1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế một số bài học ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu của chương trình Tiểu học mới

92 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 TÔ THỊ HỒNG PHƯƠNG THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC VỀ CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC Ở LỚP 3 ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC TIỂU H

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TÔ THỊ HỒNG PHƯƠNG

THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC VỀ CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC Ở LỚP 3 ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC TIỂU HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TÔ THỊ HỒNG PHƯƠNG

THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC VỀ CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC Ở LỚP 3 ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI

Chuyên ngành: Giáo dục học ( Tiểu học)

Mã số: 8.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Tiến Đạt

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin trân trọng cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội II Đặc biệt thầy giáo PGS TS Đỗ Tiến Đạt là người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành Ban giám hiệu và tập thể giáo viên trường Tiểu học Bế Văn Đàn đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân – những người

đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2018

Người viết

Tô Thị Hồng Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Tiến Đạt Đề tài luận văn“Thiết kế một số bài

học ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu của chương trình Tiểu học mới”chưa từng

được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai phạm, tôi sẽ chịu mọi hình thức kỷ luật theo đúng quy định của việc nghiên

cứu khoa học

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2018

Người thực hiện

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

CÁC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC VỀ CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC LỚP 3 ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI 5

1.1 Vai trò của Toán học trong đời sống con người 5

1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học 6

1.3 Khái quát về các yếu tố hình học trong Chương trình và sách giáo khoa môn Toán lớp 3 hiện hành 8

1.3.1 Nội dung ; Mục tiêu; Chuẩn kiến thức, kĩ năng mạch kiến thức hình học trong Chương trình và sách giáo khoa môn Toán lớp 3 hiện hành 8

1.3.2 Định hướng về phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập Mạch kiến thức hình học trong Chương trình và sách giáo khoa môn Toán lớp 3 hiện hành 14

1.4 Vài nét khái quát chương trình môn Toán lớp 3 trong Dự thảo Chương trình môn Toán Tiểu học mới 24

1.4.1 Quan điểm xây dựng chương trình 24

1.4.2 Mục tiêu chương trình 27

1.4.3 Yêu cầu cần đạt 28

1.4.4 Nội dung giáo dục 31

1.4.5 Phương pháp giáo dục 36

1.4.6 Đánh giá kết quả giáo dục 40

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ MỘT SỐ KẾ HOẠCH BÀI HỌC THUỘC MẠCH KIẾN THỨC HÌNH HỌC MÔN TOÁN LỚP 3, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI 43

2.1 Một số quan điểm cơ bản 43

2.2 Cấu trúc bài học môn Toán học theo tiếp cận phát triển năng lực 44

Trang 6

2.3 Thiết kế một số bài học theo định hướng mạch kiến thức hình học trong

Dự thảo CT môn Toán lớp 3 mới 47

2.3.1 Thiết kế một số bài học về “Quan sát, nhận biết, mô tả hình dạng và đặc điểm của một số hình phẳng và hình khối” 47

2.3.2 Thiết kế một số bài học về “Thực hành đo, vẽ, lắp ghép, tạo hình gắn với một số hình phẳng và hình khối đã học” 57

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BÀI DẠY THỬ NGHIỆM THUỘC MẠCH KIẾN THỨC HÌNH HỌC MÔN TOÁN LỚP 3, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI 61

3.1 Kế hoạch bài học 61

3.1.1 Bài: Hình chữ nhật 61

3.1.2 Bài: Hình vuông 72

3.1.3 Bài: Điểm ở giữa Trung điểm của đoạn thẳng 65

3.1.4 Bài: Góc vuông Góc không vuông 76

3.2 Kết luận 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… ……….81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn mới hiện nay, Việt Nam đang trong thời kì hội nhập kinh

tế, giai đoạn đổi mới phát triển Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng vai trò giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”

Tiểu học là bậc học nền tảng, với mục tiêu nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở đúng đắn lâu dài về trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản để các em tiếp tục học Trung học cơ sở Các kiến thức, kỹ năng môn toán ở tiểu học

có nhiều ứng dụng trong đời sống Nó giúp các em nhận biết những mối quan hệ

về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó, học sinh nhận diện được một số khía cạnh của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động

có hiệu quả trong đời sống Mặt khác, môn Toán còn giúp vào việc rèn luyện phương pháp suy luận độc lập, tính linh hoạt, sáng tạo Giúp đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất của một người cần có như: cẩn thận, chính xác, làm việc có kế hoạch…

Trong đó, kiến thức về hình học là một trong những kiến thức chủ yếu của toán tiểu học Việc dạy các yếu tố hình học ở tiểu học sẽ giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, khả năng quan sát, trí tưởng tượng và kỹ năng thực hành những hiểu biết cần thiết khi tiếp xúc với những tình huống toán học trong cuộc sống hàng ngày Qua đó góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu giáo dục một cách toàn diện hơn

Việc tiếp nhận các mạch kiến thức của nội dung hình học giúp giáo viên nắm vững nội dung sách giáo khoa Từ đó sẽ chủ động và tự tin trong các hoạt động giáo dục, thực hiện tốt các mục tiêu dạy và học

Trên thực tế việc dạy học môn toán ở bậc tiểu học cho thấy kiến thức hình học là một nội dung không phải dễ dàng đối với giáo viên và học sinh:

Trang 9

- Cách tư duy nói chung, khả năng phân tích, tổng hợp, trí tưởng tượng không gian và khả năng thực hành đo góc, cạnh của học sinh tiểu học còn nhiều hạn chế Chính vì vậy, việc các em tiếp thu các kiến thức hình học còn gặp nhiều khó khăn

- Một bộ phận đáng kể các giáo viên chưa thật sự nắm vững được mạch kiến thức của nội dung hình học toán nên chưa thật sự tự tin, linh hoạt trong quá trình tổ chức dạy học mạch kiến thức này

Ngoài ra, khi đứng trước thực tiễn chuẩn bị triển khai CT và SGK mới

nếu các thầy cô giáo không hiểu rõ và thật sự nắm vững nội dung và phương pháp dạy học các yếu tố hình học theo định hướng của Chương trình mới thì

sẽ thiếu tự tin, chủ động và sẽ khó đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học ở rường tiểu học

Từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Thiết kế một số

bài học về các yếu tố hình học ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu của chương trình Tiểu học mới”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về Dạy học môn Toán theo định hướng phát triển năng lực và Dự thảo Chương trìnhTiểu học mới, môn Toán (dự thảo tháng 8/2018) để thiết kế minh họa một số bài học về các yếu tố hình học ở lớp 3 đáp ứng yêu cầu của chương trình Tiểu học mới, nhằm giúp giáo viên tiểu học nắm vững, vận dụng linh hoạt, chính xác trong quá trình triển khai

CT và SGK mới sắp tới

3.Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Thiết kế minh họa và dạy thử nghiệm một số bài học về các yếu tố hình học lớp 3theo hướng đáp ứng yêu cầu của chương trình tiểu học mới

Trang 10

4 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế minh họa và dạy thử nghiệm được một số bài học về các yếu tố hình học lớp 3 theo hướng đáp ứng yêu cầu của chương trình tiểu học mới (như một nghiên cứu tìm tòi ứng dụng bước đầu) thì sẽ giúp giáo viên có thể chủ động đáp ứng được yêu cầu dạy học các yếu tố hình học lớp 3 theo

CT mới

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu nội dung yếu tố hình học trong chương trình và sách giáo khoa môn Toán Tiểu học hiện hành

5.2 Tìm hiểu và phân tích nội dung và yêu cầu cần đạt về các yếu tố hình học nêu trong Dự thảo Chương trìnhTiểu học mới, môn Toán (mục V Nội dung giáo dục)

5.3 Tìm hiểu nhận thức của giáo viên tiểu học về nội dung và yêu cầu cần đạt trong dạy học các yếu tố hình học ở môn Toán lớp 3, CT hiện hành 5.4 Thiết kế minh họa một số Kế hoạch bài học về các yếu tố hình học ở lớp 3theo hướng đáp ứng yêu cầu Chương trình tiểu học mới

5.5 Dạy thử nghiệm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi, tính hiệu quả bước đầu của mô hình Kế hoạch bài học đã được đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu điều tra – quan sát

Trang 11

- Phương pháp nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu trải nghiệm

7 Đóng góp của luận văn:

7.1 Phân tích và làm rõ nội dung các yếu tố hình học trong chương trình

và sách giáo khoa môn Toán Tiểu học hiện hành

7.2 Phân tích nội dung và yêu cầu cần đạt về các yếu tố hình học nêu trong Dự thảo Chương trìnhTiểu học mới, môn Toán lớp 3

7.3 Thiết kế minh họa một số Kế hoạch bài học về các yếu tố hình học ở lớp 3theo hướng đáp ứng yêu cầu Chương trình tiểu học mới

7.4 Phân tích kết quả Dạy thử nghiệm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi, tính hiệu quả bước đầu của mô hình Kế hoạch bài học đã được đề xuất

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có

3 chương

Trang 12

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT

KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC VỀ CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC LỚP 3 ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC MỚI

1.1 Vai trò của Toán học trong đời sống con người

Toán học có vai trò đặc biệt quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông Môn Toán được coi là môn học công cụ, để trang bị các tri thức toán học, tri thức phương pháp được coi là cách thức học tập, nghiên cứu toán học, nghiên cứu sự vật hiện tượng, nghiên cứu thế giới quan Thông qua học toán, người học được hình thành, rèn luyện và phát triển tư duy Toán học cũng là phương tiện tuyệt vời giúp học sinh phát triển tư duy và nâng cao năng lực trí tuệ của con người bao gồm suy luận, trí tưởng tượng, phân tích và tổng hợp thông qua việc học ứng dụng lý thuyết vào giải các bài tập toán Sự phát triển của khoa học và công nghệ dựa trên nguồn nhân lực có tay nghề cao đòi hỏi phải có một nền tảng tư duy toán học mạnh mẽ Đầu tư nhấn mạnh vào giáo dục toán học sẽ đảm bảo tạo ra một lực lượng lao động ngày càng chất lượng

để đáp ứng những thách thức của thế kỉ mới Ngoài ra, toán học cũng là một môn học thú vị và hấp dẫn, cung cấp cho học sinh những cơ hội sáng tạo và kích thích sự ham học của học sinh

Trong nhà trường, dạy học toán nhằm mục đích giúp người học:

- Trang bị tri thức, kĩ năng toán học và vận dụng toán học: cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng, phương pháp toán học phổ thông cơ bản, thiết thực

- Phát triển năng lực trí tuệ: rèn luyện tư duy logic, chính xác; phát triển khả năng suy đoán, tưởng tượng; rèn luyện những hoạt động trí tuệ cơ bản:

Trang 13

phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá; hình thành những phẩm chất trí tuệ: tính linh hoạt, tính độc lập, tính sáng tạo; phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; chăm học và hứng thú học tập môn Toán; hình thành bước đầu phưng pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

- Giáo dục chính trị tư tưởng phẩm chất và phong cách lao động khoa học

- Tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập và đi vào cuộc sống lao động trong tương lai

1.2 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học

Ở học sinh tiểu học, nhất là học sinh đầu cấp, hệ thống tín hiệu thứ nhất còn chiếm ưu thế so với hệ thống tín hiệu thứ hai nên các em dễ bị ảnh hưởng bởi tác động bên ngoài Khả năng phân tích ở lứa tuổi này còn kém, do vậy các em thường tri giác tổng thể Tri giác không gian chịu nhiều tác động của trường tri giác gây ra các biến dạng, các “ảo giác”…Tri giác về thời gian của học sinh đầu cấp còn mang tính trực giác thời gian như bị kéo dài khi học sinh không có hoạt động nào lôi cuốn, bị rút ngắn khi có sự hấp dẫn Về sau, các hoạt động tri giác phát triển dần và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên chính xác dần

Sự chú ý không chủ định của học sinh tiểu học chiếm ưu thế Do khả năng tổng hợp kém nên sự chú ý của học sinh tiểu học còn phân tán; mặt khác khả năng phân tích cũng chưa phát triển nên học sinh tiểu học dễ bị lôi cuốn vào cái trực quan, gợi cảm Trường chú ý hẹp do không biết tổ chức sự chú ý

Sự chú ý của học sinh tiểu học thường hướng ra bên ngoài, vào hành động chứ chưa có khả năng hướng vào trong, vào tư duy

Trí nhớ trực quan- hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ logic, hiện tượng hình ảnh dễ ghi nhớ hơn các khái niệm trừu tượng

Trang 14

Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng chưa có sự tập trung, ít có tổ chức và còn chịu nhiều tác động của hứng thú, kinh nghiệm sống và các mẫu hình đã biết

Giai đoạn từ 18 tháng đến 2 tuổi, tư duy của trẻ đã bắt đầu có một số hoạt động nhận thức đơn giản dựa trên sự phối hợp cảm giác với sự vận động

Ở giai đoạn này, khả năng diễn đạt, biểu thị các đồ vật, sự kiện…hay còn gọi

là chức năng kí hiệu được hình thành Các hành động lúc đầu còn rời rạc dần dần kết hợp thành hệ thống, dần dần thực hiện theo hai chiều thuận nghịch

Đó là những chuyển biến tất yếu trong quá trình hình thành tư duy nhận thức

ở trẻ Đây cũng là giai đoạn chuyển tiếp kéo dài 4- 5 năm, giai đoạn tổ chức

và chuẩn bị cho giai đoạn sau (6 -7 tuổi)

Vào khoảng 6- 7 tuổi đến 11- 12 tuổi là giai đoạn phát triển mới của tư duy, nó được gọi là giai đoạn tư duy cụ thể Các thao tác tư duy ở giai đoạn này trong một chừng mực nhất định còn dựa trực tiếp trên các đồ vật, hiện tượng thực tại mà chưa được hình thành dựa trên các lời nói và các giả thiết bằng lời Có thể việc hành động trên các đồ vật, sự kiện bên ngoài còn là chỗ dựa hay điểm xuất phát cho các hành động trong trí não

Ở giai đoạn này xuất hiện những tiến bộ mới và cũng còn những hạn chế nhất định Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó còn từng phần mà chưa hoàn toàn tổng quát Một hạn chế khác của

tư duy cụ thể là do việc tổ chức các thao tác mới được thực hiện một cách chậm chạp, với từng bộ phận mà chưa hình dung được cùng một lúc toàn bộ các tổ hợp có thể có, nên yếu tố mò mẫm, thử- sai còn đóng một vai trò quan trọng trong nhận thức

Về cuối giai đoạn này (10- 11 tuổi), học sinh đạt được những tiến bộ về lĩnh vực không gian Các em đã nhận thức được các quan hệ giữa các hình với nhau ngoài các quan hệ nội bộ trong một hình như ở gian đoạn đầu cấp Đây

Trang 15

là giai đoạn hoàn thiện tư duy cụ thể, khắc phục dần các hạn chế và chuẩn bị cho sự phát triển tư duy ở một mức cao hơn

1.3 Khái quát về các yếu tố hình học trong Chương trình và sách giáo khoa môn Toán lớp 3 hiện hành

1.3.1 Nội dung ; Mục tiêu; Chuẩn kiến thức, kĩ năng mạch kiến thức hình học trong Chương trình và sách giáo khoa môn Toán lớp 3 hiện hành

- Tính diện tích hình chữ nhật, diện tích hình vuông

Ở lớp 3, học sinh được làm quen với việc mô tả, phân tích một hình cơ bản Sau khi học sinh đã học về điểm, đoạn thẳng, góc, độ dài của đoạn thẳng thì việc học về các hình cũng được tăng cường Ví dụ khi học về hình chữ nhật, hình chữ nhật được mô tả là hình có 4 góc vuông, có hai cạnh dài bằng nhau, hai cạnh ngắn bằng nhau Độ dài của cạnh dài được gọi là chiều dài, độ dài của cạnh ngắn được gọi là chiều rộng Học sinh tiếp tục nhận dạng sâu sắc hơn về các hình thông qua hoạt động đo đạc, vẽ hình Tiếp đó, học sinh được học tính chu vi một hình dựa trên cơ sở tính độ dài đường gấp khúc sau đó khái quát thành công thức toán học Sau khi học đến diện tích của một hình, được làm quen với đơn vị đo diện tích xăng- ti- mét vuông, học sinh tiếp tục được học cách tính một hình bằng công thức Như vậy, các yếu tố hình học ở

Trang 16

lớp 3 được sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp, hình thành kiến thức mới dựa trên những kiến thức đã học

1.3.1.2 Mục tiêu dạy học các yếu tố hình học lớp 3

- Có kiến thức ban đầu về góc vuông, góc không vuông

- Nhận biết các đặc điểm của hình chữ nhật, hình vuông

- Biết tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật

- Biết xác định trung điểm của các đoạn thẳng

- Biết vẽ hình tròn, xác định được tâm, bán kính, đường kính của đường tròn

1.3.1.3 Hướng dẫn nội dung chuẩn kiến thức, kĩ năng yếu tố hình học trong môn Toán lớp 3 hiện hành

Tiết

thứ Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt

Ghi chú, bài tập cần làm

Bài 1, bài 2, bài 3

- Biết sử dụng ê ke để nhận biết góc vuông, góc không vuông và vẽ được góc vuông (theo mẫu)

Bài 1, bài 2, bài 3, bài 4

Bài 1, bài 2, bài 3

Trang 17

Tiết

thứ Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt

Ghi chú, bài tập cần làm

- Biết cách đo và đọc kết quả

đo độ dài những vật gần gũi với học sinh như độ dài cái bút, chiều dài mép bàn, chiều cao bàn học

- Biết dùng mắt ước lượng độ dài (tương đối chính xác)

Bài 1, bài 2, bài 3 (a, b)

- Biết cách nhận dạng hình chữ nhật (theo yếu tố cạnh, góc)

Bài 1, bài 2, bài 3, bài 4

85 Hình vuông

(tr85)

- Nhận biết một số yếu tố (đỉnh, cạnh, góc) của hình vuông

- Vẽ được hình vuông đơn

Bài 1, bài 2, bài 3, bài 4

Trang 18

Tiết

thứ Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt

Ghi chú, bài tập cần làm

giản (trên giấy kẻ ô vuông)

- Giải toán có nội dung liên quan đến tính chu vi hình chữ nhật

Bài 1, bài 2, bài 3

87 Chu vi hình

vuông (tr88)

- Nhớ qui tắc tính chu vi hình vuông (độ dài cạnh x 4)

- Vận dụng qui tắc để tính được chu vi hình vuông và giải bài toán có nội dung liên quan đến chu vi hình vuông

Bài 1, bài 2, bài 3, bài 4

88 Luyện tập

(tr89)

Biết tính chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông qua việc giải toán có nội dung hình học

Bài 1 (a), bài 2, bài 3, bài 4

Bài 1, bài 2

Trang 19

Tiết

thứ Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt

Ghi chú, bài tập cần làm

97 Luyện tập

(tr99)

Biết khái niệm và xác định được trung điểm của một đoạn thẳng cho trước

Bài 1 (bước 1, bước 2), bài 2

- Biết: Hình này nằm trọn trong hình kia thì diện tích hình này bé hơn diện tích hình kia; một hình được tách thành hai hình thì diện tích hình đó bằng tổng diện tích của hai hình đã tách

Bài 1, bài 2, bài 3

Trang 20

Tiết

thứ Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt

Ghi chú, bài tập cần làm

- Vận dụng tính diện tích một

số hình chữ nhật đơn giản theo đơn vị đo là xăng-ti-mét vuông

Bài 1, bài 2, bài 3

Bài 1, bài 2, bài 3

- Tính được chu vi hình tam giác, hình chữ nhật, hình vuông

Bài 1, bài 2, bài 3, bài 4

Trang 21

Tiết

thứ Tên bài dạy Yêu cầu cần đạt

Ghi chú, bài tập cần làm

Bài 1, bài 2, bài 3

1.3.2 Định hướng về phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập Mạch kiến thức hình học trong Chương trình và sách giáo khoa môn Toán lớp 3 hiện hành

Trên thế giới, việc dạy học các yếu tố hình học luôn được các hệ thống giáo dục quan tâm và phát triển Các nhà khoa học và giáo dục đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu vấn đề này, nhằm tìm ra những giải pháp

hình thành kiến thức liên quan đến yếu tố hình học

Trong các chương trình toán tiểu học từ trước tới nay, các yếu tố hình học là một trong những mạch kiến thức chính, không tách thành phần riêng

mà được dạy xem kẽ với các kiến thức khác nhằm tạo ra mối liên hệ hữu cơ

và sự hỗ trợ chặt chẽ giữa các kiến thức với nhau Hệ thống kiến thức về các yếu tố hình học được chọn lọc và sắp xếp theo nguyên tắc đồng tâm và phát triển nhằm quán triệt tư tưởng hiện đại của toán học và phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí của học sinh tiểu học

Quá trình dạy học Toán ở Tiểu học hiện nay được chia làm hai giai đoạn

Có thể coi lớp Một đến lớp Ba là giai đoạn cơ bản Ở giai đoạn này, việc dạy các yếu tố hình học chủ yếu dựa vào trực quan, sự hỗ trợ của các đồ dùng học toán đơn giản, dễ làm Ở lớp Ba, việc dạy học các yếu tố hình học dần chuyển

từ yếu tố trực quan cụ thể sang trừu tượng, khái quát

Trang 22

1.3.2.1 Nguyên tắc dạy học

Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục

Tính khoa học trong quá trình dạy học ở tiểu học trước hết bằng chính nội dung dạy học ở tiểu học Tính khoa học được thể hiện trong phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học

Đảm bảo tính khoa học trong dạy Toán ở tiểu học là dạy đúng, dạy đủ những tri thức khoa học được quy định trong chương trình cấp học

Tính giáo dục là thuộc tính bản chất của quá trình dạy học ở tiểu học nhằm đạt tới sự phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức của con người mới Đảm bảo tính thống nhất giữa khoa học và giáo dục là trong quá trình dạy học đồng thời giúp học sinh nắm tri thức khoa học và hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh

Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính thực tiễn

Trong quá trình dạy học, đồng thời giúp học sinh nắm kiến thức Toán học (kiến thức phù hợp với thực tiễn), hình thành kĩ năng vận dụng thành thạo nhằm góp phần cải tạo hiện thực, cải tạo bản thân

Qua thực tiễn, nó khẳng định tính đúng đắn của khoa học Hệ thống các quy tắc, công thức Toán học chính là sản phẩm nghiên cứu tìm ra chân lí của các nhà khoa học

Đảm bảo tính cụ thể và tính trừu tượng

Học sinh tiểu học nhận thức từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể đến cái khái quát Vì vậy, giáo viên phải giúp học sinh tìm hiểu, phân tích qua những ví dụ cụ thể rồi mới khái quát thành quy tắc, công thức Toán học

Đảm bảo sự thống nhất giữa dạy và học

Trong quá trình dạy học, hoạt động học đóng vai trò chủ đạo Học sinh

tự giác, tự lực tiếp thu kiến thức dưới tác động của giáo viên Thông qua vai

Trang 23

trò của người giáo viên, học sinh phát huy được tính tự giác, tích cực, ham mê tìm kiến thức mới

Đảm bảo tính vững chắc của kiến thức với tính mềm dẻo của tư duy

Để đảm bảo nguyên tắc này trong quá trình dạy học, đòi hỏi người giáo viên phải làm cho học sinh nắm vững hệ thống kiến thức Toán học và khi cần

có thể nhớ và vận dụng linh hoạt trong từng tình huống Giúp học sinh biết nhớ nhiều, nhớ nhanh, nhớ lâu, nhớ chính xác điều đã học

Đảm bảo tính khoa học với tính vừa sức

Đây là một nguyên tắc vô cùng quan trọng trong dạy học Toán Bởi yêu cầu, nhiệm vụ học tập phải phù hợp với trí tuệ học sinh

Dạy học phù hợp khả năng, năng lực, trình độ phát triển của đối tượng học sinh, đảm bảo học sinh đều được phát triển ở mức cao nhất Những kiến thức toán học chúng ta truyền tải đến học sinh phải được học sinh tiếp thu trên

cơ sở phát huy hết khả năng của mình

Trên cơ sở chuẩn kiến thức, giáo viên có thể mở rộng, khắc sâu kiến thức cho học sinh có tư duy, tiếp thu nhanh hơn so với các bạn trong lớp, trong khối Nếu đưa những kiến thức quá cao đối với các em, các em không những không hiểu mà còn dẫn đến việc chán học, lâu dần các em sẽ bị mặc cảm với các bạn trong lớp

Như vậy, để đảm bảo nguyên tắc này đòi hỏi người giáo viên phải quan tâm đến trình độ phát triển chung của học sinh cả lớp, trình độ phát triển riêng từng đối tượng học sinh, từ đó mới có nội dung dạy học phù hợp

1.3.2.2 Một số phương pháp dạy- học toán lớp 3 hiện nay

*Phương pháp gợi mở- vấn đáp

Phương pháp gợi mở-vấn đáp là phương pháp không trực tiếp đưa ra những kiến thức hoàn chỉnh mà sử dụng một hệ thống các câu hỏi hướng dẫn học sinh suy nghĩ, lần lượt trả lời các câu hỏi, tường bước tiến dần đến kết

Trang 24

luận cần thiết giúp học sinh tự tìm ra kiến thức mới

Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức của học sinh, người ta phân biệt phương pháp này thành các dạng sau: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh hoạ và vấn đáp tìm tòi

Vấn đáp tái hiện: giáo viên đặt câu hỏi giúp học sinh nhớ lại những kiến thức đã học Loại vấn đáp này được sử dụng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học Vấn đáp giải thích minh hoạ: giáo viên minh hoạ bằng lời hoặc hình ảnh trực quan nhằm giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ

Vấn đáp tìm tòi: giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích sự tranh luận, trao đổi ý kiến giữa phụ huynh và học sinh, giữa các học sinh Thông qua đó học sinh dần phát hiện những kiến thức mới

Sự thành công của phương pháp gợi mở- vấn đáp phụ thuộc vào hệ thống câu hỏi thích hợp mà giáo viên đưa ra

Ví dụ:

Dạy bài “Diện tích hình chữ nhật”

- Giáo viên đưa ra hình chữ nhật và hỏi:

A B

+ Hình chữ nhật ABCD gồm bao nhiêu hình vuông?

+ Hãy nêu cách tính để tìm ra số ô vuông của hình chữ nhật ABCD

- Giáo viên hướng dẫn học sinh cách tìm số ô vuông trong hình chữ nhật ABCD:

Trang 25

+ Các ô vuông trong hình chữ ABCD được chia làm mấy hàng? Mấy cột?

+ Mỗi hàng có bao nhiêu ô vuông?

+ Hình chữ nhật ABCD có 3 hàng, mỗi hàng có 4 ô vuông, vậy hình chữ nhật ABCD có mấy ô vuông?

+ Mỗi ô vuông có diện tích là bao nhiêu?

+ Hình chữ nhật ABCD có 12 ô vuông, mà diện tích 1 ô vuông là 1 cm2 Vậy hình chữ nhật ABCD có diện tích bằng bao nhiêu xăng-ti-mét vuông? => Giáo viên kết luận: Diện tích hình chữ nhật ABCD là 12 xăng-ti-mét vuông:

+ Vậy muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm thế nào ?

- Giáo viên nhận xét, kết luận : “Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta lấy chiều dài nhân với chiều rộng (cùng đơn vị đo)”

* Phương pháp trực quan

Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học toán ở Tiểu học là cách giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động trực tiếp trên các sự vật, hiện tượng cụ thể (sơ đồ, hình vẽ, hiện tượng thực tế xung quanh, ) để từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng của môn Toán

Phương pháp dạy học trực quan có vị trí quan trọng trong dạy học ở Tiểu học Nó giúp học sinh tích luỹ biểu tượng ban đầu của các đối tượng toán học, tạo chỗ dựa cho quá trình suy nghĩ, tri giác tiếp theo đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng Trong nhiều trường hợp, trực quan chỉ là phương tiện tạo ra chỗ dựa ban đầu để suy nghĩ về cái

Trang 26

không thấy được trong quá trình tri giác trực quan Vì vậy, các phương tiện trực quan là cần thiết nhưng không đủ cho nhận thức toán học Khi sử dụng phương tiện trực quan vào dạy- học toán ở tiểu học cũng cần hiểu rõ tác dụng

và giới hạn của nó, nếu lạm dụng hoặc hiểu phiến diện sẽ hạn chế thậm chí kìm hãm tư duy của học sinh

Ở tiểu học, dù học sinh có thể tiếp thu tài liệu, nắm được một số khái niệm hay tính chất trừu tượng bằng lời giải thích của giáo viên nhưng hiệu quả còn thấp, nếu sự giải thích bằng lời không kết hợp với tổ chức cho học sinh tự mình phân tích- tổng hợp lời giải thích, cụ thể hóa bằng cách diễn đạt của chính mình Việc kiểm tra sự lĩnh hội các tài liệu trừu tượng bằng cách yêu cầu học sinh nêu ra các thí dụ cụ thể, trực quan tương ứng là điều cần thiết

Trong dạy học toán ở tiểu học, các phương tiện trực quan thường dùng là các sơ đồ, biểu đồ, hình vẽ, bảng…Các phương tiện này bao hàm cả hai mặt : vừa cụ thể, vừa trừu tượng, khái quát Khi sử dụng, giáo viên cần nắm rõ mục đích sử dụng, không chỉ dừng lại ở các thao tác với đồ dùng trực quan hay ở cảm giác hình tượng mà cần tập trung sự chú ý của học sinh vào mục đích chủ yếu là hình thành khái niệm hay các quan hệ toán học trừu tượng, thông qua trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích và tông hợp một các vừa sức lực học sinh

Sử dụng tốt các phương tiện, đồ dùng trực quan có ý nghĩa vô cùng quan trọng quyết định việc thực hiện có hiệu quả tiến trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

* Phương pháp quan sát

Quan sát gắn liền với trực quan Nếu coi phương pháp quan sát là phương pháp rất quan trọng trong dạy- học ở tiểu học thì không thể coi nhẹ phương pháp quan sát Không thể phủ rằng những biểu tượng đươc hình thành trên cơ sở các phương tiện trực quan càng phong phú thì tư duy trừu tượng càng có nội dung và có hiệu quả Nhưng việc sử dụng các phương pháp

Trang 27

trực quan chỉ có hiệu quả khi học sinh quan sát kĩ lưỡng, nhất là quan sát dưới

sự hướng dẫn của giáo viên hoặc kết hợp đàm thoại với giáo viên

Trong dạy học toán ở tiểu học, cần đề phòng một quan niệm đã tồn tại từ lâu là đánh giá cao vai trò của giải thích bằng lời mà cần vận dụng tốt mối liên hệ qua lại giữa lời nói, trực quan và quan sát, coi trực quan và quan sát là những chỗ dựa mở đầu cho một quá trình suy tưởng tiếp theo là phân tích và tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa ; thông qua quan sát, giáo viên hướng dẫn học sinh càng nhìn sự vật, hiện tượng, phân tích chúng, phát hiện những mỗi liên hệ từ đơn giản đến phức tạp, từ cảm tính đến bản chất hơn, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, sau đó diễn đạt bằng lời hoặc bằng ngôn ngữ kí hiệu những điều đã quan sát và rút ra kết luận

Thường hay gặp khi giải quyết các bài tập, khi quan sát kết hợp với phân tích đặc điểm và dữ kiện hoặc điều kiện, phát hiện ra những điểm nút làm cho việc giải phát triển theo chiều hướng ngắn gọn, hợp lí hơn Do đó, quan sát cũng là yếu tố mở đầu của sự tìm tòi, phát hiện một cách vừa sức các em Trong dạy học toán, ngay từ tiểu học, cần từng bước hình thành cho học sinh khả năng dự đoán trên cơ sở quan sát và phân tích các sữ kiện, sau đó dùng suy luận vừa sức để chứng minh Sơ đồ tổng quát của tư duy, đó là : Quan sát Dự đoán Chứng minh

Nhưng quan sát một mình nó chỉ có tác dụng làm cho học sinh nắm được các dấu hiệu bên ngoài Chỉ có kết hợp với các thao tác tư duy khác mới có thể giúp học sinh hiểu được những mối quan hệ trừu tượng bản chất theo yêu cầu của nhận thức toán học

* Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học giáo viên tạo ra những tình huống sư phạm có vấn đề liên quan đến bài học, tổ chức hướng dẫn học sinh phát hiện ra vấn đề, hoạt động tích cực, chủ động,

Trang 28

sáng tạo để giải quyết vấn đề Thông qua đó, học sinh hình thành kiến thức mới, rèn luyện kĩ năng và đạt được các mục đích học tập khác

Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, người thầy giáo là người tạo ra tình huống gợi vấn đề, tổ chức điều khiển học sinh thực hiện các hoạt động còn học sinh là người phát hiện ra vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo để giải quyết vấn đề Như vậy, trong dạy học dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề thì:

- Học sinh được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải được thông báo tri thức dưới dạng có sẵn

- Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, tận lực huy động tri thức và khả năng để phát hiện và giải quyết vấn đề chứ không phải chỉ nghe thầy giảng một cách thụ động

- Mục đích dạy học trong phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ làm cho học sinh lĩnh hội được kết quả của quá trình phát hiện và giải quyết vấn

đề mà còn làm cho các em phát triển khả năng tiến hành quá trình như vậy Hay nói cách khác học sinh học được bản thân việc học

- Như vậy: Bản chất của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh trong đó dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên, học sinh nắm được tri thức và cách thức hoạt động trí tuệ mới thông qua quá trình tự lực giải quyết các tình huống có vấn đề

* Phương pháp dạy học hợp tác

Dạy học hợp tác là cách dạy học trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động hợp tác với nhau trong nhóm nhỏ để giải quyết một vấn đề đặt ra, nhằm đạt mục tiêu học tập Khi sử dụng phương pháp này:

Học sinh được học cách cộng tác trên nhiều phương diện

Học sinh được nêu quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau

Trang 29

và đưa ra lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm Qua cách học đó, kiến thức của học sinh sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của học sinh được rèn luyện và phát triển Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra Học sinh hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp

Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp học sinh dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập

và sinh hoạt

Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của học sinh thêm phong phú; kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác của học sinh được phát triển

* Phương pháp trừu tượng hóa – khái quát, phân tích – tổng hợp

Đó là thao tác tư duy logic rất cơ bản, có mặt trong mọi quá trình nhận thức do đó chúng rất quan trọng trong dạy – học toán Trong lí luận dạy – học toán, chúng cũng được coi là phương pháp, tuy nhiên cần thấy rằng chúng chỉ

là một mặt – mặt bên trong, logic của PPDH toán nên thường được kết hợp với các phương pháp khác

Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh tiểu học chúng đều là những phương pháp khó nhưng học sinh cần từng bước nắm vững khi học toán Muốn vậy, cần đi từ yêu cầu thấp đến cao, rèn luyện liên tục, trong cả quá trình học toán ở tiểu học

Trang 30

* Phương pháp trò chơi trong dạy – học toán ở tiểu học

Ở tiểu học, nhất là ở lớp 3, trò chơi giữ một vai trò quan trọng và cần được coi là một thành phần trong nội quy dạy – học Trò chơi tăng tính chất vui trong học tập, kích thích hứng thú, nâng cao tính tích cực của tư duy Trò chơi được sử dụng phổ biến trong dạy – học toán ở tiểu học là “trò chơi đố” khi học số học, hình học, những bài toán vui (tìm một số được ngụy trang bằng một quan hệ toán học) xếp hình, đếm hình ; các trò chơi như đua ngựa, đánh bài bằng số được dùng để “luyện tập” các phép tính số học; các bài toán biến đổi hình, tạo ra các hình khác nhau bằng cách lắp ghép các mảnh rời có nhiều tác dụng phát triển óc tưởng tượng không gian và óc sáng tạo của học sinh

1.3.2.3 Đánh giá kết quả học tập các yếu tố hình học trong chương trình giáo dục lớp 3 hiện hành

- Đánh giá kết quả học tập môn Toán ở Tiểu học là một trong những giải pháp quan trọng để động viên, khuyến khích, hướng dẫn học sinh chăm học, biết cách tự học có hiệu quả, tin tưởng vào sự thành công trong học tập, góp phần rèn luyện các đức tính trung thực, dũng cảm, khiêm tốn…

- Đánh giá kết quả học tập môn Toán phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng trong từng giai đoạn học tập

- Cụ thể việc đánh giá kết quả học tập môn Toán ở lớp 3 hiện nay được phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá bằng điểm và đánh giá bằng nhận xét, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh

- Bộ công cụ và các hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán phải:

+ Đảm bảo đánh giá toàn diện, khách quan, công bằng, phân loại tích cực đối tượng học sinh

+ Phối hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận, giữa kiểm tra viết và kiểm tra hình thức vấn đáp, thực hành ở trong và ngoài lớp học…

Trang 31

+ Góp phần phát hiện để bồi dưỡng kịp thời những học sinh có năng lực đặc biệt trong học tập môn Toán

- Việc đánh giá kết quả học tập các yếu tố hình học ở lớp 3 hiện nay được thực hiện bằng hình thức tự đánh giá của học sinh, đánh giá bằng nhận xét của giáo viên trong các giờ học và đánh giá bằng điểm thông qua bài kiểm tra định kì cuối kì 1 và cả năm Trong chương trình giáo dục hiện hành, hướng dẫn học sinh tự đánh giá là rất quan trọng

1.4 Vài nét khái quát chương trình môn Toán lớp 3 trong Dự thảo Chương trình môn Toán Tiểu học mới

1.4.1 Quan điểm xây dựng chương trình

Chương trình môn Toán đổi mới quán triệt một số quan điểm về mục tiêu, yêu cầu cần đạt, kế hoạch giáo dục và các định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, đồng thời xuất phát từ đặc thù của môn học, nhấn mạnh những quan điểm sau:

1.4.1.1 Bảo đảm tính tinh giản, thiết thực, hiện đại

Nội dung chương trình môn Toán mới bảo đảm tính tinh giản rất hữu hiệu và thiết thực, hiện đại, phản ánh được những giá trị cốt lõi nhất của chương trình, nền tảng cơ bản nhất của văn hoá toán học mà học sinh cần đạt được, đặc biệt những nội dung quan trọng nhất thiết phải được đề cập một cách trọng tâm nhất trong nhà trường phổ thông để đáp ứng nhu cầu hiểu biết

về thế giới xung quanh các em cũng như hứng thú và sở thích ham học hỏi của người học Chương trình đã quán triệt rất rõ tinh thần “toán học cho mọi người”, điều này có nghĩa ai cũng được học Toán nhưng mỗi người học, họ

có thể học Toán theo một cách phù hợp nhất với sở thích và năng lực của chính mình

Nội dung chương trình môn Toán mới rất chú trọng đề cập tới các vấn đề

Trang 32

khá thiết thực, luôn gắn kết với đời sống thực tế hay nó còn liên quan tới các môn học khác, (đặc biệt liên quan tới các môn học thuộc lĩnh vực giáo dục STEM), hòa nhập với xu hướng ngày càng phát triển hiện đại của các ngành kinh tế, khoa học, đời sống và xã hội, những vấn đề cấp thiết có tính toàn cầu ngày càng được quan tâm

Các hoạt động giảng dạy trong tiết học đã chú trọng hơn về các vấn đề thực hành và trải nghiệm đó là điểm quan trọng trong giáo dục toán theo chương trình học tổng thể và được tổ chức với nhiều hình thức khác nhau như: thực hiện các đề tài, dự án học tập về Toán, hơn nữa với các đề tài và các

dự án liên quan về ứng dụng toán học trong thực tiễn; ngoài ra còn được tổ chức dưới dạng các trò chơi toán học, diễn đàn, câu lạc bộ toán học, hội thảo

và cuộc thi về Toán, điều này giúp tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có, đồng thời với kinh nghiệm của chính bản thân mình để ứng dụng vào thực tiễn và cuộc sống một cách sáng tạo

1.4.1.2 Bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán và phát triển liên tục

Chương trình môn Toán phải bảo đảm được tính chỉnh thể thống nhất trong suốt chương trình từ tiểu học đến hết trung học phổ thông, trong đó quan hệ (ngang và dọc) giữa các đơn vị kiến thức trong chương trình cần được làm sáng tỏ một cách tường minh nhất Chương trình môn Toán mới sẽ được thiết kế gồm hai nhánh song song với nhau, một nhánh sẽ mô tả tới sự phát triển của các mạch nội dung kiến thức cốt lõi, còn một nhánh mô tả tới

sự phát triển về năng lực và phẩm chất của người học Hai nhánh đó liên kết chặt chẽ với nhau, điều này cho ta thấy sự xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12, đồng thời nó thể hiện rõ ràng chương trình của từng lớp học Mặt khác, chương trình môn Toán còn cần chú ý tiếp nối được với chương trình giáo dục bậc mầm non, hướng nghiệp và giáo dục đại học

Trang 33

1.4.1.3 Bảo đảm tính tích hợp và phân hoá

Chương trình môn Toán thực hiện tích hợp các nội dung ở các môn Toán xoay quanh ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất, các nội dung này sẽ xuyên suốt chương trình toán học

ở các cấp

Chương trình môn Toán mới sẽ thực hiện tích hợp liên môn thông qua các nội dung của các môn học, các chủ đề liên quan hay các kiến thức toán học được khai thác và được sử dụng trong các môn học khác Điều này cho phép chúng ta khai thác tốt nhất những yếu tố liên môn được nêu ở trên, đặc biệt vừa mang lại hiệu quả với các bộ môn khác, hơn nữa nó sẽ góp phần củng cố kiến thức môn Toán nói chung, đồng thời sẽ góp phần rèn luyện cho học sinh những năng lực và có thể vận dụng tốt môn toán học vào đời sống thực tiễn

Chương trình môn Toán mới không những thực hiện tích hợp nội môn và liên môn mà con thể hiện thông qua các hoạt động thực hành và trải nghiệm học tập trong giáo dục toán học

Mặt khác, chương trình môn Toán mới còn phải bảo đảm yêu cầu phân hoá, cụ thể:

– Đối với chương trình học ở tất cả các cấp: Tăng cường dạy học theo hướng cá thể hoá người học phải đảm bảo ở hầu hết các học sinh (trên khắp

cả nước) và phải đáp ứng được yêu cầu của chương trình; đặc biệt chú ý tới các đối tượng như (học sinh năng khiếu, học sinh khuyết tật, )

1.4.1.4 Bảo đảm tính mềm dẻo, linh hoạt

Chương trình môn Toán tổng thể bảo đảm tính thống nhất về cả những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc của Chương trình giáo dục quốc gia; đồng thời có chương trình tự chọn sao cho phù hợp với từng địa phương và nhà trường sau đó triển khai kế hoạch giáo dục môn Toán một cách phù hợp với điều kiện của từng vùng miền và cơ sở giáo dục; đồng thời nó còn tạo điều kiện cho các nhà viết sách và giáo viên thỏa sức sáng tạo để thực hiện hiệu

Trang 34

quả chủ trương “một chương trình, nhiều sách giáo khoa”

Trong quá trình thực hiện chương trình tổng thể, thì môn Toán sẽ còn được tiếp tục phát triển để phù hợp với tiến bộ khoa học và yêu cầu của thực tế

1.4.2 Mục tiêu chương trình

1.4.2.1 Mục tiêu chung

Chương trình môn Toán học sinh cần đạt được các mục tiêu chủ yếu sau: – Hình thành và phát triển năng lực toán học, biểu hiện tập trung nhất của năng lực tính toán Năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán, góp phần hình thành và phát triển năng lực chung cốt lõi

– Có những kiến thức, kĩ năng toán học cơ bản, thiết yếu; phát triển khả năng giải quyết vấn đề có tính tích hợp liên môn giữa môn Toán và các môn học khác Tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tế

– Hình thành và phát triển các đức tính kỉ luật, kiên trì, chủ động, linh hoạt, độc lập, sáng tạo, hợp tác; thói quen tự học, hứng thú và niềm tin trong học Toán

1.4.2.2 Mục tiêu ở cấp tiểu học

Môn Toán cấp tiểu học nhằm giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau: a) Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt: thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản; đặt và trả lời câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề đơn giản; sử dụng được các phép toán và công thức số học để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, cách thức giải quyết vấn đề; sử dụng ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống không quá phức tạp; sử dụng được các công cụ, phương

Trang 35

tiện học toán đơn giản để thực hiện các nhiệm vụ học tập

b) Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về:

số và thực hành tính toán với các số; các đại lượng thông dụng và đo lường các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và yếu tố thống kê – xác suất đơn giản Trên cơ sở đó, giúp học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng này trong học tập và giải quyết các vấn đề gần gũi trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày, đồng thời làm nền tảng cho việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh

c) Phát triển hứng thú trong học toán; góp phần hình thành bước đầu các đức tính kỉ luật, chăm chỉ, kiên trì, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, thói quen tự học

1.4.3 Yêu cầu cần đạt

Thông qua chương trình môn Toán, học sinh cần hình thành và phát triển các đức tính kiên trì, kỉ luật, trung thực, hứng thú và niềm tin trong học Toán; đồng thời hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo

Học sinh cần hình thành và phát triển được năng lực toán học, biểu hiện tập trung nhất của năng lực tính toán Năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán

Biểu hiện cụ thể của các thành tố cốt lõi của năng lực toán học và yêu cầu cần đạt về năng lực toán học cho từng cấp học được thể hiện trong bảng dưới đây:

Trang 36

Các thành tố

1 Năng lực tư duy và lập luận toán học

thể hiện qua việc thực hiện được các

luận hợp lí trước khi kết luận

– Giải thích hoặc điều chỉnh cách thức giải

quyết vấn đề về phương diện toán học

– Thực hiện được các thao tác tư duy (ở mức độ đơn giản), đặc biệt biết quan sát, tìm kiếm sự tương đồng và khác biệt trong những tình huống quen thuộc và biết khẳng định kết quả của việc quan sát

– Biết đặt và trả lời câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề Bước đầu biết chỉ ra chứng cứ và lập luận có cơ sở, có lí lẽ trước khi kết luận

2 Năng lực mô hình hoá toán học thể hiện

qua việc thực hiện được các hành động:

– Sử dụng các mô hình toán học (gồm

công thức, phương trình, bảng biểu, đồ

thị, ) để mô tả các tình huống đặt ra

trong các bài toán thực tế

– Giải quyết các vấn đề toán học trong

mô hình được thiết lập

_Thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ

cảnh thực tế và cải tiến mô hình nếu

cách giải quyết không phù hợp

– Sử dụng được các phép toán, công thức số học, sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ

để trình bày, diễn đạt (nói hoặcviết) được các nội dung, ý tưởng, cách thức giải quyết vấn đề

– Giải quyết được các bài toán liên quan tới các mô hình được thiết lập

3 Năng lực giải quyết vấn đề toán học

thể hiện qua việc thực hiện được các

hành động:

– Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần

giải quyết toán học

– Đề xuất, lựa chọn được cách thức, giải

pháp giải vấn đề

– Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán

– Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết và đặt ra được câu hỏi

– Nêu được cách thức giải quyết vấn đề – Thực hiện và trình bày được cách thức giải quyết vấn đề

– Kiểm tra giải pháp đã thực hiện

Trang 37

Các thành tố

học tương thích (bao gồm các công cụ và

thuật toán) để giải quyết vấn đề đặt ra

– Đánh giá giải pháp đề ra và khái quát

hoá cho vấn đề tương tự

4 Năng lực giao tiếp toán học thể hiện

qua việc thực hiện được các hành động:

– Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được

các thông tin toán học cần thiết được

trình bày dưới dạng văn bản toán học

hay do người khác nói hoặc viết ra

– Trình bày diễn đạt (nói hoặc viết) được

các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học

trong sự tương tác với người khác (với yêu

cầu thích hợp về sự đầy đủ, chính xác)

– Sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học

(chữ số, chữ kí hiệu, biểu đồ, đồ thị, liên

kết logic, ) kết hợp với ngôn ngữ thông

thường hoặc động tác hình thể khi trình

bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng

toán học trong tương tác (thảo luận,

tranh luận) với người khác

– Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép tóm tắt được các thông tin toán học trọng tâm trong nội dung văn bản hay do người khác thông báo (ở mức độ đơn giản), từ

đó nhận vấn đề cần giải quyết

Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (chưa yêu cầu phải diễn đạt đầy đủ, chính xác) Biết đặt và trả lời câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề

– Biết sử dụng ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống không quá phức tạp

5 Năng lực sử dụng công cụ phương

tiện toán thể hiện qua việc thực hiện

được các hành động,

- Biết tên gọi, tác dụng, cách thức bảo quản

các đồ dùng, phương tiện trực quan thông

thường, phương tiện công nghệ (Đặc biệt là

phương tiện sử dụng công nghệ thông tin),

- Biết tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản công cụ, phương tiện toán học đơn giản như: que tính, thẻ số, thước, compa, êke, các mô hình hình học phẳng và không gian thông dụng,…

- Sử dụng các công cụ, phương tiện học

Trang 38

Các thành tố

phục vụ cho việc học toán

- Sử dụng thành thạo và linh hoạt các công

cụ, phương tiện học toán, đặc biệt là

phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi,

khám phá và giải quyết vấn đề toán học

(Phù hợp với đặc điểm nhận thức lứa tuổi)

- Chỉ ra được các ưu điểm, hạn chế của

những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có

1.4.4 Nội dung giáo dục

1.4.4.1.Nội dung khái quát

a Nội dung cốt lõi

Nội dung chương trình môn Toán được tích hợp xoay quanh ba mạch kiến thức: Số và Đại số; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất

Số và Đại số là cơ sở cho tất cả các nghiên cứu sâu hơn về Toán học, nhằm mục đích hình thành những công cụ toán học để giải quyết các vấn đề của Toán học, và các vấn đề lien quan khác Một mục tiêu quan trọng là tạo ra cho học sinh khả năng suy luận suy diễn, góp phần vào phát triển tư duy logic, khả năng sáng tạo toán học

Hình học và Đo lường là một trong những thành phần quan trọng nhất của giáo dục toán học, rất cần thiết cho việc tiếp thu các kiến thức cụ thể về không gian và các kĩ năng thực tế thiết yếu

+ Hình học hình thành những công cụ nhằm mô tả các đối tượng, thực thể của thế giới xung quanh Một mục tiêu quan trọng là tạo ra cho học sinh khả năng suy luận, kĩ năng thực hiện các chứng minh toán học, góp phần vào phát triển tư duy logic, khả năng sáng tạo toán học, trí tưởng tượng không gian và tính trực giác, ngoài ra còn giáo dục thẩm mĩ và nâng cao văn hoá toán học

Trang 39

Thống kê và Xác suất, góp phần tăng cường tính ứng dụng và giá trị thiết thực của giáo dục toán học Tạo cho học sinh khả năng nhận thức và phân tích các thông tin được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, hiểu bản chất xác suất, biết áp dụng tư duy thống kê để phân tích dữ liệu Từ đó, nâng cao sự hiểu biết và phương pháp nghiên cứu thế giới hiện đại cho học sinh

Ngoài ra, chương trình môn Toán ở từng cấp cũng dành thời lượng thích đáng để tiến hành các hoạt động thực hành và trải nghiệm toán học cho học sinh

– Giúp học sinh hiểu sâu thêm vai trò và những ứng dụng của Toán học trong đời sống thực tế, những ngành nghề có liên quan đến toán học để học sinh có cơ sở định hướng nghề nghiệp sau này, cũng như tạo cơ hội để học sinh vận dụng toán học vào việc giải quyết các vấn đề liên môn và thực tiễn Những ứng dụng này cũng nhằm góp phần hình thành cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc giáo dục STEM

– Tạo cơ hội để học sinh phát hiện năng khiếu, sở thích, phát triển hứng thú và niềm tin trong học Toán; phát triển năng lực toán học và năng lực tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến Toán học trong suốt cuộc đời

Trang 40

1.4.4.2 Nội dung mạch hình học và đo lường ở lớp 3

B HÌNH HỌC VÀ ĐO LƯỜNG B1 Hình học trực quan 1.Hình

hình khối

1.1 Quan sát nhận biết, mô tả hình dạng và đặc điểm của một số hình phẳng và hình khối đơn giản

– Nhận biết được trung điểm của đoạn thẳng

– Nhận biết được góc, góc vuông, góc không vuông

– Nhận biết được hình chữ nhật, hình vuông, hình tròn qua một số đặc điểm phẳng

và hình khối như đỉnh, cạnh, góc, tâm, bán kính, đường kính

– Nhận biết được một số yếu tố cơ bản như đỉnh, cạnh, mặt của hình lập phương, hình hộp chữ nhật

1.2 Thực hành đo,

vẽ, lắp ghép, tạo hình gắn với một số hình phẳng và hình khối đã học

– Thực hành vẽ góc vuông, đường tròn, vẽ trang trí

– Thực hành sử dụng êke để kiểm tra góc vuông, sử dụng compa để vẽ đường tròn – Thực hành vẽ hình vuông, hình chữ nhật (sử dụng lưới ô vuông)

– Thực hành giải quyết vấn đề liên quan đến gấp, cắt, ghép, xếp, vẽ và tạo hình trang trí

B2 Đo lường

1 Đo lường 1.1 Biểu tượng về

đại lượng và đơn vị

đo đại lượng

– Nhận biết được đơn vị đo độ dài hm, dam; bảng đơn vị đo độ dài

– Có biểu tượng về “diện tích” và nhận biết

Ngày đăng: 04/05/2019, 08:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w