TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂMVŨ MINH THẢO NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS GÂY BỆNH TAI XANH PRRS Ở LỢN BẰNG BỘ KÍT POCKIT, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG GÂY VIÊM PHỔI KẾ PHÁT, ĐỀ XUẤT BIỆN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ MINH THẢO
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS GÂY BỆNH TAI XANH (PRRS) Ở LỢN BẰNG BỘ KÍT POCKIT, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG GÂY VIÊM PHỔI KẾ PHÁT, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG
CHỐNG TẠI TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ
Y
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2VŨ MINH THẢO
NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH VIRUS GÂY BỆNH TAI XANH (PRRS) Ở LỢN BẰNG BỘ KÍT POCKIT, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ VI KHUẨN CÓ KHẢ NĂNG GÂY VIÊM PHỔI KẾ PHÁT, ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG TẠI TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Thú y
Mã số: 8.64.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ
Y Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Đề tài luận văn được thực hiện bằng kinh phí thuộc chương trình giám sátdịch bệnh của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Tuyên Quang và đề tài cấp tỉnh:
“Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở lợn, ứng dụng kỹ thuật GPS
và GIS xây dựng bản đồ dịch tễ, đề xuất biện pháp phòng chống bệnh Tai xanh cho lợn tại tỉnh Tuyên Quang” do TS Nguyễn Văn Quang làm chủ nhiệm.
- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, khách quan vàchưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu, triển khai thí nghiệm và viết luậnvăn đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
TÁC GIẢ Vũ Minh Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu, để hoàn thành luận văn của mình, tôi đã nhậnđược sự chỉ bảo tận tình của thầy cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của Trường Đại họcNông Lâm, khoa Chăn nuôi Thú y, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Tuyên Quang
và các cơ quan hữu quan thuộc Cục Thú y Tôi cũng nhận được sự cộng tác nhiệttình của bạn bè, sự giúp đỡ, động viên của người thân trong gia đình
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo GS.TS Nguyễn
Thị Kim Lan và Thầy giáo TS Nguyễn Văn Quang đã rất tận tình và trực tiếp
hướng dẫn tôi thực hiện thành công đề tài và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, khoaChăn nuôi Thú y cùng các thầy cô đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thựchiện đề tài tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn Bộ môn Vi trùng, Virus - Viện Thú y Quốc gia, Trung TâmChẩn Đoán Thú y Trung Ương và Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Tuyên Quang,các anh chị tại cơ sở thực tập đã hợp tác, giúp đỡ tôi bố trí thí nghiệm, phân tích cácchỉ tiêu và thu thập số liệu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bèđồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luậnvăn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày tháng năm 2018
Học viên
Vũ Minh Thảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh Tai xanh - Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn 3
1.1.1 Một số đặc điểm của virus PRRS 3
1.1.2 Dịch tễ học hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn 8
1.1.3 Triệu chứng 9
1.1.4 Bệnh tích 11
1.1.5 Chẩn đoán 12
1.2 Vai trò của một số vi khuẩn trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn.15 1.2.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn 15
1.2.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra 17
1.3 Những nghiên cứu về PRRS và bệnh viêm phổi ở lợn 23
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới 23
1.3.2 Những nghiên cứu trongnước 25
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
Trang 62.1.2 Thời gian nghiên cứu: 28
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 28
2.2 Vật liệu nghiên cứu 29
2.2.1 Các loại mẫu thu thập 29
2.2.2 Động vật thí nghiệm 29
2.2.3 Vắc xin phòng bệnh Tai xanh- AMERVAC®PRRS 29
2.2.4 Bộ kit POCKIT chẩn đoán nhanh bệnh Tai xanh 30
2.2.5 Các loại hoá chất, môi trường và nguyên vật liệu khác 30
2.2.6 Máy móc thiết bị 31
2.3 Nội dung nghiên cứu 31
2.3.1 Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở lợn tại 5 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang 31
2.3.2 Phân lập và nghiên cứu một số đặc điểm của 3 loại vi khuẩn A.pleuropneumoniae, P multocida và S suis 31
2.3.3 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng chống hiệu quả bệnh Tai xanh ở lợn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 32
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu 32
2.4.2 Phương pháp xác định sự lưu hành của virus prrs 33
2.4.3 Phương pháp nuôi cấy phân lập, xác định đặc tính sinh hóa của vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis 33
2.4.4 Phương pháp xác định mức độ bảo hộ của vắc xin amervacprrs 33
2.4.5 Phương pháp xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được 33
2.4.6 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh viêm phổi cho lợn 34
2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở tại 5 huyện, thành của tỉnh Tuyên Quang 35
Trang 73.1.1 Sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở 5 huyện, thành của tỉnh Tuyên
Quang 35
3.1.2 Tỷ lệ lưu hành virus gây bệnh Tai xanh theo lứa tuổi lợn 37
3.1.3 Tỷ lệ lưu hành virus gây bệnh Tai xanh theo các mùa trong năm 39
3.1.4 Tỷ lệ lưu hành virus gây bệnh Tai xanh theo phương thức chăn nuôi 41
3.1.6 So sánh kết quả xác định sự lưu hành virus prrs giữa phương pháp sử dụng bộ kít POCKIT và phương pháp ipma 42
3.2 Nghiên cứu một số loại vi khuẩn thường gây viêm phổi kế phát trong bệnh Tai xanh ở lợn 43
3.2.1 Phân lập 3 loại vi khuẩn thường gây viêm phổi kế phát trong bệnh Tai xanh (vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và S suis) ở lợn tại Tuyên Quang43 3.2.2.Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn phân lập được 46
3.2.3 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được 52
3.3 Nghiên cứu biện pháp phòng, chống bệnh Tai xanh cho lợn 59
3.3.1 Nghiên cứu phác đồ điều trị viêm phổi hoặc viêm phổi kế phát trên lợn khi có bệnh Tai xanh xảy ra 59
3.3.2 Xác định khả năng bảo hộ của vắc xin AMERVAC®PRRS phòng bệnh Tai xanh trên lợn tại Tuyên Quang 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADN: Acid Deoxyribonucleic
A pleuropneumoniae: Actinobaccillus pleuroneumoniae
CAMP: Chiristie - Atkinson - Munch - Peterson
CFU: Colony Forming Unit
CPS: Capsule polysaccharide
Cs: Cộng sự
DNT: Dermanecrotic toxin
ELISA: Enzyme - linked Immuno sorbant assay
IPMA: Immuno – Peroxidase Monolayer Assay
NAD: Nicotinamide Adenine Dinucleotide
OMPs: Outer membrane proteins
PCR: Polymerase Chain Reaction
P multocida: Pasteurella multocida
PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
Virus Sta aureus: Staphylococcus aureus
S suis: Streptococcus suis
TSA: Tryptic Soya Agar
TSB: Tryptone soya broth
VK: Vi khuẩn
VP: Voges Prokauer
YE: Yeast Extract
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại kháng sinh
(NCCLS - 2002) 34Bảng 3.1 Tỷ lệ lưu hành virus gây bệnh Tai xanh trên lợn tại 5 huyện, thành
của tỉnh Tuyên Quang 35Bảng 3.2.Tỷ lệ lưu hành virus gây bệnh Tai xanh theo lứa tuổi 37Bảng 3.3.Tỷ lệ lưu hành virus gây bệnh Tai xanh theo các mùa trong năm 39Bảng 3.4 Sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở lợn theo phương thức chăn nuôi41
Bảng 3.5 So sánh kết quả xác định sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh giữa
phương pháp sử dụng kít POCKIT và IPMA 42
Bảng 3.6 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae, P multocida và
S suis ở lợn tại tỉnh Tuyên Quang 44
Bảng 3.7 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng
vi khuẩn A pleuroneumoniae phân lập được 46
Bảng 3.8 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng
vi khuẩn P multocida phân lập được 49
Bảng 3.9 Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật, hóa học của các chủng
vi khuẩn S suis phân lập được 51
Bảng 3.10 Mức độ mẫn cảm kháng sinh của các chủng vi khuẩn
A pleuropneumoniae phân lập được 53
Bảng 3.11: Mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của vi khuẩn
P multocida phân lập được 55
Bảng 3.12 Mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của vi khuẩn S suis
phân lập được
56
Bảng 3.13 Tổng hợp khả năng mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn
A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 58
Bảng 3.14 Thử nghiệm hiệu lực của ba phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn61Bảng 3.15 Ứng dụng hai phác đồ điều trị viêm phổi cho lợn tại thành phố
Tuyên Quang 64
Trang 10Bảng 3.16 Chỉ tiêu sinh lý của lợn trước và sau khi tiêm vắc xin 66
Bảng 3.17 Biểu hiện của lợn trước và sau khi tiêm vắc xin 66
Bảng 3.18 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vắc xin 1 tháng 67
Bảng 3.19 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vắc xin 2 tháng 68
Bảng 3.20 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vắc xin 3 tháng 69
Bảng 3.21 Hiệu giá kháng thể của lợn sau khi tiêm vắc xin 4 tháng 70
Trang 11tuổi và loại lợn 38Hình 3.3: Biểu đồ sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh theo các mùa trong
năm tại Tuyên Quang 39Hình 3.4: Biểu đồ sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh ở lợn theo phương
thức chăn nuôi 41
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae,
P multocida và S suis theo tuổi lợn tại Tuyên Quang 45
Hình 3.6 Biểu đồ tổng hợp khả năng mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn
A pleuropneumoniae, P multocida và S suis phân lập được 59
Hình 3.7 Biểu đồ tổng hợp kết quả điều trị của 03 phác đồ 62Hình 3.8 Biểu đồ tổng hợp kết quả điều trị của 02 phác đồ 65
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, chăn nuôi lợn từ lâu đã trở thành tập quánlâu đời của nhân dân địa phương Ở Tuyên Quang chăn nuôi lợn là một trong nhữngthế mạnh để phát triển kinh tế Tổng đàn lợn đến thời điểm 01/4/2017 là 551.886con (số liệu của Cục Thống kê 01/4/2017) Hiện nay, trên địa bàn đã có một số môhình hộ chăn nuôi sử dụng lợn nái sinh sản hướng nạc, siêu nạc đem lại hiệu quảkinh tế cao Trong những năm qua, chăn nuôi lợn ở tỉnh Tuyên Quang đã được quantâm phát triển Hiện nay chăn nuôi lợn đang trở thành nguồn thu nhập chính củanhiều hộ gia đình bởi chăn nuôi lợn cần vốn đầu tư ít, thời gian quay vòng vốnnhanh hơn so với chăn nuôi trâu, bò Vì vậy, một số hộ trên địa bàn tỉnh đã cóhướng chuyển đổi sang chăn nuôi lợn tập trung theo hướng công nghiệp và bán côngnghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi
Mặc dù được quan tâm phát triển, song nghề chăn nuôi lợn trên địa bàn còngặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, phương thức chăn nuôi lợn chủ yếu vẫnphát triển theo hướng nhỏ lẻ; việc áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào chănnuôi còn nhiều hạn chế; chuyển dịch phương thức chăn nuôi còn chậm, chưa tươngxứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh Một trong những bệnh có khả năng lây lannhanh và gây thiệt hại nhiều cho chăn nuôi lợn là hội chứng rối loạn hô hấp và sinhsản ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory Sydrome - PRRS), còn gọi là bệnhTai xanh ở lợn Bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn nái, gây sảythai hoặc đẻ non, lợn con sơ sinh yếu, chết thai, thở khó, đôi khi có triệu chứng thầnkinh, tỷ lệ chết cao, lợn thịt giảm ăn, sút cân, lợn đực chất lượng tinh giảm… Từnăm 2007 - 2016, bệnh đã bùng phát ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước Lần đầu tiêndịch lợn Tai xanh bùng phát ở Hải Dương vào ngày 12/3/2007, sau đó dịch lây lannhanh và rộng khắp các tỉnh miền Bắc Các năm tiếp theo dịch PRRS tiếp tục bùngphát ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có các tỉnh đồng bằng sôngHồng Mặc dù bệnh chưa xảy ra tại tỉnh Tuyên Quang nhưng nguy cơ bệnh phátsinh và lây lan trên địa bàn tỉnh là rất
lớn
Để xét nghiệm virus gây bệnh Tai xanh ở lợn, cơ quan chuyên môn Thú yphải gửi mẫu về các phòng Thí nghiệm hiện đại và phải 3 – 5 ngày sau mới có kếtquả, vì vậy công tác phòng chống dịch bệnh gặp nhiều khó khăn
Trang 13Khi lợn mắc bệnh Tai xanh thường bị suy giảm miễn dịch, tạo điều kiện chonhiều loại bệnh khác kế phát, trong đó có bệnh viêm phổi, làm cho bệnh nặng hơn
và làm chết nhiều lợn, gây những tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi.Nhiềutác giả đã nghiên cứu và cho biết, khi lợn mắc PRRS thường gặp các loại vi khuẩn
ở đường hô hấp gây viêm phổi kế phát như actinobacillus pleuropneumoniae (A.
pleuropneumoniae), Pasteurella multocida (P multocida), Streptococcus suis (S suis) làm cho tình trạng bệnh lý trầm trọng và tỷ lệ lợn chết cao.
Những luận giải trên cho thấy, việc sử dụng các bộ kít phát hiện nhanh sự lưuhành virus PRRS trên đàn lợn của tỉnh Tuyên Quang và biện pháp phòng chốngbệnh viêm phổi kế phát cho lợn là vấn đề cần thiết Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng
tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh (PRRS) ở
lợn bằng bộ Kít POCKIT, xác định một số vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát, đề xuất biện pháp phòng chống tại tỉnh Tuyên Quang”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Ứng dụng bộ Kít POCKIT xác định sự lưu hành virus gây bệnh Tai xanh(PRRS) ở lợn tại 5 huyện, thành phố của tỉnh Tuyên Quang
Xác định một số loại vi khuẩn có khả năng gây viêm phổi kế phát và phác đồđiều trị cho lợn
Đánh giá mức độ bảo hộ của vắc xin AMERVAC® phòng bệnh Tai xanh trênđàn lợn tại Tuyên Quang
Đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh Tai xanh cho lợn tại Tuyên Quang
3 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa
học về sự lưu hành virus của bệnh Tai xanh (PRRS), một số loại vi khuẩn có khảnăng gây viêm phổi kế phát trong bệnh Tai xanh, khả năng bảo hộ của vắc xinAMERVAC® trên đàn lợn tại tỉnh Tuyên Quang
* Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, đề xuất với cơ quan
quản lý nhà nước về Thú y của tỉnh Tuyên Quang và các hộ chăn nuôi một số biệnpháp phòng, chống hiệu quả bệnh Tai xanh và điều trị bệnh viêm phổi hoặc viêmphổi kế phát khi dịch bệnh Tai xanh xảy ra
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh Tai xanh - Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn
Trong những năm gần đây, một trong những bệnh được nhắc đến nhiều làbệnh Tai xanh - hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Reproductiveand Respiratory Syndrome - PRRS) Bệnh xuất hiện lần đầu tiên ở Bắc Mỹ vào đầunhững năm 1980, sau đó bệnh xuất hiện ở Châu Âu, Châu Á Bệnh được xác định là
do một loại virus có khả năng xâm nhiễm vào đại thực bào và mô bào (Bùi QuangAnh và Nguyễn Văn Long, 2007) [2] Thông thường thì đại thực bào sẽ tiêu diệt tất
cả vi khuẩn, virus khi chúng xâm nhập vào cơ thể Song virus PRRS có khả năngnhân lên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đạithực bào bị tiêu diệt sẽ làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể và làm tăngnguy cơ nhiễm bệnh kế phát Điều này thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo hoặc chuẩn
bị giết thịt, ở chúng có sự tăng đột biến tỷ lệ viêm phổi, gây nhiều thiệt hại chongười chăn nuôi Khi mắc PRRS lợn nái thường có biểu hiện sốt, kém ăn, thở khó,sảy thai; Ở lợn nái chửa kỳ cuối thấy tăng số lượng lợn con chết khi đẻ hoặc vẹochân, yếu và chết Ở lợn nuôi thịt, triệu chứng hô hấp thường nặng, thường kết hợpvới các bệnh khác (Thành Thuận, 2002) [41] Khi có ổ dịch cấp tính xảy ra, tổngđàn bị giảm 5 - 20%, lợn nái đẻ giảm từ 1 - 3,8 lợn con/nái/năm, thiệt hại khoảng
100 - 155 USD/nái/năm (Hoàng Văn Năm, 2002) [25] Thể mạn tính của PRRS làmcho lợn thịt chậm lớn, tăng chi phí thuốc điều trị các bệnh kế phát
1.1.1 Một số đặc điểm của virus PRRS
1.1.1.1 Hình thái và cấu trúc của virus PRRS
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ Arteriviridae, giống Nidoviralesgây ra Virus PRRS có cấu trúc ARN mạch đơn, có đường kính 40
- 70 nm, có vỏ bọc, kích thước genome dài 14,5 kb mã hoá cho việc tái tạo virus(Jeong-Ki Kim và cs,
2005) [58] Chuỗi hệ gen đầy đủ của virus PRRS được xác lập vào năm 1993, nó cókích thước khoảng 15,1 đến 15,5 kb và chứa ít nhất 8 khoang đọc mở (ORFs) để mãhóa 20 protein đã định sẵn của virus Tuy nhiên chỉ có 3 khung ORFs có ý nghĩaquan trọng trong định danh virus, đó là ORFs 7,6 và 5 quy định tổng hợp các proteintương ứng: nucleocapsid (N) 15-kDa, matrix (M) 19-kDa và glycoproteins envelope(protein GP5)
25-kDa Đây là những protein cấu trúc quan trọng nhất, chúng chiếm 90 - 95%lượng protein cấu trúc của virus (Kwang Soo Lyoo, 2015) [62]
Trang 15Virus có 8 cấu trúc đọc mật mã (ORFs) đã được xác định chức năng Đó là:ORF 1a và 1b được báo trước để lập mã ARN polymerase bởi vì các yếu tố củachuỗi được bảo quản trong ARN polymerase như của các ARN virus tương tự ORF
Protein N là một protein nhân capsit nhỏ (15 kDa) và có tính kiềm cao, điềunày có thể giúp nó tương tác dễ dàng hơn với bộ gen ARN Protein N hiện diện ởmức độ cao trong những tế bào bị nhiễm virus PRRS và chiếm từ 20 - 40% lượngprotein của phân tử virus Hiện nay protein N được dùng như là một kháng nguyên
để phát hiện kháng thể trong huyết thanh của lợn
Protein M có trọng lượng phân tử khoảng 18 kDa Mặc dù chức năng của nóđược biết rất ít nhưng nó được xem như có vai trò trong sự kết hợp với thụ thể trên
tế bào đích, vì protein M kết hợp GP5 tạo phức hợp M-GP5 để kết hợp với thụ thểtrên tế bào đích
Kháng thể đơn dòng kháng protein N là chủ yếu, đồng thời cũng khángmột số protein khác mà người ta chưa xác định được về mặt cấu trúc Nhữngnghiên cứu của (Benfield, Nelson và cs 1999) [51] cho thấy các chủng virus Châu
Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhấtđịnh so với chủng virus của Châu Mỹ Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sựtương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên
Các virus PRRS gây bệnh hiện nay tại một số nước tại Châu Á và một sốquốc gia ở Nam Mỹ, Úc, New Zealand, Thụy Điển và Thụy Sĩ đã được xácđịnh là từ hai chủng virus trên
Trang 16Về mặt di truyền, khi phân tích gene của các dòng virus PRRS gây bệnh khácnhau, người ta xác định được 2 dòng virus riêng biệt: dòng Châu Âu (Lelystad) vàdòng Châu Mỹ (VR-2332), hai dòng virus này không những khác biệt về đặc tínhgây bệnh mà khác nhau về mức độ nhất định về kiểu gene (Allende R và cs 1999)[48] Qua phân tích gene và theo dõi sự thay đổi trình tự Nucleotit của các dòngPRRS, người ta đã xác định rằng ở dòng Châu Mỹ, các ORFs 7 và 6 có tính ổn địnhrất cao, chúng gần như không thay đổi trong suốt quá trình tiến hoá của dòng virusnày Tuy nhiên, sự khác biệt giữa dòng virus Châu Âu và Châu Mỹ ở 2 khung đọc
mở này là rất rõ, chẳng hạn sự tương đồng về trình tự axit amin của ORFs 7 giữa 2dòng virus này chỉ vào khoảng 57 - 59% và của ORFs 6 là 70 - 80% Trong khi đó,khung đọc mở ORFs 5 lại biến đổi nhiều giữa các chủng trong cùng 1 dòng Châu
Mỹ và chỉ tương đồng với dòng Châu Âu khoảng 51 - 59% Sự tương đồng về trình
tự axit amin quy định do các khung đọc mở ORFs 2, 3 và 4 giữa các dòng Châu Mỹ
và Châu Âu tương ứng chỉ ở từ 63,58% và 68% Phân tích trình tự cho thấy cácvirus đang tiến hoá do đột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen Sự khác biệt vềkiểu gene đương nhiên sẽ liên quan đến sự khác biệt về kiểu hình và như vậy có thểdựa vào đặc điểm gene để chẩn đoán dòng virus và ngược lại
Nghiên cứu virus ở mức độ phân tử còn cho phép xác định được khả năng sảnxuất và sử dụng virus nhược độc để làm vắc xin Người ta đã ghi nhận nhiều trườnghợp hội chứng PRRS trở nên trầm trọng hơn sau khi đàn lợn được tiêm vắc xin virusPRRS nhược độc vì cấu trúc gene của virus nhược độc thay thế glycine bằngarginine ở vị trí 151 của ORFs 5 sẽ hoàn nguyên rất nhanh bộ gene của chúng so với
bộ gene của virus nguyên thuỷ ngay sau khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ, và như thếđộc lực của chúng cũng được phục hồi (Thomas Blaha và cs 2005) [49]
Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng Châu
Âu và Bắc Mỹ là khoảng 40% (Han và cs, 2006) [56], do đó có ảnh hưởng đến đápứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này
Kết quả phân tích cấu trúc gen của virus PRRS gây bệnh tại Việt Nam chothấy, virus PRRS tại Việt Nam thuộc chủng Bắc Mỹ Phân tích cấu trúc gen vùngNSP2 của virus này phát hiện hai sự thiếu hụt không liên tiếp về amino acid tại các
vị trí 481 và từ 532 - 560 Tất cả các mẫu virus PRRS của Việt Nam đều có mứctương đồng đồng chủng cao so với virus PRRS chủng độc lực cao của Trung Quốc(99 - 99,7%) (Văn Đăng Kỳ, 2013) [20]
Khi phân tích các kiểu gen của virus PRRS tại Thái Lan và khu vực Đông Nam
Á, kết quả cho thấy cả hai loại I và II đều lưu hành ở lợn tại Thái Lan và kiểu gen II
Trang 17phổ biến hơn kiểu gen I Còn các nước trong khu vực Đông Nam Á chỉ có loại II.Một phân tích của tất cả các HP-PRRSV trong khu vực Đông Nam Á cho thấy bốnnhánh riêng biệt - A (SX2009-like), B (09HEN1-like), JXA1-như và GXFCH08giống - phản ánh bốn nhánh khác nhau của những loại virus này là ở Thái Lan, Lào,Campuchia và Việt Nam (Jantafong và cs 2015 [57]).
Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhậnđịnh PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng TrungQuốc (Nguyễn Văn Cảm và cs, 2011 [6]; Cao Văn Thật và cs, 2012 [37]; Lý ThịLiên Khai và Võ Thị Cẩm Giàng, 2012 [19])
1.1.1.2 Sức đề kháng của virus
Cũng giống như những virus khác, virus PRRS có khả năng tồn tại lâu ởmôi trường có nhiệt độ thấp, đề kháng kém với nhiệt độ cao và các chất sáttrùng thông thường, môi trường có pH axit
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [16], virus gây PRRS có thể tồn tại mộtnăm ở nhiệt độ lạnh từ -20 đến -70oC; trong điều kiện 4oC virus có thể sống mộttháng Với nhiệt độ cao, cũng như các virus khác, PRRS có sức đề kháng kém: 37oCchịu được 48 giờ, 56oC bị chết sau một giờ Với các chất sát trùng thông thường vàmôi trường có pH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt Dưới tác động trực tiếp của ánhnắng mặt trời hoặc tia tử ngoại virus nhanh chóng bị tiêu diệt
1.1.1.3 Khả năng gây bệnh của virus
Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mangthai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng là động vật mang trùng và có thể coi lànguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007) [36]
Người và các động vật khác không mắc PRRS, tuy nhiên trong các loài thuỷcầm có vịt trời (Mallard duck) là mẫn cảm Virus có thể nhân lên ở loài động vật này
và đây chính là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng nên rất khó khống chế(Albina và cs, 1994) [47]
Về độc lực, người ta thấy virus PRRS tồn tại dưới 2 dạng, đó là dạng cổ điển
và dạng biến thể độc lực cao Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắcbệnh thì tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lực cao gâynhiễm bệnh cho lợn, lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều (Kegong Tian, Yu,2007) [59]
1.1.1.4 Đặc điểm nuôi cấy
Trong phòng thí nghiệm PRRS là virus có tính hướng tế bào cao cả ở invivo
và invitro PRRS ưu tiên gây nhiễm vào dòng tế bào đại thực bào, đặc biệt là đạithực bào phế nang (PAM) của lợn Bình thường đại thực bào sẽ tiêu diệt tất cả vikhuẩn, virus
Trang 18xâm nhập vào cơ thể Riêng đối với virus PRRS, virus có thể nhân lên trong đại thựcbào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%).
Các dòng tế bào thường được chọn để nuôi cấy PRRS là dòng tế bào 104; MARC-145; tế bào PAM hoặc dòng tế bào BHK-21 và CRFK,
MA-Trên môi trường nuôi cấy phải có sự hỗ trợ của vimentin thì virus mới cảmnhiễm với tế bào nuôi cấy Vimentin là một yếu tố quan trọng trong việc làm ổnđịnh cấu trúc của tế bào chất trong nhiều loại tế bào khác nhau Kháng thể khángvimentin ngăn cản sự gây nhiễm của virus ở dòng tế bào MARC-145, khi chuyểnvimentin tái tổ hợp vào 2 dòng tế bào BHK-21 và CRFK không nhạy cảm với virusPRRS thì 2 dòng tế bào này trở nên nhạy cảm với PRRS
1.1.1.5 Cơ chế sinh bệnh
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus nhân lên trong đại thực bào ở tiểu phếnang và trong tế bào nội mô của hệ thống lưới võng nội Tế bào biểu mô đường hôhấp trên cũng là nơi thích hợp cho sự nhân lên của virus PRRS Quá trình virus nhânlên và phá hủy đại thực bào gây ra bệnh tích ở thành mạch, làm thủy thũng tế bàonội mô của tĩnh mạch, giảm hàm lượng protein huyết tương đến các mô và tạo cáccục huyết khối gây nhiều hậu quả bệnh lý khác nhau Những biểu hiện khác nhaucủa bệnh tuỳ thuộc vào khả năng nhân lên hay phá hủy, tiểu phế nang, tế bào nội
mô và tế bào lympho (Trần Thanh Phong, 1996) [28]
Khi virus xâm nhập vào cơ thể làm suy giảm miễn dịch, mở đường cho những
vi sinh vật cơ hội như: Pasteurella multocida, Haemophilus parasuis, Streptococcus
suis, A pleuropneumoniae, Chlamydia psittaci, Leptospira interrogans, virus giả dại
virus cúm, Enterovirus, Parvovirus,… phát triển và gây bệnh
Xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ởhuyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát
bệnh do các nhóm vi khuẩn đường hô hấp, đường ruột như A pleuropneumoniae, P.
multocida, S suis, Escherichia coli, Salmonella spp, Clostridium perfringens Kết
quả phân lập được vi khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất (63,33%) và thấp nhất là P multocida (10%) Các tác giả nhận định các nhóm vi khuẩn kế phát
trên đã làm cho dịch PRRS trầm trọng và phức tạp hơn (Tiêu Quang An và NguyễnHữu Nam, 2011)
[1]
Trên lợn nái mang thai, virus ở dạng tự do hay kết hợp với các tế bào bạchcầu, tế bào đơn nhân trong dòng máu để đến cơ quan sinh sản Cảm nhiễm có thểxảy ra ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình mang thai nhưng biểu hiện lâm sàng phụthuộc phần lớn vào giai đoạn nhiễm trùng của bào thai và độc lực của chủng virusgây bệnh
Trang 19Nhiễm trùng ở giai đoạn đầu và giai đoạn giữa của kỳ mang thai không có hay chỉ
có tác động nhẹ so với cảm nhiễm ở giai đoạn sau Cảm nhiễm xảy ra trong thời kỳphôi thường có mức độ biểu hiện bệnh rất thấp vì tế bào phôi chưa biệt hoá, khôngthích hợp cho sự nhân lên của virus Trong khi ở giai đoạn sau của kỳ có mang,nhau thai và mạch máu nuôi thai rất phát triển, nhau thai trở thành bộ phận trao đổichất cần thiết, đồng thời là cầu nối truyền virus và kháng thể chống virus từ mẹ sangthai
Nhiễm trùng giai đoạn này tạo ra nhiều vết bong tróc nhỏ trên tế bào biểu mônhau thai và bệnh tích hoại tử động mạch cuống rốn, từ đó làm cho bào thai bị thiếudưỡng chất, thiếu O2, gây sảy thai kỳ cuối, lợn con sinh ra yếu ớt, dị tật và tăng tỷ lệ
thai chết khi sinh Nhiễm bệnh dai dẳng cũng là một đặc trưng của Arterivirus, sự
tồn tại dai dẳng gây ra nhiễm bệnh âm ỉ, virus hiện diện ở mức độ thấp trong cơ thểthú và giảm dần theo thời gian Theo Allende và cs (2000) [49] vào ngày 150 saugây nhiễm thực nghiệm không phân lập được virus bằng nuôi cấy tế bào và khôngphát hiện được ARN của virus bằng phương pháp RT - PCR
Đối với bào thai virus được truyền từ mẹ sang tuyến ức của bào thai và tronghuyết thanh của bào thai gây đột biến điểm trong chuỗi ORF5 của lợn mẹ và bàothai (Ladinig A và cs, 2014) [63]
Hình 1.1: Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của virus PRRS 1.1.2 Dịch tễ học hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn
Trang 201.1.2.1 Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên loài lợn ở mọi lứa tuổi, cả lợn nhà lẫn lợn rừng được cho làloài mắc bệnh duy nhất, bệnh không lây lan sang người Vịt trời bài thải virus quaphân khi gây nhiễm thực nghiệm với virus PRRS bằng nước uống, chứng tỏ vịt trờicũng mẫn cảm với virus PRRS (Ausvetplan, 2004) [49]
Trong phòng thí nghiệm người ta sử dụng lợn để gây bệnh thực nghiệm Cácloài khác như chuột bạch, chuột lang, thỏ, bồ câu, không được sử dụng và cũngchưa thấy công trình nghiên cứu nào công bố
1.1.2.2 Phương thức lây lan
* Lây lan trực tiếp
Việc tiếp xúc trực tiếp giữa lợn bệnh và lợn khỏe bằng con đường hô hấptrên, qua giao phối hoặc truyền qua bào thai là con đường truyền lây phổ biến Ởlợn mẹ mắc bệnh hoặc mang trùng, virus sẽ được truyền cho lợn con qua tử cung,cũng từ lợn mẹ virus có thể lây nhiễm cho bào thai ở giai đoạn giữa thai kỳ trở đi
và virus được bài thải qua nước bọt và sữa
Lợn lớn bài thải virus trong vòng 14 ngày trong khi đó lợn con và lợn choai
có thể bài thải virus trong 1 - 2 tháng có khi đến 157 ngày (Jeong - Ki Kim, 2005)[58]
* Lây lan gián tiếp:
Lợn có thể mắc bệnh qua chất bài tiết như dịch mũi, phân hoặc qua không khí(có thể đi xa 3 km) ở môi trường xung quanh một cách hiệu quả đặc biệt khi ẩm độcao, nhiệt độ thấp và tốc độ gió mạnh (Thomas Blaha và cs, 2005) [69]
Ngoài việc vận chuyển lợn bệnh vào đàn cảm nhiễm và lây lan qua không khíthì ít có bằng chứng nói về cách truyền lây khác Tuy nhiên, người ta còn thấy việclây lan trong đàn giống còn theo con đường truyền tinh dịch (thụ tinh nhân tạo) Ởnhững lợn đực giống nhiễm bệnh, tinh dịch có thể gây bệnh cho đàn chưa có miễndịch với mức độ biểu hiện tuỳ thuộc vào kích cỡ đàn, mật độ nuôi và tình trạng vệsinh Như vậy, lợn đực giống cũng là đối tượng truyền lây virus quan trọng trongđàn
1.1.3 Triệu chứng
Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắcHội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản cho thấy: lợn bệnh thường có các triệu chứngđầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy tốc độ lây lannhanh Đặc biệt, một số con lợn mắc bệnh ở chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím vàmột số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn
* Những triệu chứng thường gặp trên lợn nái
Trang 21Lợn nái ở giai đoạn mang thai:
Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus, lợn biếng ăn từ 7 14 ngày, sốt 39
-40oC, sảy thai thường vào giai đoạn cuối thai kỳ, tai chuyển màu xanh trong khoảngthời gian ngắn, đẻ non, động đực giả (3 - 5 tuần sau khi thụ tinh), đình dục hoặcchậm động dục trở lại sau khi đẻ, ho và có dấu hiệu của viêm phổi
Lợn nái ở giai đoạn đẻ và nuôi con:
Bỏ ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú (triệu chứng điển hình), đẻ sớmkhoảng 2 - 3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gỗ lợn con chết ngay saukhi sinh (khoảng 30%), lợn con yếu, tai chuyển màu xanh và duy trì trong vài giờ,những trường hợp này được xem là cấp tính và kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điểnhình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn
3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn con số này có thể tới 30% tổng số lợn consinh ra Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3 - 4 sau khi xuất hiện triệuchứng
Các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai gỗ hàngloạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độtuổi của thai như thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệchết là
93,75% (Phạm Ngọc Thạch, 2007) [34]
* Những triệu chứng thường gặp trên lợn con theo mẹ
Lợn con theo mẹ khi bị nhiễm bệnh thể trạng gầy yếu do không bú được, mắt
có dử màu nâu, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót,tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chân choãi ra, đi run rẩy,
* Những triệu chứng thường gặp trên lợn sau cai sữa và lợn thịt
Lợn con cai sữa và lợn thịt triệu chứng rõ nhất là chán ăn, ho nhẹ, lông xácxơ, tuy nhiên, ở một số đàn có thể không có triệu chứng Ngoài ra, trong trườnghợp ghép với bệnh khác có thể thấy viêm phổi cấp tính, thể trạng gầy yếu, da xanh,tiêu chảy, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết trong đàn mắc có thể tới15% (Phạm Sỹ Lăng và Phan Đăng Kỳ, 2007) [21]
Theo Dietze và cs (2011) [52], khi lợn con bị bệnh PRRS biểu hiện như bệnh
đường hô hấp và thường kế phát nhiễm trùng thứ phát với các vi khuẩn Pasteurella
multocida, Porcine Circovirus type 2 (PCV2), Mycoplasma hyopneumonia, Streptococcus suis, Salmonella choleraesuis, làm cho tỷ lệ tử vong cao từ 30 - 50%.
* Những triệu chứng thường gặp trên lợn đực giống:
Trang 22Lợn đực giống biểu hiện sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con cóhiện tượng Tai xanh Triệu chứng chủ yếu là viêm dịch hoàn, bìu dái thấy nóng đỏ,(chiếm 95%), dịch hoàn có biểu hiện sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm tính hưngphấn trong hoạt động giao phối (Lê Văn Năm, 2007 [25]).Lượng tinh dịch thường ít,chất lượng tinh dịch kém, thể hiện: nồng độ tinh trùng (C) thường dưới 8 x 106; hoạtlực của tinh trùng (A) dưới 0,6; sức kháng của tinh trùng (R) dưới 3000; tỷ lệ tinhtrùng kỳ hình (K) tăng trên 10%; tỷ lệ sống của tinh trùng giảm xuống còn dưới70% và độ nhiễm khuẩn tăng cao trên 2 x 103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phụcđược khả năng sinh sản (Nguyễn Như Thanh và cs, 2007 [35]).
1.1.4 Bệnh tích
1.1.4.1 Bệnh tích đại thể
Bệnh tích đại thể của Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn phụ thuộcnhiều vào độc lực của virus và quá trình diễn biến của bệnh Bệnh tích đặc trưng củabệnh là viêm phổi hoại tử, các đám phổi bị đặc chắc ở các thuỳ phổi Thuỳ phổi bịbệnh thường có màu xám đỏ, có mủ và đặc chắc lại (nhục hoá) Trên bề mặt cắtngang của đám phổi bệnh thường lồi ra và khô Nhiều trường hợp viêm phế quảnphổi hoá mủ ở mặt dưới của thuỳ đỉnh Về mặt tổ chức học thường thấy dịch thẩmxuất và hiện tượng thâm nhiễm, trong phế nang chứa đầy dịch viêm và đại thực bào,một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồ nhiều nhân Một bệnh tích đặc trưngnữa là sự thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (pneumocyse) làm cho phế nang bịnhăn lại, thường thấy đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang (Nguyễn Hữu Nam
và Nguyễn Thị Lan,
2007 [24])
Viêm cơ tim rải rác, chủ yếu là bạch cầu đơn nhân tập trung quanh mạch máungoại vi.Lợn mắc PRRS bệnh tích thường thấy như thận xuất huyết lấm tấm nhưđầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng,
tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manhtràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sầu bọt (Bùi QuangAnh và cs, 2008 [2]).Theo Nguyễn Tiến Dũng (2011) [9], bệnh tích đặc trưng nhất
là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRSdạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc(nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy phổi bị viêm có màu đỏ xám, có mủ và đặcchắc Trên mặt cắt ngang của thùy bị viêm lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắcbệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
Trang 23PRRS ảnh hưởng nghiêm trọng đến những lợn mắc bệnh và để lại nhiều bệnhtích trên các bộ phận như: Da có thể xuất huyết, thâm tím do chảy máu trong mô,lách nhồi máu, hóa gỗ và giãn nở tạo nhiều bọt khí; thận có nhiều đốm máu, tim cónhiều dịch ở màng bao, gan hoại tử, chảy dịch màu trắng ngà; các mạch máu nãomềm và mỏng, hạch não rỉ máu; hạch bạch huyết có những đốm xuất huyết.
1.1.4.2 Bệnh tích vi thể
Thường thấy dịch thẫm xuất và hiện tượng thâm nhiễm Trong phế nang chứanhiều dịch viêm và đại thực bào, một số trường hợp hình thành tế bào khổng lồnhiều nhân Thâm nhiễm của tế bào phế nang loại II (Pneumocyte) làm cho phế nangnhăn lại, thường bắt gặp đại thực bào bị phân huỷ trong phế nang đặc biệt là tiểu phếnang
Theo Nguyễn Tùng và cs, 2012) [42] khi quan sát bệnh tích vi thể thấy hiệntượng viêm phổi kẽ tràn lan từ mức độ nhẹ đến nặng với các đặc trưng: thâm nhiễmcác quần thể tế bào đơn nhân, dịch thẩm xuất vào phế nang; biểu mô phế nang tăngsinh, hoại tử, xen kẽ hồng cầu Tại một số vùng phổi, tế bào biểu mô phế quản tậntrương phồng hoặc hoại tử Đặc biệt nhiều vùng có hình ảnh các phế nang xẹp,không quan sát thấy khoảng trống
1.1.5 Chẩn đoán
1.1.5.1 chẩn đoán lâm sàng
Theo Benfiled (1999) [24],khi trong đàn lợn có dấu hiệu rối loạn hô hấp trêncác lứa tuổi, sinh sản bất ổn và năng suất đàn giảm hơn bình thường thì có thể nghingờ bệnh do virus PRRS và dẫn liệu của Hoàng Văn Năm (2001) [11] có cơ sở nghingờ bệnh khi: tỷ lệ chết lúc sinh > 20%, tỷ lệ sảy thai >8%, tỷ lệ lợn con chết trướckhi cai sữa > 26%, tỷ lệ lợn con chết trong tuần đầu tiên vượt quá 25%,
Tuy nhiên, để xác định đúng căn bệnh cần thực hiện các phương pháp chẩnđoán phi lâm sàng khác
1.5.2.Chẩn đoán huyết thanh học
* Phản ứng IPMA (Immunoperoxidase MonolayerAssay)
Đây là phản ứng đầu tiên được sử dụng để phát hiện kháng thể kháng virusPRRS được gọi là kỹ thuật miễn dịch peroxidase một lớp Kỹ thuật này có thể thựchiện trên các dòng tế bào PAM, CL2621, MARC-145 Tế bào sau khi nuôi cấy 24giờ sẽ được gây nhiễm với PRRS và được ủ ở 370C trong 24 giờ Sau đó tế bào đượcgây nhiễm sẽ được cố định và tác dụng với huyết thanh mẫu, ủ khoảng 1 giờ ở 370C
và được cho tác dụng tiếp tục với kháng kháng thể lợn cộng hợp HRPO Nếu mẫuhuyết thanh có chứa kháng thể kháng virus thì 30 -50% tế bào sẽ có màu đỏ khi cholớp tế
Trang 24bào tác dụng với dung dịch chromogetrong 30 phút Không có sự thay đổi màu của
tế bào khi kết quả là âm tính IPMA được sử dụng nhiều ở châu âu Trong chẩn đoánphát hiện thú nhiễm sớm, người ta thường sử dụng IPMA vì xét nghiệm này chophép xác định thú nhiễm sau 7 - 15 ngày và có thể phát hiện kháng thể đến 3 thángsau khi nhiễm PRRS Nhược điểm của phương pháp này là không thể xác định trựctiếp hàm lượng kháng thể bảo vệ (Nguyễn Ngọc Hải, 2007) [5]
* Phản ứng ifa (IndirectImmunhofloresence Assay)
Giống như trong kỹ thuật IPMA, kỹ thuật IFA (kỹ thuật miễn dịch huỳnhquang gián tiếp) cũng sử dụng nuôi cấy tế bào Quá trình thực hiện IFA cũng giốngvới IPMA, chỉ khác là kháng kháng thể lợn sử dụng không cộng hợp với HRPO màcộng hợp với chất phát huỳnh quang FITC Việc đọc kết quả cần phải có kính hiển
vi huỳnh quang Sự hiện diện của màu huỳnh quang trong mẫu xét nghiệm chứng tỏmẫu có kháng thể kháng virus Phản ứng có độ đặc hiệu cao 99,5% và cho phép pháthiện kháng thể kháng virus đến 3 tháng sau khi nhiễm Nguyễn Ngọc Hải (2007), [5].Nhược điểm của IFA và IPMA là không thể làm tự động nên khó thực hiện với quy
mô lớn
* Phản ứng ELISA (Enzyme LinkedImmunosorbentAssay)
Xét nghiệm ELISA (xét nghiệm miễn dịch hấp phụ gắn kết enzyme) có độnhạy và độ đặc hiệu cao và thực hiện đơn giản hơn so với IFA và IPMA, có thể pháthiện kháng thể trong vòng 3 tuần sau khi nhiễm bệnh Tuy nhiên hạn chế lớn nhấtcủa phương pháp này là dễ cho kết quả dương tính giả Tỷ số S/P ≥ 0,4 thì kết quảđược ghi nhận là dương tính Các phản ứng IFA, SN, ELISA được sử dụng nhiềutrong các phòng thí nghiệm ở miền Nam nước Mỹ (Nguyễn Ngọc Hải, 2007) [5]
1.1.5.3.Chẩn đoán bằng bộ Kít POCKIT TM
PRRSV-CN.
Mục đích sử dụng: Bộ kit POCKITTMPRRSV-CN sử dụng công nghệ PCRđẳng nhiệt (iiPCR) để phát hiện RNA của virus gây bệnh Tai xanh chủng TrungQuốc Bộ kit này được thiết kế để sử dụng với thiết bị POCKIT Nucleic AcidAnalyzer Người dùng thường là bác sĩ thú y hoặc kỹ thuật viên, hoặc những người
mà có kỹ năng cơ bản trong phòng thí nghiệm.Bộ kit sử dụng cho mục đích pháthiện bệnh hoặc cho mục đích nghiên cứu
Nguyên lý phát bệnh: Việc phát hiện virus gây bệnh Tai xanh Trung Quốc
dựa vào công nghệ iiPCR Cùng với các cặp mồi đặc hiệu, đầu dò huỳnh quangđược sử dụng để tạo ra tín hiệu huỳnh quang khi chuỗi RNA đích của PRRSV-CNđược khuếch đại Mồi và đầu dò huỳnh quang chỉ gắn vào RNA đích của virus vàkhông kết hợp với DNA của lợn và axit nucleic của loài khác
Trang 251.1.5.4 Các phương pháp chẩn đoán khác
*Các phương pháp phát hiện kháng nguyên
Phương pháp FA và IHC có thể được sử dụng để phát hiện kháng nguyênvirus trong mẫu mô
Phương pháp FA có thể thực hiện trực tiếp trên các mẫu đông lạnh, phươngpháp này cho kết quả nhanh và chi phí thấp, tuy nhiên lại có độ nhạy và độ đặc hiệukhông cao để đảm bảo kết quả chẩn đoán, mẫu cần được lấy và làm lạnh nhanh
Phương pháp IHC cũng được thực hiện trên mẫu mô cắt lát, tuy nhiên phươngpháp này có thể thực hiện với các mẫu mô đã được cố định bằng formol, điều này làkhá quan trọng vì rất thuận lợi trong việc bảo quản mẫu bệnh phẩm IHC có độ nhạycao hơn so với FA nhưng mất nhiều thời gian và tốn chi phí hơn (Nguyễn Ngọc Hải2007) [5]
*Phát hiện gen của virus PRRS
Kỹ thuật PCR được phát triển để phát hiện RNA của virus PRRS trong cácmẫu bệnh phẩm Kỹ thuật này không những có độ đặc hiệu và độ nhạy cao mà thờigian cần thiết thực hiện xét nghiệm cũng ngắn hơn so với phương pháp nuôi cấy tếbào vì thế nó được sử dụng khá rộng rãi trong chẩn đoán phát hiện virus Nhiềudạng khác nhau của PCR được sử dụng, hầu hết chúng được sử dụng để phát hiệncác vùng ORFs 7, ORFs 6 hay orfs1b của virus
Để gia tăng độ nhạy trong chẩn đoán PRRS, nhất là để phân biệt 2 dòng virusthì HanKook Chung và cs (2002) [28] đã sử dụng phương pháp multiplex reversetranscription-nested PCR (RT-nPCR) Tuy nhiên kết quả chẩn đoán chưa đủ làm cơ
sở để kết luận bệnh mà chỉ cho phép xác định tình trạng nhiễm của đàn và kỹ thuậtnày đòi hỏi kỹ thuật viên phải có trình độ kỹ thuật cao Các quy trình thu nhận vàtrữ mẫu, quy trình chiết tách và tinh sạch RNA phải được thực hiện một cáchnghiêm ngặt Do đó kết quả của phản ứng PCR giữa các phòng thí nghiệm khácnhau có thể sẽ khác nhau
* Phân lập virus trên môi trường tế bào
Trong phân lập virus, cũng như các phương pháp chẩn đoán khác, khâu đầutiên và quan trọng nhất đó là cách lấy mẫu và bảo quản mẫu Mẫu xét nghiệm có thể
là huyết thanh, dịch tràn ổ bụng, dịch phế nang, dịch mẫu mô (hạch, phổi, lách)
Trong số đó thì dịch phế nang và huyết thanh được đánh giá là mẫu tốt nhấtcho việc phân lập virus khi dịch bùng phát PRRS tồn tại trong huyết thanh lâu hơntrong mô, nhưng đối với lợn già thì lại có nhiều PRRS trong mô hơn trong máu Đốivới các trường hợp sảy thai ở thời kỳ cuối hay sinh sớm thì nên lấy mẫu ở những lợncon sinh ra yếu, trước khi cho bú hơn là thai khô, thai chết lưu
Trang 261.2 Vai trò của một số vi khuẩn trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn.
Khi lợn mắc bệnh Tai xanh thường bội nhiễm các loại vi khuẩn gây bệnh kế
phát như, trong đó có Actinobacillus pleuropneumoniae (A pleuropneumoniae),
Pastaurella multocida (P multocida)và Streptoccus suis (S.suis), vai trò của các vi
khuẩn trong hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn như sau:
1.2.1 Vi khuẩn A pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn
* Hình thái, cấu trúc
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [16], A pleuropneumoniae là trực khuẩn
nhỏ, kích thước 0,3 - 0,5 x 0,6 - 1,4 µm, bắt màu Gram âm, có giáp mô với bản chất
là các polysaccharide Ngoài ra cũng có thể thấy dạng vi khuẩn không có giáp mô,
vi khuẩn có hình thái điển hình là dạng cầu trực khuẩn với kích thước chiều rộngkhoảng
0,5 µm nhưng chiều dài rất biến đổi Loại có vỏ (capsule) là polysaccharide được
tìm thấy ở hầu hết các serotype của vi khuẩn A pleuropneumoniae, còn loại không
có vỏ thì ít tìm thấy hơn
* Tính chất nuôi cấy
Vi khuẩn A pleuropneumoniae là loại vi khuẩn khó phân lập trên các môi trường thông thường Do vậy, khi nuôi cấy vi khuẩn A pleuropneumoniae cần các
loại môi trường giàu dinh dưỡng
Trên môi trường thạch máu: vi khuẩn không phát triển trên môi trường thạchmáu thông thường mà chỉ có thể mọc trên thạch máu đã được bổ sung NAD hoặc có
cấy kèm vi khuẩn Sta aureus Sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc mọc xung quanh đường cấy Sta aureus với kích thước 0,5 - 1 mm và hình thành
một vùng dung huyết β Vùng dung huyết này thường được quan sát rõ hơn trên môitrường thạch có bổ sung 5 - 7 % máu cừu
* Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn A pleuropneumoniae lên men đường glucose, xylose,
mannitol, mannose và không lên men đường arabinose, lactose, raffinose, sorbitol.Dương tính với phản ứng urease, oxidase, CAMP, O.N.P.G; âm tính với phản ứngsinh Indol và không mọc trên thạch MacConkey (Trịnh Quang Hiệp và cs, 2004[18]; Cù Hữu Phú và cs,
2006 [29]; Đặng Xuân Bình và cs, 2007 [4]; Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010
[13])
* Triệu chứng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thể hiện ở nhiều mức, phụ thuộc vào tuổi củalợn, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhângây bệnh Tiến triển lâm sàng có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mạn tính
Trang 27- Thể quá cấp tính: Trong cùng một khoảng thời gian một số con của đàn lợncai sữa có biểu hiện sốt cao (40,5 - 41,5oC), uể oải, mệt mỏi Lợn bệnh có một thờigian ngắn bị nôn mửa và tiêu chảy Lợn khó thở, tần số mạch tăng Da ở vùng mũi,tai, chân và sau đó toàn cơ thể có màu tím xanh Giai đoạn đầu của bệnh con vật khóthở trầm trọng Lợn bệnh chết nhanh chóng trong vòng 24 - 36 giờ Trước khi chếtlợn chảy nhiều nước dãi, nước mũi nhiều bọt có thể lẫn máu Đôi khi trong đàn chỉthấy lợn chết rất nhanh mà không xuất hiện triệu chứng lâm sàng Bằng thựcnghiệm, người ta thấy lợn có thể chết sau 3 giờ gây bệnh Lợn sơ sinh nếu bị bệnh
sẽ bị bại huyết và thường chết ngay sau khi sinh
- Thể cấp tính: Ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong mộtchuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Lợn bệnh sốt từ 40,5oC - 41oC, da đỏ, mệtmỏi, bỏ ăn Các dấu hiệu hô hấp nặng như khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng
- Thể mạn tính: Thể này thường do thể cấp tính chuyển sang Lợn thườngkhông sốt hoặc sốt nhẹ, ho liên tục hoặc ho ngắt quãng Lợn bỏ ăn, khả năng tăngtrọng giảm Khi phải vận động lợn bệnh thường tụt lại phía sau đàn Khi bị ghép với
một số mầm bệnh gây bệnh đường hô hấp khác như Mycoplasma, một số vi khuẩn
và virus sẽ làm cho bệnh trầm trọng hơn
* Bệnh tích
- Bệnh tích đại thể: Lợn bị nhiễm A pleuropneumoniae có những tổn thương
chủ yếu ở đường hô hấp (Nicolet, 1992) [66] Phổi thường bị viêm đối xứng, gồmthùy tim, thủy đỉnh và một phần thùy hoành Bệnh tích phổi bị viêm thường tậptrung thành từng đám và có ranh giới rõ rệt
- Bệnh tích vi thể: Trong giai đoạn đầu của bệnh, biến đổi bệnh tích vi thểchủ yếu là hiện tượng hoại tử xuất huyết và thâm nhiễm, tế bào đa nhân trung tính,đại thực bào và tiểu huyết cầu, ngoài ra còn thấy hiện tượng nghẽn mạch, phù thũnglan tràn và dịch thủy thũng có nhiều fibrin
* Các biện pháp phòng bệnh
Việc phòng bệnh cần thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
- Các trại chăn nuôi không có lợn mắc bệnh và nhiễm A pleuropneumoniae
phải duy trì việc cách ly, đi đôi với việc sử dụng tinh dịch an toàn Khi nhập lợn mớivào đàn, phải đảm bảo lợn có nguồn gốc từ một đàn không bị bệnh, không bị nhiễmkhuẩn, nên nuôi cách ly chúng trong một thời gian trước khi cho vào đàn
- Có thể dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh nhưng không được dùng kéo
dài, thường xuyên kiểm tra sự mẫn cảm của vi khuẩn A pleuropneumoniae với
kháng
Trang 28sinh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không loại bỏ được mầm bệnh hoàn toàn
và vi khuẩn A pleuropneumoniae vẫn có thể thải ra môi trường (Fedorka-Cray và
cs,
1993) [54]
- Hiện đã có nhiều loại vắc xin được sản xuất để phòng cho bệnh này và đượcchia thành 2 nhóm chính là vắc xin vô hoạt và vắc xin có chứa một số thành phầncấu tạo của vi khuẩn Vắc xin vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo chủng huyết thanh,
có thể có miễn dịch chéo với các chủng huyết thanh khác
* Điều trị bệnh
Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ ức chếtối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới có gần đâynhư các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp(ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất hiệu quả Moller và cs(1996) [65] đã xác định được tilmicosin có hiệu quả cao trong điều trị bệnh do vi
khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở lợn Điều trị bằng kháng sinh chỉ có hiệu quả
ở giai đoạn mới phát bệnh, có tác dụng làm giảm tỷ lệ lợn chết Nếu điều trị muộnkhi cơ thể đã xuất hiện nhồi máu hoặc tổn thương mạn tính làm cho lợn bị rối loạn
hô hấp thì kết quả rất kém Cần làm kháng sinh đồ để lựa chọn kháng sinh điều trịhiệu quả
1.2.2 Vi khuẩn P multocida và bệnh viêm phổi ở lợn do P multocida gây ra
* Hình thái, kích thước và đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở lợn là loại cầu trực khuẩn, bắt màu Gram
âm, có kích thước 0,2 - 0,41 x 0,04 - 1,5 µm, hai đầu tròn, không di động, khôngsinh nha bào, thường bắt màu sẫm ở hai đầu trong các tiêu bản máu ở phủ tạng lợn
còn tươi P multocida là loại vi khuẩn sống hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, điều
kiện thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 37oC, trong môi trường trung tính hay hơi
kiềm (pH: 7,2 - 7,4) Vi khuẩn P multocida mọc tốt trên một số môi trường như nước thịt, thạch thường, thạch máu Vi khuẩn P multocida phát triển trong môi
trường phổ thông có thêm CaCl2 và MgCl2 cũng giống như phát triển trên môitrường BHI - Brain Heart Infusion
Môi trường tốt nhất cho P multocida là môi trường YPC (yeast extract
peptone L - cytine) có thêm sacarose và sodium sulfite (Na2SO4) và môi trườngTSA (tryptone soya agar) Trên môi trường TSA kích thước của khuẩn lạc sẽ lớn
hơn Vi khuẩn P multocida phát triển trên môi trường thạch máu sẽ tạo nhiều kháng
nguyên quan trọng hơn khi cấy trong các môi trường tổng hợp khác, đây cũng là
Trang 29môi trường giúp tái tạo giáp mô của vi khuẩn Vi khuẩn không phát triển trên môitrường MacConkey và thạch Citrate.
Trang 30 Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn P multocida lên men đường glucose, mannitol, sorbitol, galactose;
không lên men đường lactose, arabinose, maltose Phản ứng sinh Indol, Catalaza vàOxydaza: dương tính; phản ứng Urease: âm tính; không mọc trên môi trườngMacConkey (Đỗ Quốc Tuấn, 2008 [46])
* Triệu chứng
Bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn P multocida gây ra rất khác nhau tùy
thuộc vào chủng vi khuẩn gây bệnh, thường xuất hiện 3 thể là thể quá cấp, thể cấptính và thể mạn tính
- Thể quá cấp tính: lợn bệnh mệt mỏi, kém ăn, hoặc bỏ ăn, nằm một chỗ,không đứng dậy được, sốt cao (41 - 42oC), uống nhiều nước, run rẩy Xuất hiện thuỷthũng ở cổ, họng, hầu do viêm làm cho hầu sưng, cổ cứng, mặt mũi sưng húp, cókhi phía dưới bụng và giữa hai hàng vú sưng, con vật thở khó, thở khò khè, cổ duỗithẳng, mũi phồng ra khép lại từng hồi, nhịp tim nhanh Các niêm mạc đỏ sẫm hoặctím bầm, nốt xuất huyết, vết đỏ hay tím xuất hiện ở tai, cổ, bụng, phía trong đùi.Bệnh tiến triển từ
12 giờ đến 1 - 2 ngày, con vật chết vì ngạt thở Lợn mắc bệnh ở thể này có biểu hiệnđang bình thường đột nhiên kêu rống lên rồi lăn ra chết, sau khi chết xác lợn tímbầm, sùi bọt mép Trường hợp này xảy ra khi mầm bệnh đã có sẵn ở cơ sở chănnuôi
- Thể cấp tính: Con vật có biểu hiện sốt cao, khó thở, thở thể bụng, kiệt sức.Lợn chết và sắp chết vùng bụng có màu đỏ tím do trúng độc nội độc tố
Niêm mạc mũi lợn bệnh bị viêm, con vật thở khó, thở nhanh, có tiếng khòkhè, ướt trong phế quản, chảy nước mũi đặc, nhờn, đục, có khi có mủ, máu; ho khan,từng tiếng, ho co rút toàn thân, khi gõ vùng ngực con vật đau, thấy có vùng âm đục;tim đập nhanh; chảy nước mắt Quan sát thấy lợn bệnh bị phù thũng dưới da vùnghầu và lan rộng xuống cổ Những vùng này có hiện tượng sưng to và bùng nhùng.Lợn mắc bệnh lúc đầu táo, sau ỉa chảy, có khi có máu hoặc cục máu do xuất huyếtruột Bệnh tiến triển từ 3 đến 12 ngày, con vật gầy yếu dần, ăn ít hoặc không ăn rồichết Tỷ lệ chết có thể lên tới 80%, nếu con vật không chết thì có thể chuyển sangthể mạn tính (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1979) [31]
- Thể mạn tính: Thể này thường tiếp theo thể cấp tính, con vật khó thở, thởnhanh và thở khò khè, hơi sốt nhẹ, các khớp bị sưng, nhất là khớp gối Con vật honhiều khi vận động, có đám da tróc bong vẩy, niêm mạc miệng đóng màng giả gây
áp xe Bệnh tiến triển 3 - 6 tuần, sau đó con vật gầy yếu dần rồi chết do suy nhược(Phan Thanh Phượng và cs, 2006) [32]
Trang 31* Bệnh tích
- Thể quá cấp tính: lợn chết đột ngột, do đó các bệnh tích thường ít đặc trưng,chứng xuất huyết và sung huyết có thể thấy ở khắp cơ thể (Phan Thanh Phượng vàcs.,
2006 [32]) Lợn bệnh có bệnh tích xuất huyết ở thanh mạc, niêm mạc và các cơ quannội tạng, xuất huyết nhiều điểm trên da Hạch lâm ba sưng đỏ, thuỷ thũng, thấmnước Hầu viêm, thấm tương dịch Lách sưng, tụ máu Thận ứ máu Trên da có nốt
đỏ hoặc tím bầm Phổi xuất huyết, thuỷ thũng, thấm tương dịch
- Thể cấp tính: Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [31] khi mổ khám lợnbệnh có bệnh tích thuỳ phế viêm; phổi viêm tụ máu từng đám, nhất là vùng sâu hoặcphía sau Phổi bị viêm có nhiều vùng gan hoá cứng ở các thời kỳ khác nhau, thấmtương dịch đỏ nhạt, khi cắt thấy có vân, có hạt nhiều màu sắc, các mô cứng nổi lên,
có nhiều ổ hoại tử viền màu vàng, tổ chức liên kết giữa tiểu thuỳ dày lên, thấm nướcthuỷ thũng nhưng không xuất huyết Khí quản, phế quản tụ máu, xuất huyết có bọtnhớt màu hồng Màng phổi dính vào lồng ngực, có khi có chấm xuất huyết, chứanước ngoại xuất, có mủ màng giả, sợi huyết Hầu viêm, thuỷ thũng, thấm tương dịchvàng Dạ dày, ruột viêm cata, tụ máu, xuất huyết Lách hơi sưng, màu đỏ sẫm, có ổviêm cứng, đôi khi lách bình thường Hạch lâm ba ngực, hầu sưng tụ máu Hạchmàng ruột sưng, thấm nước Thận ứ máu, có màu đỏ sẫm
- Thể mạn tính: Theo Nguyễn Vĩnh Phước và cs (1979) [31] các bệnh tích ởthể này là phổi viêm mạn tính, có vùng gan hoá hoại tử vàng xám, cứng, có ổ áp xe,
có khi bị cazein hoá như fomat, đám bã đậu hoá Phế quản viêm mạn tính, màng phổidày ra ở vùng phổi bị hoại tử, có chỗ dính vào lồng ngực Hạch lâm ba, hạch hạnhnhân, khớp xương mô liên kết dưới da có những đám bã đậu, gan lách có đám cazeinhoá
* Biện pháp phòng bệnh tổng hợp
Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, biện pháp phòng chống bệnh do vi
khuẩn P multocida gây ra ở lợn chủ yếu là tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện cách
ly khi bổ sung lợn mới vào đàn Duy trì các biện pháp thú y chặt chẽ, có hệ thống hốsát trùng ở cửa ra vào chuồng trại, có quần áo bảo hộ lao động cho công nhân chănnuôi, có hệ thống “chuồng nuôi - chuồng nghỉ”, có kế hoạch diệt loài gặm nhấm;khử trùng tiêu độc chuồng trại theo định kỳ bằng vôi bột, dung dịch NaOH 2%,dung dịch formol 0,5%, Han - Iodine 10% Khi có lợn mắc bệnh cần cách ly triệt đểnhững con ốm và điều trị kịp thời bằng thuốc kháng sinh đặc hiệu nhằm tiêu diệt vikhuẩn, tiêu diệt mầm bệnh ngay trong cơ thể lợn mắc bệnh; chất thải của mắc bệnhphải được tiêu huỷ và tiêu độc, sát trùng chuồng trại Không được bán chạy, vậnchuyển lợn
Trang 32đang bị mắc bệnh đi nơi khác Đồng thời, cần tập trung nghiên cứu về vi khuẩn P.
multocida gây bệnh ở lợn chọn ra các chủng mới để chế tạo vắc xin phòng bệnh thật
hiệu quả Tùy từng địa phương có thể sử dụng vắc xin chế từ các chủng vi khuẩnkhác nhau; thực hiện tiêm phòng vắc xin thường xuyên, định kì, đều đặn, đúng quitrình với tỷ lệ tiêm phòng đạt cao 90 - 100% đàn lợn là biện pháp phòng bệnh hữuhiệu nhất (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2007) [21]
* Điều trị bệnh
Theo Phan Thanh Phượng và cs (2006) [32], trong thực tế vi khuẩn P.
multocida có nhiều biến chủng kháng lại các thuốc kháng sinh thông thường, nên
muốn điều trị có hiệu quả cần phải tiến hành kiểm tra tính mẫn cảm với kháng sinh
để chọn loại kháng sinh có hiệu quả
Đỗ Quốc Tuấn (2008) [46] cho biết, các chủng P multocida phân lập được ở
lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam mẫn cảm cao với norfloxacin,lincomycin, neomycin và đã chọn hai kháng sinh là lincomycin và norfloxacin điều
trị lợn mắc bệnh do vi khuẩn P multocida gây ra, tỷ lệ lợn khỏi bệnh từ 84,37% đến
91,48%
* Khả năng đề kháng với kháng sinh
Vi khuẩn P multocida gây bệnh ở gia súc tại Thái Lan chứa 2 loại plasmid có
khả năng đề kháng với kháng sinh Loại plasmid thứ nhất là pJR1 chứa 6.792 bp vàloại thứ hai là pJR2 chứa 5.252 bp
- Plasmid pJR1 có 6 gen chính: gen thứ nhất (Sul II) quy định tính khángsulfamide, gen thứ 2 (tet G) quy định đặc tính kháng tetracyclin, gen thứ 3 (cat B2)quy định đặc tính kháng chloramphenicol, gen thứ 4 (rep) quy định khả năng tái tạoprotein của plasmid, gen thứ 5 và 6 (mbe Cy và deltambe Ay) quy định qúa trìnhtổng hợp các protein liên quan đến khả năng di chuyển của plasmid
- Plasmid pJR2 có 5 gen chính: gen thứ nhất (deltain I1) có liên quan đến khảnăng hợp nhất của plasmid, gen thứ 2 (aad A1) quy định đặc tính khángstreptomycin, gen thứ 3 (bba P1) quy định đặc tính kháng ampicillin, gen thứ 4 vàgen thứ 5 quy định khả năng tổng hợp của protein tham gia vào quá trình tái tạo vàphân ly plasmid (Wu và cs, 2003) [73]
Ở Việt Nam, Đỗ Quốc Tuấn và Nguyễn Quang Tuyên (2007) [45] cho biết
25 chủng P multocida phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh mẫn cảm
cao với các kháng sinh như chlotetracyclin, neomycin và ampicillin; đến năm 2008,
Đỗ Quốc Tuấn [46] xác định mức độ mẫn cảm của các chủng P multocida phân lập
được ở lợn tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với một số kháng sinh thôngdụng
Trang 33đã cho thấy các chủng P multocida mẫn cảm cao với norfloxacin, lincomycin và
neomycin Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1] cũng cho biết các chủng
P multocida phân lập được ở lợn mắc PRRS mẫn cảm cao với các kháng sinh như
amoxicillin (100%), ampicillin (66,67%), gentamicin (66,67%) và kháng mạnh cáckháng sinh như streptomycin, enrofloxacin, colistin
1.2.3 Vi khuẩn S suis và bệnh viêm phổi ở lợn do vi khuẩn S suis gây ra
* Hình thái, cấu trúc, đặc tính nuôi cấy
Vi khuẩn S suis thuộc giống Streptococcus, họ Streptococcaceae, bộ
Lactobacillales, lớp Bacilli Streptococcus là vi khuẩn Gram dương, có dạng hình
cầu, hình trứng, đường kính có khi đến 1µm, chúng được xếp thành chuỗi như chuỗihạt có độ dài ngắn khác nhau, từ 2 - 10 cầu khuẩn hay dài hơn tạo thành liên cầukhuẩn Chiều dài của chuỗi tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường
Vi khuẩn không di động, không sinh nha bào, nhưng có khả năng hình thànhgiáp mô Sự hình thành giáp mô có thể xác định được khi chúng sinh sống trong các
mô hoặc phát triển trong các môi trường nuôi cấy có chứa huyết thanh Vi khuẩn S.
suis là những vi khuẩn hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, gây bệnh thích hợp ở nhiệt độ
37oC và phát triển tốt trên nhiều loại môi trường như:
- Môi trường nước thịt: Vi khuẩn S suis hình thành hạt hoặc những bông, rồi
lắng xuống đáy ống Sau 2 giờ nuôi cấy môi trường trong, đáy ống có cặn
- Môi trường thạch thường: Vi khuẩn S suis hình thành khuẩn lạc dạng S,
khuẩn lạc nhỏ, tròn, lồi, bóng, màu hơi xám
- Trên môi trường MacConkey: Vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy, hìnhthành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim
Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn S suiscó khả năng lên men đường glucose, lactose, succrose, inulin,
trehalose, maltose, fructose; không lên men các loại đường ribose, arabinose,sorbitol, mannitol, dextrose và xylose Các phản ứng Oxydase, Catalase, Indol: Âmtính
* Triệu chứng và bệnh tích
Lợn từ 1 - 3 tuần tuổi thường mắc thể viêm não và viêm màng não với cáctriệu chứng như ủ rũ, kém ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi lại khó khăn, lông khô, dựngđứng, sốt, da mẩn đỏ
Lợn hoạt động khó khăn, đi lại loạng choạng, khi nằm có biểu hiện tư thế nhưbơi chèo, tê liệt Lợn mắc bệnh có hiện tượng viêm một khớp, khớp viêm thường làkhớp bẹn, đầu gối hoặc khớp bàn chân Các tổn thương đầu tiên bao gồm thủythũng,
Trang 34sưng khớp, màng khớp xung huyết, dịch khớp đục Các biến đổi về bệnh tích vi thểkhông có sự sai khác giữa các serotype gây bệnh và thường tập trung ở não, phổi,tim và các khớp Các tổn thương quan sát thấy như viêm màng não, viêm não, viêmphổi
- màng phổi có mủ hoặc viêm phổi kẽ
Nguyễn Như Thanh (2007) [34] cho biết, để gây bệnh vi khuẩn S suis sau khi
vào cơ thể sẽ nhân lên tại hạch nhân rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết, nên triệuchứng đầu tiên là sốt 40,6 - 41,7oC, triệu chứng thần kinh như run rẩy, đứng khôngvững, liệt, dẫn đến chết Triệu chứng, bệnh tích và các thể bệnh thường thấy:
- Thể nhiễm trùng huyết: lợn bệnh sốt rất cao (41 - 42oC), chảy nước mắt,nằm bệt, niêm mạc đỏ sẫm, da đỏ tím từng mảng Lợn bệnh chết trong khoảng 1đến 3 ngày, tỷ lệ chết lên đến 100% Bệnh tích: da đỏ tím từng mảng, tụ huyết vàxuất huyết ở một số phủ tạng (lách, thận, hạch lâm ba)
- Thể viêm não tuỷ: lợn bệnh sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật,nôn mửa, hôn mê và chết sau 2 - 3 ngày Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa và lợn
từ 2 - 3 tháng tuổi, tỷ lệ chết 100% Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết,dịch não và tủy vẩn đục
- Thể viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi: lợn bệnh sốt cao, chảy nướcmắt, dịch mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó, thở nhanh; da tụ huyết từng mảng Thểnày thường gặp ở lợn con và lợn sau cai sữa, tỷ lệ chết 60 - 70% Bệnh tích: hạchamidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết, niêm mạc mũi có màng giả, tiểuphế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất, có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng, tụhuyết Lợn bị bệnh thể phổi gây ra bệnh tích ở phổi có các mức độ biểu hiện khácnhau từ viêm phổi - màng phổi dạng nhục hoá đến viêm phổi dạng fibrin có mủ
- Thể viêm hạch: Sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thủy thũng, sauthành apxe mủ, lâu thành bã đậu Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5 - 8 ngày, tỷ lệchết 20 - 30% Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng tụ huyết ở giaiđoạn đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu
* Các biện pháp phòng bệnh
+ Thường xuyên thực hiện phun thuốc diệt ruồi, muỗi để ngăn chặn nguồnmang mầm bệnh vào chuồng trại Thu gom rác, phân, chất độn chuồng, nước thải;phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng như NaOH 2%,Benkocid Han - Iodine 10% theo đúng qui định Ngoài ra:
+ Chú trọng khâu chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý đàn; để hạn chế sự xâmnhiễm và lây lan dịch bệnh, nên thực hiện nguyên tắc “cùng vào cùng ra” Bổ sungkháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khoẻ mang trùng Lợn con sau khi sinh cầnđược bú đầy đủ
Trang 35sữa đầu của mẹ để có đủ kháng thể bảo vệ chúng trong giai đoạn đầu giai đoạn dễcảm nhiễm với bệnh nhất Loại bỏ những lợn mang trùng và có hướng điều trị kịpthời lợn mắc bệnh Không được vận chuyển lợn từ vùng có dịch sang vùng khác.
+ Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách ly đểtránh lây lan Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh Với những con không
có khả năng chữa khỏi thì tiến hành loại thải
- Phòng bệnh bằng vắc xin:
Hiện nay, các loại vắc xin được sử dụng để phòng bệnh do S suis gây ra cho
lợn chủ yếu là các vắc xin chuồng (auto vắc xin), hiệu quả bảo hộ của các loại Vắcxin này cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Các nhà khoa học cũng đã chếtạo thử nghiệm nhiều loại vắc xin khác nhau như vắc xin toàn khuẩn, vắc xin sốngnhược độc, vắc xin tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc các protein thành
tế bào) Tuy nhiên, miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí nghiệm được tiêm các loạivắc xin này cũng rất thất thường và không ổn định Trong một số trường hợp khẩncấp, việc lựa chọn dùng vắc xin vẫn là phương thức tối ưu nhất để bảo vệ đàn lợn
* Điều trị bệnh
Trong thực tế, khi sử dụng kháng sinh có độ mẫn cảm cao để điều trị cho lợn
mắc bệnh do vi khuẩn S suis gây ra đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên, sử dụng kháng
sinh để điều trị phải dùng sớm và chỉ có hiệu quả tốt khi con vật chưa có biểu hiệntriệu chứng lâm sàng nặng hay chưa có biểu hiện quá ủ rũ, bỏ ăn Điều trị muộn thìhiệu quả sẽ rất kém hoặc không có hiệu quả Chẩn đoán phát hiện sớm bệnh do vi
khuẩn S suis gây ra và điều trị bằng kháng sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng
khả năng sống sót cho đàn lợn Theo Tô Long Thành và cs (2007) [36] trong 25
chủng vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi mẫn cảm cao với
ceftiofur (92,0%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%) và amikacin (72,0%) nên
có thể sử dụng một trong các kháng sinh trên để điều trị cho lợn khi mắc viêm phổi
do vi khuẩn S suis gây ra.
1.3 Những nghiên cứu về PRRS và bệnh viêm phổi ở lợn
1.3.1 Những nghiêncứu trên thế giới
Năm 1987, bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Mỹ với tên gọi “bệnh thần bí trên lợn” Tháng 11 năm 1990, ổ dịch PRRS đầu tiên xảy ra ở Đức và lan tràn nhanh
chóng sang các quốc gia khác ở Châu Âu
Mùa đông năm 1990 - 1991, lần lượt các quốc gia Châu Âu như Hà Lan, Bỉ,Pháp và Tây Ban Nha đã báo cáo về hội chứng này với nhiều tên gọi khác nhau:
Trang 36“Bệnh PRRS” (Blue-eared Pig Disease), “Hội chứng hô hấp và sảy thai trên lợn” (PEARS), hay “Hội chứng hô hấp và vô sinh” (SIRD).
Năm 1991, lần đầu tiên Wenvoort và cộng sự đã phân lập được căn bệnh ởViện thú y trung ương Lelystad - Hà Lan và đặt tên cho loại virus này là “Lelystad”(dẫn theo Nguyễn Như Thanh, 2007) [35]
Năm 1992, Collins và cộng sự ở Mỹ cũng báo cáo về việc phân lập đượcvirus gây bệnh và sử dụng tên gọi VR-2332 để chỉ các chủng phân lập ở Bắc Mỹ,cũng trong năm 1992, hội nghị quốc tế và tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) đã nhất tríđặt tên cho bệnh này là “Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên lợn” (PorcineReproductive and Respiratory Syndrome - PRRS)
Theo điều tra của Straw và cs (1999), 100% đàn lợn được kiểm tra ở Bỉ (n=50) có lợn dương tính với virus PRRS với tỷ lệ nhiễm là 96% (dẫn liệu của BenfieldD.A và cs, 1999) [51]
Theo khảo sát của Escobar và cs (2007) [53] có sự gia tăng tổng số bạch cầutrong máu lợn sau 14 ngày nhiễm virus PRRS Trong đó, tỷ lệ bạch cầu lympho vàtrung tính đều tăng có ý nghĩa Ngoài ra, số lượng bạch cầu trong khí quản, phế quảncủa lợn bị nhiễm PRRS tăng có ý nghĩa Cũng theo tác giả này, hàm lượngInterferon và hàm lượng Interleukin -1β trên lợn sau 7 ngày gây nhiễm virus PRRSđều tăng
Về độc lực, người ta thấy virus gây PRRS tồn tại dưới 2 dạng đó là dạng cổđiển và dạng biến thể độc lực cao Dạng cổ điển có độc lực thấp, ở dạng này khi lợnmắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lựccao gây nhiễm bệnh cho lợn lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều
Khi lợn bị mắc PRRS, virus tấn công phá hủy đại thực bào làm suy giảm khả
năng đề kháng, dẫn đến các loại vi khuẩn như A pleuropneumoniae, P multocida và
S suis có cơ hội trỗi dậy gây bệnh, làm cho lợn bị mắc PRRS trầm trọng hơn, chết
nhiều trong ổ dịch PRRS tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay (Kehong Tian Yu,2007) [58]
Hiện nay, Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn đã trở thành dịch địaphương ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triểnnhư Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức… và đã gây ra những tổn thất rất lớn
về kinh tế cho người chăn nuôi lên đến hàng trăm triệu đô la Hàng năm Mỹ phảichịu tổn thất do Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn gây ra khoảng 560 triệuUSD Các nước trong khu vực có tỷ lệ lợn bị Hội chứng rối loạn hô hấp và sinhsản lưu
Trang 37hành rất cao, ví dụ ở Trung Quốc là 80%, Đài Loan 94,7 - 96,4%, Philippine 90%, Thái Lan 97%, Malaysia 94%, Hàn Quốc 67,4 - 73,1% (Cục thú y, 2008) [7].
Ladinig A và cs (2014) [63] đã gây nhiễm virus PRRS cho 114 lợn nái mangthai 85 ± 1 ngày để thử nghiệm ảnh hưởng của virus đến sức sống của bào thai (19lợn đối chứng), 21 ngày sau gây nhiễm mổ khám các lợn thí nghiệm thấy tỷ lệ tửvong của các bào thai là 41% và trọng lượng của các bào thai giảm khoảng 17% sovới đối chứng
Kittawornrat A và cs (2014) [61] đã thu thập mẫu nước bọt của 600 lợn contrước cai sữa 1 ngày tại 4 trại lợn với tổng số cá thể là 12.500 con để đánh giá tìnhhình nhiễm virus PRRS Kết quả cho thấy, có 9/600 mẫu dương tính với virus gâyhội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn, tuy nhiên, 9 mẫu này phân bố ở cả 4đàn nghiên cứu
Từ tháng 9/2004 - 8/2007, Rosendal T và cs (2014) [68] đã phân lập được
438 chủng virus PRRS từ 392 cơ sở chăn nuôi lợn tại Ontario; trong đó có 57 chủngđược coi là có mặt trong các loại vắc xin tiêm phòng bệnh
Xie J và cs (2014) [70] cho biết: Năm 2006, một chủng virus độc lực caocủa bệnh Tai xanh xuất hiện ở Trung Quốc và gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôilợn Từ năm 2010 - 2013, các tác giả đã thu thập 126 mẫu mô của lợn ở miền NamTrung Quốc để phân tích sự biến đổi gen của virus PRRS Kết quả cho thấy 32,54%
số mẫu dương tính với virus PRRS, trong đó subgenotypes HP - PRRS là dòng chủđạo
Olanratmanee E O và cs (2015) [67] đã thu thập 89 mẫu bệnh phẩm từ cáclợn nái chửa, đẻ không bình thường (sảy thai, đẻ non, thai chết lưu) từ 10 đàn lợnnái ở Thái Lan để kiểm tra tỷ lệ nhiễm virus PRRS bằng phương pháp PCR Kết quảcho thấy 60/89 mẫu dương tính, chiếm tỷ lệ 67,4%
Vilcek S và cs (2015) [71] đã phát hiện 2/129 lợn rừng nghiên cứu dươngtính với virus PRRS Tuy nhiên, nguồn gốc của virus này không rõ ràng và các tácgiả cho rằng rất có khả năng virus này được truyền từ lợn nuôi sang lợn rừng
Ở Hàn Quốc, hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn chủ yếu do 2 chủngvirus thuộc type EU - 1 và type 2 (Bắc Mỹ) gây ra (Yeom M và cs., 2015 [72])
1.3.2 Nhữngnghiêncứu trongnước
Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào năm 1997 trên đàn lợn nhập từ Mỹ(10/51 con có huyết thanh dương tính) Các nghiên cứu về bệnh trên những trại lợngiống tại các tỉnh phía Nam cho thấy tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với bệnh là
Trang 38khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29% Ở các nước khác, tỷ lệ đàn trong vùng bệnh có huyết thanh dương tính cao hơn như: 60 - 75% ở Anh, Mỹ là 36%.
Theo Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân (2003) [22], tỷ lệ nhiễm PRRS tạimột trại chăn nuôi là 7,5% trên lợn nái và 4% trên lợn con, ngoài ra một số biểu hiệnlâm sàng cũng được ghi nhận như: lợn nái dương tính với virus PRRS có biểu hiệnsảy thai trước khi sinh 1 - 2 tuần, nhiều thai chết khô và lợn sơ sinh chết tươi Lợncon 4 - 7 ngày sau khi sinh có triệu chứng thở khó, tỷ lệ chết cao Khối lượng bìnhquân lợn con dương tính (17,5 kg) kém hơn lợn con âm tính (22 kg) Lợn 40-50ngày tuổi có biểu hiện ho, ốm còi, xù lông
Theo Trần Thị Bích Liên và cs (2005) [23] đã có một số đánh giá khi khángthể mẹ truyền bệnh tích phổi đại thể và vi thể trên lợn mẹ được giết mổ Tác giảnhận thấy khả năng nhiễm virus PRRS có thể xảy ra ở giai đoạn sau cai sữa, sự tụtập bạch cầu trong lòng ống phế nang và xâm nhiễm của đại thực bào ở vách phếnang và xâm nhiễm của đại thực bào ở vách phế nang trên lợn nhiễm virus PRRS.Ngoài ra có sự tăng sinh tế bào lympho quanh tiểu phế quản trên lợn nhiễm
Mycoplasma.
Kết quả nghiên cứu phối hợp thực hiện tại Phòng Thí Nghiệm Thú Y Quốcgia Hoa Kỳ: Kết quả chẩn đoán, phân lập virút và vi khuẩn từ 10 mẫu bệnh phẩm ởViệt Nam mang sang cho thấy: Có 9/10 mẫu bệnh phẩm phân lập được virus PRRS
trong đó có 10/10 mẫu dương tính với Escherichia coli và Streptococcus equi, có 6/10 mẫu phát hiện có Circovirus và 1/10 mẫu dương tính với Streptococcus suis,
như vậy có thể thấy khi lợn mắc PRRS thì sự bội nhiễm là rất cao
Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011) [1], khi xác định một số vikhuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yênnăm 2010 đã cho thấy lợn mắc PRRS thường kế phát bệnh do các nhóm vi khuẩn
đường hô hấp và đường ruột như A pleuropneumoniae, P multocida, S suis,
Escherichia coli, Salmonella spp., Clostridium perfringens Kết quả phân lập được vi
khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P multocida
10%
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu lợn mắc PRRS, do vậy việc phòngbệnh bằng Vắc xin và vệ sinh phòng bệnh, tiêu độc khử trùng hiện đang là hai biệnpháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi lợn (Nguyễn Ngọc Tiến, 2011) [38]
Mai Thị Thu Hằng (2013) [12] đã phân lập và giải trình tự thành công gen M của
5 chủng virus PRRS phân lập từ 5 địa phương khác nhau Quảng Ninh, Hưng Yên, Nghệ
An, Bạc Liêu, Tiền Giang, ký hiệu theo thứ tự là QiNi, HuY, NgAn, BaLi,
Trang 3910-10-TiGi Kết quả nghiên cứu là cơ sở để phân tích các biến chủng của virus PRRS cũng như sản xuất Vắc xin phòng chống dịch bệnh ở Việt Nam hiện nay.
Trang 40Theo Lê Văn Dương (2013) [10], ở tỉnh Bắc Giang lợn con có tỷ lệ mắcPRRS là cao nhất ở (13,46%), thấp nhất là lợn thịt (6,04%) Tỷ lệ tử vong do PRRS
ở lợn con là 24,09% và thấp nhất là lợn nái và hậu bị 3,45% Nguy cơ đàn lợn mắcPRRS ở Vụ Đông - Xuân cao gấp 2,07 lần so với vụ Hè - Thu và lợn con ≤ 2 thángtuổi nguy cơ mắc PRRS cao gấp 1,35 - 2,23 lần so với lợn nái và lợn thịt (P <0,001)
Nguyễn Quang Tính và Nguyễn Hùng Cường (2014) [28] cho biết: lợn náimắc bệnh xuất hiện các triệu chứng lâm sàng là rối loạn bộ máy hô hấp và sinh sản;đối với lợn sau cai sữa, lợn choai, triệu chứng chính là rối loạn hô hấp