1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thống kê tác động các nhân tố đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ - Trường hợp tỉnh Bắc Ninh

155 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ở năm 2008-2009. Giai đoạn này, sản xuất công nghiệp giảm tốc, chỉ s ố tồn kho tăng cao. Lạm phát, trước đây chỉ xoay quanh mức 8% một năm, đã tăng đột biến lên đến 20% năm 2008. Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào đầu tư vốn hơn là t ăng năng suất. Trong những năm 1990, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) chiếm kho ảng 44% trong tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam, nhưng tỷ trọng này đã giảm xuống còn 24% trong nửa đầu thập niên 2000. Trong khi đó sự đóng góp của vốn tăng từ 34% lên đến 53%. Mặc dù nền kinh tế hiện nay có sự chuyển biến theo hướng tích cực nhưng so với trước năm 2008, vẫn còn nhiều yếu kém. Sự suy giảm này một phần là do có sự biến động của một số ngành công nghiệp trong đó có ngành công nghiệp hỗ trợ.”Theo số liệu của Viện Chiến lược công nghiệp (B ộ Công thương), Việt Nam có khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ch ế tạo thì chỉ 200 doanh nghiệp đủ trình độ tham gia sản xuất cho nước ngoài, tập trung vào lĩnh vực xe máy và điện tử. Công nghiệp ôtô, dệt may, cơ khí đặt mục tiêu đến năm 2030 nội địa hóa 60 - 70%, song đến nay vẫn chủ yếu phải nhập linh kiện, nguyên ph ụ liệu từ nước ngoài, giá trị gia tăng thấp.”Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển CNHT vừa mở ra thời vận lớn nhưng cũng có nhiều thách thức. Vi ệt Nam”có thể thông qua thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với ngành CNHT, tiếp nh ận chuyển giao công nghệ của thế giới, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy sự trưởng thành của các doanh nghiệp, đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề. Theo các chuyên gia, ở các nước đang phát triển, tiến trình của CNHT thường trải qua 5 giai đoạn:” - S ản phẩm CNHT ít, để đáp ứng nhu cầu thay thế nhập khẩu; - Giai đoạn tiếp theo số lượng sản phẩm đã tăng lên, nhưng chất lượng sản phẩm không cao, chưa có khả năng cạnh tranh. -“Khối lượng sản phẩm CNHT ngày một tăng và đặc biệt đã xuất hiện những sản phẩm độc đáo, thoả mãn phần nào nhu cầu của các công nghiệp chính, nên lượng nhập khẩu bắt đầu giảm.” -“Sản xuất CNHT phát triển cao hơn với nhiều nhà sản xuất nên đã xuất hiện sự c ạnh tranh ngay trong nội địa, từ đó tạo ra động lực nâng cao chất lượng, hạ giá thành” - Năng lực của CNHT được phát triển, bắt đầu xuất khẩu nhập khẩu sản phẩm. 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ở năm 2008-2009. Giai đoạn này, sản xuất công nghiệp giảm tốc, chỉ s ố tồn kho tăng cao. Lạm phát, trước đây chỉ xoay quanh mức 8% một năm, đã tăng đột biến lên đến 20% năm 2008. Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào đầu tư vốn hơn là t ăng năng suất. Trong những năm 1990, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) chiếm kho ảng 44% trong tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam, nhưng tỷ trọng này đã giảm xuống còn 24% trong nửa đầu thập niên 2000. Trong khi đó sự đóng góp của vốn tăng từ 34% lên đến 53%. Mặc dù nền kinh tế hiện nay có sự chuyển biến theo hướng tích cực nhưng so với trước năm 2008, vẫn còn nhiều yếu kém. Sự suy giảm này một phần là do có sự biến động của một số ngành công nghiệp trong đó có ngành công nghiệp hỗ trợ.”Theo số liệu của Viện Chiến lược công nghiệp (B ộ Công thương), Việt Nam có khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ch ế tạo thì chỉ 200 doanh nghiệp đủ trình độ tham gia sản xuất cho nước ngoài, tập trung vào lĩnh vực xe máy và điện tử. Công nghiệp ôtô, dệt may, cơ khí đặt mục tiêu đến năm 2030 nội địa hóa 60 - 70%, song đến nay vẫn chủ yếu phải nhập linh kiện, nguyên ph ụ liệu từ nước ngoài, giá trị gia tăng thấp.”Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển CNHT vừa mở ra thời vận lớn nhưng cũng có nhiều thách thức. Vi ệt Nam”có thể thông qua thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với ngành CNHT, tiếp nh ận chuyển giao công nghệ của thế giới, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy sự trưởng thành của các doanh nghiệp, đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề. Theo các chuyên gia, ở các nước đang phát triển, tiến trình của CNHT thường trải qua 5 giai đoạn:” - S ản phẩm CNHT ít, để đáp ứng nhu cầu thay thế nhập khẩu; - Giai đoạn tiếp theo số lượng sản phẩm đã tăng lên, nhưng chất lượng sản phẩm không cao, chưa có khả năng cạnh tranh. -“Khối lượng sản phẩm CNHT ngày một tăng và đặc biệt đã xuất hiện những sản phẩm độc đáo, thoả mãn phần nào nhu cầu của các công nghiệp chính, nên lượng nhập khẩu bắt đầu giảm.” -“Sản xuất CNHT phát triển cao hơn với nhiều nhà sản xuất nên đã xuất hiện sự c ạnh tranh ngay trong nội địa, từ đó tạo ra động lực nâng cao chất lượng, hạ giá thành” - Năng lực của CNHT được phát triển, bắt đầu xuất khẩu nhập khẩu sản phẩm. đổi….Hiện nay, Tổng cục Thống kê cũng chưa xây dựng khái niệm, cơ sở phân chia s ản phẩm thuộc ngành CNHT, hệ thống chỉ tiêu, dữ liệu thống kê về lĩnh vực phát triển CNHT nhằm có đánh giá tổng quát về vị trí, vai trò và khả năng phát triển của ngành. Mặt khác, để CNHT Việt Nam phát triển bền vững cần xác định tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng nhằm có hệ thống giải pháp phù hợp đối với từng nhân tố. Để phát tri ển kinh tế cần chú trọng vào các ngành công nghiệp hỗ trợ, nhằm thu hút nguồn vốn FDI, gi ải quyết lao động việc làm trong dân cư, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hi ện đại hóa và tạo chuỗi giá trị gia tăng cao hơn, tránh được bẫy thu nhập trung bình hi ện Thái lan và Malaysia đang phải giải quyết. CNHT giúp tăng khả năng cạnh tranh s ản phẩm cho các công ty lắp ráp, nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia nhờ giảm tỷ lệ ph ụ thuộc linh phụ kiện từ nước ngoài. Tăng tính tự chủ trong sản xuất tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động về thời gian sản xuất, thời gian giao hàng… giảm nhập khẩu linh phụ kiện từ bên ngoài, góp phần cải thiện cán cân thương mại của quốc gia, tăng tỷ lệ nội địa hóa để tham gia các tổ chức thương mại quốc tế. Trên th ực tế hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá thực trạng và giải pháp để phát triển CNHT, tuy nhiên những công trình khoa học nghiên cứu trên giác độ thống kê v ề Công nghiệp hỗ trợ còn chưa có. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu thống kê tác động các nhân tố đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ - trường hợp tỉnh Bắc Ninh” cho hướng nghiên cứu của mình. Đó là vấn đề có tính lý luận, thực tiễn cao, mang tính thời sự và cấp thiết nhằm tìm ra giải pháp cho phát triển ngành công nghi ệp hỗ trợ hiện nay. Luận án đi sâu vào nghiên cứu trường hợp tỉnh Bắc Ninh bởi đây là một trong những tỉnh có ngành công nghiệp rất phát triển và có bước đột phá trong những năm gần đây, đặc biệt thu hút một lượng rất lớn nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Lu ận án đi theo hướng nghiên cứu một trường hợp điển hình nhằm tìm ra những bài h ọc kinh nghiệm cho sự phát triển CNHT chung của cả nước. Mặt khác, do khó khăn về dữ liệu CNHT của cả nước chưa được Tổng cục Thống kê công bố nên việc khảo sát, nghiên cứu trên phạm vi cả nước gặp nhiều khó khăn và không đảm bảo độ tin cậy cao của thông tin. Vì thế luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở tỉnh Bắc Ninh.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT v

DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG ANH v

DANH MỤC ĐỒ THỊ vi

DANH MỤC HÌNH viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Những đóng góp khoa học của luận án 5

6 Kết cấu của luận án 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 7

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 7

1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hỗ trợ 11

1.2.1 Các quan điểm về công nghiệp hỗ trợ 11

1.2.2 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ 19

1.2.3 Phân loại nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ 21

1.3 Khái niệm, vai trò của phát triển công nghiệp hỗ trợ 23

1.3.1 Khái niệm phát triển công nghiệp hỗ trợ 23

1.3.2 Vai trò phát triển công nghiệp hỗ trợ 26

1.4 Thống kê các nhân tố tác động đến sự phát triển công nghiệp hỗ trợ 28

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ BẮC NINH 35 2.1 Hệ thống chỉ tiêu thống kê sự phát triển công nghiệp hỗ trợ 35

2.1.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu 35

2.1.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê 36

2.2 Thực trạng và xu hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Bắc Ninh giai đoạn 2010-2016 44

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 54

Trang 3

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

HỖ TRỢ 55

3.1 Phương pháp nghiên cứu 55

3.1.1 Nghiên cứu định tính các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp hỗ trợ 55

3.1.2 Nghiên cứu định lượng sự tác động của các nhân tố đến sự phát triển công nghiệp hỗ trợ 65

3.2 Kết quả nghiên cứu từ tỉnh Bắc Ninh 76

3.2.1 Thống kê mô tả mẫu 76

3.2.2 Đặc điểm yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra của mẫu 77

3.2.3 Kết quả kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 78

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 101

CHƯƠNG 4 KIẾN NGHỊ 102

4.1 Kiến nghị từ kết quả nghiên cứu 102

4.1.1 Đối với cơ quan quản lý 102

4.1.2 Đối với doanh nghiệp 105

4.2 Kiến nghị với công tác thống kê hiện nay 110

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 113

KẾT LUẬN 114

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 117

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 127

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT STT Từ viết tắt Diễn giải tiếng việt

3 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

6 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

8 KPCĐ Kinh phí công đoàn

9 TCSĐ Tài sản cố định

DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG ANH

1 AFTA ASEAN Free Trade Area

2 FDI Foreign Direct Investment

3 GDP Gross Domestic Product

4 JETRO Japan External Trade Organization

5 MNCs Multinational Corporation

6 ODA Official Development Assistance

7 PCI Provincial Competitiveness Index

8 TFP Total Factor Productivity

9 UNIDO United Nations Industrial Development Organization

10 VCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry

11 VDF Vietnam Developmenr Forum

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Chỉ số giá tiêu dùng (theo giá so sánh 2010) tỉnh Bắc Ninh giai đoạn

2010-2016 38Bảng 2.2: Số lượng DN CNHT phân theo nhóm ngành và theo loại hình doanh nghiệp

của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2016 45Bảng 2.3: Cơ cấu số lượng DN CNHT phân theo nhóm ngành của tỉnh Bắc Ninh giai

đoạn 2010-2016 47Bảng 2.4: Giá trị tăng thêm (theo giá so sánh 2010) ngành CNHT Bắc Ninh giai đoạn

2010-2016 48Bảng 2.5: Tốc độ tăng liên hoàn của giá trị tăng thêm và giá trị sản xuất ngành CNHT

tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2016 49Bảng 2.6: Hiệu suất sử dụng vốn của ngành CNHT tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2016

51Bảng 2.7: Năng suất lao động (khả năng nguồn lực) của ngành CNHT tỉnh Bắc Ninh

giai đoạn 2010-2015 51Bảng 2.8: Thu nhập bình quân người lao động trong ngành CNHT Bắc Ninh giai đoạn

2010-2016 52Bảng 3.1: Tần suất xuất hiện các ý tưởng, các từ khóa liên quan về sự phát triển CNHT

57Bảng 3.2: Tần suất xuất hiện các ý tưởng, các từ khóa liên quan về yếu tố nguồn nhân

lực chất lượng cao 59Bảng 3.3: Tần suất xuất hiện các ý tưởng, các từ khóa liên quan về nhân tố môi trường

chính sách 60Bảng 3.4: Tần suất xuất hiện các ý tưởng, các từ khóa liên quan về nhân tố chính sách

thuế 60Bảng 3.5: Tần suất xuất hiện các ý tưởng, các từ khóa liên quan về nhân tố dung lượng

thị trường 61Bảng 3.6: Tần suất xuất hiện các ý tưởng, các từ khóa liên quan về yếu tố thông tin 62Bảng 3.7: Tần suất xuất hiện các ý tưởng, các từ khóa liên quan về nhân tố trách nhiệm

bảo vệ môi trường 63Bảng 3.8: Cơ cấu, số lượng doanh nghiệp CNHT tổng thể mẫu và tổng thể chung năm

2016 76Bảng 3.9: Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp CNHT 77Bảng 3.10: Tỷ trọng các nguồn nguyên liệu đầu vào của các doanh nghiệp 77Bảng 3.11: Trình độ lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp CNHT trong mẫu

tính đến thời điểm 31/12/2016 78

Trang 6

Bảng 3.12: Kết quả đánh giá độ tin cây của các nhân tố trên 79

Bảng 3.13: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến KNLD 82

Bảng 3.14: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến TDLD 82

Bảng 3.15: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến MTCS 83

Bảng 3.16: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến CST 83

Bảng 3.17: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến DLTT 84

Bảng 3.18: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến TT 84

Bảng 3.19: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến TNBVMT 85

Bảng 3.20: Kết quả phân tích nhân tố khám phá của biến PTCNHT 85

Bảng 3.21: Kết quả phân tích nhân tố khám phá đồng thời các biến 86

Bảng 3.22 Bảng phân tích kết quả rút trích nhân tố 87

Bảng 3.23: Kết quả ước lượng hồi quy giữa các biến quan sát trong từng biến tiềm ẩn 90 Bảng 3.24: Kết quả chạy hồi quy mô hình lần 1 91

Bảng 3.25: Tổng hợp kết quả chỉ số PCI Bắc Ninh giai đoạn 2007-2017 94

Bảng 3.26: Thống kê mô tả 97

Bảng 3.27: Ma trận tương quan trong nội bộ các nhóm 99

Bảng 3.28: Xem xét khả năng khác biệt của các biệt số đến các nhóm 99

Bảng 3.29: Xem xét các biệt số trong mô hình 100

Bảng 4.1: Một số thông tin trong hệ thống cơ sở dữ liệu cần cung cấp trên trang web cho các doanh nghiệp 111

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Tăng tích tụ và tính cạnh tranh trong công nghiệp sản xuất linh kiện 8

Hình 1.2 Công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp riêng biệt 12

Hình 1.3 Công nghiệp hỗ trợ dùng chung 13

Hình 1.4: Các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ 17

Hình 1.5: Mô hình nghiên cứu sơ bộ 31

Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu chính thức 64

Hình 3.2: Giảm chi phí đơn vị trong CNHT 66

Hình 3.3: Kết quả phân tích CFA (mô hình đo lường) 89

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến động kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ở năm 2008-2009 Giai đoạn này, sản xuất công nghiệp giảm tốc, chỉ

số tồn kho tăng cao Lạm phát, trước đây chỉ xoay quanh mức 8% một năm, đã tăng đột biến lên đến 20% năm 2008 Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào đầu tư vốn hơn là tăng năng suất Trong những năm 1990, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) chiếm khoảng 44% trong tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam, nhưng tỷ trọng này đã giảm xuống còn 24% trong nửa đầu thập niên 2000 Trong khi đó sự đóng góp của vốn tăng từ 34% lên đến 53% Mặc dù nền kinh tế hiện nay có sự chuyển biến theo hướng tích cực nhưng so với trước năm 2008, vẫn còn nhiều yếu kém Sự suy giảm này một phần là do có sự biến động của một số ngành công nghiệp trong đó có ngành công nghiệp hỗ trợ.”Theo số liệu của Viện Chiến lược công nghiệp (Bộ Công thương), Việt Nam có khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế tạo thì chỉ 200 doanh nghiệp đủ trình độ tham gia sản xuất cho nước ngoài, tập trung vào lĩnh vực xe máy và điện tử Công nghiệp ôtô, dệt may, cơ khí đặt mục tiêu đến năm 2030 nội địa hóa 60 - 70%, song đến nay vẫn chủ yếu phải nhập linh kiện, nguyên phụ liệu từ nước ngoài, giá trị gia tăng thấp.”Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc phát triển CNHT vừa mở ra thời vận lớn nhưng cũng có nhiều thách thức Việt Nam”có thể thông qua thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với ngành CNHT, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của thế giới, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, thúc đẩy sự trưởng thành của các doanh nghiệp, đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề Theo các chuyên gia, ở các nước đang phát triển, tiến trình của CNHT thường trải qua 5 giai đoạn:”

- Sản phẩm CNHT ít, để đáp ứng nhu cầu thay thế nhập khẩu;

- Giai đoạn tiếp theo số lượng sản phẩm đã tăng lên, nhưng chất lượng sản phẩm không cao, chưa có khả năng cạnh tranh

-“Khối lượng sản phẩm CNHT ngày một tăng và đặc biệt đã xuất hiện những sản phẩm độc đáo, thoả mãn phần nào nhu cầu của các công nghiệp chính, nên lượng nhập khẩu bắt đầu giảm.”

-“Sản xuất CNHT phát triển cao hơn với nhiều nhà sản xuất nên đã xuất hiện sự cạnh tranh ngay trong nội địa, từ đó tạo ra động lực nâng cao chất lượng, hạ giá thành”

- Năng lực của CNHT được phát triển, bắt đầu xuất khẩu nhập khẩu sản phẩm

Trang 9

“Thực tế khó tách bạch từng giai đoạn, vì giữa các giai đoạn đều làm tiền đề và

kế thừa lẫn nhau Sự ngắn dài của mỗi giai đoạn tuỳ thuộc vào sự phát triển của chính kinh tế nước đó cộng với sự hỗ trợ của các nền kinh tế phát triển Đối chiếu với 5 phân

kỳ trên đây, CNHT của ta mới ở giai đoạn 2, được biểu hiện một phần qua tỷ lệ phụ tùng nội địa sản xuất cung ứng cho công nghiệp chính,”gọi tắt là “tỷ lệ nội địa hoá”

“Số liệu thống kê của Bộ Công Thương, hiện nay nước ta có nhiều ngành kinh tế - kỹ thuật cần đến công nghiệp hỗ trợ (CNHT).”Trong đó,”nhiều ngành sản xuất hàng xuất khẩu mang lại kim ngạch hàng chục tỷ USD mỗi năm nhưng đang phải nhập khẩu tới

80 - 85% nguyên liệu Tỷ lệ giá trị gia tăng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong cơ cấu sản phẩm như: sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy, dệt may, da giày Đối với ngành chế tạo, lắp ráp ô tô, xe máy, cả nước có khoảng 200 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng, nhưng phần lớn các linh kiện, phụ tùng đó là các sản phẩm đơn giản, hàm lượng công nghệ thấp.”Các chi tiết, linh phụ kiện quan trọng như động cơ, hộp số, cụm chuyển động phải nhập khẩu 100%.”Ngành CNHT lệ thuộc gần 80% vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Rất nhiều lĩnh vực công nghiệp đặt ra mục tiêu, kế hoạch nâng cao tỷ lệ nội địa hóa cùng với đó là các chính sách ưu đãi được triển khai mạnh mẽ nhưng hầu như chưa có lĩnh vực nào đạt kết quả như mong muốn Vậy nguyên nhân nào làm cho ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước lại kém phát triển, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu của các nước khác trên thế giới?”

Hiện tại, phần lớn các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng cho các công ty nước ngoài là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).”Khoảng cách về tiêu chuẩn chất lượng giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước còn khá lớn.”Khả năng đáp ứng về yêu cầu chất lượng của phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước còn kém.”Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước trong ngành CNHT vẫn duy trì phong cách làm ăn tự cung tự cấp; thiếu liên kết để tham gia thầu phụ công nghiệp Nhiều doanh nghiệp lắp ráp mong muốn tìm được nhà cung cấp đáp ứng được tiêu chuẩn nhưng thông tin, dữ liệu về các doanh nghiệp CNHT”gần như là không có.”Có những doanh nghiệp lắp ráp chỉ có thể tìm một số thông tin qua danh bạ điện thoại hoặc địa chỉ trang web vàng, tuy nhiên đây cũng chỉ là những thông tin về tên, địa chỉ,

số điện thoại, mã số thuế của các doanh nghiệp Cái mà doanh nghiệp lắp ráp cần là số liệu thống kê minh chứng cho”năng lực sản xuất của các doanh nghiệp hỗ trợ thì lại không có.”Khó khăn lớn nhất là thông tin về thực trang CNHT ở Việt Nam hiện nay, năng lực sản xuất, khả năng đáp ứng nhu cầu của”sản phẩm hỗ trợ, thông tin trao

Trang 10

đổi….Hiện nay, Tổng cục Thống kê cũng chưa xây dựng khái niệm, cơ sở phân chia sản phẩm thuộc ngành CNHT, hệ thống chỉ tiêu, dữ liệu thống kê về lĩnh vực phát triển CNHT nhằm có đánh giá tổng quát về vị trí, vai trò và khả năng phát triển của ngành Mặt khác, để CNHT Việt Nam phát triển bền vững cần xác định tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng nhằm có hệ thống giải pháp phù hợp đối với từng nhân tố Để phát triển kinh tế cần chú trọng vào các ngành công nghiệp hỗ trợ, nhằm thu hút nguồn vốn FDI, giải quyết lao động việc làm trong dân cư, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tạo chuỗi giá trị gia tăng cao hơn, tránh được bẫy thu nhập trung bình hiện Thái lan và Malaysia đang phải giải quyết CNHT giúp tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm cho các công ty lắp ráp, nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia nhờ giảm tỷ lệ phụ thuộc linh phụ kiện từ nước ngoài Tăng tính tự chủ trong sản xuất tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động về thời gian sản xuất, thời gian giao hàng… giảm nhập khẩu linh phụ kiện từ bên ngoài, góp phần cải thiện cán cân thương mại của quốc gia, tăng tỷ lệ nội địa hóa để tham gia các tổ chức thương mại quốc tế

Trên thực tế hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đánh giá thực trạng và giải pháp để phát triển CNHT, tuy nhiên những công trình khoa học nghiên cứu trên giác độ thống kê

về Công nghiệp hỗ trợ còn chưa có Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tác giả chọn đề

tài: “Nghiên cứu thống kê tác động các nhân tố đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ - trường hợp tỉnh Bắc Ninh” cho hướng nghiên cứu của mình Đó là vấn đề có tính lý

luận, thực tiễn cao, mang tính thời sự và cấp thiết nhằm tìm ra giải pháp cho phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ hiện nay Luận án đi sâu vào nghiên cứu trường hợp tỉnh Bắc Ninh bởi đây là một trong những tỉnh có ngành công nghiệp rất phát triển và có bước đột phá trong những năm gần đây, đặc biệt thu hút một lượng rất lớn nguồn vốn đầu tư nước ngoài Luận án đi theo hướng nghiên cứu một trường hợp điển hình nhằm tìm ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển CNHT chung của cả nước Mặt khác, do khó khăn

về dữ liệu CNHT của cả nước chưa được Tổng cục Thống kê công bố nên việc khảo sát, nghiên cứu trên phạm vi cả nước gặp nhiều khó khăn và không đảm bảo độ tin cậy cao của thông tin Vì thế luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở tỉnh Bắc Ninh

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về CNHT, phân loại nhóm ngành

CNHT, xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển và xác định các nhân tố tác động đến sự phát triển CNHT

Trang 11

-Đánh giá tác động các nhân tố đến sự phát triển CNHT và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình CNHT hiện nay của Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngành CNHT và sự tác động của các nhân

tố tới sự phát triển CNHT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu các vấn đề sau:

- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT – Trường hợp tỉnh Bắc Ninh

- Đối tượng thu thập thông tin là từ người chủ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNHT

4 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm thực hiện tốt mục tiêu nghiên cứu, trả lời các câu hỏi nghiên cứu, luận án tiến hành sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây của các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến lĩnh vực CNHT nhằm xem xét vấn đề này đã được nghiên cứu

ở những khía cạnh nào, sử dụng phương pháp như thế nào và kết quả chính thu được là gì…Trong mỗi nghiên cứu liên quan, tác giả đi sâu tìm hiểu nội dung như: các trường phái lý thuyết, phương pháp và kết quả nghiên cứu cũng như những hạn chế của các nghiên cứu trước Kết quả tạo cơ sở vững chắc cho đề tài làm rõ các khái nhiệm sự phát triển CNHT, tìm ra các nhân tố có tác động đến sự phát triển CNHT Từ đó tác giả hình thành mô hình nghiên cứu sơ bộ

Nghiên cứu định tính: Dựa trên mô hình nghiên cứu sơ bộ được đề xuất từ trên, tác giả thực hiện nghiên cứu định tính thông qua phương pháp chuyên gia nhằm đánh giá trong điều kiện hoàn cảnh thực tế của địa bàn nghiên cứu, các nhân tố nào phù hợp với mô hình

Nghiên cứu định lượng: Sử dụng phương pháp điều tra trong thống kê thông qua bảng hỏi nhằm thu thập dữ liệu với quy mô mẫu lớn để kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề xuất, tìm ra mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố đến kết quả phát triển CNHT của tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua

Trang 12

5 Những đóng góp khoa học của luận án

- Về mặt lý luận:

Xác định khái niệm phát triển CNHT; dựa vào hệ thống phân ngành sản phẩm kinh tế quốc dân, luận án phân loại nhóm ngành Đồng thời xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cho sự phát triển ngành CNHT

Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu, luận án đã phân tích thực trạng ngành CNHT tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2016, thấy được sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp tỉnh trong những năm gần đây Tác giả tiến hành nghiên cứu định tính nhằm tham khảo ý kiến chuyên gia về sự tác động của các nhân tố đến sự phát triển của ngành

Điểm mới của luận án là xác định các nhân tố bằng nghiên cứu thực nghiệm, đề xuất thang đo đưa vào mô hình để đánh giá sự ảnh hưởng của nó đến phát triển CNHT Đồng thời đưa ra các nhân tố tạo nên sự khác biệt trong phát triển CNHT giữa các

nhóm ngành bằng mô hình hàm phân biệt bội số Bao gồm hệ thống các nhân tố: Dung

lượng thị trường (DLTT); Nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao (kỹ năng của người lao động); Môi trường chính sách (MTCS); Thông tin cần thiết (TT); Chính sách thuế (CST); Trách nhiệm bảo vệ môi trường (TNBVMT)

- Những đề xuất rút ra từ kết quả nghiên cứu:

Đối với những nhân tố tích cực: Cần đào tạo, nâng cao kỹ năng người lao động, nhà quản lý, tổ chức sản xuất, các doanh nghiệp đã hoạt động lâu năm có thể trao đổi kinh nghiệm đối với những doanh nghiệp mới tham gia.”Xây dựng hệ thống thông tin giữa các doanh nghiệp CNHT và doanh nghiệp lắp ráp Môi trường chính sách cần xây dựng dựa trên đặc điểm chung và đặc điểm riêng của từng ngành cụ thể Khi dung lượng thị trường lớn thì CNHT phát triển mạnh Đặc biệt, các doanh nghiệp càng tăng cường vào đầu tư hệ thống trang thiết bị, máy móc nhằm bảo vệ môi trường thì càng tạo điều kiện cho ngành CNHT phát triển mạnh theo hướng bền vững.”

“Trong hoạt động của ngành Thống kê, cần có số liệu và báo cáo cụ thể từng năm về thực trạng và xu hướng phát triển CNHT của Việt Nam nhằm giúp chính phủ,

cơ quan ban ngành có sự điều chỉnh phù hợp với mục tiêu phát triển Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu trên các trang web theo các chỉ tiêu cần để các doanh nghiệp lắp ráp và chế biến có thể dễ dàng lựa chọn được”sản phẩm CNHT phù hợp

6 Kết cấu của luận án

Tên luận án: “Nghiên cứu thống kê tác động các nhân tố đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ- trường hợp tỉnh Bắc Ninh”

Trang 13

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được chia làm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về sự phát triển công nghiệp hỗ trợ

Chương 2: Hệ thống chỉ tiêu thống kê sự phát triển công nghiệp hỗ trợ và thực trạng

công nghiệp hỗ trợ Bắc Ninh

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu tác động của các nhân tố

đến sự phát triển công nghiệp hỗ trợ

Chương 4: Kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu

CNHT đang dần trở nên quan trọng trong ngành công nghiệp nói riêng và hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung Đây là một trong những ngành tạo cơ sở cho

sự phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài,”nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”trong các khu vực và trên trường quốc tế.”Hiện nay,

đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, mỗi công trình tiếp cận theo những giác độ nhất định, là những cơ sở, tiền đề quan trọng để tác giả kế thừa, phát triển nhằm hoàn thành những mục tiêu nghiên cứu của luận án.”

* Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp định tính

Một số nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp chuyên gia nhằm đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế trong phát triển CNHT của các quốc gia đi trước từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, giải pháp cho các quốc gia đi sau phát triển CNHT Điển hình trong số đó là: (Asian productivity organization APO, 2002) tập trung vào một số giải pháp chính như:”Thu hút FDI vào phát triển CNHT, quy định tỷ lệ nội địa hóa hoặc nâng cao hiệu quả chi phí từ phía chính phủ dành cho liên kết doanh nghiệp được coi là điều kiện tiên quyết phát triển CNHT;”(JBIC,2004); (cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản,1995): chỉ ra các giải pháp của các chi nhánh”tập đoàn Nhật Bản ở Châu Á đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sử dụng hệ thống thầu phụ được hình thành từ vai trò trợ giúp mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện có vốn đầu tư tại Nhật Bản;”nghiên cứu của (Abell Peter,1990); (Anderdon,1999) đưa ra một số kinh nghiệm phát triển cho CNHT đối ở các nước đang phát triển; (Kenichi Ohno & Nguyễn Văn Thường, 2011) đã phân tích, đánh giá những thành tựu đạt được và những hạn chế trong phát triển CNHT của hai quốc gia Malaysia và Thái Lan, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các quốc gia đi sau; (Nguyễn Kế Tuấn, 2004)”đã đề cập tổng quát: Khái niệm, vai trò, các nhân tố tác động đến phát triển CNHT, đề xuất một số chính sách chủ yếu và phát triển CNHT, đặc biệt

là quan điểm để lựa chọn xây dựng chính sách phát triển cho Việt Nam;”(Kenichi Ohno, 2007); (Kenichi Ohno và Nguyễn Văn Thường, 2005) cho rằng, năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp được quyết định 05 yếu tố (dung lượng thị trường, nguồn nhân lực công nghiệp, môi trường chính sách, chính sách thuế, khoảng cách thông tin

và nhận thức), được thể hiện ở mô hình sau:

Trang 15

Hình 1.1: Tăng tích tụ và tính cạnh tranh trong công nghiệp sản xuất linh kiện

Nguồn: Kenichi Ohno, 2007

Nghiên cứu cho rằng quy mô thị trường, nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao, chính sách thuế và thuế quan hấp dẫn, môi trường chính sách ổn định, và thu hẹp khoảng cách về nhận thức và thông tin giữa các nhà sản xuất nước ngoài và nhà cung cấp Việt Nam là những nhân tố quyết định đến sự phát triển CNHT Ngoài 05 yếu tố cốt lõi trên, còn có hai nhân tố khác cũng có sự tác động là các tiêu chuẩn công nghiệp và tiêu chuẩn an toàn Nghiên cứu khẳng định đây là những vấn đề quan trọng giúp CNHT đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế và đảm bảo hoạt động hiệu quả

Ngoài ra, một số nghiên cứu, báo cáo trên thế giới có liên quan đến phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) của CNHT khác như: (Lipovatz Daphne & cộng sự,2000) nghiên cứu về chính sách và cơ chế thúc đẩy công nghiệp ở Thái Lan II – Chính sách CNHT với trọng tâm là công nghiệp linh phụ kiện nhựa hạ nguồn và công nghiệp khuôn mẫu; (Rantana E,1999) nghiên cứu vai trò CNHT vừa và nhỏ ở Nhật Bản và Thái Lan; (Rendon R,2000) với nghiên cứu tổng quan về thầu phụ công nghiệp

và trao đổi đối tác; (Subrahmanya&M.H Bala,2006) với nghiên cứu về doanh nghiệp chế tạo vừa và nhỏ ở Nhật Bản: Thầu phụ, cơ cấu và hoạt động (Suzuky.S, 2006) nghiên cứu Hàn Quốc, thúc đẩy công nghiệp linh phụ kiện và nguyên liệu; …

Các nghiên cứu khẳng định lợi thế cạnh tranh của quốc gia là chuỗi giá trị và cụm công nghiệp: (Michael Porter,1990); (Jones R.W & Kierzkowski.H,2005); (Briger,1984); (Dunning John,1977); (Eiamkanitchat,1999); (Elaine Mosakowski & cộng sự,1997); (Ernst Dieter,2000) cho rằng,”sự tồn tại của các ngành CNHT quyết định khả năng canh tranh quốc gia và tạo ra những lợi thế cho các ngành công nghiệp

Trang 16

sử dụng đầu ra theo các cách khác nhau.”Cần tiếp cận được các yếu tố đầu vào sinh lời hiệu quả nhanh và sớm, có sự ưu đãi; tạo ra lợi thế phối hợp liên tục: liên kết giữa các công ty trong chuỗi giá trị và các nhà cung cấp của họ Đây là mối quan hệ công việc tương tác, gần gũi giữa các nhà cung cấp hàng phụ trợ và nhà sản xuất (tức là nhà cung cấp CNHT giúp nhà lắp ráp nắm được phương pháp, cơ hội áp dụng công nghệ mới, ý tưởng, kiến thức mới và những sáng chế tạo ra sản phẩm đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu thị trường sớm nhất)…

Bên cạnh đó, còn một số nghiên cứu trong nước đưa ra những cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng, đề ra một số giải pháp, cải thiện cơ chế chính sách nhằm phát triển CNHT của (Đại học Ngoại thương,2010); (Phan Đăng Tuất, 2007,2008); (Lê Thế Giới,2014), (Hoàng Văn Châu, 2010)… Trên cơ sở giới thiệu những khái niệm, bản chất, đặc điểm, hệ thống lý luận và hệ thống chính sách về CNHT, các tác giả đề xuất giải pháp về chính sách kinh tế vĩ mô và thị trường nhằm thúc đẩy phát triển CNHT ở Việt Nam hiện nay

Hạn chế của các nghiên cứu định tính là khái niệm CNHT chưa được rõ ràng Một thực tế rằng có sự giao thoa giữa ngành CNHT và ngành công nghiệp lắp rắp, đây

là vấn đề khó khăn để có thể xác định cụ thể hai nhóm ngành này, bởi chúng có mối liên hệ qua lại Do đó, cần xây dựng cơ sở phân ngành CNHT bao gồm những nguyên tắc nhất định nhằm xác định cụ thể ngành này Đồng thời, để đánh giá thực trạng cũng cần một hệ thống chỉ tiêu đảm bảo thống nhất phương pháp tính, phạm vi, nguồn số liệu và các phân tổ chủ yếu Đây là những chỉ tiêu phản ánh quy mô, năng lực cạnh tranh của ngành CNHT, giúp nhà quản lý hoạch định chính sách sát với thực tế

*Các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp định lượng

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả đánh giá thực trạng và đưa ra một số cơ sở lý luận về các nhân tố tác động đến phát triển CNHT của các tác giả: (GS.Nguyễn Kế Tuấn,2014); (Trần Đình Thiên,2012); (Nguyễn Thị Huế,2013); (Hà Thị Lan Hương,2014); (Nguyễn Thị Dung Huệ,2013); (Đỗ Minh Thụy,2013); (Trương Thị Chí Bình, 2010) đã đưa ra một số lý do mà CNHT chưa phát triển như: “khái niệm CNHT quá rộng, chính phủ chưa quan tâm, chưa thu hút được đầu tư nước ngoài,

bỏ qua quy định tỷ lệ nội địa hóa và năng lực của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém” Từ đó tác giả đưa ra hệ thống giải pháp cho sự phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam Hạn chế của nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu dựa trên phương pháp chuyên gia, số liệu chưa đủ sức thuyết phục, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT chưa rõ ràng, chưa đưa ra bằng chứng thực nghiệm để chứng minh sự tác động mạnh, yếu của các nhân tố

Trang 17

Nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố: (Lưu Tiến Dũng & cộng sự,2014) đưa ra các nhân tố như: nguồn nhân lực chất lượng cao; khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp hỗ trợ; chính sách ưu đãi về thuế và thuế; sự ổn định của môi trường chính sách; quy mô cầu; và sự bất cân xứng về thông tin cung cầu; ba yếu tố tác động gián tiếp bao gồm chất lượng, chi phí và khả năng cung cấp Bằng phương pháp thảo luận, lấy ý kiến chuyên gia, nhóm tác giả đưa ra bộ thang đo trong mô hình nghiên cứu gồm 35 biến quan sát được đo bằng thang đo Likert Kết quả nghiên cứu cho thấy, so với kỳ vọng ban đầu các mối quan hệ đều được chấp nhận Nhân tố nguồn nhân lực công nghiệp chất lượng cao là tác động mạnh nhất, tiếp đến là khả năng cạnh tranh, tác động yếu nhất là sự bất cân xứng về thông tin cung cầu, từ đó tác giả đưa ra hệ thống giải pháp phù hợp cho sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ trong ngành cơ khi (Nhâm Phong Tuân & Nguyễn Thị Tuyết,2012) đưa ra hai nhân tố: Nguồn lực của doanh nghiệp và khả năng tổ chức công nghiệp ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất công nghiệp hỗ trợ Nhóm tác giả dựa trên cơ sở lý thuyết của Barney, Newbert, M.Porter; bằng phương pháp điều tra, khảo sát, tác giả thu thập dữ liệu của 250 doanh nghiệp trong đó có 102 phiếu trả lời của các doanh nghiệp là hợp lệ, với hệ thống thang đo Likert cho các biến nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy: Khả năng tổ chức của doanh nghiệp có tác động đến lợi thế cạnh tranh của mình và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất công nghiệp hỗ trợ Tuy nhiên nguồn lực của doanh nghiệp có tác động mạnh hơn so với khả năng tổ chức Điểm mới của nghiên cứu là đưa ra bằng chứng thực nghiệm về sự khác nhau giữa khái niệm lợi thế cạnh tranh và hiệu quả sản xuất công nghiệp; khẳng định nguồn lực của doanh nghiệp (Phạm Văn Hùng, 2014)

đã sử dụng dữ liệu thứ cấp dựa trên tham khảo các tài liệu sách, báo, trang web, Tổng Cục Thống Kê, Bộ Xây Dựng và các công trình nghiên cứu có liên quan; dữ liệu sơ cấp dựa trên điều tra khảo sát lấy ý kiến đánh giá của các cán bộ lãnh đạo tại 350 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, tư vấn thiết kế trong 3 miên Bắc, Trung, Nam, số phiếu thu về hợp lệ 300 phiếu Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu: Phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp hồi quy Kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tác động của các yếu tố lao động, vốn đầu tư trong xây dựng có xu hướng giảm dần Về cấp độ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp CNHT ngành xây dựng dân dụng, theo doanh nghiệp đánh giá các cấp độ tăng lên chủ yếu cấp độ 3,4,5 (bao gồm: giai đoạn gia công + lắp ráp + chế tạo + Thiết kế), theo cán bộ lãnh đạo trong ngành xây dựng dân dụng đánh giá thì cấp độ KHCN chủ yếu ở cấp độ 1,2,3 (bao gồm gia công thô + gia công chính + lắp ráp một phần); bằng phương pháp hồi quy, tác giả đưa ra mô hình hồi quy, trong

Trang 18

đó tác giả khẳng định sự phát triển bền vững ngành công nghiệp hỗ trợ xây dựng dân dụng chịu tác động lớn của mức vốn đầu tư và khoa học công nghệ, các yếu tố điều kiện tự nhiên, quan hệ liên kết có tác động thấp nhất Hạn chế của nghiên cưu: Chưa làm rõ cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững công nghiệp hỗ trợ trong ngành xây dựng dân dụng, có sự nhầm lẫn giữa sự phát triển và phát triển bền vững trong CNHT Trong quá trình sử dụng các phương pháp nghiên cứu, chưa khai thác và đánh giá hết các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững CNHT, chưa có sự so sánh cụ thể giữa các nhân tố, chưa đánh giá hàm hồi quy đưa ra có phù hợp hay không…

Tổng quan từ một số nghiên cứu trên, một khoảng trống được luận án xác định

là xây dựng khái niệm, cơ sở phân chia sản phẩm thuộc ngành CNHT, hệ thống chỉ tiêu, dữ liệu thống kê về lĩnh vực phát triển CNHT nhằm có đánh giá tổng quát về vị trí, vai trò và khả năng phát triển của ngành Mặt khác, để CNHT Việt Nam phát triển bền vững cần xác định rõ sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, nhằm có hệ thống giải pháp phù hợp đối với từng nhân tố trong quá trình hoạch định chính sách của cơ quan quản lý

1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hỗ trợ

1.2.1 Các quan điểm về công nghiệp hỗ trợ

1.2.1.1 Công nghiệp hỗ trợ nhìn từ cấu trúc ngành

“Ngành công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội” (Nguyễn Đình Phan & Nguyễn Kế Tuấn,2014) Theo quan điểm đó, ngành công nghiệp bao gồm 3 loại hoạt động chính: Hoạt động khai thác tài nguyên, hoạt động chế biến sản phẩm và dịch vụ sửa chữa các sản phẩm công nghiệp Ba loại hoạt động này có mối quan hệ tác động qua lại, không thể tách rời Bởi vì, sản xuất công nghiệp thường diễn ra theo một quá trình dài, với nhiều công đoạn, với sự góp mặt của nhiều nhà sản xuất Trong quá trình này, sản phẩm của nhà sản xuất ở công đoạn trước là đầu vào của quá trình sản xuất công đoạn sau Tùy theo từng ngành nghề, theo đặc điểm sản phẩm, theo mức độ phân công lao động trong ngành hay quyết định của các nhà sản xuất mà quá trình sản xuất có thể diễn ra dài ngắn khác nhau

Nếu đứng trên góc độ người sản xuất sản phẩm cuối cùng, trong hệ thống sản xuất công nghiệp tồn tại những doanh nghiệp, những hoạt động sản xuất nhằm cung cấp linh kiện, dịch vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ (supporting industry) xuất hiện dựa trên cách nhìn này Tuy vậy khái niệm về công nghiệp hỗ trợ còn khá mơ hồ và không nhất quán

Trang 19

Xét trên nghĩa tổng quát nhất, (Mori J,2005); (Ngô Đức Anh,2007) cho rằng

“Công nghiệp hỗ trợ là thuật ngữ chỉ một hệ thống sản xuất, cung cấp những yếu tố

đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng” Một sản phẩm là một chiếc xe hơi, nếu kể ngược lại quá trình sản xuất thì điểm bắt đầu sẽ là các công nghiệp khai khoáng (như khai thác dầu, quặng thép), công nghiệp tổng hợp, chế biến các nguyên liệu sắt, nhựa, cao su …, công nghiệp chế biến các linh kiện cho tới khi thành các khối linh kiện được lắp thành tổng thành của xe Trong sản xuất hiện đại ngày nay, hầu hết các công đoạn sản xuất các vật liệu, linh kiện được thực hiện bên ngoài nhà máy của nhà lắp ráp cuối cùng Tất cả hệ thống này tạo nên ngành công nghiệp hỗ trợ

Hình 1.2 Công nghiệp hỗ trợ cho các ngành công nghiệp riêng biệt

Nguồn: Ngô Đức Anh, 2008

Lê Thế Giới (2014) khẳng định “ Ngành công nghiệp hỗ trợ bao gồm một nhóm các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công nghiệp, cung cấp các yếu tố đầu vào trung gian (linh kiện, phụ tùng, công cụ, nguyên vật liệu đã qua chế biến, dịch vụ sản xuất) cho các ngành công nghiệp lắp ráp, chế tạo

và chế biến” Đây là khái niệm có phạm vi rộng bao gồm cả sản xuất linh kiện, phụ tùng, công cụ và các hoạt động cung ứng nguyên liệu đã qua chế biến, các hoạt động dịch vụ liên quan Những doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp hỗ trợ bao gồm chủ

Trang 20

yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có sự phân biệt về hình thức sở hữu, doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp nước ngoài

Ở một phạm vi nhỏ hơn, khi xem xét công nghiệp hỗ trợ, người ta hay đề cập

tới công nghiệp hỗ trợ cho một ngành cụ thể Khi xem xét sự phát triển của hệ thống

các nhà cung cấp hỗ trợ, một xu hướng dễ dàng nhận ra là một nhà cung cấp có thể sản xuất và cung cấp linh kiện cho khách hàng ở nhiều ngành sản xuất khác nhau Ví dụ như một nhà sản xuất thép có thể cung ứng sản phẩm của mình cho ngành đóng tầu, sản xuất ô tô, xe máy hay thậm chí là điện tử Nói cách khác, có một sự giao thoa giữa các ngành sản xuất khác nhau trong việc sử dụng hệ thống cung cấp hỗ trợ Việc này gợi ý tới một phạm vi, một cách hiểu khác đối với công nghiệp hỗ trợ (Nguyễn Đức Hải,2005); (K.Ohno và J.Mori, 2005); (Nham Phong Tuan & Takahashi,2009a) khẳng định rằng đó là”tập hợp những doanh nghiệp, không kể phục vụ cho ngành sản xuất ra sản phẩm cụ thể nào, sản xuất và cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho những nhà sản xuất.”Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ dần được hình thành theo cách tiếp cận này nhằm khẳng định vai trò của một hệ thống”các doanh nghiệp chuyên môn hóa theo một số công nghệ và quá trình sản xuất, bán sản phẩm cho những nhà sản xuất khác để sản xuất ra một loại sản phẩm cụ thể nào.”

Hình 1.3 Công nghiệp hỗ trợ dùng chung

Nguồn: K.Ohno và J.Mori, 2005

Tiếp tục mở rộng khái niệm này về công nghiệp hỗ trợ, (Nguyễn Thị Xuân Thúy, 2007) chỉ ra các thành phần của công nghiệp hỗ trợ không chỉ giới hạn trong

thông tin

Đóng tầu

Sự phát triển và sẵn sàng của các ngành công nghiệp cơ bản: nguyên liệu thô

Nhu cầu của những nhà lắp ráp Linh kiện nhựa, Linh kiện sắt, Công cụ cơ khí … Các ngành công nghiệp hỗ trợ dùng chung (ép nhựa, cắt kim loại,

cao su, gia công nhiệt, rèn, đúc, rập …)

Trang 21

sản xuất mà mở rộng các hoạt động dịch vụ tham gia vào chuỗi giá trị như bảo hiểm, giao nhận… Các doanh nghiệp và hoạt động tham gia vào công nghiệp hỗ trợ có thể được mô hình hóa và phân chia thành các phạm vi khác nhau từ phạm vi chính, phạm

vi mở rộng

1.2.1.2 Công nghiệp hỗ trợ nhìn từ lịch sử phát triển

Có thể nói hệ thống các nhà cung cấp (hay các nhà thầu phụ - subcontractor) được hình thành từ khá sớm và phát triển mạnh sau chiến tranh thế giới lần thứ II khi

hệ thống sản xuất theo kiểu mạng lưới nhiều cấp dần chiếm ưu thế Mỗi nhà sản xuất công nghiệp xây dựng cho mình một mạng lưới những nhà cung cấp Từ đó, một hệ thống những nhà sản xuất và cung cấp linh kiện, dịch vụ sản xuất được hình thành Tuy vậy, khái niệm công nghiệp hỗ trợ chỉ mới được giới thiệu vào thập kỷ 80 thế kỷ trước, bắt nguồn từ những nhà sản xuất Nhật Bản (Nguyễn Xuân Thúy, 2007) Về khía cạnh lịch sử phát triển của nền sản xuất thế giới, khái niệm công nghiệp hỗ trợ mang tính tách biệt này xuất phát từ nhu cầu mở rộng mạng lưới sản xuất và phân công, chuyên môn hóa lao động Từ phía những nhà sản xuất linh kiện, từ việc cung cấp cho một nhà sản xuất với một loại sản phẩm (linh kiện) cụ thể, những nhà cung cấp dần làm chủ công nghệ và phát triển ra những ngành nghề với những sản phẩm cuối cùng khác Đối tượng nhà cung cấp này dần thoát khỏi hệ thống sản xuất của một ngành truyền thống Dần dần, chính những nhà sản xuất này tạo ra một hệ thống sản xuất riêng, một ngành được xem là khá độc lập - ngành công nghiệp hỗ trợ

Khái niệm công nghiệp hỗ trợ riêng biệt cũng xuất phát từ phía các nhà sản xuất thành phẩm, đặc biệt trong quá trình mở rộng sản xuất sang nước khác Phát triển sản xuất lớn đòi hỏi những nhà sản xuất phải xây dựng một hệ thống những nhà cung cấp cho mình Thay vì thuần túy khai thác lợi thế quy mô với hệ thống tích hợp hàng dọc (vertical integration), các nhà sản xuất kết hợp và phát triển dần hệ thống tích hợp theo hàng ngang (horizontal integration) (Porter, 1991) cho rằng hệ thống những nhà cung cấp tạo nên lợi thế cạnh tranh của các nhà sản xuất, và trở thành một yêu cầu không thể thiếu của những nhà sản xuất khi mở rộng sản xuất ra một địa điểm mới

Không phải ngẫu nhiên mà khái niệm công nghiệp hỗ trợ xuất hiện đầu tiên từ các nhà sản xuất Nhật Bản Một trong những thế mạnh của sản xuất hàng hóa Nhật Bản là phát triển mạng lưới sản xuất nhiều cấp với liên kết chặt chẽ (Cusumano & Takeishi, 1991) Việc phát triển này vừa do tính văn hóa, vừa do tính lịch sử phát triển sản xuất của Nhật Bản (Toshihiro Nishiguchi, 1994) và tạo nên lợi thế của sản xuất hàng hóa kiểu Nhật (Fujimoto & cộng sự, 2001) Các nhà sản xuất Nhật Bản thường

Trang 22

đánh giá cao tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ Hơn những thế, họ thường có xu hướng phát triển hệ thống cung cấp theo mô hình riêng của mình

Khái niệm công nghiệp hỗ trợ chính thức được nhắc tới cũng xuất phát từ nhu cầu của các nhà sản xuất Nhật Bản khi mở rộng hệ thống sản xuất của mình ra nước ngoài và đòi hỏi có một hệ thống những nhà cung cấp linh kiện Quá trình này được thúc đẩy mạnh vào những năm 1980 khi đồng yên lên giá đã đẩy mạnh quá trình đầu

tư và xây dựng cơ sở sản xuất tại nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản Phát triển hệ thống cung cấp linh kiện, thậm chí một ngành cung cấp linh kiện tại các địa điểm đầu tư mới trở thành mối quan tâm của cả các doanh nghiệp lẫn Chính phủ Nhật Bản Khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” được đưa vào các văn bản chính thức của

Cơ quan nhà nước Nhật Bản như là một mục tiêu trong các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp tại các nước đang phát triển cũng như hỗ trợ khuyến khích đầu tư

và sản xuất của các doanh nghiệp Nhật Bản (Nguyễn Xuân Thúy, 2007) Điển hình trong các chính sách này là Dự án về Công nghiệp Hỗ trợ (Supporting Industries Project) do Tổ chức Thương mại Hải ngoại của Nhật Bản (JETRO, 1995) thực hiện tại 6 nước Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, và Philippines nhằm điều tra đánh giá mức độ phát triển của các nhà cung cấp và các điều kiện phát triển hệ thống các nhà cung cấp tại các nước này Từ đó, khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” sử dụng ngày càng nhiều trong các chính sách xúc tiến thương mại và sản xuất của Nhật Bản tại các nước đang phát triển

Tương tự như những nhà đầu tư Nhật Bản, các nhà đầu tư nước ngoài khác từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển cũng luôn đòi hỏi một hệ thống các nhà cung cấp linh kiện ở địa điểm đầu tư mới Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ được

sử dụng rộng rãi đối với các nhà đầu tư ở nhiều nước khác nhau và được sử dụng trong các nghiên cứu, báo cáo của các tổ chức quốc tế Một đặc điểm cũng cần quan tâm là phần lớn các doanh nghiệp hỗ trợ là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Small and Medium Entreprises - SMEs) Ở nhiều nước, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ được đặt trong chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Chính vì vậy, khác với Nhật Bản, nhiều nước phát triển lấy các doanh nghiệp SMEs là đối tượng cho chính sách hỗ trợ và liên kết công nghiệp tại các nước đang phát triển

Từ góc nhìn của các nước đang phát triển, khái niệm về công nghiệp hỗ trợ được du nhập từ các nước phát triển, qua các nhà đầu tư và các chính sách hỗ trợ phát triển Mặt khác việc phát triển sản xuất từ việc sản xuất linh kiện, tham gia vào chuỗi sản xuất của các nhà sản xuất nước ngoài là một trong những cách thức chủ yếu phát triển công nghiệp của các nước đang phát triển từ những năm 70 trở lại đây

Trang 23

1.2.1.3 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm một số nước

Nhìn lại lịch sử,”công nghiệp hỗ trợ xuất hiện đầu tiên ở Đông Á, cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp (chủ yếu là hoạt động lắp ráp - assembly) của Nhật vào các nước ASEAN (đặc biệt là Thái Lan, Malaysia và Indonesia) giữa thập kỷ 80.”Như vậy, công nghiệp hỗ trợ là một khái niệm đối xứng với công nghiệp lắp ráp.”Nếu hình dung cấu trúc toàn bộ qui trình sản xuất một sản phẩm như một quả núi (hay đơn giản là một hình tam giác), thì các ngành công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò chân núi,”còn công nghiệp lắp ráp đóng vai trò đỉnh núi.”Chân núi là những ngành sử dụng tất cả các kỹ thuật gia công cơ bản (đúc, dập, gò, hàn, cắt gọt, khoan đột, uốn kéo, cán ép, tạo hình, dệt lưới, in ấn bao bì ) gia công các loại vật liệu từ các loại kim loại, tới cao su, nhựa, gốm, gỗ và các loại vật liệu tổng hợp khác, nhằm chế tạo ra các linh kiện, phụ tùng phục vụ lắp ráp”(Đỗ Mạnh Hồng, 2008)

Ở”các nước đang phát triển như Thái Lan, Malaysia,”công nghiệp hỗ trợ”được định nghĩa là các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành công nghiệp”(Ratana E., 1999) Như vậy, theo cách”hiểu theo nghĩa hẹp này thì công nghiệp hỗ trợ không bao hàm việc chế tạo vật liệu cơ bản (như các loại sắt thép, nguyên vật liệu thô).”

Một quan điểm theo nghĩa rộng khác được đưa ra bởi Bộ Năng lượng Mỹ Theo

đó,”công nghiệp hỗ trợ là những ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường (DOE, 2005) Như vậy, công nghiệp hỗ trợ không chỉ đơn thuần là việc sản xuất linh kiện, phụ kiện

mà còn bao gồm các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối, bảo hiểm.”Cách hiểu này tương tự với khái niệm công nghiệp hỗ trợ được đưa ra trong quyết định số 9028/QĐ-BCT về “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp

hỗ trợ đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”của Bộ Công Thương Trong bản quy hoạch này,”hệ thống công nghiệp hỗ trợ là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cho khâu lắp ráp cuối cùng.”Công nghiệp hỗ trợ có thể được phân chia thành hai thành phần chính”(i) Phần cứng là các cơ sở sản xuất nguyên vật liệu và linh phụ kiện lắp ráp; (ii) Phần mềm bao gồm các bộ phận thiết kế sản phẩm, mua sắm,

hệ thống dịch vụ công nghiệp và maketing”(IPSI, 2005)

Trang 24

Có thể tổng kết các quan điểm khác nhau về công nghiệp hỗ trợ trong hình dưới đây:

Hình 1.4: Các phạm vi của công nghiệp hỗ trợ

Nguồn: Kennichi Ohno, 2007

Như vậy, có thể thấy,”mỗi quốc gia đều căn cứ vào lợi thế của mình để xác định phạm vi công nghiệp hỗ trợ một cách phù hợp.”Nhật Bản, với lợi thế về công nghệ, tiếp cận công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa rộng 2 Trong khi Hoa Kỳ,”với lợi thế về dịch vụ sản xuất lại tiếp cận công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa rộng 1 Các nước đang phát triển như Thái Lan lại tập trung vào phạm vi chính”của công nghiệp hỗ trợ Trong những năm

1970, kinh tế Thái Lan phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, những năm 1980, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào FDI với nhiều cuộc cải cách lớn như: Kế hoạch 5 năm lần thứ 6 (1986-1991) về cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, chế biến nông sản, phát triển doanh nghệp vừa và nhỏ nông thôn là ba lĩnh vực ưu tiên Phát triển Vùng ven biển phía Đông

(ESB), khu công nghiệp AMATA, thu hút nguồn đầu tư lớn từ Nhật Bản

Theo quan điểm của Việt Nam, trong bản quy hoạch phát triển CNHT, hệ thống công nghiệp hỗ trợ “là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng cho khâu lắp ráp cuối cùng” Trong Nghị định số 111/2015/NĐCP về phát triển công nghiệp hỗ trợ thì Công nghiệp hỗ trợ: “là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành

Trang 25

phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”

Từ các quan điểm trên, luận án nhận thấy”lợi thế so sánh của Việt Nam chủ yếu phục thuộc vào các lợi thế tĩnh”hay còn gọi các lợi thế cấp thấp bao gồm hai lợi thế chính là tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào Nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú như than, khoáng sản cùng với lợi thế địa lý có bờ biển chạy dài theo đất nước, đây chính là cơ sở để Việt Nam phát triển ngoại thương,”tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ là tiền đề cho chi phí sản xuất của các doanh nghiệp nước ngoài khi đến đầu tư tại Việt Nam.”Hầu hết các doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư nhằm tìm kiếm cơ hội tối thiểu hóa chi phí trong sản xuất, do đó,”Việt Nam cần nắm bắt cơ hội này để có thể học hỏi kinh nghiệm, tham gia tốt vào chuỗi cung ứng của các công ty đa quốc gia Tuy nhiên, trong 5 giai đoạn phát triển CNHT thì Việt Nam đang ở giai đoạn 2, tức là số lượng sản phẩm đã tăng lên, nhưng chất lượng sản phẩm không cao, chưa có khả năng cạnh tranh.”Với thực trạng hiện nay của Việt Nam, phạm vi nghiên cứu CNHT tập trung ở phạm vi hẹp nhằm tìm ra giải pháp giúp tập trung nguồn lực phát triển sản phẩm có

chất lượng cao cung cấp trực tiếp cho các doanh nghiệp lắp ráp và chế biến

Trên cơ sở đó, luận án xác định:”Công nghiệp hỗ trợ là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng này) cho công nghiệp lắp ráp và công nghiệp chế biến ”

Khái”niệm này phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa doanh nghiệp CNHT và

doanh nghiệp công nghiệp lắp ráp, chế biến Trong hệ thống CNHT, sự phát triển của

các doanh nghiệp mua linh kiện tạo nhu cầu và kích thích sự phát triển của các doanh nghiệp cung cấp Ngược lại, sự phát triển của các nhà cung cấp tạo môi trường kinh doanh thuận lợi,”đem lại lợi thế cạnh tranh cho những doanh nghiệp mua linh kiện, kích thích sự phát triển của đối tượng này Đứng về mặt địa lý, việc phát triển những nhà sản xuất linh kiện và lắp ráp tại một khu vực tạo nên lợi thế về địa lý, khai thác ưu điểm của cụm công nghiệp (cluster) trên nhiều phương diện, từ thông tin tới hậu cần

và phát triển sản phẩm mới

Trong khái niệm luận án đưa ra, phụ tùng được hiểu là bộ phận nhỏ của một vật thể, có thể thay thế được khi hỏng hay mòn; linh kiện là mỗi bộ phận hay chi tiết của bộ phận trong một máy thuộc kỹ thuật điện, điện tử; công cụ là”tư liệu lao động không có

đủ các tiêu chuẩn về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối với tài sản cố định (TSCĐ) (Tư liệu lao động là các vật, hệ thống các vật dùng để truyền dẫn lao động của

Trang 26

con người tác động vào đối tượng lao động) Công cụ lao động tác động trực tiếp vào đối tượng lao động, công cụ lao động giữ vai trò quyết định trong quá trình”sản xuất

Ngoài ra, luận án thống nhất một số khái niệm về ngành CNHT, sản phẩm CNHT và doanh nghiệp CNHT:

Ngành CNHT là ngành sản xuất ra các sản phẩm có cùng công dụng hoặc cùng nguyên vật liệu chính hoặc cùng quy trình sản xuất ra sản phẩm trong lĩnh vực CNHT

Sản phẩm CNHT là những”vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện nhằm cung cấp cho khâu lắp ráp và chế biến, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh.”

Doanh nghiệp CNHT là”các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thuộc mọi loại hình sở hữu hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sản phẩm chủ yếu thuộc lĩnh vực ngành CNHT cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp, chế biến ở trong và ngoài nước”

Như vậy, việc xác định rõ khái niệm giúp tác giả nhìn nhận rõ về phạm vi, giới hạn trong nghiên cứu sự phát triển CNHT Đây là cơ cở cho các bước nghiên cứu tiếp theo về cơ sở phân ngành CNHT, xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành Từ đó xác định được vị trị của ngành và đưa ra hệ thống giải pháp sát với thực tế, tạo nên ảnh hưởng tích cực trong việc thúc đẩy, đổi mới, cải thiện lợi thế quốc gia

1.2.2 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ

Cho dù các cách tiếp cận về CNHT có thể khác nhau nhưng có thể nói, đây là một ngành có phạm vi khá rộng với sự tham gia của đông đảo các doanh nghiệp CNHT có những đặc điểm riêng từ cấu trúc tới đặc điểm phát triển của ngành

1.2.2.1 Tính đa cấp

Đặc điểm cần xem xét đầu tiên của công nghiệp hỗ trợ là tính đa cấp của”công nghiệp hỗ trợ Các doanh nghiệp tham gia công nghiệp hỗ trợ nằm ở các vị trí khác nhau trong chuỗi giá trị sản xuất ra sản phẩm cuối cùng.”Một sản phẩm có thể đơn giản như quần áo tới các sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao hơn như ô tô, máy tính … đều trải qua một quá trình sản xuất, bắt đầu từ nguyên liệu thô, qua các giai đoạn khác nhau cho tới khi giá trị được tích lũy vào thành phẩm cuối cùng Trong chuỗi giá trị này, các nhà cung cấp được phân loại theo cấp độ, vị trí họ tham gia vào hệ thống Trên nhất là nhà lắp ráp sản phẩm cuối cùng Tiếp đó là lần lượt là các nhà cung cấp cấp 1, cấp 2, cấp 3…

Trang 27

Tính đa cấp của công nghiệp hỗ trợ dẫn tới sự phân hóa khá rõ rệt trong các thành phần tham gia công nghiệp hỗ trợ Các nhà cung cấp ở các cấp khác nhau sẽ khác nhau về quy mô vốn, quy mô sản xuất, về sở hữu, công nghệ, về quản lý, khách hàng, mối quan hệ với khách hàng … (Fujimoto & Takeishi,1998)

1.2.2.2 Tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính

Nằm trong chuỗi giá trị, các doanh nghiệp trong CNHT có mối quan hệ liên kết với nhau trong quy trình sản xuất Mối liên hệ này dẫn đến yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hệ thống và tập trung theo khu vực Cần lưu ý là với sự phát triển của mạng lưới sản xuất và thị trường toàn cầu, việc phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính của công nghiệp hỗ trợ giảm dần theo điều kiện không gian Mối quan hệ phụ thuộc về không gian này cũng tùy thuộc vào đặc điểm của từng ngành công nghiệp chính Một số ngành như sản xuất điện tử, ưu thế do vị trí gần nhau, tiết kiệm được chi phí vận chuyển, hạ giá thành sản phẩm hơn những ngành sản xuất linh kiện lớn như sản xuất ô tô Quá trình phát triển kinh tế khu vực (liên quốc gia) và phát triển giao thông liên quốc gia cũng làm giảm những lợi thế về vị trí của công nghiệp hỗ trợ Tuy vậy việc phát triển những cụm công nghiệp (cluster) vẫn có những lợi thế lớn của nó, không chỉ trong việc tiết kiệm chi phí vận chuyển mà còn trong quá trình trao đổi thông tin, giải quyết sự cố hay phát triển sản phẩm mới

1.2.2.3 Đa dạng về công nghệ và trình độ công nghệ

Sự đa dạng về công nghệ sản xuất trong công nghiệp hỗ trợ xuất phát từ đòi hỏi sản xuất các loại linh kiện phong phú để có được sản phẩm cuối cùng Với các sản phẩm có mức độ phức tạp cao như ô tô, hàng chục nghìn linh kiện của một chiếc xe đòi hỏi vô số công nghệ, liên quan tới hầu hết các lĩnh vực sản xuất, từ sản xuất cao su, nhựa cho tới gia công cơ khí, điện tử điều khiển chính xác Giá trị gia tăng của việc sản xuất các linh kiện, các quy trình cũng khác nhau rất nhiều Nhiều bộ phận tinh xảo

có giá trị gia tăng lớn, đòi hỏi kỹ thuật sản xuất, công nghệ rất cao như những bộ phận điều khiển, điện tử, máy mà chỉ những nhà cung cấp lớn mới có thể đáp ứng Ngược lại có những chi tiết đòi hỏi kỹ thuật sản xuất không quá khó có thể mua sắm từ những nhà cung cấp cấp thấp để lắp ráp thành những cụm linh kiện

Sự đa dạng về trình độ công nghệ thể hiện trong cấp độ tham gia hệ thống cung cấp Nhìn chung, các nhà cung cấp cấp thấp thường sở hữu công nghệ sản xuất không cao như những nhà cung cấp cấp cao Các sản phẩm các nhà cung cấp cấp thấp thường

có giá trị gia tăng không cao như các nhà cung cấp cấp cao Xu hướng này thường thấy

Trang 28

ở các nước đang phát triển khi những nhà sản xuất nội địa tham gia vào công nghệ hỗ trợ bằng cách trở thành những nhà cung cấp cấp thấp, tận dung lao động rẻ và sử dụng công nghệ không cao để tiết kiệm chi phí

1.2.3 Phân loại nhóm ngành công nghiệp hỗ trợ

Việc phân loại công nghiệp hỗ trợ có thể được thực hiện theo các tiêu thức khác nhau

1.2.3.1 Phân loại theo ngành sản xuất ra sản phẩm cuối cùng

Theo”cách tiếp cận về CNHT là một hệ thống bao trùm chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm, một chủng loại sản phẩm cụ thể, CNHT có thể phân thành các ngành phù hợp với các sản phẩm chính cuối cùng”như:

- “Công nghiệp hỗ trợ ngành giầy da, may mặc”

- “Công nghiệp hỗ trợ các ngành cơ khí: có thể chia nhỏ thành”

o “Công nghiệp hỗ trợ ngành đóng tầu”

o “Công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô”

o “Công nghiệp hỗ trợ ngành xe máy”

o “Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế biến nông lâm thủy sản”

o “Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí gia dụng”

- “Công nghiệp hỗ trợ ngành điện”

- “Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử (điện tử dân dụng, điện tử văn phòng)”

- “Công nghiệp hỗ trợ ngành điện tử tin học (máy tính …)”

“Cách phân loại CNHT này được sử dụng khá phổ biến cả trong thực tế và trong nghiên cứu, nhất là nghiên cứu từng ngành sản xuất riêng lẻ Ưu điểm của nó là xác định rõ ràng các đối tượng tham gia một hệ thống ngành công nghiệp, đóng góp vào chuỗi giá trị để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Xu hướng chính sách công nghiệp nói chung là tác động trực tiếp vào từng ngành và từng đối tượng doanh nghiệp Khi

đã xác định rõ ràng các đối tượng tham gia vào ngành công nghiệp hỗ trợ của từng ngành, các chính sách trở nên trực tiếp và xu hướng có hiệu quả nhanh chóng hơn.”

“Tuy vậy cách phân loại này gặp phải khó khăn khi một doanh nghiệp hỗ trợ tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau Ví dụ như một doanh nghiệp sản xuất linh kiện kim khí rèn dập, sản phẩm của họ có thể là linh kiện cho ô tô, xe máy, đồ gia dụng … Khó có thể xác định nhà sản xuất này tham gia một ngành đơn nhất nào Chính

sự giao thoa này làm hạn chế khả năng tiếp cận các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ, kể cả về

Trang 29

mặt nghiên cứu và chính sách, dẫn đến tính trùng hoặc bỏ sót một số doanh nghiệp hỗ trợ khi nghiên cứu ảnh hưởng của nó tới tăng trưởng công nghiệp nói chung.”

1.2.3.2 Phân loại theo ngành/công nghệ sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ

“Với cách tiếp cận CNHT là ngành sử dụng chung cho nhiều ngành sản xuất khác nhau, một cách thức phân loại công nghiệp hỗ trợ là phân loại theo sản xuất linh kiện, căn cứ vào chủng loại sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra hoặc công nghệ mà doanh nghiệp đó sử dụng Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất dây diện có thể cung cấp sản phẩm cho sản xuất xe máy, sản xuất điện, điện tử hoặc cho các ngành cơ khí chế tạo khác Một doanh nghiệp cơ khí chế tạo khuôn mẫu có thể sản xuất và cung cấp cho các khách hàng trong ngành nhựa (chế biến sản phẩm gia dụng), ngành ô tô, xe máy,

cơ khí nông nghiệp, điện, điện tử…”Trong”nghiên cứu, số liệu thứ cấp được dựa trên kết quả điều tra doanh nghiệp công nghiệp hàng năm, các doanh nghiệp được phân theo mã ngành kinh tế do Tổng cục Thống kê ban hành Do đó để phân loại CNHT theo ngành/công nghệ sản xuất sản phẩm tác giả dựa trên căn cứ phân ngành kinh tế trong hệ thống tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê,2007)”là ngành bao gồm một nhóm các đơn vị sản xuất có liên quan tới cùng một loại hoạt động hay các hoạt động tương tự nhau nhằm phân loại sản phẩm CNHT Theo đó, cơ sở để phân ngành kinh tế

là các đơn vị sản xuất Đơn vị sản xuất trong”hệ thống tài khoản quốc gia là đơn vị thể chế chỉ thực hiện một loại hoạt động sản xuất hay hoạt động sản xuất chính chiếm tỷ trọng lớn trong chỉ tiêu giá trị tăng thêm của đơn vị trong trường hợp có hai hoạt động sản xuất”trở lên Thông thường trong một đơn vị sản xuất theo ngành kinh tế, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh chính còn các hoạt động sản xuất kinh doanh phụ Về nguyên tắc, phải hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh phụ vào các ngành tương ứng Trường hợp kết quả sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ nhỏ (dưới 10%) và không hạch toán riêng thì quy ước gộp vào hoạt động kinh doanh chính của đơn vị Cũng theo hệ thống tài khoản quốc gia, phân ngành sản phẩm là dựa vào công dụng sử dụng (hoặc chức năng sản xuất) giống nhau, nghĩa là lấy loại sản phẩm (hoặc loại hoạt động) làm đơn vị gốc để tham gia phân tổ

Luận án xây dựng nguyên tắc phân ngành sản phẩm CNHT là”dựa vào tính chất

lý, hóa học của sản phẩm, nghĩa là dựa trên nguyên, vật liệu dùng để tạo ra sản phẩm

hỗ trợ; quy trình sản xuất; mục đích sử dụng; Căn cứ để xác định các sản phẩm giống nhau xếp vào một ngành”như sau:

- Căn cứ vào công dụng sản phẩm hỗ trợ: Các sản phẩm xếp trong cùng một ngành phải có công dụng giống nhau Để biết công dụng của sản phẩm hỗ trợ phải xét đến giá

Trang 30

trị sử dụng của nó dùng trong sản xuất Đối với sản phẩm có nhiều công dụng thì dựa vào công dụng chính

- Căn cứ vào nguyên, vật liệu chính tạo ra sản phẩm hỗ trợ: Các sản phẩm dùng nguyên vật liệu chính giống nhau để sản xuất ra được xếp vào cùng một ngành sản phẩm, tức là một ngành sản phẩm bao gồm những sản phẩm sản xuất ra từ nguyên vật liệu chính giống nhau

- Căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm hỗ trợ: Những sản phẩm được tạo ra có quy trình công nghệ giống nhau và gần giống nhau được xếp vào cùng một nhóm ngành sản phẩm

Trong ba căn cứ trên, thứ tự ưu tiên dùng trong sắp xếp các sản phẩm hỗ trợ vào nhóm ngành CNHT lần lượt là: Đầu tiên là căn cứ vào công dụng sản phẩm, tiếp đến

là căn cứ vào nguyên vật liệu chính, cuối cùng là căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm

Với cách tiếp cận phân loại dựa trên hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân và phân ngành sản phẩm kết hợp Quyết định số 111/2015/NĐ-CP của chính phủ về “phát triển công nghiệp hỗ trợ” có thể nói”phân lọai theo ngành/công nghệ sản xuất linh kiện

là một trong những phân loại quan trọng nhằm nghiên cứu, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp”hỗ trợ, xác định nhân tố nào có ảnh hưởng lớn từ đó có biện pháp, chính sách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy

sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ hiện nay Do đó, một số ngành công nghiệp hỗ trợ được phân loại gồm 06 lĩnh vực chính như sau: (1)Lĩnh vực CNHT ngành dệt may; (2)

Da giày; (3) Điện tử - tin học; (4) Hỗ trợ sản xuất ô tô, xe máy; (5)Cơ khí chế tạo; (6)công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao Cụ thể mã ngành kinh tế gắn với từng nhóm ngành CNHT được thể hiện ở phụ lục 1 Đây là cơ sở để luận án xác định chính xác doanh nghiệp CNHT trong các bước nghiên cứu tiếp theo (Phụ lục 1)

1.3 Khái niệm, vai trò của phát triển công nghiệp hỗ trợ

1.3.1 Khái niệm phát triển công nghiệp hỗ trợ

Trong lịch sử triết học, thuật ngữ phát triển được coi là”quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật.”Các”quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú: Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển Tính phổ biến của sự phát triển được thể

Trang 31

hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả moi sự vật, hiện tượng và trong mọi quá trình, mọi giai đoạn của sự vật, hiện tượng đó; trong mỗi quá trình biến đổi đã bao hàm khả năng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với qui luật khách quan.”Tính”đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau.”Theo quan điểm của C.Mác về lý thuyết của sự phát triển: Bao gồm phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu Trong đó, phát triển theo chiều rộng là nhằm mở rộng quy mô sản xuất băng tăng các yếu tố sản xuất như lao động, vốn, Phát triển theo chiều sâu là mở rộng quy mô sản xuất bằng tăng năng suất lao động và sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào

Sự phát triển CNHT trong nền kinh tế là tất yếu khách quan, do nhu cầu chuyên môn hóa trong sản xuất ngày càng cao Trong đó chuyên môn hóa được hiểu là”quá trình sản xuất được phân chia nhỏ thành nhiều công đoạn khác nhau theo bộ phận,”chi tiết, đối tượng hay theo các giai đoạn công nghệ nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.”Quá trình chuyên môn hóa giúp tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng đa dạng nhu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước Nhờ có sự phát triển các sản phẩm CNHT này, các quốc gia đã phát huy được hết lợi thế so sánh của mình, mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế, thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển, theo kịp với sự phát triển của các quốc gia khác Trên thế giới đã có 4 mô hình phát triển CNHT:”

Phát triển theo hướng tự phát: Điển hình là”các quốc gia đã có công nghiệp phát triển từ rất sớm như Anh, Pháp, Đức, Mỹ,… CNHT được hình thành do nhu cầu

và điều kiện của nền kinh tế,”được dẫn dắt bởi “bàn tay vô hình” của thị trường.”Sự tham gia điều tiết của chính phủ gần như không có, chủ yếu do nền kinh tế tự điều tiết thị trường cho phù hợp với thực tế phát triển.”

“Phát triển CNHT dựa trên chiến lược kéo: Được hình thành đầu tiên ở các nước phát triển thuộc thế hệ thứ hai như Nhật Bản Dựa trên cấu trúc tích hợp,”Nhật Bản đã cố gắng xây dựng một nền công nghiệp phát triển Sử dụng chính sách thúc đẩy thị trường các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào quá trình sản xuất linh phụ kiện và trở thành các vệ tinh của các doanh nghiệp lớn

Phát triển công nghiệp dựa trên chiến lược đẩy: Điển hình là Hàn Quốc Ngược với Nhật Bản, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện chính sách bắt buộc”các doanh nghiệp lớn trong nước phải thực hiện các liên kết với các doanh nghiệp nhỏ,”các nhà cung cấp

Trang 32

trong nước Với quy định tỷ lệ nội địa hóa và các điều khoản trong chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mô hình phát triển tổng hợp: Là sự kết hợp cả hai chiến lược kéo và đẩy, trong

đó chiến lược kéo sử dụng chính sách mềm và chiến lược đẩy sử dụng chính sách

“cứng” Tùy theo tình hình thực tế của mỗi quốc gia mà có sự kết hợp khéo léo giữa hai mô hình chiến lược phát triển cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất

Theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP của Thủ tường Chính phủ: “hoạt động phát triển CNHT bao gồm: Hoạt động trợ giúp của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân về CNHT, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất sản phẩm CNHT, hợp tác quốc tế, phát triển thị trường; đầu tư dự án sản xuất sản phẩm CNHT; cung ứng dịch vụ phục vụ CNHT.”

(Trần Hoàng Long, 2012), khái niệm”phát triển CNHT là sự gia tăng về số lượng các doanh nghiệp kèm theo sự cải thiện về năng lực của các doanh nghiệp công nghiêp hỗ trợ Sự cải thiện về năng lực của doanh nghiệp CNHT được thể hiện ở một

số nội dung như: Năng lực sản xuất thể hiện qua trình độ công nghệ sản xuất và trình

độ nguồn nhân lực Năng lực tham gia và mạng lưới sản xuất toàn cầu thể hiện qua mức độ gắn kết với các nhà cung cấp và khách hàng, cùng với tương quan giữa các nguồn cung cấp và tiêu thụ sản phẩm.”

Dựa trên các nghiên cứu trên, luận án lựa chọn khái niệm sự phát triển CNHT:

“là sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ kèm theo sự cải thiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp”

Qua khái niệm trên, sự phát triển CNHT được thể hiện ở hai vấn đề chính là sự gia tăng số lượng doanh nghiệp và sự cải thiện về năng lực của doanh nghiệp

Sự cải thiện năng lực của doanh nghiệp được thể hiện rõ hơn ở khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Tiếp cận từ chuỗi giá trị, (M.Porter,1990):

“năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng có thể đứng vững trên thị trường cạnh tranh, mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận thông qua một số chỉ tiêu như năng suất, chất lượng, công nghệ, sự khác biệt về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp, giá trị tăng thêm, chi phí sản xuất; là khả năng của doanh nghiệp thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong việc đạt được mục tiêu quan trọng nhất: Lợi nhuận” Năng lực cạnh tranh tiếp cận theo lý thuyết nguồn lực, (J Barney,1991) đề cao vai trò của yếu tố nội tại – nguồn lực của doanh nghiệp sơ hữu Đặc điểm của nguồn lực là có giá trị hiếm, khó bắt chước và không thể thay thế Tiếp cận từ lý thuyết năng lực, (Amit R & cộng

Trang 33

sự, 1993), (Peteraf,1993); (Barney,1997); (Beckman S.L& cộng sự, 2007), (JJorg Freiling,2004; JJorg Freiling&cs,2008) đưa ra các yếu tố bao gồm: Tài sản, khả năng,

năng lực

(Nguyễn Viết Lâm,2014) đưa ra danh mục”các chỉ tiêu, bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm 2 nhóm, 10 chỉ tiêu và trên 20 yếu tố khác nhau: Nhóm 1, bao gồm các chỉ tiêu về kết quả (doanh thu và thị phần) và hiệu quả sản xuất kinh doanh (chi phí trên 1000 đồng doanh thu thuần, lợi nhuận trên 1000 đồng doanh thu thuần, hệ số doanh lợi vốn kinh doanh, hệ số khả năng sinh lời của tài sản, khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu).”Nhóm 2, bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến năng lực kinh doanh trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp và tạo nên giá trị cho khách hàng, gồm 8 chỉ tiêu: Khả năng nguồn vốn (vốn cố định và vốn lưu động); Khả năng nguồn nhân lực (số lượng và chất lượng nguồn nhân lực); trình độ khoa học công nghê (hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở vật chất trực tiếp và gián tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh); khả năng quản lý đổi mới; khả năng hoạch định chiến lược marketing; năng lực marketing; khả năng cung cấp các dịch vụ; sức mạnh thương hiệu

(Trần Đình Thiên,2012) “năng lực cạnh tranh phụ thuộc 2 yếu tố cơ bản sau: Các yếu tố vĩ mô thuộc về môi trường cạnh tranh: chủ trương của Chính phủ, luật pháp, chính sách khuyến khích hay hạn chế, cơ chế quản lý điều hành của Nhà nước, thị trường và cơ sở hạ tầng Các yếu tố vi mô thuộc nội lực của doanh nghiệp, như vốn, cơ cấu vốn, công nghệ, trình độ người lao động, kỹ năng quản lý”,…

Từ khái niệm phát triển CNHT”và các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, luận án xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh sự phát triển ngành Nhằm đánh giá thực trạng,”xác định rõ vị trí và vai trò của ngành trong nền kinh tế, đề xuất giải pháp cho phù hợp

1.3.2 Vai trò phát triển công nghiệp hỗ trợ

Phát triển CNHT giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa theo hướng mở rộng và chuyên sâu

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực chất là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại nhằm phát triển lực lượng sản xuất và thúc đẩy hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý để đạt được năng suất lao động cao Vì một trong những tính chất của ngành”CNHT là ngành cung cấp đầu vào cho một số lượng lớn các ngành công nghiệp khác, nên ngành CNHT phát triển chắc chắn sẽ góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của toàn bộ nền công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung.”

Trang 34

Phát triển CNHT giúp nền kinh tế tăng trưởng trong dài hạn

Một quốc gia với ngành CNHT cạnh tranh có thể duy trì nguồn vốn FDI cho ngành lắp ráp cuối cùng tương đối lâu hơn một quốc gia không có ngành CNHT cạnh tranh Với xu hướng chi phí lao động ngày càng chiếm một tỷ lệ nhỏ thì dù một nền kinh tế đang nổi với chi phí nhân công rẻ cũng không thể đạt được công nghệ để sản xuất các đầu vào ở một mức giá cạnh tranh ngay lập tức được.”Theo đó, một nhà lắp ráp đa quốc gia có thể vẫn ở lại một quốc gia cho dù quốc gia đó đang mất đi lợi thế về chi phí lao động, miễn là lợi ích mà họ nhận được từ việc sử dụng các đầu vào cạnh tranh có thể bù đắp được chi phí lao động đang tăng cao Sản phẩm của ngành CNHT”có thể được xuất khẩu tới các quốc gia mà ngành lắp ráp cuối cùng ở đó đang

có nhu cầu Sự phát triển của ngành CNHT sẽ tạo nên ảnh hưởng tích cực trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ, từ đó cải thiện phúc lợi của một quốc gia.”Trong lý thuyết Khối kim cương, cùng với các yếu tố: điều kiện các yếu tố sản xuất, các ngành

hỗ trợ và có liên quan, điều kiện về cầu thì CNHT và các ngành có liên quan cũng đóng góp vào việc hình thành khả năng cạnh tranh của một quốc gia, giúp nền kinh tế tăng trưởng trong dài hạn.”

Phát triển CNHT góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp

“CNHT được coi là ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp chính yếu, thông qua việc cung cấp các phụ tùng, linh kiện và các quy trình xử lý kỹ thuật Nếu CNHT trong nước mà không phát triển thì các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp sẽ phải phụ thuộc vào nhập khẩu, khi đó ngành chế tạo ở quốc gia này chỉ là ngành gia công lắp ráp đơn thuần Ở các nước phát triển, CNHT được ưu tiên phát triển trước để làm cơ sở cho các ngành công nghiệp chính như: ô tô, xe máy, điện tử, giày da, dệt may, đóng tàu… phát triển.”

Phát triển CNHT làm tăng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

“CNHT có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu hút dòng FDI, nhất là FDI trong ngành sản xuất các loại máy móc Như đã đề cập ở trước, tỷ lệ chi phí về CNHT cao hơn nhiều so với chi phí lao động trong giá thành sản phẩm, nên dù có ưu thế lao động dồi dào và rẻ mà CNHT không phát triển cũng làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.”

Phát triển CNHT giúp tiếp thu chuyển giao công nghệ

Như ở trên đã phân tích, việc phát triển các ngành CNHT”sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa và có thể thấy một xu hướng rõ ràng là việc mở rộng thu hút FDI đi liền với sự đổi mới và chuyển giao công nghệ cho DN

Trang 35

trong nước.”Ngoài vốn, các DN”nước ngoài tại đây còn mang đến những công nghệ sản xuất, kỹ năng, trình độ quản lý tiên tiến hơn, mà từ đó các DN trong nước có thể học tập Điều này lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình CNH, HĐH đất nước ”

Phát triển CNHT thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đối với các nền kinh tế đang phát triển, việc đưa ra”các chính sách khuyến khích phát triển các DN SMEs được coi là một trong những giải pháp tối ưu nhằm phát triển kinh tế Bởi lẽ, việc thành lập và sản xuất kinh doanh của loại hình DN này không đòi hỏi cao về nguồn vốn, trình độ nhân lực, công nghệ… nên trước mắt có thể tận dụng tối đa và hiệu quả những nguồn lực trong nước.”

Nhật Bản là”một ví dụ điển hình cho việc vận dụng các công ty SMEs làm động lực để tạo ra sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Để tái sinh nền kinh tế sau chiến tranh, Nhật Bản đã duy trì một cơ cấu”kinh tế “hai tầng” trong đó”các DN SMEs đóng vai trò là nguồn cung cấp và gia công các linh kiện, phụ kiện…cho các ngành sản xuất, chế tạo, đồng thời đóng vai trò”là “tấm đệm” tạo”đà cho sự phát triển của nền kinh tế

Có thể nói, đằng sau các công ty khổng lồ có quy mô toàn cầu như Toyota Motors, Nissan Motors, Mitsubishi Motors, Sony, Sharp…là rất nhiều nhóm các DN SMEs đóng vai trò là DN vệ tinh cung cấp nhiều loại phụ tùng, linh kiện khác nhau với chất lượng cao và giá thành thấp.”

1.4 Thống kê các nhân tố tác động đến sự phát triển công nghiệp hỗ trợ

Để xây dựng mô hình và xác định các nhân tố tác động đến sự phát triển CNHT, tác giả hệ thống các nhân tố đã được một số nghiên cứu khác đề cập bao gồm:

Thị trường của khu vực hạ nguồn: một số nghiên cứu của (Berry A,2002); (Hadjimanolis A, 2000); (Chih-TaiHuang Chin-HuangLin & Chiu-MeiTung ,2006) (CIEM,2010); (Nguyễn Thị Kim Thu, 2012); (Phạm Văn Hùng, 2015); …cho rằng Khi quy mô hạ nguồn lớn nhu cầu về các sản phẩm hỗ trợ lớn, chủng loại đa dạng góp phần hạ giá thành sản phẩm và thúc đẩy CNHT phát triển,

Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ: một số nghiên cứu (Galbreath J, 2005); (Fujimoto Takahiro & cộng sự , 2001);( Kitamura Hiroshi ,2010); (Park Sam Ock & Ann Markusen, 1995); (Ratana E, 1999), (CIEM, 2010); (Phạm Thu Phương, 2013); (Nguyễn Thị Huế, 2013); (Phạm Văn Hùng, 2015); (Rivard S & cộng sự , 2006)… cho rằng tiến bộ khoa học và công nghệ đóng vai trò “dẫn dắt” sự phát triển ngành CNHT Bởi nhờ có tiến bộ khoa học và công nghệ mà nhiều chi tiết, bộ phận

Trang 36

hoặc vật liệu mới được tạo ra đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngành công nghiệp lắp ráp, góp phần thúc đẩy ngành CNHT phát triển

Nguồn lực tài chính: (Mayer Glenn R Carroll & Karl Ulrich, 1986); (Toshihiro Nishiguchi, 1994) (Suzuky S, 2006), (Davidsson P, & cộng sự, 2006); (David Elver and Chie hoon Song, 2014) (CIEM,2010); (Nguyễn Thị Kim Thu, 2012); (Phạm Văn Hùng, 2015); (Nhâm Phong Tuân & Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2012);…cho rằng đây”là ngành đòi hỏi khối lượng vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp, thời hạn đầu tư và hoàn vốn dài, độ rủi ro trong đầu tư cao Vì vậy, việc cân đối nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển công nghiệp và chính sách huy động các nguồn lực ấy sẽ thúc đẩy ngành CNHT phát triển.”

Mức độ bảo hộ thực tế: (CIEM, 2010); (Eiamkanitchat R, 1999); (Fujimoto & Takeishi, 1998); (Cusumano.M.A & Takeishi.A, 1991); (Chih-TaiHuang Chin-HuangLin & Chiu-MeiTung, 2006);(Mori J,2005);… khẳng định đây là là tỷ lệ phần trăm giữa thuế quan danh nghĩa với phần giá trị gia tăng nội địa và là yếu tố góp phần thúc đẩy CNHT

Các quan hệ liên kết khu vực và toàn cầu: (Park Sam Ock và Ann Markusen, 1995); (Peteraf, 1993); (Rendon R, 2000), (Subrahmanya & M.H Bala, 2006); (Barney.J B, 1991); (Briger Wernerfelt , 1984) ;(CIEM, 2010); (Michael GS Porter.E ,1990); (Phạm Thu Phương, 2013); (Nguyễn Thị Huế, 2013); (Phạm Văn Hùng, 2015); (Hà Thị Lan Hương, 2014); (Ngô Đức Anh, 2007); (Nham Phong Tuan & Takahashi Yosh, 2009b); … cho rằng các quan hệ liên kết này chính là ảnh hưởng của tập đoàn xuyên quốc gia: yếu tố này tạo ra mạng lưới sản xuất và phân phối rộng rãi; hình thành thương hiệu và nâng cao khả năng chuyên môn hóa; sử dụng hợp lý lợi thế quốc gia góp phần thúc đẩy ngành CNHT phát triển

Chính sách của nhà nước liên quan đến phát triển công nghiệp phụ trợ: một số nghiên cứu của (Chih-TaiHuang Chin-HuangLin & Chiu-MeiTung, 2006); (Cusumano M A & Takeishi A., 1991); (David Elver and Chie hoon Song,2014); (Eiamkanitchat R ,1999); (Fujimoto Takahiro & cộng sự, 2001); (Jones R.W và Kierzkowski.H, 2005); (CIEM,2010); (Nguyễn Thị Kim Thu, 2012); (Phạm Thu Phương, 2013); (Nguyễn Thị Huế, 2013); (Kenichi Ohno, 2007); (Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Văn Dũng, Vũ Ngọc Quyết ,2008) cho rằng nhà nước”đóng vai trò quan trọng trong định hướng chiến lượng phát triển CNHT, hoạch định các chính sách như chính sách nội địa hóa, chính sách đầu tư, nghiên cứu khoa học và công nghệ…Hệ thống chính sách phù hợp sẽ có ảnh hưởng thuận chiều đến sự phát triển ngành CNHT.”

Trang 37

Nguồn nhân lực chất lượng cao: (Briger Wernerfelt ,1984); (Dunning John H, 1977); (Elaine Mosakowski & Bill McKelvey, 1997), (Fujimoto Takahiro & cộng sự, 2001); (J Barney, 1991); (Kitamura Hiroshi, 2010); (Ron Sanchez, 2004), (Kenichi Ohno, 2007); (Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Văn Dũng, Vũ Ngọc Quyết ,2008); (Phạm Văn Hùng, 2015); (Hatch N W., & Dyer J H, 2004); … cho rằng đây là”nhân tố cần thiết để nâng cao trình độ sản xuất vượt lên so với các nước đang phát triển Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển lâu dài của ngành CNHT.”

Chính sách thuế ưu đãi: một số tác giả như (Kenichi Ohno, 2007); (Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Văn Dũng, Vũ Ngọc Quyết ,2008); (Suzuky S, 2006); (Trần Hoàng Long, 2012); (Toshihiro Nishiguchi, 1994); (Fiol C M, 1991); (Crook T R & cộng

sự, 2008); (Beckman S L., & Rosenfield D B, (2007).; (Carmeli A & Tishler

A, (2004); (Nhâm Phong Tuân & Trần Đức Hiệp, 2014);…cho rằng khi yếu tổ này ổn định sẽ thu hút một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần thúc đẩy ngành CNHT phát triển

Dung lượng thị trường: (Berman S L & cộng sự, 2002); (Grant R M, 2002); (Penrose E, 1959); (Schroeder R G & cộng sự, 2002); (Phạm Thu Phương, 2013); (Nguyễn Thị Huế, 2013); (Kenichi Ohno, 2007); (Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Văn Dũng, Vũ Ngọc Quyết ,2008); (Đỗ Minh Thụy,2013); (Nguyễn Thị Dung Huệ,2012);… cho rằng đây là yếu tố”đóng vai trò quan trọng đối với CNHT vì ngành này luôn đòi hỏi phải có lượng đơn đặt hàng tối thiểu tương đối lớn thì mới có thể tham gia vào thị trường.”

Thu hẹp khoảng cách về thông tin và nhận thức: (Kenichi Ohno, 2007); (Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Văn Dũng, Vũ Ngọc Quyết ,2008); (Takahashi Yoshi & Nham Phong Tuan, 2009c); (Powell T C, 2001); (Foss N, 1996); (Castanias R P & Helfat

C E, 2001); (Robinson Richard Harris & Catherin, 2004); (Toshihiro Nishiguchi, 1994); (Ratana E, 1999); (Ron Sanchez, 2004);…cho rằng tăng cường trao đổi, hợp tác giữa các doanh nghiệp lắp ráp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiêp trong nước nhằm nắm bắt thông tin, nhu cầu, tiêu chuẩn về sản phẩm hỗ trợ Yếu tố này cũng tạo điều kiện chia sẻ, học hỏi kinh nghiện sản xuất và quản lý giữa các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy ngành CNHT phát triển

Ngoài ra còn một số nhân tố khác như: điều kiện về cơ sở hạ tầng (Phạm Thu Phương, 2013), (Phạm Văn Hùng, 2015); Năng lực cung ứng nội địa (Phạm Thu Phương, 2013); chiến lược mua sắm; (Nguyễn Thị Huế, 2013); kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ cao (Nguyễn Thị Huế, 2013); Cơ cấu kinh tế (Nguyễn Thị Huế, 2013); yếu tố đầu vào (Đỗ Minh Thụy,2013), (Nguyễn Thị Dung Huệ,2012); Các

Trang 38

Công nghiệp liên quan: (Đỗ Minh Thụy,2013), (Nguyễn Thị Dung Huệ,2012); Khả năng tổ chức (Nhâm Phong Tuân & Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2012); Khả năng cạnh tranh của các ngành CNHT (Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Văn Dũng, Vũ Ngọc Quyết ,2008); Chính trị - Văn hóa và điều kiện tự nhiên (Phạm Văn Hùng, 2015)

Với các nhân tố trên, để thuận tiện cho nghiên cứu và tránh trường hợp tương quan giữa các biến trong quá trình nghiên cứu, luận án nhóm các nhân tố giống nhau hoặc tương tự nhau vào cùng một nhóm Tổng hợp cho kết quả 05 nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT: dung lượng thị trường, nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường chính sách, thông tin và nhận thức giữa doanh nghiệp lắp ráp và hỗ trợ, chính sách thuế Đây cũng là 05 nhân tố trong nghiên cứu “Xây dựng công nghiệp

hỗ trợ tại Việt Nam” (Kenichi Ohno,2007), nghiên cứu của Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) thực hiện, phân tích theo cách nhìn nhận của các nhà sản xuất Nhật Bản Bài viết đi sâu vào nghiên cứu định tính, phân tích dựa vào kết quả của chuyến thăm doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản, thông qua phỏng vấn nhằm tổng hợp các quan điểm

về các nhân tố thúc đến sự phát triển CNHT Theo đó, có 38 doanh nghiệp được phỏng vấn, trong đó có 15 doanh nghiệp sản xuất điện và điện tử, 14 doanh nghiệp sản xuất

xe máy, 09 doanh nghiệp sản xuất ô tô Tuy nhiên, bài viết mới dừng ở nghiên cứu định tính, chưa có minh chứng cụ thể bẳng kết quả chạy mô hình

Mô hình sơ bộ được luận án lựa chọn như sau:

Hình 1.5: Mô hình nghiên cứu sơ bộ

Sự phát triển Công nghiệp hỗ trợ

Trang 39

Công nghiệp hỗ trợ đóng”vai trò quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển kinh tế của một quốc gia Sự phát triển của ngành sẽ rút ngắn thời gian đạt mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa, nâng cao khả năng canh tranh, thu hút một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài, giúp Việt Nam nhanh chóng hội nhập với kinh tế quốc tế và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.”Tuy nhiên, các tiêu chí phản ánh sự phát triển ngành CNHT hiện nay chưa rõ ràng Luận án cần xây dựng”hệ thống chỉ tiêu thống kê nhằm đánh giá sự phát triển này Mặt khác, do khó khăn trong việc thu thập số liệu của cả nước và nhận thấy Bắc Ninh cũng là một trong những tỉnh có công nghiệp phát triển nên tác giả lựa chọn tỉnh làm bối cảnh cho nghiên cứu Quá trình nghiên cứu của luận án bao gồm”06 bước:

Trang 40

QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU

Kiểm định mô hình nghiên cứu

và các giả thuyết nghiên cứu

Kiểm định giá trị và đánh giá độ tin cậy của thang đo chính thức, mô hình nghiên cứu điều chỉnh

Thảo luận kết quả nghiên cứu và giải pháp

Ngày đăng: 04/05/2019, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abell Peter (1990), ‘Supporting industrial cooperatives in developing countries: some Tanzanian experiences’, Tạp chí Economic and Industrial Democracy, Vol 11(4), pp 483-504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Economic and Industrial Democracy
Tác giả: Abell Peter
Năm: 1990
2. Amit. R & Schoemaker, P. J. H. (1993), “Strategic assets and organizational rent”, Strategic Management Journal, 14 (1), 33-46. http://dx.doi.org/10.1002/smj.4250140105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic assets and organizational rent”, "Strategic Management Journal
Tác giả: Amit. R & Schoemaker, P. J. H
Năm: 1993
3. Anderson Kenneth M (1999), 'Supporting industrial hyperwebs: lessons in scalability', Kỷ yếu hội thảo: Software Engineering, 1999. Proceedings of the 1999 International Conference on, pp 573-582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo: Software Engineering, 1999. Proceedings of the 1999 International Conference on
Tác giả: Anderson Kenneth M
Năm: 1999
4. Asia Productivity Organization APO (2002), Strengthening of supporting industries: Asian experience, Tokyo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strengthening of supporting industries: Asian experience
Tác giả: Asia Productivity Organization APO
Năm: 2002
6. Barney. J. B. (1991), “Firm resources and sustained competitive advantage”, Journal of Management, 17(1), 99-120. http://dx.doi.org/10.1177/014920639101700108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Firm resources and sustained competitive advantage”, "Journal of Management
Tác giả: Barney. J. B
Năm: 1991
7. Barney. J. B., & Mackey, T. B. (2005), “Testing resource-based theory. In D. J. Ketchen & D. D. Bergh (Eds.)”, Research Methodology in Strategy and Management (Vol. 2, pp. 1-13). Greenwich, CT: Elsevier.http://dx.doi.org/10.1016/S1479-8387(05)02001-1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Testing resource-based theory. In D. J. Ketchen & D. D. Bergh (Eds.)”, "Research Methodology in Strategy and Management
Tác giả: Barney. J. B., & Mackey, T. B
Năm: 2005
9. Beckman.S. L & Rosenfield. D. B. (2007), Operations Strategy: Competing in the 21st Century, McGraw-Hill/Irwin Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Operations Strategy: Competing in the 21st Century
Tác giả: Beckman.S. L & Rosenfield. D. B
Năm: 2007
10. Berman. S. L., Down, J., & Hill, C. W. L. (2002), “Tacit knowledge as a source of competitive advantage in the National Basketball Association”, Academy of Management Journal, 45(1), 13-31. http://dx.doi.org/10.2307/3069282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tacit knowledge as a source of competitive advantage in the National Basketball Association”, "Academy of Management Journal
Tác giả: Berman. S. L., Down, J., & Hill, C. W. L
Năm: 2002
11. Berry. A. (2002), The role of the small and medium enterprise sector in Latin America and similar developing countries. [Online] Available:http://diplomacy.shu.edu/journal/new/pdf/VolIIINo1/berry.pdf (May 6, 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of the small and medium enterprise sector in Latin America and similar developing countries
Tác giả: Berry. A
Năm: 2002
18. Chandler. G. N., & Hanks, S. H. (1994), “Market attractiveness, resource-based capabilities, venture strategies, and venture performance”, Journal of Business Venturing, 9, 331-349, http://dx.doi.org/10.1016/0883-9026(94) 90011-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Market attractiveness, resource-based capabilities, venture strategies, and venture performance”, "Journal of Business Venturing
Tác giả: Chandler. G. N., & Hanks, S. H
Năm: 1994
19. Chih-TaiHuang Chin-HuangLin; Chiu-MeiTung; (2006), “Elucidating the industrial cluster effect from a system dynamics perspective”, Tạp chí Technovation, Vol 26 (4), pp.437-482 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Elucidating the industrial cluster effect from a system dynamics perspective”, "Tạp chí Technovation
Tác giả: Chih-TaiHuang Chin-HuangLin; Chiu-MeiTung
Năm: 2006
20. Chính Phủ (2011), Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ban hành ngày 24/02/2011 về chính sách phát triển một số ngành CNHT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ban hành ngày 24/02/2011 về chính sách phát triển một số ngành CNHT
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2011
24. Creswell J. (2002), Educational research: Planning, conducting, and evaluating Quantitative and Qualitative research, Nhà xuất bản Upper Saddle River, NJ:Merrill Prentice Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Educational research: Planning, conducting, and evaluating Quantitative and Qualitative research
Tác giả: Creswell J
Nhà XB: Nhà xuất bản Upper Saddle River
Năm: 2002
25. Crook. T. R., Ketchen, D. J., Combs, J. G., & Todd, S. Y. (2008), “Strategic resources and performance: a meta-analysis”, Strategic Management Journal, 29(11), 1141-1154. http://dx.doi.org/10.1002/smj.703 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic resources and performance: a meta-analysis”, "Strategic Management Journal
Tác giả: Crook. T. R., Ketchen, D. J., Combs, J. G., & Todd, S. Y
Năm: 2008
27. Cusumano. M. A & Takeishi. A. (1991), ‘Supplier Relations and Management: A Survey of Japanese, Japanese- Transplant, and U.S. Auto Plants’, Strategic Management Journal, Vol. 12, 8, pp. 563-588 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Management Journal
Tác giả: Cusumano. M. A & Takeishi. A
Năm: 1991
28. David Elver and Chie hoon Song (2014), “R&D cooperation and firm performance - Evaluation of partnering Strategies in the Automotive Industry”, Tạp chí Journal of Finance and Economics, Vol 2(5), pp.185-193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: R&D cooperation and firm performance - Evaluation of partnering Strategies in the Automotive Industry"”, Tạp chí Journal of Finance and Economics
Tác giả: David Elver and Chie hoon Song
Năm: 2014
29. Davidsson. P, Achtenhagen, L., & Naldi, L. (2006), “What do we know about small firm growth? In S. Parker (Ed.)”, Handbook of Entrepreneurship Research (Vol. 2, pp. 361-398), New York: Springer Sách, tạp chí
Tiêu đề: What do we know about small firm growth? In S. Parker (Ed.)”, "Handbook of Entrepreneurship Research
Tác giả: Davidsson. P, Achtenhagen, L., & Naldi, L
Năm: 2006
30. Đỗ Mạnh Hồng (2008), ‘Promotion of supporting industries - The key for attracting FDI developing countries’, Tạp chí kinh tế Trung Quốc, Vol 59, pp 26-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí kinh tế Trung Quốc
Tác giả: Đỗ Mạnh Hồng
Năm: 2008
31. Đỗ Minh Thụy (2013), CNHT ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng, Luận án, Viện nghiên cứu quản lý Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNHT ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng
Tác giả: Đỗ Minh Thụy
Năm: 2013
32. Dunning John H (1977), Trade, location of Economic Activity and the MNE: A Search for Eclectic Approach, in: Dhlin, B. , Hessebon, P.O.e Wujkuman, P.M (eds), The international Allocations of Economic Activity, Macmillan, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade, location of Economic Activity and the MNE: A Search for Eclectic Approach
Tác giả: Dunning John H
Năm: 1977

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w