ đề rất đa dạng, phù hợp với cuộc sống muôn màu,muôn vẻ xung quanh bao gồm trò chơi sắm vai, trò chơi đạo diễn, trò chơiđóng kịch Các trò chơi đó có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhâncách, trong sự phát triển trí tuệ, đạo đức và thẩm mĩ của trẻ em

+ Trò chơi vận động (hay trò chơi linh hoạt)

Đây là trò chơi có sự vận động của cơ bắp Các trò chơi vận động c ng

có nội dung trí tuệ phong phú, đòi hỏi ở người chơi sự chú ý, nhanh trí, phảnứng nhanh, mau lẹ có ý thức Trò chơi vận động có ảnh hưởng tốt đến sự pháttriển của trẻ

+ Trò chơi học tập (hay trò chơi giáo dục)

Đối với trẻ nhỏ, trò chơi học tập thường có nội dung giản đơn với yêucầu thấp, vừa sức như trò chơi: “Đoán xem cây gì, con gì?”

+ Trò chơi trí tuệ

Đây là trò chơi hoàn toàn dựa trên cơ sở hoạt động sáng tạo của trẻ emnhư các câu đố, đố ghép chữ, trả lời câu hỏi……

Trang 20

Một số tài liệu khác lại phân loại trò chơi như sau:

+ Phân loại theo mục tiêu dạy học thì có: trò chơi hình thành kiến thức,trò chơi hình thành thái độ, trò chơi hình thành hành vi, thói quen……

+ Phân loại theo hình thức tổ chức thì có: trò chơi tập thể, trò chơi cánhân, trò chơi trong giờ lên lớp, trò chơi ngoài giờ lên lớp………

Ngoài các cách phân loại trò chơi như trên, người ta còn phân trò chơithành hai loại là: Trò chơi dân tộc (trò chơi dân gian) và trò chơi hiện đại

Như vậy có rất nhiều cách phân loại trò chơi khác nhau Tuy nhiên cáchphân loại nào c ng chỉ có tính chất tương đối Trong lòng trò chơi loại này lạichứa đựng trò chơi loại khác Vì vậy khi tiến hành xác định phân loại hệthống trò chơi chúng tôi luôn cố gắng xây dựng cách phân loại sao cho sự đanxen giữa các trò chơi ở mức thấp nhất Mặt khác, qua thực tế giảng dạy mônKhoa học ở Tiểu học, chúng tôi thấy giáo viên có rất ít thời gian để đầu tư vàobài dạy Mỗi một tuần giáo viên chỉ có 2 tiết để dạy môn Khoa học Bên cạnh

đó một số giáo viên vẫn còn có tư tưởng không coi trọng môn Khoa học nhưcác môn Toán, Tiếng Việt nên chỉ dạy cho xong mà không quan tâm đến kếtquả đạt được Vì thế, chúng tôi nhận thấy nên tiến hành phân loại trò chơitheo tiến trình dạy học khi dạy môn Khoa học ở Tiểu học là phù hợp nhấtgiúp cho giáo viên không mất nhiều thời gian để vận dụng trong quá trình dạyhọc nhưng mang lại hiệu quả cao Bởi vì với cách phân chia này sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho việc tổ chức trong lớp học Mặt khác cách phân loại này sẽvẫn đảm bảo logic tiến trình của tiết học Các bước của tiết học vẫn diễn rabình thường mà không làm ảnh hưởng đến quy trình bài học Điều này tạođiều kiện thuận lợi cho giáo viên khi sử dụng trò chơi phù hợp để sử dụng vàobài dạy một cách dễ dàng mà không cần mất thời gian của tiết học Đồng thờivới những tiết học còn dư thời gian giáo viên c ng có thể sử dụng trò chơitheo cách phân loại này như là để giải quyết tình thế hay để “chữa cháy” cho

Trang 21

tiết dạy của mình Chính vì thế các trò chơi khi dạy học môn Khoa học đượcphân làm các dạng sau:

* Nhóm trò chơi khởi động

Trò chơi khởi động là những trò chơi bắt đầu tiết học thường được tiếnhành ở phần kiểm tra bài c hay phần giới thiệu bài mới để tạo không khí vui

vẻ trong lớp học vừa thu hút sự chú ý, tập trung của học sinh vào bài dạy

* Nhóm trò chơi để hình thành kiến thức và rèn các kĩ năng.

Trò chơi hình thành kiến thức và rèn các kĩ năng là những trò chơiđược diễn ra ở đầu tiết học trong phần tìm hiểu bài mới hoặc đầu một phầnnội dung bài học

* Nhóm trò chơi ôn tập, củng cố.

Trò chơi ôn tập, củng cố là những trò chơi được hệ thống kiến thức

nh m mục đích ôn tập lại cho học sinh các kiến thức đã học, thường đượcdiễn ra ở cuối của tiết học hoặc cuối một phần nội dung vừa học

1.1.2.4 Một số trò chơi học tập có thể sử dụng trong dạy học môn Khoa học.

Như đã đề cập ở trên, ta có thể thấy r ng việc phân loại các trò chơi họctập theo tiến trình dạy học sẽ giúp cho giáo viên vận dụng một cách dễ dànghơn Vì vậy ở mục này các trò chơi được giới thiệu c ng được sắp xếp thành

3 nhóm: Các trò chơi khởi động, trò chơi hình thành kiến thức mới, trò chơi

ôn tập củng cố kiến thức, rèn kĩ năng

a) Một số trò chơi khởi động

Trò chơi khởi động là những trò chơi bắt đầu tiết học thường được tiếnhành ở phần kiểm tra bài c hay phần giới thiệu bài mới mang lại cho học sinh:

Thứ nhất, giải tỏa căng thẳng, buồn ngủ đầu giờ: Thay đổi trạng thái

chuyển từ ngồi bị động sang đứng dậy, hoạt động sẽ giúp học sinh tỉnh táohơn trước khi bắt đầu vào nội dung bài học

Trang 22

Thứ hai, mọi người giao tiếp, gắn kết nhau hơn: giúp các em mạnh dạn,

tập trung hơn ngay từ những giây phút đầu tiên của tiết học sẽ giúp các họcsinh tương tác, giảm khoảng cách nhanh hơn

Thứ ba, là cơ hội rèn luyện sự nhanh nhẹn, tập trung, sáng tạo cho học

viên: Rõ ràng với mỗi trò chơi học sinh muốn chơi tốt không bị vi phạm thìđều cần thực hiện tốt một kỹ năng nào đó

Mục tiêu của trò chơi khởi động nh m kiểm tra những kiến thức c Đồng thời tạo hứng thú, gây sự chú ý của học sinh vào bài mới một cách nhẹnhàng, tự nhiên

Trò chơi dạng này thường là những trò chơi ngắn diễn ra khoảng từ 3-5phút b) Một số trò chơi để hình thành kiến thức và rèn kĩ năng

Trò chơi hình thành kiến thức và rèn các kĩ năng là những trò chơiđược diễn ra ở đầu tiết học trong phần tìm hiểu bài mới hoặc đầu một phầnnội dung bài học Những trò chơi này giúp các em tự mình tìm tòi, khám phá

ra kiến thức mới qua đó hình thành các kĩ năng cần thiết cho mình

Mục tiêu của trò chơi này là hình thành kiến thức, kĩ năng cho học sinh.Qua đó tạo không khí học tập vui vẻ, thoải mái cho học sinh Từ đó giúp họcsinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình

Loại trò chơi này thường diễn ra từ 10 - 20 phút

c) Một số trò chơi ôn tập củng cố

Trò chơi ôn tập, củng cố là những trò chơi được hệ thống kiến thức

nh m mục đích ôn tập lại cho học sinh các kiến thức đã học, thường được diễn

ra ở cuối của tiết học hoặc cuối một phần nội dung vừa học Những tròchơi này không chỉ được sử dụng trong các tiết học dạy bài mới mà còn được

sử dụng trong các tiết ôn tập, các tiết hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể…

Mục tiêu của trò chơi ôn tập củng cố là hệ thống các kiến thức và ôntập các kiến thức c Từ đó giúp học sinh nhớ nhanh và nhớ lâu các kiến thức

đã học Đồng thời tạo không khí thoải mái trong giờ học cho học sinh

Trò chơi này thường diễn ra trong khoảng thời gian từ: 5 - 7 phút

Trang 23

1.1.2.5 Một số lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Khoa học

Không phải tiết Khoa học nào c ng cần sử dụng đến phương pháp tròchơi học tập Nếu như vậy thì giáo viên đã quá lạm dụng phương pháp này

Vì thế, với mỗi tiết dạy, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của bài học, lựachọn phương pháp dạy học trong tiết dạy sao cho tiết học trở nên nhẹ nhàng,học sinh tiếp thu bài tích cực, chủ động hơn Tùy từng bài mà giáo viên sửdụng phương pháp Trò chơi học tập cho thích hợp Trò chơi học tập phải đạtcác yêu cầu: Trò chơi phải thú vị để học sinh thích được tham gia, trò chơiphải thu hút được đa số học sinh tham gia, trò chơi phải đơn giản, dễ thựchiện, trò chơi không tốn nhiều thời gian, sức lực để không ảnh hưởng đến cáchoạt động tiếp theo của tiết học và quan trọng hơn, trò chơi phải có mục đíchhọc tập, không đơn thuần là trò chơi giải trí

Khi đã lựa chọn được phương pháp dạy học cho mỗi hoạt động, giáoviên cần xác định rõ mục tiêu để xây dựng hình thức tổ chức cho hoạt độngđó

Bên cạnh đó lựa chọn trò chơi phải phù hợp với đặc điểm nội dung củabài học và trình độ nhận thức của học sinh Giáo viên cần có một “ngân hàng”trò chơi phong phú, đa dạng Khi lựa chọn trò chơi cho một bài học thì tròchơi đó phải thỏa mãn các yêu cầu như: Trò chơi đó có phù hợp với nội dungbài học hay không? Tiếp đó, giáo viên cần xác định giai đoạn, thời điểm tổchức trò chơi Trò chơi đó nên tổ chức ở hoạt động nào của bài giảng, tổ chứcvào thời điểm nào thì đạt được mục đích cao nhất? Trò chơi đó nên tổ chức

b ng hình thức như thế nào để gây sự chú ý tạo ra hứng thú kích thích họcsinh tham gia Thời lượng dành cho trò chơi đó bao nhiêu thì vừa đủ để khônggây loãng nội dung bài học tránh sự mệt mỏi quá độ ở học sinh hay học sinhchưa kịp sẵn sàng cho trò chơi Giáo viên cần tiên liệu và chuẩn bị trướcnhững đồ dùng dạy học cần có trong trò chơi để trò chơi đạt hiệu quả cao, dự

Trang 24

kiến các tình huống sư phạm có thể xảy ra trong quá trình chơi để có phương

án giải quyết kịp thời

Khi lựa chọn và tổ chức trò chơi, giáo viên có thể linh hoạt thay đổi nộidung các trò chơi có sẵn, thay thế vào đó các nội dung về môn Khoa học chophù hợp với trình độ hiểu biết của học sinh

Khi làm mẫu hoặc giải thích về trò chơi, giáo viên cần hướng dẫn cáchchơi ngắn gọn, rõ ràng, sinh động để trẻ dễ hiểu, dễ nắm bắt luật chơi Giáoviên có thể đề nghị một vài trẻ nhắc lại luật chơi giúp trẻ nắm rõ hơn cáchchơi tạo điều kiện thuận lợi trong khi chơi

Nếu trò chơi có luật rõ ràng trong quá trình chơi trẻ dễ dàng tiến hànhkiểm tra chéo cách chơi của bạn Việc kiểm tra trong quá trình chơi rất quantrọng giúp tìm những gian lận sẽ bị lật tẩy, những hành vi không đúng sẽ pháhủy trò chơi đồng thời giáo viên có thể kiểm tra tính linh hoạt, sáng tạo củatrẻ khi chơi Điều đó còn có tác dụng giáo dục tính trung thực, ngay thẳng ởhọc sinh

Trong khi chơi, giáo viên và học sinh cần theo dõi các hoạt động chơiđang diễn ra Từ đó phát hiện những chỗ sai (nếu có) xuất phát từ người chơihay của trò chơi để có sự nhắc nhở c ng như điều chỉnh cho phù hợp

Trong khi chơi, giáo viên nên dùng yếu tố thi đua để lôi cuốn trẻ thamgia vào trò chơi Trẻ rất thích thi đua với bạn Chính vì vậy yếu tố thi đuatrong khi chơi là rất cần thiết Giáo viên có thể tạo ra sự thi đua giữa các cánhân với cá nhân hay giữa các tổ, nhóm trong lớp với nhau Sự thi đua sẽ giúpcho trẻ tham gia trò chơi một cách nhiệt tình và sôi nổi hơn

Trong quá trình chơi, giáo viên nên cố gắng tìm mọi cách để những emđáng lẽ bị loại được tiếp tục chơi cho đến khi trò chơi kết thúc Ví dụ như:Người phạm lỗi phải chịu một hình thức phạt nào đó như: bị trừ đi một sốđiểm, hay nhảy lò cò xung quanh vòng chơi sau đó lại tiếp tục được chơi

Trang 25

Đồng thời, giáo viên c ng cần cố gắng đảm bảo an toàn và công b ng chonhững người tham gia, tránh để các em cãi cọ, tranh giành thắng thua.

1.1.3 Môn Khoa học ở trường Tiểu học

1.1.3.1 Vị trí, mục tiêu dạy môn Khoa học

Khoa học là môn học gắn liền với thực tiễn, các kiến thức rất gần g ivới cuộc sống của các em Thông qua môn học này mà các em được tìm hiểu,khám phá về các sự vật, hiện tượng trong môi trường xung quanh Từ đótrang bị cho các em các kiến thức, kĩ năng cần thiết để phục vụ cho cuộc sốngcủa bản thân mình Chính vì vậy, Khoa học là môn học có vị trí quan trọngtrong chương trình Tiểu học Nó đóng góp trong việc hình thành những kĩnăng rất cần thiết trong cuộc sống cho các em

Mục tiêu dạy học môn Khoa học nh m giúp học sinh:

- Có những kiến thức cơ bản và thiết thực về:

+ Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng, sự sinh sản và sự lớn lên của cơthể người, cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm

+ Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật và động vật

+ Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng nănglượng thường gặp trong đời sống và sản xuất

- Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng:

+ Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sứckhỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng

+ Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần

g i với đời sống sản xuất

+ Nên thắc mắc đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin

để giải đáp, biết diễn đạt những hiểu biết b ng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ

+ Phân tích so sánh rút ra dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật,hiện tượng đơn giản trong tự nhiên

Trang 26

- Hình thành và phát triển những thái độ và hành vi:

+ Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình

1.1.3.2 Nội dung môn Khoa học

Khái quát nội dung chương trình môn Khoa học:

Môn Khoa học ở cấp Tiểu học được xây dựng dựa trên sự tích hợp cácnội dung của khoa học tự nhiên như: Vật lí, Hóa học, Sinh học, cơ sở địa lí tựnhiên và tích hợp các nội dung của các khoa học tự nhiên với khoa học về sứckhỏe Đây là các nội dung rất gần g i, thiết thực và có ý nghĩa với học sinhgiúp học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống Chính vì vậynội dung trong môn Khoa học ở Tiểu học được phân chia theo chủ đề như:Con người và sức khỏe, vật chất và năng lượng, thực vật và động vật, môitrường và tài nguyên thiên nhiên, Ở lớp 4, các em được tìm hiểu về 3 chủđề: Con người và sức khỏe, vật chất và năng lượng, thực vật và động vật Lênlớp 5, ngoài 3 chủ đề các em được học giống như chương trình lớp 4 thì các

em còn được tìm hiểu thêm một chủ đề nữa đó là: Môi trường và tài nguyênthiên nhiên Tuy nhiên không phải vì thế mà bài học c ng như kiến thức ởtrong các chủ đề lại giống nhau mà càng lên lớp trên nội dung các chủ đề này

Trang 27

càng được mở rộng và nâng cao phù hợp với trình độ c ng như đặc điểm tâmsinh lý của học sinh.

Thời lượng để dạy môn Khoa học ở Tiểu học là 2 tiết học mỗi tuần lễ,mỗi tiết học kéo dài 35 - 40 phút Như vậy, thời lượng học môn Khoa học ởlớp 4,5 gồm 70 tiết

1.1.3.3 Một số chủ đề trong môn Khoa học

Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4 bao gồm 3 chủ đề với cácnội dung cơ bản của từng chủ đề như sau:

Chủ đề: Con người và sức khỏe

Trao đổi chất ở người (Một số biểu hiện, vai trò của các cơ quan trong

sự trao đổi chất giữa cơ thể người và môi trường)

Nhu cầu dinh dưỡng (nhận biết một số chất dinh dưỡng, biết ăn uống

hợp lí, sử dụng thực phẩm an toàn)

Vệ sinh phòng bệnh (Phòng bệnh do ăn thiếu hoặc thừa chất dinh

dưỡng và bệnh lây qua đường tiêu hóa)

An toàn trong cuộc sống (phòng tránh tai nạn đuối nước).

Chủ đề: Vật chất và năng lượng

Nước (nhận biết tính chất, vai trò, sử dụng và bảo vệ nguồn nước) Không khí (nhận biết tính chất, thành phần, vai trò, bảo vệ bầu không khí).

Ánh sáng (nhận biết vật tự phát sáng, được chiếu sáng, vật cho ánh

sáng đi qua và vật cản ánh sáng, tìm hiểu vai trò của ánh sáng, sử dụng ánhsáng trong đời sống)

Nhiệt (tìm hiểu về nhiệt độ, nhiệt kế, nguồn nhiệt, vật dẫn nhiệt và vật

cách nhiệt, vai trò của nhiệt, sử dụng an toàn và tiết kiệm một số nguồn nhiệttrong sinh hoạt)

Âm thanh (tìm hiểu về nguồn âm, vai trò của âm thanh trong cuộc sống,

biện pháp chống tiếng ồn)

Trang 28

Chủ đề: Thực vật và động vật

Trao đổi chất ở Thực vật (tìm hiểu nhu cầu không khí, nước, chất

khoáng, ánh sáng, nhiệt, sự trao đổi chất giữa thực vật với môi trường)

Trao đổi chất ở động vật (tìm hiểu nhu cầu không khí, nước, chất

khoáng, ánh sáng, nhiệt, sự trao đổi chất giữa động vật với môi trường)

Chuỗi thức ăn trong tự nhiên ( nhận biết chuỗi thức ăn trong tự nhiên,

vai trò của thực vật đối với sự sống trên Trái Đất)

Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5 bao gồm 4 chủ đề với nộidung chính của từng chủ đề như sau:

Chủ đề: Con người và sức khỏe

Sự sinh sản và phát triển ở cơ thể người (tìm hiểu sự sinh sản, sự lớn

lên và phát triển của cơ thể người)

Vệ sinh phòng bệnh (biết vệ sinh ở tuổi dậy thì, phòng tránh một số

bệnh truyền nhiễm)

An toàn trong cuộc sống (biết sử dụng thuốc an toàn, không sử dụng

các chất gây nghiện, phòng tránh bị xâm hại, phòng tránh tai nạn giao thông)

Chủ đề: Vật chất và năng lượng

Đặc điểm và ứng dụng của một số vật liệu thường dùng (tre, mây, song,

sắt, gang thép, đồng, nhôm, đá vôi, gạch, ngói, xi măng, thủy tinh, cao su,chất dẻo, tơ sợi)

Sự biến đổi của chất (tìm hiểu ba thể của chất, hỗn hợp và dung dịch,

sự biến đổi hóa học)

Sử dụng năng lượng: Năng lượng than đá, dầu mỏ, khí đốt, mặt trời, gió, nước, điện.

Chủ đề: Thực vật và động vật

Sự sinh sản của thực vật (tìm hiểu về cơ quan sinh sản, trồng cây b ng

hạt, thân, lá, rễ)

Trang 29

Sự sinh sản của động vật: Một số động vật đẻ trứng, động vật đẻ con.

Chủ đề: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên

Môi trường và tài nguyên: Môi trường, tài nguyên thiên nhiên.

Mối quan hệ giữa môi trường và con người (tìm hiểu vai trò của môi

trường đối với con người, tác động của con người đối với môi trường, biệnpháp bảo vệ môi trường)

Khác với các môn học khác trong chương trình: Toán, Tiếng Việt, Âmnhạc, Mĩ thuật, đối tượng học tập của môn Khoa học lớp 4,5 chính là các sựvật, hiện tượng cụ thể và các mối quan hệ giữa chúng trong môi trường xungquanh Việc học tập môn học nào c ng phải dựa vào các sự vật, hiện tượng cụthể của môi trường xung quanh Song với các môn học khác, các sự vật, hiệntượng và các mối quan hệ đó không phải là đối tượng trực tiếp Ví dụ: trongmôn Toán, thông qua các sự vật, hiện tượng để hình thành ở các em các kĩnăng tính toán, giải toán… Còn đối với môn Khoa học lớp 4,5 thì các sự vật,hiện tượng và các mối quan hệ giữa chúng chính là đối tượng học tập trực tiếp

1.1.3.4 Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Khoa học lớp 4, 5.

Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, giáo dục c ng có sựthay đổi về phương pháp c ng như hình thức tổ chức dạy học trong các môn ởTiểu học để đào tạo ra nguồn nhân lực mới đáp ứng được với yêu cầu của thờiđại Sự thay đổi đó diễn ra ở tất cả các môn học, các lĩnh vực: Toán, TiếngViệt, Đạo đức, Khoa học nh m hướng tới sự phát triển toàn diện cho họcsinh

Hiện nay trong các trường học ở trên thế giới nói chung và Việt Namnói riêng sử dụng khá phổ biến hình thức tổ chức dạy học bài - lớp Đây làhình thức tổ chức dạy học được tiến hành theo những đơn vị nhất định đượcgọi là “bài” trong SGK, được tổ chức trong lớp học với toàn thể học sinh.Giáo viên là người truyền đạt những đơn vị kiến thức trong sách giáo khoa

Trang 30

còn học sinh là người tiếp nhận kiến thức được thực hiện trong lớp học Hìnhthức tổ chức dạy học này có ưu điểm là tạo điều kiện cho giáo viên có thể ápdụng các phương pháp dạy học để truyền đạt đến đa số học sinh trong lớp mộtlượng kiến thức tương đối nhiều trong khoảng thời gian ngắn Giáo viên dễdàng xử lý các tình huống sư phạm xảy ra trong lớp hay không mất nhiều thờigian chuẩn bị c ng như thực hiện bài dạy Bởi vì những kiến thức cần cungcấp cho học sinh đã có sẵn trong sách giáo khoa và giáo viên chỉ việc truyềntải những kiến thức đó đến học sinh Đặc biệt vì hoạt động học tập diễn ra ởtrong lớp nên giáo viên dễ dàng quản lý học sinh hơn là ở ngoài lớp Tuynhiên hình thức tổ chức dạy học này có nhiều nhược điểm là giáo viên khó ápdụng phương pháp dạy học mà trong đó các em học sinh được hoạt động vàtích cực chủ động khám phá kiến thức Với hình thức dạy học này giáo viênđóng vai trò trung tâm, là người truyền đạt đưa ra kiến thức Vì vậy các emhọc sinh thường tiếp thu kiến thức một cách thụ động Vì thế kiến thức màhọc sinh thu được không bền vững và khó hình thành các kĩ năng, hành vi chohọc sinh và dễ gây cho học sinh cảm giác chán nản và các kiến thức mà các

em thu được thì không lâu bền

Để khắc phục nhược điểm nêu trên của hình thức tổ chức dạy học bài lớp, các hình thức tổ chức dạy học mới được hình thành trên cơ sở cải tiếnnhững khía cạnh làm hạn chế hiệu quả dạy học của hình thức tổ chức dạy họcnày

-Sau đây là một số hướng đổi mới hình thức tổ chức dạy học:

Cải tiến về không gian, ta có những giờ học không bị hạn chế trong bốn

bức tường lớp học mà có thể mở rộng ra môi trường địa phương như dạy họcngoài thiên nhiên, tham quan, điều tra trong môi trường địa phương… Hoặc

là các giờ học được tổ chức trong lớp học nhưng với sự trang bị các phươngtiện dạy học như: các thiết bị thí nghiệm, các phương tiện trực quan và các tàiliệu cần thiết khác cho hoạt động học tập của học sinh Đây là một cách đổi

Trang 31

mới hình thức dạy học, làm cho hình thức tổ chức dạy học phong phú, đadạng và gần g i với học sinh phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinhgiúp các em tự tìm hiểu, khám phá kiến thức một cách dễ dàng hơn Đồngthời học sinh được tự mình tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức làm cho các

em thấy thú vị và hứng thú hơn vì tự bản thân mình đã khám phá những điềumới lạ

Cải tiến về mặt thời gian, ta có những giờ học không bị hạn chế trong

giờ quy định bởi thời khóa biểu mà có thể tiến hành vào các thời điểm khácnhư các hình thức tham quan, điều tra, dạ hội, trò chơi học tập… Như vậy,giờ học Khoa học không chỉ bị bó buộc trong các tiết học dành cho môn học

đó mà thông qua các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt hay trong các tiết họckhác giáo viên có thể xen kẽ, kết hợp để giới thiệu hay kiểm tra lại các kiếnthức về môi trường xung quanh của các em

Cải tiến về mặt địa điểm, ta có thể có những giờ học tiến hành ở những

nơi khác ngoài lớp học như ở vườn trường, sân trường, góc phố Với đặc điểmcủa môn Khoa học là môn học tìm hiểu về thế giới xung quanh nên việc thayđổi địa điểm của tiết học c ng rất quan trọng Tùy vào nội dung bài học màgiáo viên lựa chọn địa điểm sao cho phù hợp chứ không nhất thiết phải học ởtrong lớp họ… Việc thay đổi về địa điểm của tiết học mặc dù giáo viên gặpnhững khó khăn riêng nhưng c ng góp phần to lớn tạo nên sự thích thú, say

mê học tập của học sinh Những kiến thức cần học được đặt đúng địa điểmkhông chỉ gây hứng thú cho học sinh mà còn tạo điều kiện thuận lợi để các

em tự mình khám phá, chinh phục kiến thức Ví dụ: Khi dạy bài: “Cơ quansinh sản của thực vật có hoa” trong môn Khoa học lớp 5, giáo viên có thể tổchức giờ học ở ngay vườn hoa của trường kết hợp với các hình thức tổ chứckhác như nhóm, tổ để các em tự mình tìm hiểu về bài học

Trang 32

Cải tiến về số lượng, học sinh tham gia ta có các hình thức tổ chức dạy

học không phải với cả lớp mà các hình thức tổ chức dạy học theo nhóm, theo

có nội dung tích hợp, khi đó có thể tiến hành các giờ học theo nhóm từ haigiáo viên trở nên…

Cải tiến về nội dung bài học, ta có thể có những giờ học mà nội dung

của nó không phải là một bài học trong SGK mà có thể chuyên sâu hơn hoặcbao quát hơn, hoặc vận dụng nội dung bài học vào tình huống thực tiễn Ví dụnhư trò chơi để củng cố kiến thức của nhiều bài học trong một chủ đề, thậmchí trong nhiều chủ đề, hoặc đóng vai để tìm hiểu sâu và thực hành kiến thứccủa một phần bài học

Định hướng đổi mới các hình thức tổ chức dạy học là làm sao để chocác em học sinh được suy nghĩ, thảo luận, hoạt động và làm việc nhiều hơnhay nói cách khác, học sinh được tích cực và chủ động chiếm lĩnh kiến thứchơn trên các giờ học

Trên đây là một vài định hướng đổi mới hình thức tổ chức dạy học.Trong các hình thức đổi mới trên thì trò chơi học tập là một hình thức dạy học

Trang 33

thể hiện rõ định hướng đổi mới và hiện nay được giáo viên quan tâm sử dụngtrong dạy học Tuy nhiên, không phải vì vậy mà giáo viên bỏ qua hình thức tổchức dạy học bài - lớp bởi vì mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có những ưuđiểm nhất định Vì vậy giáo viên cần phải biết vận dụng linh hoạt, tùy vào bàidạy mà giáo viên cần lựa chọn hình thức dạy học c ng như kết hợp các hìnhthức dạy học sao cho phù hợp để tiết học đạt hiệu quả tốt nhất.

1.1.3.5 Vai trò của việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học môn Khoa học.

Đối với học sinh Tiểu học, học tập là hoạt động chủ đạo, tuy nhiên vuichơi vẫn chiếm vị trí lớn trong đời sống của các em Theo tinh thần đổi mớihình thức tổ chức dạy học ở Tiểu học, trò chơi được xem là hình thức dạy họcđược khuyến khích sử dụng nh m gây hứng thú học tập, giảm sự căng thẳngcho học sinh góp phần nâng cao hiệu quả dạy học các môn học nói chung vàmôn Khoa học nói riêng Mặt khác, trò chơi học tập có vai trò đặc biệt quantrọng trong quá trình lĩnh hội tri thức c ng như sự phát triển nhân cách củahọc sinh Hơn thế nữa, trò chơi học tập còn phát triển vốn kinh nghiệm sốngcủa trẻ một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâmsinh lí của học sinh giúp trẻ lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng và đầy hứngthú, say mê

Môn Khoa học ở lớp 4,5 có nội dung được chia thành các chủ đề nhưCon người và sức khỏe, Vật chất và năng lượng, Thực vật và động vật, Môitrường và tài nguyên thiên nhiên Đây là những nội dung học tập gần g i vớicuộc sống của học sinh vì vậy các em có nhiều kinh nghiệm để huy độngtham gia vào trò chơi

Trò chơi học tập là con đường thuận lợi cho việc lĩnh hội tri thức trongcác chủ đề học tập của môn Khoa học Với hình thức tổ chức trò chơi họcsinh được tìm tòi khám phá kiến thức nên dễ thu hút sự tham gia của các em

Trang 34

vào tiết học môn Khoa học Bởi vì môn Khoa học có nội dung phong phú,chứa đựng rất nhiều các kiến thức về con người, xã hội, thiên nhiên Trò chơi

lạ là hình thức học tập được học sinh rất ưa thích Các nhiệm vụ học sinh cầngiải quyết trong quá trình chơi đều là những kiến thức liên quan đến cuộcsống xung quanh Học sinh cần phải sử dụng những kiến thức hiểu biết củamình về thế giới xung quanh để giải quyết nhiệm vụ của trò chơi một cáchnhanh nhất Chính vì thế, việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn Khoa học

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn học này

Với hình thức tổ chức dạy học môn Khoa học trước kia, các em luôn làngười thụ động tiếp thu kiến thức, các em không được tự mình tìm tòi kiếnthức Với việc sử dụng trò chơi học tập, trẻ được vận dụng vốn hiểu biết vàkhả năng tư duy để giải quyết các nhiệm vụ nhận thức Thông qua trò chơihọc tập các em có hiểu biết phong phú thêm về thế giới xung quanh, về conngười, xã hội Những kiến thức này chính là nội quy giúp cho các em có thểhọc tập môn Khoa học tốt hơn

Bên cạnh đó trò chơi học tập trong môn Khoa học còn tạo cho các emkhả năng quan sát tốt, tinh thần đoàn kết giao lưu tạo tính chủ động, tự tin,mạnh dạn cho các em Khi chơi, trẻ tự chủ, không rụt rè, sợ hãi, không bị lôicuốn bởi nhiệt tình bồng bột, chấp nhận kỉ luật của trò chơi, kiên nhẫn trongkhi chơi, biết sáng tạo, linh động trước những nhiệm vụ mà trò chơi yêu cầu,đồng thời các em biết đoàn kết, gắn bó với nhau đề giành chiến thắng, pháttriển năng khiếu, sự can đảm, lòng vị tha… Những phẩm chất đó là tiền đềquan trọng để hình thành nhân cách không chỉ của những công dân và cả của

“các nhà khoa học” trong tương lại

Như vậy, có thể nói việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học mônKhoa học có thể góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn học này Ngoài ratrò chơi còn tạo hứng thú học tập, hứng thú với môn Khoa học và giúp hình

Trang 35

thành những phẩm chất tốt của một công dân nói chung một “nhà khoa học”trong tương lai nói riêng.

1.1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4,5 và việc sử dụng trò chơi học tập.

Nói đến đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học thì phải nói đến quátrình nhận thức của các em Quá trình nhận thức giúp các em có những hiểubiết nhất định về thế giới xung quanh, về bản thân mình từ đó hình thành thái

độ, hành vi đúng đắn Trong việc nhận thức thế giới xung quanh, con người

có thể đạt đến các mức độ khác nhau từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phứctạp Mức độ thấp nhất là nhận thức cảm tính, mức độ cao nhất là nhận thức lítính Hai mức độ này c ng là hai quá trình có quan hệ chặt chẽ, bổ sung, chiphối lẫn nhau Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, nhận thức cảm tính chiếm ưu thếhơn nhận thức lí tính

Trò chơi là hình thức dạy học rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí củahọc sinh Tiểu học Ở lứa tuổi Tiểu học cơ thể của trẻ đang trong thời kì pháttriển hay nói cụ thể là các hệ cơ quan còn chưa hoàn thiện vì thế sức dẻo daicủa cơ thể còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệtnhất là khi hoạt động quá mạnh và ở môi trường thiếu dưỡng khí Chính vìvậy, trẻ bị thu hút bởi các hình thức dạy học có không khí thoải mái và vui vẻnhư trò chơi học tập

Học sinh Tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhưng c ng sẽ quên ngay khichúng không tập trung cao độ Bởi vì tri giác của học sinh Tiểu học mang tínhkhông chủ định Các em không tập trung sức lực xem xét đối tượng mà chỉdừng lại ở một chi tiết đại thể nào đó Khi tri giác, sự phân tích có mục đích,

có tổ chức và sâu sắc của các em còn yếu, mang tính đại thể, ít đi sâu vào chitiết do đó các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác Đối với họcsinh các lớp cuối cấp Tiểu học tri giác đang dần dần phát triển mang tính chất

Trang 36

của sự quan sát có tổ chức Các em không chỉ nhìn mà còn biết chú ý lắngnghe trước những vấn đề hay, mới lạ Một điều nhận thấy, những gì mới mẻ

dễ làm trẻ thích thú và thực sự nhớ lâu hơn Trò chơi với hình thức đa dạng,phong phú rất thu hút và hấp dẫn trẻ tham gia

Mặt khác học sinh Tiểu học có trí nhớ trực quan - hình ảnh chiếm ưuthế hơn trí nhớ từ ngữ - logic Các e nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật,hiện tượng cụ thể nhanh hơn những định nghĩa, những câu giải thích b ng lời.Trẻ dễ nhớ những gì tác động trực tiếp đến tri giác của trẻ và nhớ lâu những

gì chúng đã tiến hành hành động trên nó Do đó trẻ thích tham gia các hoạtđộng mang tính thực tiễn, có tính chất vận động Học sinh Tiểu học ngay cảhọc sinh các lớp 4,5 c ng chưa biết cách tổ chức ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết

sử dụng điểm tựa để ghi nhớ Điều này làm ảnh hưởng đến độ bền vững và độnhanh của trí nhớ Chính vì vậy học sinh thường hay quên và không nhớ lâukiến thức Các em dễ nhớ và nhớ lâu những gì gây xúc động mạnh, gây ngạcnhiên và thích thú cho các em Vì vậy người giáo viên phải tạo ra hứng thútrong học tập và phải thường xuyên được luyện tập kiến thức thông qua cáctrò chơi vừa tạo không khí thoải mái, sôi nổi trong lớp học vừa giúp học sinh

ôn tập lại các kiến thức c một cách nhẹ nhàng

Bên cạnh đó tư duy của học sinh Tiểu học nhất là giai đoạn cuối Tiểuhọc ngày càng phát triển hoàn thiện hơn Tư duy là quá trình nhận thức phảnánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luậtcủa sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan

Tư duy của trẻ mới đến trường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức

b ng cách dựa vào các đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện thực

cụ thể Nhà tâm lý học nổi tiếng J Piagiê (Thụy Sĩ) cho r ng:

“Tư duy của trẻ từ 7 đến 10 tuổi về cơ bản còn ở những thao tác cụ thể,trên cơ sở đó có thể diễn ra quá trình hệ thống hóa các thuộc tính, tài liệutrong kinh nghiệm trực quan”

Trang 37

Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh Tiểu học dần dần chuyển từnhận thức các mặt bên ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được nhữngthuộc tính và dấu hiệu bản chất của hiện tượng vào tư duy Điều đó tạo khảnăng tiến hành các khái quát đầu tiên, so sánh đầu tiên, xây dựng suy luận sơđẳng Trên cơ sở đó học sinh dần dần học các khái niệm khoa học.

Đặc điểm tư duy học sinh Tiểu học là cụ thể, hình ảnh nên rất thích hợpvới nhận thức kiến thức về cuộc sống xung quanh trong môn Khoa học thôngqua các hoạt động của trò chơi nh m phát triển vốn hiểu biết cho các em

Mặt khác đặc điểm cơ bản của lứa tuổi này là chú ý không chủ địnhchiếm ưu thế Tuy nhiên ở giai đoạn cuối học sinh Tiểu học chú ý có chủ địnhdần dần hình thành và phát triển Điều này thể hiện ở chỗ tất cả những gì mới

mẻ, bất ngờ, rực rỡ đều dễ dàng cuốn hút sự chú ý của các em mà không cầnmột sự nỗ lực ý chí nào Học sinh Tiểu học rất dễ xúc động và thích tiếp xúcvới một sự vật, hiện tượng nào đó gây cảm xúc mạnh Với những hoạt độngtrò chơi phong phú, đa dạng, hấp dẫn dễ thu hút được học sinh Tiểu học thamgia Tuy nhiên sự chú ý của các em còn chưa bền vững Do đó các em khôngtập trung vào công việc, sự chú ý của các em phụ thuộc vào nhịp độ học tập

và hoạt động mà các em phải tiến hành Chú ý có chủ định của các em c ngđược hình thành và phát triển trong quá trình học Điều này gắn liền với hìnhthành và phát triển các động cơ học tập, c ng như ý thức trách nhiệm đối vớikết quả học tập Trên cơ sở đó, học sinh Tiểu học sẽ hình thành được các kĩnăng tổ chức, điều hành chú ý của mình một cách có ý thức Vì vậy điều quantrọng trong việc hình thành chú ý có chủ định cho trẻ là hình thành ở trẻ kĩnăng làm việc có mục đích

Mặc dù trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mớisong các em chóng chán Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp, với

sự hấp dẫn vốn có đã tác động trực tiếp đến hứng thú nhận thức, dễ gây được

Trang 38

ấn tượng mạnh ở các em giúp các em ghi nhớ một cách dễ dàng và bền vữnghơn Chính vì vậy, khi thiết kế lựa chọn trò chơi phải vừa sức, hấp dẫn, sinhđộng để thu hút sự chú ý của các em Trò chơi không nên quá phức tạp, khóhiểu, thời gian chơi c ng không nên kéo dài quá khiến các em phân tán, khótập trung Đồng thời trong dạy học giáo viên cần sử dụng đồ dùng dạy học,hình thức dạy học c ng như thay đổi các trò chơi học tập sao cho phong phú

đa dạng hơn, kết hợp với các hình thức dạy học khác như: đưa học sinh đitham quan, đi thực tế tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ… đểcủng cố khắc sâu kiến thức

Bên cạnh đó sự tưởng tượng của học sinh Tiểu học phát triển tương đốiphong phú vì đây là lứa tuổi thơ mộng Tuy vậy, chi tiết của hình ảnh tưởngtượng còn tản mạn, nghèo nàn, ít có tổ chức Hình ảnh tưởng tượng còn đơngiản, chưa bền vững và chủ yếu là tưởng tượng tái tạo Tưởng tượng của các

em còn chủ yếu dựa vào các hình ảnh, sự vật, hiện tượng cụ thể, chưa mangtính sáng tạo và khái quát trong tưởng tượng Càng về các lớp cuối cấp, tưởngtượng của các em càng gần hiện thực hơn Các em đã có khả năng tưởngtượng sáng tạo và đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng các hình ảnh tưởngtượng mang tính trừu tượng, khái quát hơn

Trò chơi là hoạt động tái hiện lại cuộc sống một cách rõ nhất Mỗi hoạtđộng chơi luôn gắn với một hoạt động trong đời sống để các em tưởng tượng.Chính vì thế mà các trò chơi nhất là trò chơi sắm vai rất hấp dẫn trẻ Khi thamgia các trò chơi này, trẻ rất hào hứng, tìm mọi cách để thể hiện các vai saocho giống như thật Có thể nói, chính trò chơi làm nảy sinh trí tưởng tượngcủa trẻ và kích thích trí tưởng tượng của trẻ phát triển

Tóm lại trò chơi học tập rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của họcsinh Tiểu học Sử dụng trò chơi học tập khi dạy các môn học ở Tiểu học nóichung và môn Khoa học nói riêng vừa gây hứng thú vừa tạo được kết quả cao

Trang 39

trong học tập Các em được tạo không khí vui vẻ, thoải mái trong khi họctránh sự gò bó hay không tập trung, chú ý Từ đó kích thích sự ham hiểu biết,khám phá ở trẻ.

1.1.5 Các nguyên tắc sử dụng trò chơi học tập

Trò chơi học tập có vai trò tích cực trong hoạt động dạy học môn Khoahọc ở Tiểu học Trò chơi học tập trong môn Khoa học không những bổ trợ chotiết học một sắc thái muôn màu, muôn vẻ mà bản thân nó còn là một nhịp cầugiúp chuyển tải những kiến thức về các sự vật, hiện tượng trong cuộcsống xung quanh thành những lâu đài khoa học đầy thú vị, kích thích tính hamkhám phá, tạo cho học sinh một tâm thế thoải mái, tinh thần hợp tác tập thể

Hiện nay có rất nhiều trò chơi học tập có thể đưa vào dạy trong mônKhoa học hoặc giáo viên có thể tự thiết kế trò chơi học tập môn Khoa họcnhưng điều đó không đồng nhất là tất cả các trò chơi đều có thể sử dụng hiệuquả Vì vậy để sử dụng một trò chơi học tập cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 1: Trò chơi phải phù hợp với mục tiêu bài học.

Tùy vào mục tiêu của từng bài học cụ thể, khi thiết kế xây dựng cáchoạt động dạy và học tương ứng với nội dung bài mà giáo viên sẽ lựa chọn

c ng như sử dụng trò chơi cho phù hợp Trò chơi học tập phải xuất phát từ nộidung bài học và yêu cầu của mục tiêu bài học Có như vậy, trò chơi học tậpmới mang lại hiệu quả của nó

Nguyên tắc 2: Trò chơi phải đảm bảo tính chất của hoạt động chơi.

Trò chơi học tập là một hình thức vừa học vừa chơi Khi tham gia tròchơi học sinh được sử dụng những kiến thức của mình để cùng vui chơi vớicác bạn Từ hoạt động đó mà các em được tiếp thu những kiến thức mới chobản thân Vì vậy, muốn sử dụng trò chơi học tập đạt hiệu quả thì trước hếtmỗi trò chơi học tập phải thực sự hấp dẫn trẻ, kích thích tính chủ động, sángtạo của trẻ Trò chơi không mang tính chất “vui chơi’’ thì rất khó thu hút sựtham gia của học sinh và làm giảm sự hứng thú của các em vào bài học

Trang 40

Nguyên tắc 3: Trò chơi phải đảm bảo tính vừa sức

Trò chơi phải huy động, khơi gợi các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm

đã có ở trẻ, khả năng biết làm việc tập thể, sự chú ý, sức tập trung… để cùnggiải quyết nhiệm vụ của trò chơi Vì vậy trò chơi có nội dung không được quá

dễ hay quá khó còn luật chơi thì đơn giản Trò chơi có nội dung quá dễ sẽ tạocho trẻ sự nhàm chán Trò chơi có nội dung quá khó sẽ làm cho trẻ nản chí.Những trò chơi như thế không đem lại tác dụng giáo dục như mong muốn

Nguyên tắc 4: Trò chơi đảm bảo tính đa dạng

Sự đa dạng bản thân nó đã tạo nên sức cuốn hút, hấp dẫn thu hút họcsinh tham gia hứng khởi hơn phát huy khả năng tìm tòi khám phá của các em

Vì thế các trò chơi càng đa dạng, càng phong phú bao nhiêu sẽ tạo ra nhữngtình huống chơi phong phú, đa dạng bấy nhiêu Với sự đa dạng các hình thức

tổ chức (thi đấu cá nhân, theo nhóm đôi, theo đội,….) c ng như nội dung dạyhọc môn Khoa học c ng là một yếu tố tạo nên sự mới mẻ và hấp dẫn của tròchơi, từ đó sẽ kích thích khả năng khám phá những điều mới lạ ở học sinh

Nguyên tắc 5: Trò chơi đảm bảo phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất

Trò chơi được tổ chức phải phù hợp với thời gian, không gian linh độngcủa từng lớp học Với những trò chơi đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền, nhữngphương tiện cồng kềnh không phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh sẽlàm mất cơ hội tham gia, cơ hội khẳng định mình, lớp mà giáo viên cần sửdụng loại trò chơi sao cho phù hợp nhất để đảm bảo tất cả học sinh đều đượctham gia

Nguyên tắc 6: Trò chơi phải phát huy tính tự chủ, chủ động, linh hoạt ở học sinh.

Nguyên tắc này một lần nữa khẳng định vai trò chủ thể nhận thức củahọc sinh, học sinh được đặt vào vị trí trung tâm Vì thế trò chơi học tập trongdạy học tôn trọng nguyên tắc để học sinh tự khám phá, tự phát hiện Trong đó,

Ngày đăng: 05/05/2019, 00:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Chương trình Tiểu học ( Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2001/QĐ - BGD & ĐT ngày 9 tháng 11 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Sách giáo khoa và sách giáo viên Khoa học lớp 4,5 - NXB GD, 2005 Khác
3. Trần Hồng Cẩm, Cao Văn Đán, Lê Hải Yến: Giải thích thuật ngữ tâm lí - giáo dục học. NXB Hà Nội, 2000 Khác
4. Ngô Hải Chi - Nâng cao hiệu quả dạy học vần b ng trò chơi học tập - Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục ĐHSP Hà Nội, 2005 Khác
5. Hoàng Chúng - Thống kê trong khoa học giáo dục - NXB GD Hà Nội, 1980 Khác
6. Cruchetxki (1981) - Những cơ sở tâm lí học sư phạm, Tập 2, NXB GD, Hà Nội Khác
7. V Xuân Đĩnh - Học mà vui, vui mà học - NXB ĐHSP - 2003 Khác
8. Trần Lâm Đồng ( Chủ biên) - 100 trò chơi vận động cho học sinh Tiểu học - NXB GD, 2002 Khác
9. Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Thu Hạ, Đặng Thanh Hải, Nguyễn Thị Hương Mai (2005), Tư liệu dạy học Khoa học 4, NXB GD Khác
10. Phạm Thu Hà - Thiết kế bài giảng Khoa học 5. NXB Hà Nội, 2009 Khác
11. Đặng V Hoạt - Phó Đức Hòa (2003), Giáo trình giáo dục học Tiểu học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Khác
12. Bùi Văn Huệ - Tâm lí học Tiểu học - NXB GD, 1997 Khác
13. Jean Piaget (1998) - Tâm lí học và giáo dục học, NXB Giáo dục Khác
14. Nguyễn Thị Thanh Nương - Thiết kế trò chơi học tập trên máy tính để giáo dục môi trường ua môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 - Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục ĐHSP Hà Nội.2007 Khác
15. Bùi Phương Nga (Chủ biên) - Trò chơi học tập môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1,2,3 - NXB GD, 2004 Khác
16. Hà Nhật Thăng ( Chủ biên) - Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nh m phát triển tâm lực, trí lực và thể lực cho học sinh. NXB Giáo dục, 2001 Khác
17. Nguyễn Thị Thấn ( Chủ biên) - Phương pháp dạy học các môn học về Tự nhiên và xã hội Khác
18. Hà Nhật Thăng(chủ biên) - Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nh m phát triển tâm lực, trí lực và thể lực cho học sinh. NXB giáo dục, 2001 Khác
19. Nguyễn Thị Thấn (Chủ biên) - Dạy Khoa học 4,5 hấp dẫn và lí thú - NXB ĐHSP Hà Nội, 2011 Khác
20. Lưu Thu Thủy - Trò chơi học tập môn Đạo đức ở Tiểu học. NXB giáo dục, 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w