1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)

80 113 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc KạnNghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng loài tre mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Z. Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn

Trang 1

TRIỆU ĐÌNH HOÀNG

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG

LOÀI TRE MAI (Dendrocalamus yunnanicus

Hsueh et D Z Li) Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRIỆU ĐÌNH HOÀNG

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CÂY ĐẦU DÒNG

LOÀI TRE MAI (Dendrocalamus yunnanicus

Hsueh et D Z Li) Ở TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ TỈNH BẮC KẠN

Ngành: Lâm học

Mã số: 8.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Thu Hà

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018

Tác giả

Triệu Đình Hoàng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy giáo, Cô giáo, các tổ chức, cá nhân

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Thị Thu Hà đã bồi

dưỡng, khuyến khích và hướng dẫn tôi đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực hết sức thú vị và có

ý nghĩa qua luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, cô giáo trong phòng Quản lý đào tạo sau đại học, khoa Lâm nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi nhiệt tình và chỉ dẫn nhiều ý kiến chuyên môn quan trọng

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn

là trung thực, khách quan

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018

Tác giả

Triệu Đình Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC HÌNH ẢNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Khái quát về cây Tre Mai 4

1.1.2 Đặc điểm phân bố 4

1.1.3 Đặc điểm hình thái 4

1.1.4 Đặc điểm sinh thái 5

1.1.5 Giá trị kinh tế 6

1.1.6 Cơ sở khoa học về cây đầu dòng 7

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 7

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới liên quan về loài 7

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến loài 15

1.2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 24

1.2.4 Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu tại Bắc Kạn 26

1.2.5 Nhận xét và đánh giá chung điều kiện khu vực nghiên cứu 30

Chương 2.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng và phạmvi nghiên cứu 33

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 33

2.3 Nội dung nghiên cứu 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.1 Ngoại nghiệp 34

2.4.2 Nội nghiệp 36

Trang 6

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Đặc điểm sinh học cây Tre Mai 38

3.1.1 Đặc điểm hình thái cây Tre Mai 38

3.2 Đánh giá thực trạng phát triển cây Tre Mai ở hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn 44

3.2.1 Đặc điểm sinh trưởng câyTre Mai theo vùng sinh thái 45

3.2.2 Đặc điểm địa hình nơi gây trồng cây Tre Mai 46

3.2.3 Hiện trạng rừng cây Tre Mai phân theo tuổi cây 48

3.3 Đánh giá các lâm phần cây Tre Mai tuyển chọn cây đầu dòng 48

3.3.1 Tuyển chọn cây đầu dòng theo phương pháp điều tra thống kê 50

3.3.2 Tuyển chọn cây đầu dòng theo phương pháp 5 cây so sánh 51

3.3.3 Các tiêu chí lựa chọn cây đầu dòng 57

3.4 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý cây đầu dòng để phục vụ công tác xây dựng rừng giống, vườn giống 57

3.4.1 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 57

3.4.2 Biện pháp quản lý cây đầu dòng 58

Chương 4.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

4.1 Kết luận 59

4.1.1 Đặc điểm sinh học của loài cây Tre Mai 59

4.1.2 Thực trạng phát triển cây Tre Mai tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kan 59

4.1.3 Đánh giá các lâm phần cây Tre Mai tuyển chọn cây đầu dòng chọn lọc các khóm cây vượt trội về đường kính và chiều cao………59

4.1.4 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý cây đầu dòng để phục vụ cho công tác xây dựng rừng giống và vườn giống 60

4.2 Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Đường kính và độ dài lóng cây Tre Mai 40

Bảng 3.2 Bề dày vách thân khí sinh của cây Tre Mai 40

Bảng 3.3 Đặc điểm lá của cây Tre Mai 42

Bảng 3.4 Đặc điểm của mo thân cây Tre Mai 43

Bảng 3.5 Sinh trưởng của cây Tre Mai theo vùng sinh thái 45

Bảng 3.6 Đặc điểm địa hình và sinh trưởng cây Tre Mai tại 2 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn 46

Bảng 3.7 Hiện trạng cây Tre Mai phân bố theo tuổi tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn 48

Bảng 3.8 Kết quả điều tra tình hình sinh trưởng các lâm phần cây đầu dòng loài cây Tre Mai 49

Bảng 3.9 Kết quả điều tra độ vượt của các cây đầu dòng 50

Bảng 3.10 Kết quả tính độ vượt của cây đầu dòng loài cây Tre Mai 51

Bảng 3.11 Kết quả xếp loại cây đầu dòng tại Thái Nguyên 54

Bảng 3.12 Kết quả xếp loại cây đầu dòng dự tuyển tại tỉnh Bắc Kạn 56

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Các loại rễ của cây Tre Mai 38

Hình 3.2 Thân khí sinh và bụi cây Tre Mai 39

Hình 3.3 Mắt mầm Tre Mai và thân cây Tre Mai non 40

Hình 3.4 Đo bề dày vách thân khí sinh cây Tre Mai 41

Hình 3.5 Cành chét cây Tre Mai 41

Hình 3.6 Cành và lá cây Tre Mai 42

Hình 3.7 Hình thái Mo cây Tre Mai 43

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải thiện giống cây rừng được xem là một lĩnh vực khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng Một chương trình cải thiện giống muốn đạt được kết quả tốt không chỉ dừng lại ở chỗ có những nguồn giống được cải thiện mà điều quan trọng tiếp theo là cần phải sản xuất được những giống đó trên quy mô lớn để phục vụ lâu dài cho các chương trình trồng rừng nhằm đáp ứng được các giá trị xã hội, cho năng suất và giá trị kinh tế cao Vì vậy các nhà chọn tạo giống cây trồng một mặt vừa áp dụng các biện pháp chọn lọc, một mặt vừa nghiên cứu gây tạo giống mới, nhất là đối với các giống cây được trồng rộng rãi hiện nay có giá trị kinh tế cao Áp dụng các phương pháp chọn lọc đã có được nhiều giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao, có khả năng thích ứng với những vùng sinh thái có điều kiện hoàn cảnh khắc nghiệt và nhiều đặc tính mới khác Việc xây dựng rừng giống và vườn giống vẫn là một biện pháp quan trọng trong các chương trình cải thiện giống cây rừng và vẫn được áp dụng phổbiến ngay cả khi đã sản xuất được giống này bằng con đường sinh dưỡng

Trong chương trình cải thiện giống cây rừng, việc thu hái hạt giống cây đầu dòngđể thiết lập làm rừng giống từ hạt được coi là hướng đi chủ yếu trong giai đoạn đầu của quá trình cải thiện giống Các rừng giống sau khi được tỉa thưa di truyền sẽ là nơi cung cấp hạt giống được cải thiện cho sản xuất và tạo lập được quần thể chọn giống

có mức độ di truyền cao phục vụ cho công tác cải thiện giống ở các mức độ cao hơn Đồng thời tiến hành xây dựng các khảo nghiệm tăng thu di truyền sử dụng nguồn hạt giống dùng trong sản xuất đại trà và chọn được những giống có giá trị cao phục vụ cho công tác trồng rừng trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài

Trong các phương pháp chọn lọc tạo ra giống mới hiện nay thì phương pháp chọn lọc cây đầu dòng được áp dụng rộng rãi Nguồn giống thu nhận được từ phương pháp chọn lọc cây đầu dòng đã khẳng định được chất lượng giống và đã được thực nghiệm trong các chương trình trồng rừng hiện nay Phương pháp chọn lọc cây đầu dòng là phương pháp chọn ra những cây có sức sống cao, sinh trưởng tốt và các giống này đòi hỏi phải là những giống có độ vượt hơn hẳn so với giống đại trà Công tác

Trang 10

chọn giống là rất quan trọng, tạo ra những dòng tốt nhất và tạo ra cá thể ở thế hệ sau

là tốt nhất

Cây Tre Mai (Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D Z Li) có khả năng

phòng hộ đầu nguồn, hấp thụ CO2 và có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là măng làm thực phẩm như một loại rau sạch Ngoài ra được sử dụng để làm vật liệu xây dựng (làm nhà), đồ gia dụng và nguyên liệu giấy

Cây Tre Mai có khả năng phát triển rộng ở các tỉnh trung du và miền núi với các loại đất đồi thấp, ven khe suối, thung lũng, đất có độ dốc, đất thịt pha cát, tầng dày trên 80cm, đất ẩm và hơi chua Ở Việt Nam phân bố ở các tỉnh miền Bắc như Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Kạn và Thái Nguyên, Hòa Bình phân bố ở độ cao từ vài chục mét đến khoảng 200 m so với mực nước biển, trên nhiều dạng lập địa khác nhau Tuy nhiên, nhân dân địa phương thường trồng quảng canh, năng xuất thấp, mỗi hộ trồng một số búi nên khối lượng sản phẩm thấp, chủ yếu sử dụng trong gia đình, nhiều người chưa biết đến sản phẩm của loài măng giá trị này Mai có khả năng cung cấp cây làm nguyên liệu, làm nhà, đan lát và măng làm thực phẩm, mà còn có khả năng phòng hộ, đặc biệt đối với rừng đầu nguồn ở các tỉnh miền núi phía Bắc Do đó, để phát triển rừng trồng Mai lấy măng và lấy thân theo hướng thâm canh, tăng năng xuất

để tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn cung cấp cho thị trường thì việc tuyển chọn, sử dụng

và phát triển nguồn gen các giống Mai ưu trội về năng suất và chất lượng cả về lấy măng và làm nguyên vật liệu trong xây dựngvới các biện pháp kỹ thuật thâm canh là việc làm rất cần thiết để góp phần nâng cao độ che phủ đặc biệt rừng phòng hộ lưu vực các tỉnh miền núi phía Bắc và cải thiện đời sống người dân địa phương.Xuất phát

từ nhu cầu thực tiễn của địa phương, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

tuyển chọn cây đầu dòng loài Tre Mai (Dendrocalamus yunnanicusHsueh et D Z Li) ở tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Tuyển chọn được cây đầu dòng tốt nhằm phục vụ bảo tồn khai thác và phát triển nguồn gen cây Tre Mai có năng suất, chất lượng cao phục vụ cho trồng rừng và phát triển sản xuất

Trang 11

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được các đặc điểm sinh học của loài cây Tre Mai

- Đánh giá thực trạng phát triển loài cây Tre Mai tại Thái Nguyên và Bắc Kạn

- Đánh giá các đặc điểm lâm phần loài Tre Mai đưa ra các tiêu chí lựa chọn cây đầu dòng

- Đưa ra được các biện pháp kỹ thuật quản lý cây đầu dòng

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài đã xác định được một số khóm đầu dòng làm cơ sở cho việc nhân giống

và phát triển cây Tre Mai của các đề tài nghiên cứu tiếp theo

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển, nhân rộng cây Tre Mai

(Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D Z Li) Xác định được khóm cây Tre Mai

đầu dòng để nhân giống, cải thiện nguồn giống cho người dân, góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người dân

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Khái quát về cây Tre Mai

Tên khoa học: Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D Z Li

Phân họ Tre (Bambusoideae)

Họ Cỏ (Poaceae)

Cây Tre Mai có tên khoa học Dendrocalamus yunnanicus Hsueh & D.Z.Li

và tên thường gọi là cây Mai thuộc phân họ tre trúc (Bambusoideae), được gây trồng khá rộng rãi ở miền Bắc Vì vậy cây Mai có nhiều tên gọi khác Mai ống, Mạy ngừu, Mai Định Hoá, Cây mai, Mai, Mạy puốc, Mạy mươi (Thái, Tày, Nùng), Lủng chủ (H'mông)

Loài này được phát hiện và công bố ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) năm 1988 bởi 2 tác giả Hsueh và D.Z Li ở độ cao 1500 m so với mực nước biển Có phân bố ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam thuộc phía Nam và Tây Nam của Trung Quốc Đây là một loài Tre đa tác dụng, khả năng phòng hộ đầu nguồn, hấp thụ

CO2 và có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là măng làm thực phẩm như một loại rau sạch

1.1.3 Đặc điểm hình thái

Là loài tre to, thân ngầm dạng củ, thân tre mọc khóm thưa, ngọn rủ, cao 25cm, đường kính phổ biến 12-15cm, cá biệt có cây 18-22cm Lóng có đốt không nổi, chiều dài lóng 30-45cm, bề dày vách thân 1-3cm, lúc non bề mặt có phủ lớp sáp trắng; thường phân cành cao ở 1/3-1/2 thân, mỗi đốt chia nhiều cành, thường có 01 cành chính Cành nhỏ mang 5-15 lá thông thường mang 7 - 10 lá, bẹ lá không lông,

Trang 13

15-không có tai lá, lưỡi lá nổi lên, cao 1-3mm, mép xẻ răng 15-không đều; phiến lá hình lưỡi mác dài, biến đổi nhiều, lá dài nhất có thể tới 45cm, rộng 10cm, đầu có mũi nhọn, gốc hìnhnêm, lúc non mặt dưới có lông nhỏ, gân cấp hai 8-18 đôi, gân ngang nhỏ, rõ, mép lá có răng cưa nhỏ, rất ráp; cuống lá dài 5-10mm Cụm hoa trên các cành không

lá, dạng chùy; mỗi đốt có 4-12(25) bông nhỏ mọc cụm, chiều dài lóng cụm hoa cấp cuối 1,2 -1,5cm; phía dưới đốt phủ phấn trắng, phần còn lại có lông mềm màu rỉ sắt; bông nhỏ dài 1- 1,5cm, rộng 3-4mm, lúc khô màu tím, đầu có mũi nhọn, gốc mang 1-2 lá bắc, bông nhỏ chứa 5-8 hoa, hoa trên cùng bất thụ, sau khi chín giữa các hoa không cách rời nhau; lá bắc 2, dài 3-4mm; mày ngoài hình trứng rộng, dài khoảng 1cm, rộng lớn hơn chiều dài, có nhiều gân (khoảng 25 chiếc), mặt lưng và mép đều

có lông nhỏ, đầu có mũi nhọn nhỏ; mày trong dài bằng mày ngoài, lông có 2 gờ, khoảng cách giữa 2 gờ 2,5mm, có hai gân; trên gờ mọc dày lông mảnh, đầu tù hay hơi lõm (ở hoa tận cùng không gờ, không lông); không có mày cực nhỏ, chỉ nhị dài khoảng 1cm, bao phấn dài 6,5mm; đầu có trung đới thò ra và có mũi nhọn; nhuỵ dài 1cm, toàn bộ phủ lông mềm ngắn, bầu hình trứng, vòi rất dài, đầu nhuỵ 1, cong, màu

tím Quả hình tròn dài, dài 7-8mm, đầu tù, có lông nhung

1.1.4 Đặc điểm sinh thái

Cây Tre Mai được trồng ở độ cao từ 200-1000m trên mặt biển Đây là loài tre thuộc nhóm mọc cụm có thể trồng ở độ cao lớn nhất Cây chịu được nhiệt độ thấp trong mùa đông, có khi nhiệt độ xuống đến 00C Cây ưa đất feralite mùn trên núi hoặc đất feralite phát triển trên các đá sa thạch, phiến thạch hoặc đá vôi Cây cũng ưa đất bồi tụ ven sông suối, độ mùn từ trung bình đến giàu, kết cấu hạt viên, ít đá lẫn, thành phần cơ giới thịt hoặc thịt nhẹ Sau khi trồng, cây đẻ măng ngay từ năm thứ nhất Kích thước và chiều cao của thân tăng dần hàng năm Năm thứ 7, thân tre định hình, không tăng về kích thước nữa Giai đoạn cây măng, mai tăng trưởng rất nhanh, có thể đạt trên 20- 30cm/ngày Sau 3-4 tháng, cây măng đạt chiều cao tối đa Mức độ tăng trưởng của cây non phụ thuộc vào độ ẩm và độ chiếu sáng Nếu đất khô, cây tăng trưởng chậm hơn ở đất ẩm Chưa gặp hiện tượng cây Tre Mai khuy hàng loạt Thường chỉ gặp cây Tre Mai ra hoa ở từng khóm hoặc từng cây Theo Sở Nông nghiệp và

Trang 14

Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng cho biết đã có hiện tượng Tre Mai tái sinh bằng

hạt ở Bảo Lạc (Cao Bằng), năm 1972

1.1.5 Giá trị kinh tế

Thân Tre Mai được dùng nhiều để làm cột nhà, dui mè, đòn tay Cột nhà làm bằng thân mai rất bền nếu được ngâm trong nước một năm Do lóng có đường kính lớn nên mai còn được dùng làm bè mảng, ống đựng nước và máng nước, dát giường, chế biến hàng mỹ nghệ xuất khẩu Hàm lượng cellulose trong thân Mai chiếm hơn 50%; sợi dài 1,4-1,6mm (trung bình 2,7mm), đường kính 26µm nên mai được dùng trong công nghiệp giấy Ở độ ẩm 19%, thân có tỷ trọng khoảng 900kg/m3 So với cây Luồng cùng chi với Cây Mai này thì các chỉ tiêu về hàm lượng cenlulo thấp hơn không đáng kể, trong khi sợi dài vàđộ ẩm cao hơn Luồng, cụ thể thân luồng chứa cellulose (54%) sợi luồng thường có chiều dài trung bình 2,944mm, đường kính 17,84 µm,độ ẩm thí nghiệm có tỷ trọng 838 kg/m3

Nguyễn Danh Minh và Lê Văn Bình (2005)[23], măng mai tươi gồm các thành phần: hàm lượng nước 92,4%; protein 1,81; đường tổng 2,14; gluxit 2,71; cellulose 0,51; lipid 0,18 Về giá trị măng: Theo Nguyễn Danh Minh và Lê Văn Bình (2005)[23] khi nghiên cứu kiến thức bản địa kinh doanh Tre lấy măng, bằng phương pháp cho điểm đã chọn ra 5 loài tre triển vọng nhất trong kinh doanh tre lấy măng, trong đó có loài Tre Mai Mùa măng chính từ tháng 7 đến tháng 9 Măng Mai là loại thực phẩm quí, đặc biệt chế biến thành loại măng "lưỡi lợn" Đó là loại măng sau khi luộc, được thái thành miếng lớn và phơi hoặc sấy khô Giá bán của loại măng này vào dịp tết khoảng 100000- 120.000đ/kg

Đặc biệt loài măng cây Tre Mai có hàm lượng dinh dưỡng cao nên có thể phát triển loài này để lấy măng phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Nơi trồng Tre Mai thích hợp nhất là đồi thấp, ven khe suối, thung lũng, đất có độ dốc, đất thịt pha cát, tầng dày trên 80 cm, đất ẩm và hơi chua Ngoài khu vực Đinh Hóa, loài Cây mai được phân bố rải rác ở một số nơi như Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Kạn

Thân của loài này được sử dụng để làm nguyên liệu giấy, nguyên liệu xây dựng, đồ gia dụng, đồ thủ công Còn măng được sử dụng làm thực phẩm như một loại rau

Trang 15

1.1.6 Cơ sở khoa học về cây đầu dòng

Cây đầu dòng: là cây có năng suất, chất lượng cao và ổn định, tính chống chịu tốt hơn hẳn các cây khác trong quần thể một giống (giống địa phương, giống mới chọn tạo, giống nhập nội) được cơ quan có thẩm quyền bình tuyển và công nhận để làm nguồn vật liệu nhân giống

Vườn cây đầu dòng: là vườn cây được nhân bằng phương pháp vô tính từ cây đầu dòng; được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và công nhận để làm nguồn vật liệu nhân giống

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới liên quan về loài

1.2.1.1 Các nghiên cứu tre trúc

Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae),họ Cỏ (Poaceae),

trên thế giới có khoảng 500 loài (Dai Qihui, 1998)[42] Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng phía Nam và Đông Nam Á Ở các nước này người dân đã biết

sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày

Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này, tre trúc đã được nghiên cứu từ lâu đời về nhiều mặt như: nhân giống, trồng, khai thác, sử dụng Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng theo mục đích sử dụng nhất định Trung Quốc có khoảng 100.000 ha rừng tre trúc trồng lấy măng với năng suất trung bình 10 - 20 tấn/ha/năm và cao nhất đạt 30 - 35 tấn/ha/năm Trung Quốc cũng có khoảng 3 triệu ha vừa sản xuất măng lại vừa sản xuất thân tre Tổng sản lượng măng của Trung Quốc khoảng 1 triệu tấn/năm (Fu Maoyi, Xiao Jianghua, 1996).[44]

Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là các nghiên cứu về mặt phân loại, hình thái và sinh thái học công trình "Các loài tre trúc" của Gamble (1896)[45] đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Mianmar, Malayxia và Inđônexia Đến đầu thế

Trang 16

kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu tre trúc về các mặt như: lâm học, tái sinh, khai thác… Koichiro Ueda (1960) đã tiến hành thống kê số măng bị thui hàng năm ở rừng

Trúc sào (Phyllostachys edulis) chiếm 60-80%, Phyllostachys reticulata 30-50% từ

đó đề cập đến vấn đề khai thác tận dụng măng và áp dụng biện pháp bón phân để tăng

số lượng và kích thước của thân khí sinh

Victor Cusack (1997) [57]đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định Theo Alrasjid (2003)[37] tre được coi là một trong những loài cây sử dụng

“tham lam” dinh dưỡng của đất Vì vậy, không sử dụng phân bón trong trồng tre sẽ

làm giảm sút nhanh chóng sức sản xuất của đất, dẫn đến đất rừng trồng tre sẽ nhanh chóng bị suy thoái

Fu Maoyi & Xiao Jianghua (1996)[44] đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân

tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng

và thân khí sinh

1.2.1.2 Các nghiên cứu về chi Luồng

Chi Luồng (Dendrocalamus) có khoảng 35 loài trên thế giới, riêng Trung Quốc

có 30 loài (ở Vân Nam có 24 loài) (Yang et al., 1999)[59]; Trung Quốc cũng đã ghi nhận tới 410 loài, chủng và giống (Pei et al., 1999); Ấn Độ có 20 loài (Seethalakshmi và Kumar, 1998)

Năm 1934, Chi luồng (Dendrocalamus) được Nees thành lập khi chuyển loài

Bambos stricta Roxb được công bố năm 1798 Cho đến nay, chi Luồng có khoảng 60

loài, đây là chi có nhiều loài tre kích thước lớn, có loài cao đến 30 m Tuy nhiên, có

một số loài thân nhỏ, đường kính chỉ vài cm như Dendrocalamuspoilanei, D.cinctus,

S.sinuatus và có loài thân đặc như D.strictus, D.poilanei (Nguyễn Văn Thọ,

2012)[29] Munro (1868)[49] đã mô tả 9 loài thuộc chi Luồng, tác giả mô tả khá chi tiết đặc điểm các loài và có cả hình vẽ của một số loài công bố mới Gamble (1896) [45] đã mô tả chi tiết đặc điểm các loài có cả hình vẽ của 16 loài thuộc chi Luồng ở

Ấn Độ Tewari (1993)[56] đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và có hình thái và có

Trang 17

hình vẽ minh họa của 14 loài thuộc chi Luồng của Ấn Độ Hsueh & Li (1996)[46] mô

tả chi tiết và vẽ hình minh họa của 11 loài tre thuộc chi này ở Trung Quốc Li & Stapleton (2006)[48] mô tả chi tiết và hình vẽ minh họa đặc điểm loài ở quyển riêng cho 24 loài tre thuộc chi này ở Trung Quốc Theo Ohrnberger (1999) [50]có 52 loài thuộc chi Luồng trên toàn thế giới

Theo Munro (1868)[49] cho rằng các loài thuộc chi Luồng phân bố ở Ấn Độ, Malacca, Java (Indonesia) và Trung Quốc Gamble (1896)[45] xác định 16 loài thuộc chi Luồng phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia, Indonesia Tewari (1993) [56]đã cung cấp đầy đủ các thông tin về nơi phân bố, trồng và độ cao của 14 loài Tre thuộc chi Luồng ở Ấn Độ được mô tả Theo Li & Stapleton (2006)[48] chi Luồng có phân bố ở vùng nhiệt đới, Á nhiệt đới của Châu Á, ở Trung Quốc phân bố chủ yếu ở phía Tây Nam Ohrnberger (1999)[50] cho rằng các loài chi Luồng trên thế giới có phân bố ở phía Nam Trung Quốc kéo dài ra phía Tây và phía Đông và miền Trung của Trung Quốc, ở Ấn độ có dãy Himalaya và các đảo Andaman, ngoài ra còn gặp ở các nước Nê pan, Bu tan, Băng-la-det, Sri-lan-ca, đảo Andaman, Myanmar, Lào, Ma-lai-xia, Campuchia, Việt Nam, Philippine, In-đô-nê-xia và pa-pua-niu-ghi-

Ramanayake và các tác giả (2007)[51] đã sử dụng chỉ thị phân tử RAPD để

nghiên cứu đa dạng di truyền của 23 khóm tre D.giganteus thuộc một quần thể ở

Vườn thực vật Hoàng Gia ở Peradeniya, Sri Lanka được di thực đến đây năm 1856

từ một cây và khẳng định quần thể có đa dạng di truyền thấp, chỉ 0,045±0,004 Quần thể này đồng nhất về hình thái, các cá thể tăng lên do nhân giống vô tính

Tian và các tác giả (2012) đã phân tích đa dạng di truyền của 108 khóm tre

A.giganteus thuộc 7 quần thể ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) bằng chỉ thị phân tử

ISSR cho rằng đa dạng di truyền trong quần thể là rất thấp, trung bình là 11,33% khác nhau, nhưng rất đa dạng di truyền giữa các quần thể rất cao, trung bình 88,57% khác nhau Bảy quần thể này chia làm 2 nhóm chính và khẳng định không có khác biệt về mặt di tuyền giữa các cá thể trong quần thể mà khác nhau về mặt địa lý Các tác giả

đề nghị bảo tồn in situ tất cả 7 quần thể này và cần thu thập vật liệu giống để bảo tồn

ex situ

Trang 18

- Nghiên cứu kỹ thuật chọn giống, nhân giống

Chi Dendrocalamus có thể thực hiện nhân giống bằng phương pháp hữu tính

hoặc sinh dưỡng nhưng chủ yếu là bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng

Tại Kenya, Bernard Kingomo (2007)[38] đã đề cập đến nhân giống bằng cách dùng thân và gốc để tạo cây con Nếu dùng hom thân nên lấy thân cây có độ tuổi từ

2 - 3 năm, cắt một đoạn có 2 đến 3 mắt để làm vật liệu, đục lỗ cách các mắt từ 5 - 7

cm, sau đó vùi sâu 6 - 10 cm theo hướng nằm ngang vào đất trộn cát, sau đó dùng axít 1-Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã đục để kích thích ra rễ Nếu dùng gốc

để trồng, chọn cây có độ tuổi 1 - 2 năm, đào sâu 30 - 60 cm và cắt toàn bộ gốc mang

đi trồng ngay

Theo Rao & Ramanatha (2000) nhân giống sinh dưỡng là phương pháp có hiệu

quả với hầu hết các loài tre Tác giả nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng Bambusa

vulgaris với quy mô lớn như sau: Hom cành 2-3 năm tuổi bao gồm một mắt ngủ hoặc

một đốt cành, cành được cắt ở sát cổ Cành cắt được cho vào túi polyethyne thích hợp bao gồm đất ở trên và sơ dừa vụ với tỷ lệ 1:5 Nước được tưới thường xuyên trong thời gian một tuần sau khi cho vào túi, khả năng ra chồi và ra rễ diễn ra trong khoảng thời gian 3-4 tuần sau đó Nghiên cứu của Trung tâmnghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [40] về giâm hom tre cho thấy: sử dụng hom cành to giâm hom cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, sử dụng cành nhỏ tỷ lệ sống chỉ khoảng 10% Nghiên cứu cũng chỉ

ra nên giâm hom vào mùa xuân tháng 3-4 vì nhiệt độ và độ ẩm tăng, thuận lợi cho tre nảy chồi và măng không mọc thời gian này, do đó cây giàu dinh dưỡng, ra rễ diễn ra trước tiên sau cắt hom vì vậy cho tỷ lệ sống cao Nghiên cứu của Fu Maoyi & cs (2000)[43] về giâm hom bằng cành cho thấy cành được chọn để giâm hom tốt nhất

có độ tuổi 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi Nhân giống có thể thực hiện tốt vào tháng 2 đến tháng 9, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn

Cusack (1997) [39] đã nghiên cứu sử dụng hom thân kết quả cho thấy: tỷ lệ thành công khi nhân giống bằng hom thân là khác nhau giữa các loài tre và phụ thuộc vào kỹ thuật sử dụng, nhân giống tốt nhất nên vào mùa xuân

Rao & Rao (2000)[52] nghiên cứu về giâm hom sử dụng hom thân cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các loại tre có vách dày và

Trang 19

kích thước lớn (8-12cm đường kính) như loài Bambusa blumeata Một nghiên cứu

khác của Fu Maoyi & cs (2000) [43]về nhân giống bằng hom thân 1 đốt cho thấy, cắt hom có thể thực hiện ở cây 1 hoặc 2 năm tuổi

Về nghiên cứu sử dụng giống gốc trong trồng tre đã được một số tác giả đánh giá là có tỷ lệ thành công cao, tuy nhiên cũng có nhiều mặt hạn chế như chi phí cao,

số lượng giống hạn chế Theo Zhou (2000) [61] cho rằng sử dụng giống gốc thích

hợp cho các loài cây giống như Bambusa, Dendrocalamus, Sinocalamus, Chọn

những cây mẹ đánh gốc có một ít rễ và cắt phần trên thân khí sinh chỉ để lại chiều dài khoảng 1m Khi đánh gốc, rễ và thân ngầm được giữ lại, cây được cắt lại 5-6 cành và

để lại lá Theo Cusack (1997)[39] chi thấy nhân giống bằng gốc có thể đạt được tỷ lệ thành công 100%, tuy nhiên chỉ nên áp dụng cho những loài tre có kích thước nhỏ vì

có thể sản xuất với quy mô lớn Tương tự, Rao & Rao (2000)[52] cũng cho rằng nhân giống tre sử dụng giống gốc là một phương pháp tốt nhất, khả năng mọc mạnh nhất được thấy ở các gốc 1 năm tuổi

Verma và Arya (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến

sinh trưởng, sinh khối và khả năng hút dinh dưỡng của cây Dendrocalamus asper

nuôi cấy mô

Ngoài phương pháp nhân giống sinh dưỡng, ở một số nơi trên thế giới, các loài tre Luồng cũng được nhân giống từ hạt Tại Thái Lan và Ấn Độ, việc nhân giống

bằng hạt đã được thực hiện cho các loài cây như Dendrocalamus brandisii,

Dendrocalamus(Bernard, 2007 và Dai Qihui, 1998)

- Kỹ thuật trồng Tre lấy măng

Theo Fu và Xiao (1996) [44], những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh gồm: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh Nghiên cứu của Rao & Rao (1999) [52] chỉ ra rằng đất thích hợp cho cây trồng tre thường là đất thoát nước tốt, đất cát mùn, đất sét pha cát và có nhiều dinh dưỡng, đất bằng phẳng hoặc đất đồi có độ dốc thấp, đất thường có màu vàng, nâu vàng hoặc

Trang 20

màu đỏ vàng, đất tầng sâu Một số loài tre tại Bangledesh được trồng trên đất có độ

pH từ 6-8, hoặc đất đồi có độ pH từ 4,5 -5,5

Theo Dai (1998)[42], mật độ trồng với các loài Dendrocalamus có đường kính

thân cây nhỏ hơn 6 cm là 1.160 khóm/ha, với các loài có đường kính thân cây to hơn thì mật độ trồng khoảng 830 khóm/ha (3m xx 4m) hoặc 625 khóm/ha (4mx4m)

Theo Alipon và cs (2009)[36] kỹ thuật tốt nhất để tạo ra chất lượng thân cây

bền vững đối với Bambusa blumeana vệ sinh gốc, phủ gốc, bón phân hữu cơ và duy trì cây 1,2,3,4 tuổi theo tỷ lệ 4:4:4:4 cây/khóm Còn đối với Dendrocalamus asper

không phủ gốc, tiến hành bón phân và duy trì cây 1 tuổi và cây 2 tuổi theo tỷ lệ 6:6 cây/khóm

Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất của các loài tre,Suwannapinunt & Thaiutsa (1988) [54] đã kết luận: sử dụng hỗn hợp phân NPK

15-15-15 có hiệu quả rõ rệt đến năng suất của các loài Tầm vông (Th siamensis), Mạy tông (D.asper), D.strictus và Bambusa sp Bón 100kg NPK/ha sẽ đủ để tăng

năng suất và bón 200 kg NPK/ha là thích hợp Dranssfield & Widjaja (1995) cho rằng bón 20 -25kg phân hữu cơ cho mỗi khóm trước mùa sinh trưởng, phân hóa học bón

4 lần mỗi năm, mỗi lần bón cho 1 ha là 80kg NPK theo tỷ lệ 40:10:30 và 0,65 Si Cusack (1997) cho rằng bón phân làm cho tre trúc phát triển tốt, măng to nhưng phải

bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định Đối với loài Mạy tông (D asper)

hàng năm bón 300kg phân NPK (15:15:15)/ha + 40 - 60kg bụi rơm hoặc cỏ khô để

phủ+0,65kg silic dioxyt/ha Đối với loài Mai xanh (D latiflorus) bón 40 kg NPK

(40:30:10)/ha và bón 4 lần trong năm kết hợp 0,65kg Silic dioxyt/ha/năm và 20-25kg phân compost trước mùa sinh trưởng

Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) [41] bằng các thí nghiệm

với loài Mai cây xanh (D latiflorus) và Lục trúc (D oldhamiii) cho rằng: phân bón

làm tăng nhiệt độ trong đất giúp không khí và nước lưu thông tốt hơn, kích thích măng ra sớm hơn, sản lượng măng và thân khí sinh tăng cao hơn Điều này cho thấy

việc bón phân cho rừng Dendrocalmus là rất cần thiết nhằm kinh doanh rừng bền

vững và có năng suất cao Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [40] cho

Trang 21

rằng: Trong kinh doanh tre, bón phân từ 1-3 lần hàng năm để tăng sản lượng cao của măng Bón phân lần đầu vào tháng 3 được gọi là phân bón của lứa măng đầu chủ yếu

là phân chuồng kết hợp phân hóa học từ 750 - 900kg/ha như ure, phân hỗn hợp… Lần bón phân thứ 2 vào tháng 8 được gọi là phân bón giai đoạn măng và chủ yếu là phân urê hoặc phân hỗn hợp 0,5 -1kg/khóm Lần 3 bón phân vào tháng 12 và chủ yếu là phân hữu 50kg/khóm

- Nghiên cứu về kỹ thuật thâm canh

Theo kết quả nghiên cứu Bernard Kingomo (2007) [38] cho thấy các loài chi Luồng thường ưa thích các loại đất sét và sét pha cát Tuy nhiên, dù loại đất nào thì cũng phải thoát nước tốt vì măng Luồng không chịu được ngập nước Độ pH thích hợp cho Luồng là từ 4,5 - 6 Theo tác giả Dai Qihui (1998)[42] đã khuyến nghị nên chọn nơi có

độ dày tầng đất cao, đất còn tốt, ẩm và thoát nước tốt để trồng các cây thuộc chi

Dendrocalamus Trồng ở các thung lũng, dọc bờ sông, suối và cũng có thể trồng ở chân

và sườn đồi thường sinh trưởng tốt Nếu trồng nơi đất khô xấu thì có thể sống nhưng măng và thân cây sẽ nhỏ, không mang lại hiệu quả kinh tế cao Đây có thể coi là kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn lập địa phù hợp để kinh doanh rừngLuồng theo hướng bền vững

Tại Indonesia, Sutiyono (2004) [55] đã tiến hành nghiên cứu dinh dưỡng đất

của rừng Dendrocalamus asper Back

+ Về xử lý đất và thực bì, Bernard (2007) [38] trước khi làm đấttrồng rừng

Dendrocalamus nên xử lý thực bì bằng cách phát dọn cỏ, cây khóm Kích thước và

cự ly hố tùy thuộc vào phương pháp và loài cây trồng Đối với các loài cây có kích thước to thì hố đào thường có kích thước là 60 cm x 60 cm x 60 cm Nơi có lượng mưa trung bình thấp, nên đào hố to hơn so với nơi có lượng mưa cao Hố sau khi đào được lấp gần đầy, thấp hơn miệng hố khoảng 10 cm, có thể trộn 2 kg phân lân hoặc phân chuồng cho mỗi hố Đất được lấp trước khi trồng 1 tháng

Trang 22

+ Về phương thức trồng, Fu Maoyi (1996) [44]cho thấy có thể

trồngDendrocalamusthuần loài hoặc hỗn loài với các loài cây lá rộng hoặc trồng theo

phương thức nông lâm kết hợp

+ Về kỹ thuật trồng, Dai Qihui (1998)[42] cho biết dù cây con Dendrocalamus

được tạo hạt hay từ nhân giống sinh dưỡng, trước khi trồng nên cắt ngọn chỉ để lại 2-3 đốt Đối với cây con được tạo từ hạt thì đặt cây con ở tư thế thẳng đứng, lấp đất và phủ lên gốc cây 3 - 4cm Với cây đem trồng bằng gốc, đặt cây ở tư thế thẳng đứng, lấp đất

và phủ đất cách cổ rễ 10cm

+ Về kỹ thuật bón phân, theo Dai Qihui (1998)[42] đối với cây Dendrocalamus

trồng lấy măng, để sản xuất 100kg măng tươi, cây cần 500 - 700g Nitơ, 100 - 150g Phốt pho và 200 - 250g Kali từ đất Theo Fu Maoyi, XiaoJianghua (1996)[44] đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng vàphát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh Victor Cusack (1997)[57] cho rằng biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tuỳ thuộc vào loài nhất định Nghiên cứu về chu trình dinh

dưỡng trong rừng Bambusa bambos các tác giả Shanmughavel và Fracis (1997)[53]

cho biết lượng dinh dưỡng trong cây đứng gia tăng theo tuổi của cây, vì vậy lượng dinh dưỡng trả lại cho đất không đủ so với lượng dinh dưỡng mà cây đã lấy đi Nghiên cứu của Jha và Lalnunmawia (2004)[47] về trồng xen giữa các loài cây

Dendrocalamus hamiltonii, D.longispathus và gừng trong các công thức thí nghiệm

về bón phân đã cho thấy sản lượng của các loài trong các thí nghiệm bón phân cao hơn rõ rệt so với công thức không bón phân

+ Về kỹ thuật khai thác, thu hoạch, Dai Qihui (1998)[42] cho rằng đối với các loài tre trồng để lấy măng, nếu muốn chế biến măng khô, khi kích thước măng có chiều cao đạt từ 1,3 - 1,5m có thể tiến hành thu hoạch, nếu muốn chế biến thành các sản phẩm khác, thu hoạch măng non có chiều cao khoảng 30cm + Về sâu bệnh hại,

Xu Tiansen (1998)[58] cho biết các loài chi Dendrocalamus thường gặp các loại sâu

ăn lá, sâu đục thân, sâu hút nhựa, sâu ăn búp măng Tùy vào đặc điểm từng loại sâu

Trang 23

tác giả đã đưa ra các biện pháp phòng trừ thích hợp như: làm cỏ, xới đất, sử dụng các thiên địch, sử dụng các loại thuốc hóa học để tiêu diệt và hạn chế sự phát triển của các loài sâu, bệnh hại

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam liên quan đến loài

1.2.2.1 Nghiên cứu về tre trúc

Ở Việt Nam, có khoảng trên 200 loài tre trúc, phân bố ở hầu hết các tỉnh trong phạm vi toàn quốc và là nguồn nguyên vật liệu quan trọng đứng thứ hai sau gỗ,

và có vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá xã hội Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Hưng & Nguyễn Tử Ưởng (2000) [13] nước ta có 1.489.068 ha rừng tre trúc thuần loài hoặc hỗn giao với cây gỗ, chiếm 4,53% diện tích toàn quốc với tổng trữ lượng là 8.400.767.000 cây Trong đó: Rừng tre trúc tự nhiên có 1.415.552 ha bằng 14,99% tổng diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng là 8.304.693.000 cây bao gồm: Rừng thuần loại tre trúc có 789.221 ha bằng 8,36% diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng 5.863.091.000 cây; Rừng hỗn giao gỗ tre có 626.331 ha bằng 6,63% diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng 2.441.602.000 cây Rừng tre trúc trồng có 73.516 ha bằng 4,99% diện tích rừng trồng với trữ lượng96.074.000 cây Diện tích và trữ lượng tre trúc đáng quan tâm nhất là vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Đông Nam

Bộ rồi đến Tây Bắc

Trong “Kỹ thuật trồng tre trúc”, Hồng Minh (1963)[22] đã giới thiệu sơ lược

về đặc điểm hình thái, sinh thái, kỹ thuật chọn giống, gây trồng, chăm sóc và bảo vệ cho 12 loài tre trúc ở Miền Bắc Việt Nam Lê Nguyên Kế (1963) [14] trong cuốn

“Trồng tre trúc” đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về những yêu cầu của đất trồng, giống, mật độ trồng Nghiên cứu nhân giống Trúc bằng thân ngầm của Trần Đức Hậu

và Nguyễn Văn Tỵ (1974 - 1977)[9] đã xác định được thân ngầm ở tuổi 1 và tuổi 2 làm giống và tốt nhất với quy cách dài 50cm có 11 - 12 đốt và to 1cm - 1cm2 Đối với loài Tre Mai, nhân giống có thể bằng giống gốc hoặc bằng giống chét (Phạm Văn Điển, 2006).[7]

Hoàng Xuân Tý (1972)[27] cho biết trồng tre Diễn và tre Gai thuần loài làm cho tính chất vật lý của đất bị thoái hoá nhanh chóng, giảm hàm lượng mùn, đạm, lân

Trang 24

và kali, do vậy khuyến cáo không nên trồng rừng tre trúc thuần loại, mà phải trồng xen với cây gỗ để đảm bảo độ phì của đất và sản xuất được nhiều luân kỳ

Lê Nguyên & cs (1971) [25] đã giới thiệu khá đầy đủ về gây trồng phát triển tre trúc mọc khóm và mọc tản cho mục đích kinh tế, bao gồm: Điều kiện nhân giống, gây trồng, kỹ thuật trồng,… tuy nhiên chỉ khái quát, hầu như không đề cập đến biện pháp thâm canh nào

Châu Quang Hiền (1981)[10] nghiên cứu “Kết cấu quần thể và quá trình phục

hồi sau khai thác trắng của rừng tre Lồ ô (Schizostachyum zollingery Stend) tại huyện

Phước Long (sông Bé)” đã chỉ ra: Phương thức khai thác trắng có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng và phát triển, làm thay đổi cấu trúc, giảm sức sản xuất và hạn chế khả năng sản xuất liên tục của rừng Lồ ô, do đó phương thức chặt chọn là phù hợp

Lâm Xuân Sanh và Châu Quang Hiền (1984) trong công trình “Tre trúc Lồ ô”

đã thống kê mô tả được một số đặc điểm của rừng tre Lồ ô như: thời vụ ra măng, hình thái cây măng và quá trình sinh trưởng của măng

Ngô Quang Đê&cs (1994) [4]đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng tre trúc cho 3 loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và sử dụng

Năm 2000, Lê Quang Liên[18] và cộng sựđã thực hiện đề tài “Nghiên cứu

kỹ thuật trồng tre trúc để lấy măng” cho 2 loài Luồng (Dendrocalamus barbatus) và tre Gầy (Dendrocalamus sp), trong đó có khảo nghiệm 3 công thức bón phân NPK

và khẳng định muốn trồng tre trúc để lấy cây hay lấy măng có năng suất cao thì cần phải trồng thâm canh

Theo Hứa Vĩnh Tùng (2001)[35], cường độ khai thác 25% và 50% số cây trong lâm phần có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng chiều cao và đường kính cây măng

Triệu Văn Hùng & cs (2002) [12] trong “Kỹ thuật trồng một số loài cây đặc sản rừng” đã giới thiệu kỹ thuật trồng cho 2 loài là Trúc sào và Vầu đắng gồm: Điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến

Lê Viết Lâm và cộng sự (2005)[16] với đề tài “Điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một số đặc điểm sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt Nam” đã thống

kê thành phần loài tre trúc ở Việt Nam, giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng gồm:

Trang 25

phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất

Đỗ Văn Bản (2004) tiến hành “Nghiên cứu đánh giá tình hình gây trồng các loài tre nhập nội lấy măng ở Việt Nam” đã thống kê: Hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng: Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông, trong đó phát triển mạnh nhất là Điềm trúc và Lục trúc

Đỗ Văn Bản & cs (2005) [1]trong “Trồng thử nghiệm thâm canh các loài tre nhập nội lấy măng” đã tuyển chọn 3 loài tre nhập nội trồng để lấy măng: Điềm trúc

(Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp giao với 13,5 ha

mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ và Thanh Hoá

Phạm Văn Điển, Lê Viết Lâm, Bùi Thế Đồi, Trần Thị Thu Hà (2012)[7]trong

“Hướng dẫn kỹ thuật thâm canh rừng tre nứa” đã giới thiệu về nguyên lý kỹ thuật trồng, chăm sóc, phục tráng và khai thác rừng tre nứa Đặc biệt đã giới thiệu tương đối đầy đủ kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác các loài cây Bương, Luồng và Vầu đắng

Nghiên cứu về cấu trúc rừng mong muốn được thể hiện trong Quy phạm các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa của Bộ NN&PTNT đã xác định số cây tàn che để lại cho từng khóm và tuổi cây khai thác cho từng đối tượng rừng tre nứa nhưng chưa xác định mật độ khóm và phân bố số cây theo từng cấp tuổi Phạm Văn Điển & cs (2006) [6]trong chuyên đề nghiên cứu đặc điểm cấu trúc hợp lý cho rừng nứa xen gỗ tại xã Bình Hẽm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã đề xuất cấu trúc hợp lý cho nhóm cây nứa với 2 chỉ tiêu là (i) số cây thích hợp trên khóm, (ii) phân bố số cây hợp lý theo cấp tuổi.: nứa cái tổng số cây hợp lý trong khóm là 32 cây (8 non, 16 trung niên, 8 già); nứa xanh là 120 cây/khóm (30 non, 60 trung niên, 30 già) Đối với rừng tre nứa, nhóm tác giả này đã đề xuất mô hình rừng mong muốn gồm 3 chỉ tiêu: (i) mật độ khóm, (ii) số cây thích hợp trên khóm, (iii) phân bố số cây hợp lý theo cấp tuổi

Diện tích rừng tre trúc tương đối lớn, số loài phong phú và sản phẩm từ rừng tre trúc là nguyên liệu tạo ra hàng trăm loại mặt hàng tiêu dùng trong nước hoặc xuất khẩu có giá trị Vì vậy, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, tài nguyên tre trúc ở

Trang 26

nước ta đã được quan tâm nghiên cứu và sản xuất Các loài được quan tâm nghiên cứu và gây trồng để lấy thân làm nguyên liệu và lấy măng làm thực phẩm như là Trúc

sào (Phyllostachys edulis), Luồng (Dendrocalamus barbatus), Giang

(Ampelocalamus patellaris), Diễn trứng (Dendrocalamus sp), Vầu đắng (Indosasa angustata), Nứa lá nhỏ (Neohouzeana sp), Tre gai (Bambusa blumeana), Bương mốc (Dendrocalamus aff Sinicus), Mai ống (Dendrocalamus giganteus), Tre gầy (Dendrocalamus sp), Lồ ô (Bambusa procera), Là ngà (Bambusa bluemeana) và

một số loài tre trúc lấy măng nhập từ Trung Quốc, Đài Loan như: Điềm trúc (Bát độ)

(Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii), Mạnh tông (Dendrocalamus asper), Tạp giao (Hybrid) Những nghiên cứu đã góp phần không

ngừng nâng cao năng suất và giá trị sử dụng của rừng tre trúc

1.2.2.2 Các nghiên cứu về chi Luồng

- Nghiên cứu về đặc điểm sinh học

Phạm Hoàng Độ (1999)đã mô tả ngắn gọn và có hình vẽ minh họa của 12 loài thuộc chi Luồng ở Việt Nam Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005)[24] đã ghi nhận 29 loài thuộc chi Luồng ở Việt Nam và mô tả ngắn gọn và có hình vẽ đặc điểm hình thái của

27 loài Gần đây nhất, Nguyễn Văn Thọ (2012)[29] ghi nhận và mô tả 30 loài thuộc chi Luồng ở Việt Nam dựa trên các mẫu tiêu bản mới thu và mẫu ở các bảo tàng thực vật trong và ngoài nước

Phạm Hoàng Hộ (1999) chủ yếu tập trung mô tả hình thái và chỉ nêu phân bố

các chi Luồng, có duy nhất một loài là D.poilanei được mô tả có ở khe đá, độ cao

600m Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [24] đã nêu các địa điểm phân bố khá cụ thể của

27 loài thuộc chi Luồng nhưng các thông tin về độ cao, nơi cây sinh trưởng phát triển còn ít, chỉ một số loài có như Mai mo sọc, Mạy pì Nguyễn Văn Thọ (2012)[29] đã

mô tả khá đầy đủ thông tin về vị trí thu mẫu như trạng thái rừng, độ cao phân bố đối với các loài do tác giả trực tiếp thu mẫu, song nhiều loài chưa có hoa nên chưa có thể công bố loài

-Nghiên cứu kỹ thuật chọn giống và nhân giống

Trang 27

Đối với các loài trong chi luồng, nhiều tác giả đã nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng bằng nhiều phương pháp khác nhau như: chiết cành, giâm hom, tách chồi cụ thể các phương pháp như sau:

Theo Lê Quang Liên (1995) [20]việc chọn tạo giống luồng từ phương pháp chiết cành cho thấy, những cành có rễ khí sinh cho khả năng ra rễ tốt hơn cành không có rễ khí sinh, những cành có rễ khí sinh có thể giâm trực tiếp vào đất (có thể cho tỷ lệ ra rễ của hom trên 90%) Tuy nhiên, do số lượng cành có rễ khí sinh rất ít (chiếm 11,6%) nên dùng phương pháp này hệ số nhân giống không cao Phương pháp dùng bao nilon bọc bầu và đất + bùn có thể chiết được cho cành không mang rễ khí sinh và cho kết quả ra rễ đạt tỷ lệ 97% Sau đó cần chăm sóc cành chiết trong vườn ươm 4-6 tháng mới

đủ tiêu chuẩn đem trồng Ngoài ra tuổi cành và thời gian chiết cũng có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ của cành chiết Nhìn chung tuổi cây nên từ 3 tuổi trở lên, tuổi cành chiết

từ 6 - 8 tháng và thời gian chiết từ tháng 4 đến tháng 8 là tốt nhất Kết quả của nghiên cứu này đã sử dụng để biên soạn Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 21 -2000 (Bộ NN&PTNT, 2000)[3]

Theo Lê Quang Liên (2001)[17], Luồng ở Thanh Hóa có thể nhân giống bằng cành, phương pháp chiết cành bằng hỗn hợp bùn rơm có tỷ lệ ra rễ 97,5% là phương pháp dễ áp dụng có hiệu quả Bộ NN&PTNT (2000) ban hành Quyết định số 05/2000/QĐ-BNN-KHCN về quy phạm kỹ thuật trồng và khai thác Luồng có nêu: Việc gây trồng có thể bằng giống gốc, hom thân, hom chét hoặc cành chiết; trong đó phương pháp nhân giống bằng cành chiết là hiệu quả nhất, khắc phục được các nhược điểm của các phương pháp nhân giống khác, đảm bảo đủ số lượng giống trên quy mô lớn và dễ dàng quản lý chất lượng giống trước khi đem trồng Việc chiết cành Bương mốc 1 năm tuổi ra rễ nhanh hơn, tỷ lệ ra rễ và chất lượng rễ tốt hơn so với cành 2 - 3 năm tuổi sử dụng thuốc IBA nồng độ 1.500 PPM khi chiết cành 1 năm tuổi cho thời gian ra rễ nhanh nhất, tỉ lệ ra rễ và chất lượng rễ tốt nhất (Lê Văn Thành, 2013)[30] Nguyễn Thị Tảo (2013)[28] đã nhân giống bằng phương pháp chiết cành đạt tỉ lệ ra

rễ 100%

Chọn, tạo giống Luồng bằng gốc, chồi gốc và hom thân, tác giả Nguyễn Ngọc Bình (2001)[2] đã nghiên cứu thành công phương pháp chọn tạo giống Luồng bằng

Trang 28

gốc, chồi gốc (chét lớn) Vật liệu giống là gốc của thân cây Luồng có tuổi từ 8 - 12 tháng đường kính 6 - 8 cm và dài 80 - 120cm được đào đem trồng không qua giai đoạn vườn ươm

Nghiên cứu nhân giống hom thân có chồi ngủ của Trần Nguyên Giảng & cs (1977)[8] cho thấy tiêu chuẩn chọn cây mẹ để tiến hành cắt hom từ 8 - 16 tháng tuổi, cây đã có đủ cành lá, thân màu xanh; cắt hom dài 30 - 40cm có 2 - 3 chồi ngủ (mắt cua) to khỏe, không bị thối Ươm hom vào tháng 7, 8có sử dụng thuốc kích thích 2,45T nồng độ 30mg/1 lít nước cho tỷ lệ thành cây con đạt trên 60%

Nhân giống từ việc giâm hom, Lê Văn Thành (2013)[32] đã thí nghiệm giâm hom cành Bương mốc 1 năm tuổi cũng cho tỉ lệ ra rễ cao hơn và chất lượng rễ tốt hơn giâm hom cành 2- 3 năm tuổi Thuốc IBA nồng độ 2.000 ppm giâm hom cành Bương mốc cho tỉ lệ rễ cành Bương mốc cao nhất, số lượng rễ nhiều nhất và chiều dài rễ lớn nhất (Lê Văn Thành, 2013) Thí nghiệm nhân giống bằng phương pháp chiết hay giâm hom sử dụng chất điều hòa sinh trưởng NAA với nồng độ 15000 ppm và 2000 ppm là cho tỷ lệ rễ cao nhất 100% (Nguyễn Thị Tảo, 2013)[28]

- Nghiên cứu kỹ thuật trồng thâm canh

Theo Đỗ Văn Bản & cs (2005)[1], Bát độ (Dendrrocalamus latflorus)ở mật

độ thấp (625 cây/ha) phát sinh măng nhiều hơn mật độ cao (1111 cây/ha) 11,4% đến 13,6% Còn đối với Điền trúc trồng mật độ 400 cây/ha, Tạp giao (625 cây/ha) và Lục Trúc (400 cây/ha) là tốt nhất.Đối với cây Bương mốc, Lê Văn Thành (2013)[30] cho rằng mật độ trồng thích hợp nhất trồng lấy măng là 400 cây/ha (5x5m)

Nghiên cứu kỹ thuật làm đất đối với trồng tre lấy măng Lê Quang Liên & Nguyễn Danh Minh (2000)[19] đã thí nghiệm các kích thước hố 0,6x0,6x0,5m, 1x1x0,5m, 5x1,5x0,5m, 2x2x0,5m và cho rằng kích thước hố 1x1x0,5m cho năng xuất gấp 2 lần so với hố trồng bình thường (0,6x0,6x0,5m) Nguyễn Thị Tảo (2013)[28] điều tra kinh nghiệm người dân địa phương thì có đến 48,3% người đào

hố kích thước hố 40x40x40cm và tác giả khẳng định kích thước này thích hợp với cây hom giâm, còn nơi đất chặt, cứng nên đào hố 60x60x50 cm

Nguyễn Danh Minh & Lê Văn Bình (2005)[23] đã lựa chọn 5 loại tre kinh doanh lấy măng cho vùng Đông Bắc dựa trên 5 tiêu chí về măng ăn ngon, dễ tác động

Trang 29

kỹ thuật, chế biến đa dạng, giá cao trên thị trường và năng suất chấp nhận được, gồm Mai, Gầy, Hốc, Tre trinh, Luồng, trong đó có 4 loại thuộc chi Luồng (Mai, Hốc, Tre

trinh và Luồng)trừ Gầy (Bambusa sp) Ở đây loài gọi là Mai thực chất là 2 loài Mai

ống và mai dây) vì các tác giả coi Mai ống và Mai cây là một loài và đưa ra hướng dẫn kỹ thuật gây trồng 5 loài này lấy măng cho vùng Đông Bắc

Nguyễn Ngọc Bình (2001)[2] đã đưa ra kết quả luận về sự thích hợp của Luồng sinh trưởng từ tốt đến xấu trên 5 loại đất khác nhau (i) Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá Poocphia; (ii) Đất Feralit đỏvàng phát triển trên phiến thạch sét biến hình tiếp xúc với Poocphia; (iii) Đất Feralit phát triển trên đá vôi; (iv) Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên phiến thạch Phyllit; (v) Đất Feralit nâu vàng phát triển trên phù sa cổ thượng lưu sông Âm

Cao Danh Thịnh (2009)[31] và đã xác định được 5 nhân tố có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Luồng là tuổi rừng, độ ẩm, vị trí, nguồn gốc đất và độ dày tầng đất

Đặng Thịnh Triều (2011)[34]đã đưa ra đặc điểm lý hóa học của đất dưới tán rừng Luồng hoặc sự thích hợp của cây Luồng với các loại đất khác nhau Nhưng các tác giả chưa phân cấp được mức độ thích hợp của cây Luồng với đặc điểm lý hóa tính của đất trồng và sự thích hợp của cây Luồng với tổng hợp các nhân tố lập địa

Theo Lê Quang Liên và Nguyễn Danh Minh (2000)[19]đối với cây Luồng, tiêu chuẩn cây con đem trồng phải khỏe mạnh, không sâu bệnh, đủ lá và tối thiểu phải

có một thế hệ cây con (măng mắt cua), thời vụ trồng nên bắt đầu trồng vào đầu vụ mưa từ cuối tháng 5 đến tháng 6 dương lịch

Tùy thuộc vào điều kiện của địa phương mà Luồng được trồng thành rừng thuần loài, xen canh cây nông nghiệp, trồng phân tán hay trồng hỗn loài với cây lá rộng (Nguyễn Ngọc Bình, 2001).[2]

Việc trồng Luồng phân tán thường được áp dụng trồng rải rác theo đám trên các nương rẫy hoặc trồng thành hàng rào xung quanh vườn quả của gia đình Phương thức này tận dụng được những khu đất trống xung quanh vườn, nương rẫy… tuy nhiên cây Luồng dễ bị đổ khi có gió bão

Phương thức trồng Luồng hỗn loài với cây gỗ có khả năng làm tăng tính bền vững của rừng, sản lượng Luồng ổn định hơn và hạn chế được sự giảm sút độ phì của đất (Lê Quang Liên và cộng tác viên, 2000)[19] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Trang 30

Trường Thành (2002)[32] cho thấy, cây Luồng trồng theo phương thức hỗn giao với cây lá rộng trên đất trống vùng đồi và cho kết luận loài cây lá rộng bản địa có ý nghĩa tích cực trong việc cải thiện lý hóa tính của đất dưới tán rừng Luồng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của rừng Luồng Tương tự, Nguyễn Thị The (2005) đã thử nghiệm

và kết luận có để đưa Luồng vào trồng xen dưới tán Keo

Lê Quang Liên & cs (2000) [19]khẳng định muốn trồng Tre trúc để lấy cây hay lấy măng có năng suất cao thì cần phải trồng thâm canh

Theo Nguyễn Thế Nhã (2003)[26] các loài tre thuộc chi luồng có khoảng 26 loài sâu hại, trong đó nặng nhất là 4 loài sâu hại măng, 6 loài sâu hại lá Để phòng trừ các loại sâu này chúng ta phải dùng phương pháp phòng trừ tổng hợp Trần Văn Mão (1998)[21], để phòng trừ bệnh sọc tím măng tre, xu hướng trên thế giới hiện nay nói chung và Việt Nam nói riêng là sử dụng các biện pháp sinh học

1.2.2.3 Các nghiên cứu về loài Tre Mai ở Việt Nam

Ở Việt Nam phân bố ở các tỉnh miền Bắc như Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Kạn và Thái Nguyên, Hòa Bình phân bố ở độ cao từ vài chục mét đến khoảng 200

m so với mực nước biển (Phạm Thành Trang & Trần Đình Hợi, 2009)[33] Như vậy, đây là loài Tre có biên độ sinh thái rộng, măng ăn ngon thích hợp để khai thác phát triển

Là loài tre to, thân ngầm dạng củ, thân tre mọc khóm thưa, ngọn rủ, cao 25cm, đường kính phổ biến 12-15cm, cá biệt có cây 18-22cm

15-Mo thân rụng sớm, kích thước 25-37.5 x 30,5-60 cm, bẹ mo to, chất da dày, lúc tươi màu tím, mép nguyên, mặt lưng mọc dầy lông mềm dẹp màu nâu tồn tại mo liền với gốc phiến mo xệ xuống, ít nhiều lật ra ngoài, về sau dễ rụng; lưỡi mo rõ, cao 6-12mm, mép xẻ dạng răng ngắn; phiến mo lật ra ngoài, hình lưỡi mác dạng trứng, dài 13-38cm, gốc bằng khoảng 4/5 đỉnh bẹ mo

Cành nhỏ mang 5-15 lá thông thường mang 7 - 10 lá, bẹ lá không lông, không

có tai lá, lưỡi lá nổi lên, cao 1-3mm, mép xẻ răng không đều; phiến lá hình lưỡi mác dài, biến đổi nhiều, lá dài nhất có thể tới 45cm, rộng 10cm, đầu có mũi nhọn, gốc hình nêm, lúc non mặt dưới có lông nhỏ, gân cấp hai 8-18 đôi, gân ngang nhỏ, rõ, mép lá có răng cưa nhỏ, rất ráp; cuống lá dài 5-10mm

Trang 31

Cụm hoa trên các cành không lá, dạng chuỳ, mỗi đốt có 4-12(25) bông nhỏ mọc cụm, chiều dài lóng cụm hoa cấp cuối 1,2- 1,5cm Quả hình tròn dài, dài 7-8mm, đâu tù, có lông nhung

Tre Mai được trồng ở độ cao từ 200-1000m trên mặt biển Đây là loài tre thuộc nhóm mọc cụm có thể trồng ở độ cao lớn nhất Cây chịu được nhiệt độ thấp trong mùa đông, có khi nhiệt độ xuống đến 00C Cây ưa đất feralite mùn trên núi hoặc đất feralite phát triển trên các đá sa thạch, phiến thạch hoặc đá vôi

Chưa gặp hiện tượng cây Tre Mai khuy hàng loạt Thường chỉ gặp cây Tre Mai ra hoa ở từng khóm hoặc từng cây Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cao Bằng cho biết đã có hiện tượng cây Tre Mai tái sinh bằng hạt ở Bảo Lạc (Cao Bằng), năm 1972

Về giá trị măng: Theo Nguyễn Danh Minh và Lê Văn Bình (2005)[23]măng mai tươi gồm các thành phần: hàm lượng nước 92,4%; protein 1,81; đường tổng 2,14; gluxit 2,71; cellulose 0,51; lipid 0,18 ; khi nghiên cứu kiến thức bản địa kinh doanh Tre lấy măng, bằng phương pháp cho điểm đã chọn ra 5 loài tre triển vọng nhất trong kinh doanh tre lấy măng, trong đó có loài cây Tre Mai Mùa măng chính từ tháng 7 đến tháng 9

Đặc biệt loài măng Mai Định Hóa có hàm lượng dinh dưỡng cao nên có thể phát triển loài này để lấy măng phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Nơi

Trang 32

trồng cây Tre Mai thích hợp nhất là đồi thấp, ven khe suối, thung lũng, đất có độ dốc, đất thịt pha cát, tầng dày trên 80 cm, đất ẩm và hơi chua Ngoài khu vực Đinh Hóa, loài cây Mai được phân bố rải rác ở một số nơi như Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Kạn

Thân của loài này được sử dụng để làm nguyên liệu giấy, nguyên liệu xây dựng, đồ gia dụng, đồ thủ công Còn măng được sử dụng làm thực phẩm như một loại rau

1.2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.2.3.1 Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu tại Thái Nguyên

a Vị trí địa lý

Định Hóa là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm tỉnh Thái Nguyên gần 60 km về phía Tây - Bắc theo quốc lộ 3 và tỉnh lộ

248, có tọa độ địa lý từ 240 05” đến 240 40” độ vĩ Bắc; từ 180 05’’ đến 1850 80’’ độ kinh Đông Là đầu mối giao thông quan trọng nối các tỉnh miền núi phía Bắc với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Thái Nguyên có vị trí hết sức quan trọng về an ninh, quốc phòng, kinh tế,… và đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế của vùng Trung

du miền núi bắc bộ và của đất nước Cần phát huy tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý,

hệ thống kết cấu hạ tầng và huy động tối đa các nguồn lực để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra bước đột phá mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả, bền vững

- Phía Bắc giáp 02 huyện Chợ Đồn và Chợ Mới tình Bắc Kạn

- Phía Nam giáp huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

- Phía Đông giáp huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

- Phía Tây giáp 02 huyện Sơn Dương và Yên Sơn tình Tuyên Quang

Trang 33

- Tiểu vùng núi đá vôi: Phân bố ở trung tâm huyện chạy dọc theo hướng Bắc Nam, độ cao phổ biến từ 300 - 700m, thấp dần từ Bắc xuống Nam, điểm đầu là xã Linh Thông, Lam Vĩ chạy qua các xã Quy Kỳ, Kim Phượng, Tân Dương, thị trấn Chợ Chu, Phượng Tiến và Trung Hội

- Tiểu vùng đổi núi thấp: Phân bố ở trung tâm huyện và khu vực phía đông giáp với huyện Phú Lương, độ cao trung bình từ 200-300m, độ dốc từ 15-250, thuộc các xã: Tân Dương, Phượng Tiến, Bảo Cường, Kim Sơn, Phúc Chu, Đồng Thịnh, 17 Định Biên, Bình Yên, Trung Lương, Trung Hội, Phú Tiến và Bộc Nhiêu

- Độ ẩm không khí trung bình 82%, mùa khô mặc dù ít mưa nhưng có sương

mù nên độ ẩm không khí cao

- Tháng 12 và tháng 1 xuất hiện nhiều sương muối, đây là điều kiện bất lợi cho cây trồng

d Thủy văn Định hóa là đầu nguồn của sông Công, sông Chu, là các chi lưu

của hệ thống sông Cầu, lũ thường xuất hiện vào tháng 7 và tháng 8, trung bình 16,2m3/s, lưu lượng cực đại 319m3 /s, cực tiểu 2,3m3/s Lưu lượng chênh lệch giữa

Trang 34

các mùa là khá lớn, do hiện nay diện tích rừng bị suy giảm mạnh, kéo theo những tác động như hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra

- Nhóm địa hình núi đá vôi

f Hiện trạng rừng và đất rừng Huyện Định Hóa

Theo công bố mới nhất về hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp diện tích đất tự nhiên là 51.351,39 ha, trong đó đất quy hoạch cho sản xuất lâm nghiệp 32.702,25 ha Trong diện tích đất có rừng là 31.304,26 ha được chia ra:

Diện tích rừng tự nhiên: 19.010,5 ha;

- Phía Bắc giáp huyện Ba Bể

- Phía Nam giáp huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên

- Phía Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới

- Phía Tây giáp huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn, Na Hang tỉnh Tuyên Quang Với vị trí địa lý từ 105025’ đến 105043’ kinh độ Đông, từ 21057’ đến 22025’ vĩ

độ Bắc Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Bằng Lũng cách thị xã Bắc Kạn khoảng 46km theo tỉnh lộ 257 Huyện Chợ Đồn có hệ thống giao thông khá đầy đủ với đường tỉnh

Trang 35

lộ 254, 254B, 255, 257… các tuyến liên xã tương đối hoàn thiện tạo thuận lợi cho huyện trong giao lưu thương mại, phát triển kinh tế xã hội, du lịch

1.2.4.2 Địa hình, địa mạo

Huyện Chợ Đồn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây với các dạng địa hình phổ biến:

Địa hình núi đá vôi: Các xã phía Bắc thuộc cao nguyên đá vôi LangCaPhu kéo dài từ huyện Ba Bể đến thị trấn Bằng Lũng Địa hình chia cắt phức tạp bởi những dãy núi đá vôi với độ cao trên 1000m (núi Phia Khao xã Bản Thi) xen giữa các thung lũng hẹp, độ dốc bình quân từ 250 đến 300 Đây là nơi đầu nguồn của các sông chảy về hồ

Ba Bể

Địa hình núi đất: Các xã phía Nam thị trấn Bằng Lũng phần lớn là núi đất có

độ cao phổ biến 400m đến trên 600m, độ dốc bình quân từ 200 đến 250 Địa hình chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối khá dày đặc

Địa hình thung lũng: phân bố dọc theo các sông, suối xen giữa các dãy núi cao Các điều kiện tự nhiên nhìn chung khá thuận lợi cho phát triển canh tác nông lâm nghiệp kết hợp, cây ăn quả, cây đặc sản

1.2.4.3 Khí hậu

Khí hậu huyện Chợ Đồn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Miền Bắc Việt Nam Được hình thành từ một nền nhiệt cao của đới chí tuyến và sự thay thế của các hoàn lưu lớn theo mùa, kết hợp với điều kiện địa hình nên mùa đông (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau) giá lạnh, nhiệt độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối; mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,2oC (Nhiệt độ không khí trung bình cao nhất 26,5oC và thấp nhất là 20,8oC) Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6, 7 và tháng 8 (28oC -

29oC), nhiệt độ trung bình thấp nhất vào các tháng 1 và 2 (13,5oC), có năm xuống tới -2oC Nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,5oC Tổng tích nhiệt cả năm bình quân đạt 6800oC-

7000oC Mặc dù nhiệt độ còn bị phân hoá theo độ cao và hướng núi, nhưng không đáng kể

Lượng mưa thuộc loại thấp, bình quân 1.115mm/năm Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 6 và 7 có ngày mưa tới 340mm/ngày; thấp nhất là vào tháng 12 và tháng 1 năm sau 1,5mm/ngày Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm tới 75-

Trang 36

80% lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí trung bình 82%, thấp nhất vào tháng 2 với 79% và cao nhất vào tháng 7 tới 88%

Chế độ gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh và gió mùa Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông, tạo ra các trận mưa lớn về mùa hè

Những đặc điểm trên rất thích hợp cho trồng các loại cây nhiệt đới và á nhiệt đới, là điều kiện để đa dạng hoá cây trồng, tăng vụ; tuy nhiên cũng cần đề phòng mưa

lũ và hạn hán

1.2.4.4 Thổ nhưỡng

Theo số liệu thống kê, tổng diện tích tự nhiên của huyện Chợ Đồn là 91.115,00

ha, trong đó: sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp có 5005,85 ha, chiếm 5,49% tổng diện tích tự nhiên; đất lâm nghiệp có 64.731,22 ha, chiếm 71,04% tổng diện tích

tự nhiên; đất chuyên dùng có 4890,79 ha, chiếm 5,37% tổng diện tích tự nhiên; đất ở

có 483,53 ha, chiếm 0,53% tổng diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng có 14.268,61

ha, chiếm 15,66% tổng diện tích tự nhiên

Diện tích đất nông nghiệp không đáng kể, bình quân là 1.038m2/người, đất lâm nghiệp là 1,34 ha/người Diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn, khoảng 15,66% diện tích tự nhiên của huyện, trong đó đất đồi núi chưa sử dụng 12.925,78

ha Đây thực sự là tiềm năng lớn để phát triển sản xuất lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp

Về thổ nhưỡng, theo tài liệu và bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/100.000 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn, trên địa bàn huyện Chợ Đồn có các loại đất như sau:

+ Đất Feralit nâu vàng phát triển trên đá vôi, phân bố ở vùng phía Bắc huyện

từ Bằng Lũng đến Nam Cường Đất tơi xốp, độ ẩm cao, tầng đất dày, hàm lượng dinh dưỡng cao, tỷ lệ mùn 1,9-3,5%; tỷ lệ đạm trung bình nhưng nghèo lân tổng số Đất này thích hợp cho các loài cây lương thực, cây công nghiệp nhưng thiếu nước, dễ bị hạn vào mùa khô

+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét và đá biến chất; phân bố

ở vùng đồi, núi thấp thuộc các xã phía Nam Đất có tầng dày trung bình, có thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc pha sét Ở những nơi còn thảm thực bì rừng che phủ có tỷ

lệ mùn khá cao (3%-3,5%) Tỷ lệ đạm trung bình, đất này thích hợp cho sản xuất lâm

Trang 37

nghiệp, trồng cây công nghiệp Ở những nơi có độ dốc thấp, gần nguồn nước có thể trồng cây ăn quả

+ Đất dốc tụ và phù sa: sản phẩm của quá trình bồi tụ và sa lắng của các sông suối phân bố ở các thung lũng và dọc theo các con sông, suối Tầng đất dày, có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét, đất hơi chua, hàm lượng dinh dưỡng khá, thích hợp cho trồng các loại cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày như ngô, lạc, đậu tương

Nhìn chung đất đai của huyện phong phú, diện tích đất chưa sử dụng có một lượng lớn với nhiều chủng loại, kiểu địa hình khác nhau, thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại cây trồng và vật nuôi

1.2.4.5 Tài nguyên rừng

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010 của huyện có 64.731,22 ha đất lâm nghiệp, chiếm 71,04% so với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó rừng sản xuất có 47.444,31 ha, chiếm 52,07 % tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, rừng phòng

hộ có 15.498.91 ha, chiếm 17,01% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, rừng đặc dụng

có 1.788,00 ha chiếm 1,96% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Diện tích rừng của huyện Chợ Đồn khá nhiều, độ che phủ đạt trên 57%, phân bố trên tất cả các xã, thị trấn Tập đoàn cây rừng hiện có chủ yếu là cây gỗ tạp, tre, nứa, Keo, Mỡ và một số loại gỗ quý hiếm

Về chất lượng, một phần diện tích rừng ở Chợ Đồn hiện nay thuộc loại rừng non tái sinh, chất lượng và trữ lượng thấp, chỉ có tác dụng phòng hộ và cung cấp chất đốt Tài nguyên rừng đang bị xuống cấp về chất lượng, phẩm chất cây cũng như tỷ lệ các cây gỗ có giá trị cao ít (rừng nguyên sinh còn rất ít, hiện tại chủ yếu là còn rừng non, rừng tái sinh và rừng nghèo) Rừng giàu với các loại gỗ quý có giá trị kinh tế cao như lát, nghiến, táu, đinh tập trung ở một số địa bàn khu vực hiểm trở Động vật rừng trước đây rất phong phú gồm nhiều loại chim, thú quý như Voọc đen má trắng, lợn rừng, hươu xạ, cầy vằn bắc, hoẵng, vạc hoa, ô rô vảy, rùa sa nhân và báo lửa nhưng do diện tích rừng bị giảm mạnh trong những thập niên qua và nạn săn bắn trái phép nên hầu hết các loài thú cũng suy giảm theo

Trang 38

Để phát triển được quỹ rừng, được sự hỗ trợ của Trung ương, tỉnh và các tổ chức quốc tế, huyện Chợ Đồn đã tiến hành nhiều chương trình, dự án, trong đó có các chương trình 135, 134, dự án 327, dự án PAM 5322, dự án hợp tác Lâm nghiệp Việt Nam - Hà Lan, dự án 661, dự án 147, định canh định cư, đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn kết quả, độ che phủ đã được tăng lên hơn 57% năm 2010

Rừng là tài nguyên, là lợi thế tuyệt đối của huyện Chợ Đồn, khai thác hợp lý rừng sẽ không chỉ là nguồn nguyên liệu nhằm phát triển công nghiệp chế biến cho thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu mà còn là nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển bền vững sau này Những năm qua, huyện đã đầu tư nhiều cho công tác quản lý, phát triển và khai thác tài nguyên rừng, tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập Để khắc phục, ngoài các biện pháp hành chính, cần quan tâm nhiều hơn nữa tới công tác quy hoạch, lồng ghép các chương trình nhằm vừa phát triển, khai thác tốt các nguồn lợi rừng vừa nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững

cả về tăng trưởng, xã hội và môi trường trong tương lai

1.2.5 Nhận xét và đánh giá chung điều kiện khu vực nghiên cứu

1.2.5.1 Bảo tồn cây Tre Mai tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Bắc Kạn

Qua điều tra khảo sát bước đầu cho thấy, Thái nguyên là một trong những địa phương có diện tích rừng cây Tre Mai còn lại từ lâu đời Tập trung chủ yếu ở xã Linh Thông và xã Tân Dương huyện Định Hóa, và cũng là nơi được xem là nguồn gốc phân bố của cây Tre Mai Vì vậy, đây là vùng có địa hình thích hợp để phát triển loài này Chính vì vậy, thông qua Dự án đầu tư Phát triển giống cây Lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000-2015, Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp (trước đây gọi là Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc) đã xây dựng được Vườn bảo tồn cây đầu dòng cho các loài cây Lâm sản ngoài gỗ trong đó có cây Tre Mai với

số lượng 500 cây Hiện cây sinh trưởng phát triển tốt và đã cho sản phẩm thu hoạch măng và thân Đây là nguồn vật liệu đầu vào rất quan trọng để khai thác và phát triển nguồn gen cây Tre Mai tại Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc

Cây Tre Mai trên địa bàn tỉnh Bắc kạn được gây trồng khá rộng rãi ở các huyện phía nam của tỉnh như huyện Chợ Mới,Chợ Đồn,huyện Bạch Thông,khu vực thành Phố Bắc Kạn,

Trang 39

Việc gây trồng và phát triển cây Tre Mai ở tỉnh Bắc Kạn còn manh mún và tự phát,hiệu quả kinh tế không cao và chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về loài cây Tre Mai trên địa bàn tỉnh

1.2.5.2 Những thuận lợi và cơ hội cho phát triển cây Tre Mai

- Điều kiện tự nhiên (địa lý, địa hình, khí hậu) cho thấy ở Định Hóa và Chợ

Đồn có độ ẩm không khí cao, lượng mưa lớn, phù hợp với sinh trưởng và phát triển của rừng nói chung và cây Tre Mai

- Hệ thống giao thông đường bộ ở ở Định Hóa và Chợ Đồn thuận tiện cho việc

lưu thông vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm từ cây Tre Mai

- Cây Tre Mai được xác định là một trong những loài cây cung cấp nguyên liệu, măng trên địa bàn 2 tỉnh và được đánh giá nhiều hơn so với các loài tự nhiên (Vầu đắng, Loi, Nứa) vào các mục đích như: làm măng, xây dựng, ống đựng nước, đan lát,… Từ đó có thể thấy người dân địa phương cũng đã quan tâm đến gây trồng

và sử dụng Tre Mai Đây được coi là yếu tố tích cực nhằm phát triển nguồn gen cây Tre Mai tại địa phương

1.1.5.3.Khó khăn, hạn chế cho phát triển Loài Tre Mai

- Tập quán canh tác lạc hậu nên công tác chăm sóc đối với cây Tre Mai chưa được người dân quan tâm nhiều Công tác chăm sóc chỉ được tập trung thực hiện vào mùa cây ra măng để hạn chế việc phá hoại măng của người và gia súc, người dân chưa có ý thức phòng trừ sâu, bệnh hại măng

Tình hình sâu hại Đối với măng có nhiều loài sâu hại như Vòi voi, Bọ xít hại măng Nhiều bụi Tre Mai cây ở nơi ẩm thấp thường hay bị hại Đây sẽ là một trở ngại không nhỏ trong việc phát triển nguồn tài nguyên cây Tre Mai tại địa phương

Tư thương ép giá đây được coi là một thách thức lớn đối với người dân và các

tổ chức chính quyền tại địa phương trong công tác phát triển nguồn gen Tre Mai Như vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam cho thấy,Tre Mai trên thế giới đã được nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng, đến nhân giống, gây trồng và đánh giá đa dạng di truyền Tuy nhiên, các nghiên cứu ở Việt Nam để khai thác và phát triển nguồn gen Tre Mai còn rất ít đặc biệt thiếu những nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống, gây trồng loài cây này

Trang 40

cho mục tiêu lấy măng và lấy cây Vì vậy, việc khai thác và phát triển nguồn gen này

là hết sức cần thiết để góp phần nâng cao giá trị rừng trồng theo hướng lâm sản ngoài

gỗ nhằm gia tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích trồng rừng và phát triển kinh

tế xã hội theo hướng đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu trên thị trường quốc tế nhằm phát triển bền vững ở các tỉnh miền núi phía Bắc là rất cần thiết và cấp bách

Ngày đăng: 04/05/2019, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm