Đối tượng nghiên cứu - Năng lực tự học của HS THPT - Biện pháp hướng dẫn HS tự học, sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn, sử dụng sơ đồ tư duy, sử dụng hệ thống bài tập để hướng dẫn HS t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VÀ CÂN BẰNG HÓA HỌC HÓA HỌC 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VÀ CÂN BẰNG HÓA HỌC HÓA HỌC 10
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN HÓA HỌC
Mã số: 8 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Đặng Thị Oanh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu và thực hiện, tôi đã hoàn thành xong luận văn thạc
sĩ với đề tài “ Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học Hóa học 10 ” Tôi vui mừng với thành quả đạt được và rất biết ơn đến các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè cùng các em học sinh đã giúp đỡ tôi khi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
- PGS.TS Đặng Thị Oanh đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết và thực hiện đề tài
- Các Giảng viên trường Đại học sư phạm Hà Nội, trường Đại học sư phạm
Hà Nội 2 đã giảng dạy, xây dựng cho tôi nền tảng kiến thức lý luận vững chắc
- Tập thể thầy cô, cán bộ công nhân viên phòng sau đại học đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được học tập, hoàn thành các khóa học
- Tập thể các thầy cô giáo, các em học sinh của trường THPT Nguyễn Thiện Thuật thuộc tỉnh Hưng Yên và THPT Từ Sơn thuộc tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm đề tài
- Gia đình, bạn bè đã tiếp sức, động viên tôi hoàn thành tốt luận văn
Cuối cùng tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Đỗ Minh Thu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng11 năm 2018
Tác giả luận văn
Đỗ Minh Thu
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Các phương pháp nghiên cứu 3
8 Điểm mới của đề tài 4
9 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA DẠY HỌC HÓA HỌC 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 5
1.2 Cơ sở lý luận về tự học 7
1.2.1 Quan niệm về tự học 7
1.2.2 Vị trí, vai trò của tự học 8
1.2.3 Các yếu tố của tự học 9
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học 12
1.3 Cơ sở lý luận về năng lực tự học 13
1.3.1 Khái niệm về năng lực, năng lực chung của học sinh trung học phổ thông 13
1.3.2 Năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông 14
1.3.3 Cấu trúc của năng lực tự học 15
Trang 61.4 Cơ sở lý luận về việc hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, tổ chức cho học sinh học tập theo tài liệu tự học có hướng dẫn, sử dụng
sơ đồ tư duy trong tự học và sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn học
sinh tự học 17
1.4.1 Hướng dẫn học sinh phương pháp tự học 17
1.4.2 Xây dựng và tổ chức cho học sinh học tập theo tài liệu tự học có hướng dẫn 18
1.4.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong tự học 22
1.4.4 Cơ sở lý luận về bài tập hóa học 24
1.5 Thực trạng về năng lực tự học của học sinh phổ thông 27
1.5.1 Mục đích điều tra 27
1.5.2 Đối tượng điều tra 27
1.5.3 Nội dung điều tra 27
1.5.4 Thu thập kết quả và đánh giá kết quả điều tra 28
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG OXI - LƯU HUỲNH VÀ CHƯƠNG TỐC ĐỘ PHẢN ỨNG VÀ CÂN BẰNG HÓA HỌC 37
2.1 Giới thiệu mục tiêu, phân tích nội dung chương trình và đặc điểm dạy học hai chương Oxi - Lưu huỳnh và Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học 37
2.1.1 Mục tiêu, yêu cầu của chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học 37
2.1.2 Cấu trúc chương trình của chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học 39
2.1.3 Đặc điểm về phương pháp dạy học chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học 40
Trang 72.2 Đề xuất bộ công cụ đánh giá năng lực tự học của học sinh 42
2.2.1 Đánh giá kiến thức kĩ năng kết quả tự học của HS thông qua bài kiểm tra 46
2.2.2 Đánh giá năng lực tự học của HS thông qua bảng kiểm quan sát của GV và phiếu tự đánh giá của HS 46
2.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học 48
2.3.1 Biện pháp 1: Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn cho học sinh 48
2.3.2 Biện pháp 2: Sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh tự học 68
2.3.3 Biện pháp 3: Sử dụng hệ thống bài tập để hướng dẫn học sinh tự học 71
2.4 Thiết kế kế hoạch bài học thực hiện dạy học theo 3 biện pháp trên 87
2.4.1 Kế hoạch dạy học theo biện pháp sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn 87
2.4.2 Kế hoạch dạy học tổ chức theo biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy 91
2.4.3 Kế hoạch dạy học tổ chức theo biện pháp sử dụng hệ thống bài tập để hướng dẫn học sinh tự học 95
Tiểu kết chương 2 101
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 102
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 102
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 102
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 102
3.2 Thời gian, đối tượng thực nghiệm 102
Trang 83.2.1 Thời gian thực nghiệm 102
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 102
3.3 Tiến hành thực nghiệm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các dạng tư liệu đến việc nâng cao năng lực tự học 103
3.3.1 Thực nghiệm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn 103
3.3.2 Thực nghiệm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng dạy học theo biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong tự học 104
3.3.3 Thực nghiệm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng dạy học theo biện pháp sử dụng hệ thống bài tập để hướng dẫn HS tự học 104
3.3.4 Xử lý thống kê toán học kết quả thực nghiệm thu được 105
3.4 Kết quả thực nghiệm 106
3.4.1 Đánh giá về tinh thần, thái độ và hứng thú của HS 106
3.4.2 Đánh giá năng lực tự học của HS theo bộ công cụ đã xây dựng 106
Tiểu kết chương 3 120
KẾT LUẬN CHUNG 121
1 Kết luận 121
2 Đề xuất 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI
Từ viết tắt Ý nghĩa
HS KT- ĐG
: :
Học sinh Kiểm tra - đánh giá GD&ĐT
NL
: :
Giáo dục và Đào tạo Năng lực
NLTH : Năng lực tự học
THCS : Trung học cơ sở THPT
PPDH SGK SBT BTHH TNKQ
TN
ĐC
: : : : : : : :
Trung học phổ thông Phương pháp dạy học Sách giáo khoa
Sách bài tập Bài tập hóa học Trắc nghiệm khách quan Thực nghiệm
Đối chứng
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng mô tả cấu trúc của năng lực tự học 16 Bảng 1.2 Kết quả điều tra năng lực tự học của học sinh 28 Bảng 1.3 Kết quả điều tra GV về những vấn đề liên quan đến năng lực
tự học của HS 32 Bảng 1.4 Đánh giá mức độ biểu hiện NLTH của HS (Mức độ biểu hiện
tăng dần từ 0 – 3) 33 Bảng 1.5 Những yêu cầu và biện pháp có thể phát triển NLTH Hóa học
cho HS THPT (Mức độ tăng từ 0 đến 3: chưa thực hiện, thỉnh thoảng, thường xuyên, rất thường xuyên) 33 Bảng 2.1 Cấu trúc chương trình chương Oxi - Lưu huỳnh 39 Bảng 2.2 Cấu trúc chương trình chương Tốc độ phản ứng và cân bằng
hóa học 40 Bảng 2.3 Bảng mô tả các mức độ đánh giá năng lực tự học 42 Bảng 2.4 Bảng kiểm quan sát dành cho GV và phiếu tự đánh giá của HS
về các mức độ của NL tự học 47 Bảng 3.1 Bảng thống kê điểm kiểm tra sau tác động lớp 10A3(ĐC) và
10A1(TN) THPT Nguyễn Thiện Thuật 106 Bảng 3.2 Bảng tham số thống kê đặc trưng lớp 10A3(ĐC) và 10A1(TN)
THPT Nguyễn Thiện Thuật 107 Bảng 3.3 Bảng thống kê điểm kiểm tra sau tác động lớp 10A4(ĐC) và
10A2(TN) THPT Nguyễn Thiện Thuật 107 Bảng 3.4 Bảng tham số thống kê đặc trưng lớp 10A4 (ĐC) và
10A2(TN) THPT Nguyễn Thiện Thuật 108 Bảng 3.5 Bảng thống kê điểm kiểm tra sau tác động lớp 10D(ĐC) và
10B(TN) THPT Từ Sơn 109
Trang 11Bảng 3.6 Bảng tham số thống kê đặc trưng lớp 10D(ĐC) và 10B(TN)
THPT Từ Sơn 109 Bảng 3.7 Bảng thống kê điểm kiểm tra sau tác động lớp 10C(ĐC) và
10A(TN) THPT Từ Sơn 111 Bảng 3.8 Bảng tham số thống kê đặc trưng lớp 10C(ĐC) và 10A(TN)
THPT Từ Sơn 111 Bảng 3.9.Tổng hợp ý kiến đánh giá tài liệu giảng dạy tự học có hướng
dẫn 112 Bảng 3.10 Tổng hợp ý kiến đánh giá tài liệu giảng dạy biên soạn theo
phương pháp sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn HS tự học 115 Bảng 3.11 Kết quả đánh giá năng lực tự học của HS do GV và HS tự
đánh giá 118
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Sơ đồ các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học 13 Hình 2.1 Sơ đồ mối liên hệ giữa các nội dung nghiên cứu các chất 41 Hình 3.1 Đường lũy tích điểm kiểm tra bài Lưu huỳnh lớp 10A3 (ĐC) -
10A1(TN) 107 Hình 3.2 Đường lũy tích điểm kiểm tra bài Axit sunfuric lớp 10A4(ĐC) -
10A2(TN) 108 Hình 3.3 Đường lũy tích điểm kiểm tra bài Luyện tập: Tốc độ phản ứng và
cân bằng hóa học lớp 10D(ĐC) - 10B(TN) 110 Hình 3.4 Đường lũy tích điểm kiểm tra bài Tốc độ phản ứng hóa học lớp
10C(ĐC) - 10A(TN) 112
Trang 13dục và Đào tạo đã xây dựng “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”, trong chương trình đã nhấn mạnh quan điểm đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh (HS) Một trong những năng lực cốt lõi của HS cần hình thành và phát triển đó là năng lực tự học Đây là một trong
những năng lực quan trọng và cần thiết của người HS trong thế kỉ 21 này
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế xã hội, toàn ngành giáo dục đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, phát huy tối đa khả năng tự học của HS; từng bước rèn luyện tư duy độc lập nhằm tạo ra những lớp người mới năng động sáng tạo, giàu tính nhân văn, đáp ứng được những yêu cầu của thời đại
Ngày nay với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, lượng kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng Việc tiếp thu kiến thức của HS nếu chỉ dựa vào các tiết học trên lớp là chưa đủ Do vậy, phải dạy cho HS cách học để có thể giúp họ trở thành những người có khả năng tự học suốt đời
Để góp phần đổi mới phương pháp tự học cho HS, nhiệm vụ đặt ra cho giáo viên (GV) là hết sức khó khăn Người GV phải có năng lực hướng dẫn HS tự học, biết thu thập và xử lý thông tin để tự biến đổi mình Qua thực tế dạy học cho thấy trình độ tiếp cận những kiến thức mới của HS còn hạn chế, khả năng tự học của HS chưa tốt, cách học ở đa số HS còn thụ động và phụ thuộc vào bài dạy trên lớp của
GV Đa số GV chưa có phương pháp dạy học hợp lý, chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đặc biệt chưa chú ý tới việc tăng cường tính tích cực chủ
Trang 14động, tự học, tự nghiên cứu của HS
Mặt khác, trong chương trình môn Hóa học lớp 10, chương Oxi – Lưu huỳnh
là một chương nghiên cứu về chất và nhóm chất sau khi đã học xong lý thuyết chủ đạo và sau khi đã học xong chương Halogen, theo logic nhận thức HS có nhiều điều kiện để có thể tự học tự nghiên cứu theo phương pháp suy diễn Còn với chương
“Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học” mặc dù là một chương nghiên cứu về kiến thức cơ sở hóa học chung nhưng lại là chương có nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn vì vậy việc tổ chức cho HS tự học tự nghiên cứu cũng khá thuận lợi
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài " Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc
độ phản ứng và cân bằng hóa học Hóa học 10 "
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho
HS lớp 10 thông qua dạy học chương “Oxi - Lưu huỳnh” và chương “ Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học ”góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học ở trường trung học phổ thông (THPT)
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn Hóa học THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Năng lực tự học của HS THPT
- Biện pháp hướng dẫn HS tự học, sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn, sử dụng sơ
đồ tư duy, sử dụng hệ thống bài tập để hướng dẫn HS tự học trong dạy học chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học, Hóa học 10
4 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy và học Hóa học chương: “Oxi - Lưu huỳnh” và “Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học” tại một số lớp 10 ở trường THPT Nguyễn Thiện Thuật, tỉnh Hưng Yên và trường THPT Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Trang 155 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn
- Tổng quan cơ sở lý luận: về năng lực; năng lực tự học; Vai trò của tự học, các hình thức tự học, phương pháp tự học …việc hình thành và phát triển năng lực
tự học cho HS
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn: Điều tra thực trạng quá trình tự học của HS và phương pháp hướng dẫn HS tự học của GV ở trường phổ thông
5.2 Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực tự học của HS
5.3 Đề xuất một số biện pháp rèn luyện và phát triển năng lực tự học của HS THPT thông qua dạy học môn Hóa học
5.4 Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp đã
đề xuất nhằm phát triển năng lực tự học của HS THPT
6 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số biện pháp tổ chức dạy học cho HS sử dụng tài liệu
tự học có hướng dẫn, sơ đồ tư duy và hệ thống bài tập để hướng dẫn HS tự học một cách hợp lý, phù hợp với đối tượng HS sẽ phát triển được năng lực tự học cho HS thông qua dạy học hóa học góp phần đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát các nguồn tài liệu để xây dựng phần cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, trò chuyện, điều tra với GV và HS để biết được thực trạng quá trình tự học hóa học của HS trong môn Hóa học
- Điều tra và thăm dò trước và sau quá trình thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến từ các GV có kinh nghiệm lâu năm và GV giỏi của trường
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.3 Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm
Trang 168 Điểm mới của đề tài
8.1 Tổng quan và làm sáng tỏ cơ sở lý luận năng lực, năng lực tự học; Vai trò của
tự học, các hình thức tự học , phương pháp tự học ….việc hình thành và phát triển
8.4 Đề xuất và sử dụng được một số biện pháp nhằm phát triển năng lực tự học của
HS THPT thông qua việc: Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn, sử dụng sơ đồ tư duy để tự học, sử dụng hệ thống bài tập để hướng dẫn HS tự học chương: "Oxi - Lưu huỳnh" và "Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học" Hóa học 10
8.5 Thực nghiệm sư phạm và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp đã
đề xuất
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được dự kiến trình bày trong 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển năng lực tự học của học sinh Trung học phổ thông thông qua dạy học Hóa học
Chương 2 Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÔNG QUA
thể như: “Phương pháp tích cực” (active methods), “Phương pháp cá thể hóa”,
“Phương pháp hợp tác” (cooperative methods), “Phương pháp nêu vấn đề”,… trong
đó “Phương pháp tích cực” được nghiên cứu triển khai rộng hơn cả
– 54
Bài báo khoa học Trang Quang Vinh, Nguyễn Thị Sửu, 2016 Xây dựng và
sử dụng bài tập phân hóa chương Hiđrocacbon không no Hóa học 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, số 6A, tr.25–35 và Lưu Thị Lương Yến, Nguyễn Thị Ngọc Bích, 2016: Phát
Trang 18triển năng lực tự học của học sinh thông qua việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Phần Hiđrocacbon – Hóa học 11 trung học phổ thông Tạp chí Khoa học,
Trường ĐHSP Hà Nội, số 6A, tr.136–145
Đi theo hướng này riêng trong lĩnh vực nghiên cứu về PPDH môn Hoá học
đã có một số công trình nghiên cứu như:
Luận văn Thạc sĩ “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh giỏi hoá học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (Chương Ancol-phenol và chương Anđehit-xeton)” của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai năm 2007
Luận văn Thạc sĩ “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh chuyên hóa học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (phần hóa học vô cơ lớp 12)” của tác giả Nguyễn Thị Toàn năm 2009
Luận án Tiến sĩ “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần kiến thức cơ sở hóa học chung - chương trình THPT chuyên hóa học góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh” của tác giả Nguyễn Thị Ngà năm
2010
Luận văn Thạc sĩ “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá hữu cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun” của tác giả Lê Hoàng Hà bảo vệ năm 2003 tại trường ĐHSP Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá vô cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun” của tác giả Hoàng Thị Kiều Trang bảo vệ năm 2004 tại trường ĐHSP Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ “Phát triển năng lực của học sinh trung học phổ thông thông qua dạy học chương Nito – Photpho” của tác giả Vũ Thị Thảo bảo vệ năm
2014
Luận văn Thạc sĩ “Sử dụng phương pháp grap và lược đồ tư duy nhằm nâng cao năng lực nhận thức, tư duy logic cho HS trong giờ luyện tập phần phi kim lớp
10 THPT” của tác giả Trần Thị Lan Phương bảo vệ năm 2009 tại ĐH Vinh
“Sử dụng SĐTD hướng dẫn HS ôn tập tổng kết kiến thức trong các bài ôn tập, luyện tập, ôn tập tổng kết hóa hữu cơ” của tác giả Vũ Thị Thu Hoài (2010),
Trang 19Hội nghị Hóa Học Toàn quốc lần thứ 5- Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ “Sử dụng grap và SĐTD trong giờ ôn tập, luyện tập phần hóa phi kim lớp 11 THPT” của tác giả Đinh Thị Mến bảo vệ năm 2011 tại ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác là các luận văn thạc sĩ, các khóa luận tốt nghiệp trong các môn học Hóa học vô cơ, Hóa học Hữu cơ theo hướng vận dụng tiếp cận mođun trong việc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn, hướng dẫn HS phương pháp tự học, sử dụng sơ đồ tư duy trong tự học cho sinh viên
và HS tuy nhiên thường chỉ nghiên cứu về các dạng bài về Chất và nguyên tố hóa học Để tiếp tục theo hướng nghiên cứu nhằm phát triển năng lực tự học của HS chúng tôi quyết định nghiên cứu mở rộng phần Thuyết và Định luật ở cả hai chương Oxi - Lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học
1.2 Cơ sở lý luận về tự học
1.2.1 Quan niệm về tự học
“Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập” Hồ Chí Minh
đã là một tấm gương sáng về tự học, theo Người: “tự động học tập” tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm
vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình”
GS Thái Duy Tuyên khẳng định: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm
để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử
xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”[24]
Tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng: “Tự học là đặt mình vào tình huống học, vào
vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra: nhận biết vấn đề xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lý tình huống…”[12]
Trang 20GS Nguyễn Cảnh Toàn đã trình bày trong công trình [19] của mình, ông cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi
cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình”
Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học
Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể
Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là người học luôn là chủ thể nhận thức, tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Như vậy tự học là mức độ cao của học, là sự tích cực, tự lực, chủ động của chủ thể nhận thức trong hoạt động học
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi sử dụng quan niệm về tự
học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
1.2.2 Vị trí, vai trò của tự học
Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu lên mục tiêu cụ thể, trong
đó có đề cập tới việc: "Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời" [14] Trong các giải pháp có nêu: "Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học"[14]
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học: Các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong hoạt động dạy học giáo viên
Trang 21không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức có sẵn, chỉ yêu cầu HS ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học
Rèn luyện kĩ năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh
mẽ cho HS trong quá trình học tập: Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi
cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất cho người học
Từ đó mới có thể đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng [10]
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt kịp nhanh với thách thức trong cuộc sống, kể cả trong môi trường nghề nghiệp [18]
1.2.3 Các yếu tố của tự học
1.2.3.1 Động cơ tự học
Từ điển Tiếng Việt đưa ra định nghĩa: “Động cơ là những gì thôi thúc con người có những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường gắn liền với những nhu cầu” Từ điển trực tuyến Wikipedia định nghĩa: “Động cơ là một chuỗi các lý do khiến chủ thể quyết định tham gia một hành vi cụ thể” [21]
Động cơ học tập là: “Động lực thúc đẩy học sinh học tập, trên cơ sở nhu cầu hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm vững tiến tới làm chủ tri thức mà mình được học tập, làm chủ nghề nghiệp đang theo đuổi” [19]
Trong rất nhiều động cơ học tập của HS, có thể tách thành hai nhóm cơ bản là: Động cơ hứng thú nhận thức, động cơ trách nhiệm trong học tập Sự nảy sinh động cơ TH lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm buộc phải hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã thúc đẩy hoạt động TH của HS
Động cơ tự học của HS được hình thành bởi sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: sự bất cập giữa trình độ bản thân với yêu cầu của công việc, nhu cầu thăng tiến, do tự ái bạn bè, đồng nghiệp, thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khao khát
Trang 22tri thức và cả những khó khăn về thời gian, trường lớp nếu đi học tập trung Chính những mâu thuẫn giữa yêu cầu của công việc, cuộc sống với khả năng của
HS làm xuất hiện nhu cầu tự học để nâng cao trình độ học vấn của họ
Động cơ tự học của HS xuất phát từ sự nhận thức, về yêu cầu nâng cao trình
độ, từ sự thúc bách của nhu cầu thực tiễn nên động cơ TH bền vững và do vậy trong hoạt động TH họ thực sự tích cực, tự giác hướng tới sự tự giáo dục, tự đào tạo bản thân Khi động cơ đủ mạnh, tuỳ vào điều kiện của bản thân để lựa chọn hình thức, nội dung và xây dựng kế hoạch tự học thích hợp cho mình
Như vậy, động cơ tự học hoàn toàn không xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay do người khác mang đến mà chỉ có thể nảy sinh một cách có ý thức trong từng
cá nhân nhờ các tác động phù hợp từ bên ngoài và chỉ có thể được nâng cao khi quá trình tự học có hiệu quả
1.2.3.2 Thái độ tự học
Thái độ tự học được hình thành trải qua 5 cấp độ trong đó cấp độ thấp nhất là
HS có được “nhu cầu tự học” và cao nhất là tự bản thân có được “tính tự giác”
Việc hình thành này trải qua nhiều giai đoạn và trong thời gian dài và cần phải có sự kiên trì
Thông thường thái độ tự học thể hiện qua một số mặt như dưới đây:
(1) Tự giác hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao và đạt kết quả cao
(2) Nghiêm túc trong các bài kiểm tra và thi cử …
(3) Đảm bảo chuyên cần trong học tập
(4) Tích cực thường xuyên tham khảo tìm hiểu thông qua các kênh thông tin tư liệu
(5) Tận dụng thời gian tự học ở nhà khi rảnh
1.2.3.3 Chu trình tự học
Chu trình tự học của học sinh là một chu trình qua 4 tiểu quá trình:
1.Tự nghiên cứu 2.Tự thể hiện
4.Tự kiểm tra 3.Tự điều chỉnh
Trang 23(1)- Tự nghiên cứu: Người học xác định nội dung theo định hướng của chủ
đề, đồng thời xác định bản chất của nội dung trong chủ đề, tiếp đó là xác định quan
hệ giữa các kiến thức mới thu nhận với nhau và với kiến thức đã có theo chủ đề học tập, cuối cùng là xác định vị trí của kiến thức mới trong hệ thống kiến thức đã có Như vậy kiến thức mới thu nhận và kiến thức đã có hợp thành một thể thống nhất biến thành vốn riêng lẻ của chủ thể
(2) - Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự
trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua
sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
(3) - Tự kiểm tra: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các
bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban
đầu của mình
(4) - Tự điều chỉnh: Sau khi thảo luận, hoàn thiện sản phẩm, người học tự
sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học Qua tiểu giai đoạn 4 này học sinh
sẽ có những kinh nghiệm mới đốc rút ra từ quá trình học và tự hoàn thiện mình hơn, đạt được kết quả tốt hơn
Chu trình tự nghiên cứu tự thể hiện tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất
cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học
1.2.3.4 Các hình thức tự học
Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn [19] có 5 hình thức tự học :
* Tự học hoàn toàn (không có sự giúp đỡ của GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu
thực tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lổ hỏng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch TH, không tự đánh giá được kết quả TH của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục TH
* TH trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập
ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để
Trang 24giúp HS có thể TH ở nhà, GV cần tăng cường KT- ĐG kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
* TH qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh
họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức TH này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình
* TH qua tài liệu hướng dẫn: trong tài liệu trình bày cả ND, cách xây dựng kiến
thức, cách KT kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được Song nếu chỉ dùng tài liệu TH, HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai
* Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp:
với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định, song nếu HS vẫn sử dụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành TH vì thiếu sự hướng dẫn về PP học
Qua việc nghiên cứu các hình thức TH ở trên thấy rằng mỗi hình thức TH có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để nhằm khắc phục được những nhược điểm của các hình thức TH đã có này và xét đặc điểm của học sinh học môn hoá học chúng tôi gợi ý một hình thức TH mới: Tự học theo tài liệu hướng dẫn và
có sự hướng dẫn một phần của GV gọi tắt là "tự học có hướng dẫn"
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học
Nhóm nhân tố bên trong: Năng lực học tập là nhân tố quan trọng bậc nhất,
mang sắc thái cá nhân, vì người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của chính mình, tự mình thấy là hiệu quả nhất Đồng thời động cơ, hứng thú tự học quyết định kết quả tự học của HS [11]
Nhóm nhân tố bên ngoài: Phương pháp dạy học của GV đóng vai trò quan
trọng trong việc bồi dưỡng cho các em phương pháp tự học, phương pháp làm việc độc lập ngay cả khi đang học ở nhà trường và khi tiếp tục học ở bậc cao hơn Ngoài
ra điều kiện cơ sở vật chất, yêu cầu của gia đình, nhà trường và xã hội cũng là yếu
tố ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư vào học tập của HS Yếu tố cuối cùng là thời gian,
Trang 25HS phải biết sắp xếp thời gian phù hợp với điều kiện để tự học [11]
Các nhân tố có thể được tóm tắt bằng sơ đồ sau:
Hình 1.1 Sơ đồ các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học
1.3 Cơ sở lý luận về năng lực tự học
1.3.1 Khái niệm về năng lực, năng lực chung của học sinh trung học phổ thông
1.3.1.1 Khái niệm về năng lực
Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực, trong luận văn này chúng tôi sử dụng thuật ngữ năng lực theo văn bản của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có
và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những
điều kiện cụ thể”[5]
GĐ, NT, XH có thể tác động
GV
Yêu cầu của
GĐ, NT,XH
Trang thiết
bị học tập
Tài liệu
HT
Trang 261.3.1.2 Phẩm chất, năng lực cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông
Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (8/2018) của Bộ Giáo dục và Đào tạo [5] đã đề xuất các phẩm chất và năng lực chung mà HS phổ thông cần được hình thành và phát triển đó là:
Về phẩm chất gồm 5 phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Các năng lực chung của HS THPT đó là: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất
Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu giúp cá nhân có thể sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động vào các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội như: Năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp,… Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau
Năng lực đặc thù môn học là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của các lĩnh vực học tập như ngôn ngữ, toán học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ, nghệ
thuật, đạo đức- giáo dục công dân, giáo dục thể chất
1.3.2 Năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông
Quan niệm về năng lực tự học có nhiều định nghĩa khác nhau, có tác giả cho
rằng : Năng lực tự học là năng lực sử dụng được các phương pháp, thủ thuật học
tập để đạt được mục đích học tập Cũng có tác giả cho rằng: Năng lực tự học là hệ
thống các năng lực thành tố có mặt ở đối tượng người học nhằm giúp người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống
Trang 27bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
Dù định nghĩa có thể khác nhau nhưng đặc điểm chung khi nói đến năng lực
tự học của cá nhân (HS) đều nhấn mạnh đó là sự tự giác, tích cực tự lực chiếm lĩnh
tri thức để đạt được mục tiêu học tập
1.3.3 Cấu trúc của năng lực tự học
Theo [5] năng lực tự học bao gồm 3 năng lực thành phần với 7 tiêu chí được thể hiện như sơ đồ dưới đây:
Trang 28NĂNG LỰC TỰ HỌC
Thành tố 1
Xác định được mục tiêu và nhiệm vụ học tập
Thành tố 2
Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập
Thành tố 3
Tự đánh giá, rút kinh nghiệm và điều
chỉnh quá trình HT
Tiêu chí 1
Xác định được các mục tiêu học tập
Tiêu chí 2
Xác định được các nhiệm vụ học tập
Tiêu chí 3
Xác định được yêu cầu cần đạt được
Tiêu chí 4: Lập kế hoạch
Hiểu rõ mục tiêu để đánh giá và tính toán những bước đi thích hợp, điều chỉnh được kế hoạch học tập
Tiêu chí 5: Thực hiện kế hoạch
Hình thành cách học tập, tự học phù hợp riêng và đạt được kết quả học tập cao của bản thân
Tiêu chí 6: ĐG rút kinh nghiệm
So sánh đối chiếu được kết quả học tập
từ đó tự đánh giá, nhận thức bản thân
Tiêu chí 7: Điều chỉnh
Rút kinh nghiệm,
tự điều chỉnh, bổ sung và tìm kiếm thông tin
Trang 291.4 Cơ sở lý luận về việc hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, tổ chức cho học sinh học tập theo tài liệu tự học có hướng dẫn, sử dụng sơ đồ tư duy trong
tự học và sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn học sinh tự học
1.4.1 Hướng dẫn học sinh phương pháp tự học
A Đixtecvec cho rằng: “Người giáo viên bình thường mang chân lý đến cho trò, người giáo viên giỏi biết dạy cho trò đi tìm chân lý”
Trong một thế giới khoa học kỹ thuật, công nghệ phát triển vừa mang lại sự biến đổi nhanh trong đời sống xã hội, vừa tạo ra sự chuyển dịch các định hướng giá trị, thì người giáo viên không thể chỉ đóng vai trò truyền đạt tri thức, mà đồng thời phải có khả năng phát triển những cảm xúc, thái độ, hành vi ứng xử của học sinh, đảm bảo cho học sinh làm chủ được và biết ứng dụng hợp lý những tri thức đó Đặc biệt trong hoạt động tự học, việc kiểm soát chuyển dần từ GV sang người học Người học phải thể hiện tính độc lập cao trong việc đưa ra mục tiêu và quyết định nội dung học cũng như biện pháp để thực hiện nhiệm vụ học tập (Lyman, 1997; Morrow, Sharkey, & Firestone, 1993) [25]
Trong tự học, GV chỉ nâng đỡ việc học của người học bằng cách làm cho việc học trở nên “rõ ràng” GV đưa ra mô hình của chiến lược học tập và làm việc với người học vì thế người học phát triển được khả năng tự làm việc một mình (Bolhuis, 1996; Corno, 1992; Leal, 1993) [25]
Tuy nhiên, tự học lại có tính cộng tác cao Trong tự học, người học thường cộng tác chặt chẽ với GV và với bạn học cùng lớp (Guthrie, Alao & Rinehart; 1997; Temple & Rodero, 1995) [25]
Do vậy để có một giờ học đạt mục tiêu phát triển năng lực tự học của HS
GV phải đầu tư khá nhiều thời gian để soạn bộ tài liệu hướng dẫn HS tự học có chất lượng, vừa đảm bảo nội dung chương trình, vừa đảm bảo tính vừa sức với HS Đồng thời trong quá trình dạy học GV phải là người tạo môi trường học tập cởi mở, thân thiện cho HS, thường xuyên thay đổi hoạt động của HS nhằm tạo nên những xúc cảm tích cực trong học tập, tự học của HS GV sử dụng những giờ lên lớp để rèn luyện cho HS kĩ năng, kĩ xảo tự học, đánh giá kết quả, điều chỉnh kế hoạch cho
Trang 30HS Nên có thể nói vai trò của GV rất quan trọng trong việc hướng dẫn HS tự học
1.4.2 Xây dựng và tổ chức cho học sinh học tập theo tài liệu tự học có hướng dẫn
1.4.2.1 Thế nào là tài liệu tự học có hướng dẫn
Theo [13] tự học có hướng dẫn có thể được thực hiện trực tiếp giữa thầy và trò: Thực hiện trong bài lên lớp (PP đàm thoại, PP dạy học nêu vấn đề, PP tích cực hoá hoạt động của HS…); thực hiện bằng hình thức giao nhiệm vụ, cũng có thể thực hiện gián tiếp giữa GV và HS thông qua "Tài liệu TH có hướng dẫn” Tài liệu TH
có hướng dẫn là tài liệu được biên soạn theo những đặc trưng và cấu trúc của một bài dạy Tài liệu có thể được phân thành nhiều loại: theo nội dung lí thuyết hoặc theo nội dung bài tập
1.4.2.2 Tài liệu tự học có hướng dẫn với nội dung lý thuyết
SGK Hóa học được coi là một trong những nguồn cung cấp tri thức cơ bản cho HS và là phương tiện để GV tổ chức các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng kiến thức, rèn luyện khả năng TH, tự lĩnh hội kiến thức cho HS SGK hóa học ở nước ta hiện nay là tài liệu được văn bản hóa có chứa đựng: mục tiêu, ND và
PP dạy học,tuy nhiên SGK thường chỉ trình bày kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức, để hình thành kĩ năng bởi vậy
HS rất bị động Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập và xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả Với tài liệu TH có hướng dẫn trong khóa luận này, ngoài những nguyên tắc chung về việc xây dựng ND, cấu trúc chương trình hoá học THPT, việc thiết kế tài liệu cho
HS chúng tôi đã đặc biệt chú ý các nguyên tắc sau:
Đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp về nội dung kiến thức với đối tượng sử dụng tài liệu
Đảm bảo tính logic, tính hệ thống của kiến thức
Đảm bảo tăng cường vai trò chủ đạo của lí thuyết
Đảm bảo được tính hệ thống của các dạng bài tập
Trang 31 Trình bày tinh gọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng, có hướng dẫn học tập cụ thể, thể hiện rõ ND kiến thức trọng tâm, gây được hứng thú cho người học
Đảm bảo góp phần bồi dưỡng năng lực TH, nâng cao chất lượng dạy học môn hoá cho HS
Chương trình học của HS được thực hiện qua "tài liệu TH có hướng dẫn" Mỗi bộ tài liệu TH có hướng dẫn thực hiện một nhiệm vụ học tập nhất định tương đối tổng quát Trật tự sắp xếp bộ tài liệu này phù hợp với thứ tự nội dung học tập trong sách giáo khoa
Đây là một tài liệu vừa cung cấp ND kiến thức vừa hướng dẫn hoạt động học
tập của HS đồng thời hướng dẫn cả hoạt động KT-ĐG kiến thức của HS
Về việc đọc tài liệu trước khi nghe giảng trên lớp: Đa số các em đều có ý thức đọc bài học mới trước khi đến lớp nhưng chủ yếu các em chỉ đọc qua một lần
để "nhớ được cái gì thì nhớ" hoặc chỉ chú tâm vào một vài phần kiến thức có vẻ hấp dẫn, thú vị Những phần kiến thức còn lại các em sẽ bỏ qua, chờ nghe GV giảng trên lớp Như vậy dẫn đến việc chuẩn bị bài của các em chưa đạt hiệu quả Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do các em chưa nắm được mục đích, yêu cầu của bài học Thông qua việc trả lời các câu hỏi hướng dẫn học lí thuyết và KT lại với đáp
án các em đã có thể nắm một cách tương đối đầy đủ, chắc chắn các kiến thức trọng tâm
và bước đầu vận dụng chúng
Việc TH của HS cũng gặp phải nhiều khó khăn trong khâu tự KT-ĐG Các
em rất khó tự đánh giá được mức độ đúng, đủ của những kiến thức mà mình thu được trong quá trình TH do không có một tài liệu KT chính xác, chi tiết cho từng bài học
Để khắc phục khó khăn này của các em, để phù hợp với xu hướng thi trắc nghiệm hiện nay và để các em HS có thể KT kiến thức của mình một cách nhanh chóng, trong tài liệu này ở mỗi bài học đều có hai đề bài tập TNKQ gồm các câu ở mức độ từ dễ đến khó, bám theo nội dung kiến thức của từng bài Dựa vào những đề bài tập này với thời gian cho phép (thường là 15 phút) và so sánh với đáp án đã được trình bày với thang điểm rất cụ thể các em HS có thể KT kiến thức của mình
Trang 32một cách chính xác là đang ở mức độ nào, còn hổng những vấn đề gì Qua đây các
em có thể tự đánh giá mức độ đạt yêu cầu của quá trình TH của bản thân
1.4.2.3 Tài liệu tự học có hướng dẫn với nội dung theo chủ đề bài tập
Đây là một tài liệu cung cấp ND kiến thức và hướng dẫn hoạt động học tập của HS thông qua hệ thống bài tập, đồng thời hướng dẫn cả hoạt động KT-
ĐG kiến thức của HS Tài liệu này được biên soạn theo những đặc trưng của hình thức kiểm tra (tự luận hay trắc nghiệm) và chuẩn kiến thức kỹ năng với độ
đa dạng cao cho phép người học tiến lên theo nhịp độ thích hợp với năng lực riêng (có thể nhanh hay chậm)
Phần này được trình bày một cách cụ thể, cách phân dạng của các dạng bài tập nằm trong khuôn khổ chương Oxi - lưu huỳnh và chương Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học Bài tập trong mỗi phần được sắp xếp theo độ khó tăng dần và được bố trí phần hướng dẫn giải theo các cấp độ Có những bài hướng dẫn giải chỉ
là một gợi ý nhỏ, một mắt xích nhưng từ đó HS sẽ gắn kết và phát triển ra cả bài toán, có những bài gợi ý là cách giải ngắn khoa học, rèn cho HS cách tư duy suy nghĩ
Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập hoá học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích vừa là ND lại vừa là PP dạy học hiệu nghiệm Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - một trạng thái hưng phấn - hứng thú nhận thức - một yếu tố tâm lí góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người
1.4.2.4 Hướng dẫn HS học theo tài liệu tự học có hướng dẫn
Trong phương pháp TH có hướng dẫn bằng tài liệu tự học có hướng dẫn thì
GV chỉ giúp đỡ khi HS cần thiết, chẳng hạn như: giải đáp các thắc mắc, sửa chữa những sai sót của HS, động viên HS học tập Kết thúc mỗi bài, GV đánh giá kết quả học tập của HS Qua đó một lần nữa có thể đánh giá được tác dụng của tài liệu tự học đối với từng đối tượng học sinh
Trang 331.4.2.5 Ưu và nhược điểm của phương pháp tự học theo tài liệu tự học có hướng dẫn
Ưu điểm Nhược điểm
Giúp HS học tập ở lớp và ở nhà có hiệu
quả
Tạo điều kiện cho HS học tập với nhịp độ
cá nhân, luyện tập việc tự đánh giá kết quả
học tập, học tập theo cách giải quyết vấn đề,
do đó nâng cao được chất lượng dạy học
thực tế
Cập nhật được những thông tin mới về
khoa học và công nghệ có điều kiện thuận lợi
trong việc bổ sung nội dung mới và tài liệu
dạy học
Đảm bảo tính thiết thực của ND dạy học
Đảm bảo được tính vững chắc của tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo
Việc thiết kế hệ thống dạy học
và biên soạn tài liệu tự học có hướng dẫn khá công phu và tốn kém Cần khoảng 3 đến 5 giờ biên soạn cho một bài dạy cho một giờ học Khoảng 5 đến 7 giờ để soạn ra một hệ thống bài tập cô đọng và có chất lượng
Đòi hỏi HS phải có động cơ học tập tốt, có năng lực học tập nhất định
Có thể nảy sinh tâm lí buồn chán do tính đơn điệu của việc
TH
Với các ưu, nhược điểm nói trên có thể sử dụng phương pháp TH có hướng dẫn trong các trường hợp sau:
Dạy học những ND quan trọng với nhiều đối tượng theo học
Dạy học những ND, kiến thức có liên quan nhiều đến ND đã được học ở lớp dưới, các kiến thức nâng cao cập nhật không nhiều và không quá khó
Dạy học những ND có tính biến động cao, thường xuyên phải đổi mới vì môđun
có khả năng “lắp ghép” và “tháo gỡ” nên có nhiều thuận lợi trong việc thay đổi ND, chương trình dạy học
Khắc phục những nhược điểm của hệ thống dạy học cũ như: đồng loạt, không phân hoá, không tiến triển theo nhịp độ cá nhân
Đặc biệt rất phù hợp cho hình thức đào tạo giáo dục từ xa nếu kết hợp với hình thức biên soạn tài liệu dạng mở
Trang 341.4.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong tự học
1.4.3.1 Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy (SĐTD)
SĐTD là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề, hệ thống hóa một hệ thống bài tập hay một mạch kiến thức, hệ thống hóa các cách giải của một dạng bài tập… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, HS có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng Do đó việc lập SĐTD phát huy được tối đa NL sáng tạo của mỗi người
Sử dụng SĐTD để hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì, cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu quả nhất mà lại mất ít thời gian
1.4.3.2 Các bước thực hiện một sơ đồ tư duy
Trang 35+ Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
- Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :
+ Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh
+ Bất cứ lúc nào có thể, bạn hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho riêng bạn
Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng (bằng cách vẽ nối ra từ một khúc) Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu Chúng ta thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
Ví dụ :
- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay bổng Bạn có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn
1.4.3.3 Hướng dẫn học sinh xây dựng sơ đồ tư duy trong tự học
- Bước 1: Để giúp HS làm quen với SĐTD, trước hết nên cho HS tập “đọc hiểu” một vài SĐTD do GV thiết kế sẵn hoặc lấy từ mạng Internet, sách tham khảo,… tập cho HS thuyết trình, diễn giải mạch nội dung kiến thức hàm chứa trong SĐTD đó một cách logic
Trang 36Cho HS hoàn thiện các SĐTD trống do GV đã vẽ sẵn nhưng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung,…
- Bước 2: Khi HS đã thành thạo việc lập SĐTD, GV hướng dẫn HS cách “ghi” bài học bằng SĐTD, ghi theo cách hiểu của các em, tóm lược các ý chính trong SGK, các nội dung mở rộng kiến thức mà thầy cô giáo đưa thêm vào bài giảng, các nội dung tham khảo thêm,… với cách “ghi” bài học bằng SĐTD giúp các em hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức
- Bước 3: Khi HS đã thành thạo việc lập SĐTD, đã sử dụng SĐTD trên lớp, GV hướng dẫn các em dùng SĐTD trong việc tự học ở nhà, ôn bài, hệ thống kiến thức của một chủ đề, một chương
Sử dụng SĐTD sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi xây dựng kiến thức mới Nhờ sự liên kết các nét vẽ cùng với màu sắc thích hợp và cách diễn đạt riêng của mỗi người, SĐTD giúp bộ não liên tưởng, liên kết các kiến thức đã học trong sách vở, đã biết trong cuộc sống… để phát triển, mở rộng ý tưởng Sau khi HS
tự thiết lập SĐTD kết hợp với việc thảo luận nhóm dưới sự gợi ý, dẫn dắt của GV, sẽ dẫn đến kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên
1.4.4 Cơ sở lý luận về bài tập hóa học
1.4.4.1 Khái niệm bài tập hóa học
Bài tập hóa học, đó là các vấn đề về lý thuyết, thực tiễn về ngành khoa học hóa học được mô hình hóa trong các dữ kiện của các dạng BTHH đặt ra cho HS dưới dạng câu hỏi, bài toán và trong khi tìm lời giải đáp họ sẽ tiếp thu được những kiến thức hóa học
Như vậy “BTHH bao gồm cả câu hỏi và bài toán hóa học được sử dụng như
là các vấn đề hoặc các tình huống học tập để HS vận dụng kiến thức đã có cùng với hoạt động tư duy để giải quyết, tìm ra những kiến thức mới và cả phương pháp nhận thức, giải quyết vấn đề, những bài tập được lựa chọn cần phù hợp với nội dung học tập” [22]
Để giải được những bài tập này HS phải biết suy luận logic dựa vào những kiến thức đã học, phải sử dụng những hiện tượng hóa học, những khái niệm, định
Trang 37luật, học thuyết, phép toán, cách tư duy sáng tạo và phương pháp nhận thức khoa học Bài tập và lời giải là nguồn tri thức mới cho HS trong hoạt động nhận thức
1.4.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học
Theo [23] BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất
để dạy HS tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức sẽ nhớ lâu khi vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: '' Kiến thức sẽ được năm vững thật sự , nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành''
BTHH giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ có vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
BTHH là phương tiện để ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất Thông qua BTHH, HS được rèn luyện các kỹ năng như kỹ năng viết và cân bằng phương trình hóa học, kỹ năng tính theo công thức và phương trình hóa học,
kỹ năng thực hành…
BTHH giúp rèn luyện tư duy, phát triển trí thông minh cho HS Một số vấn
đề lý thuyết cần phải đào sâu mới hiểu được trọn vẹn, một số bài toán có tính chất đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Đặc biệt là những bài tập có nhiều cách giải, yêu cầu HS giải bằng nhiều cách có thể có - tìm ra cách giải ngắn nhất, hay nhất - đó là một phương pháp rèn luyện tư duy cho HS Vì giải một bài toán bằng nhiều cách dưới các góc độ khác nhau thì khả năng tư duy của HS tăng lên gấp nhiều lần so với giải bài toán bằng một cách và không phân tích, mổ xẻ đến nơi đến chốn
BTHH còn được sử dụng như một phương tiện để nghiên cứu tài liệu mới ( hình thành khái niệm, định luật…) Khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững
BTHH còn làm chính xác hóa các khái niệm, định luật đã học
Trang 38BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý
BTHH còn là phương tiện để kiểm tra - đánh giá kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác
Giáo dục đạo đức, tác phong như rèn tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác, khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học ( có tổ chức, kế hoạch…) nâng cao hứng thú học tập bộ môn, điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm
Bản thân một BTHH chưa có tác dụng gì cả Không phải một BTHH '' hay '' thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là '' người sử dụng nó '', phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh có thể
có của bài toán, để HS tự tìm ra lời giải Lúc đó BTHH mới thực sự có ý nghĩa và phát huy được hết tác dụng của nó
1.4.4.3 Khái niệm về bài tập hóa học tự học có hướng dẫn
BTHH tự học có hướng dẫn là những BT lý thuyết, BT vận dụng những kiến thức đã học Các BT tự học có hướng dẫn có lời giải rõ ràng chính xác, giúp HS hiểu rõ nắm sâu kiến thức lý thuyết và rèn luyện cho HS kỹ năng trình bày bài BT
tự học có hướng dẫn gồm nhiều dạng BT được sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ
lý thuyết cho đến thực hành; giúp các em làm tốt những dạng BT trong kiểm tra và trong các đề thi
1.4.4.4 Yêu cầu của bài tập hóa học tự học có hướng dẫn
BTHH tự học có hướng dẫn phải đạt được các yêu cầu sau: phải là BT thật
sự hữu ích giúp HS hoạt động học tập thông qua tự học, phải chứa đựng đầy đủ các thông tin cần thiết để sau khi tự học HS có thể biết, hiểu các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng, vận dụng các kiến thức kĩ năng có được để làm bài và kiểm tra đánh giá Đồng thời, hình thức BT tự học có hướng dẫn phải được trình bày thật rõ ràng, cách giải ngắn gọn, hợp lý và dễ tiếp cận để giúp HS tự học đạt hiệu quả cao
1.4.4.5 Nguyên tắc sắp xếp hệ thống bài tập hóa học để phát triển năng lực tự học cho học sinh
* Sắp xếp theo từng dạng bài toán, bám sát nội dung dạy học để củng cố kiến thức,
Trang 39rèn luyện kĩ năng cho HS Với từng dạng bài toán có bài tập mẫu, hướng dẫn giải và các bài tập tương tự để HS vận dụng
* Hệ thống bài tập xếp theo nội dung kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất cần cung cấp cho HS và các phương pháp giải, kĩ năng giải BTHH cơ bản cần rèn luyện Hệ thống bài tập bao gồm cả bài tập định tính và bài tập định lượng Các bài tương tự nhau được bố trí gần nhau
* Sắp xếp các bài tập theo mức độ nhận thức tăng dần từ dễ đến khó, từ dơn giản đến phức tạp, từ cơ bản đến tổng hợp
1.5 Thực trạng về năng lực tự học của học sinh phổ thông
1.5.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu thực trạng hoạt động TH và rèn luyện kĩ năng TH của HS ở trường THPT Nguyễn Thiện Thuật tỉnh Hưng Yên và trường THPT Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh
1.5.2 Đối tượng điều tra
Để khảo sát một số thông tin liên quan đến NLTH của HS THPT, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến của 320 HS và 40 GV ở một số trường THPT đó là: THPT Nguyễn Thiện Thuật tỉnh Hưng Yên và trường THPT Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh
1.5.3 Nội dung điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra theo phiếu khảo sát với 2 đối tượng GV và HS:
* Phiếu điều tra dùng cho GV : chúng tôi sử dụng 9 câu hỏi về các vấn đề:
- Tìm hiểu thực trạng NLTH của HS THPT
- Tìm hiểu quan niệm của GV về một vài vấn đề của TH: đối tượng HS phù hợp với TH, tác dụng của TH, mức độ biểu hiện của NLTH
- Biện pháp và công cụ các thầy cô đã sử dụng để phát triển NLTH của HS
- Những khó khăn của HS trong TH
* Phiếu điều tra dùng cho HS:
- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học, vai trò của TH
- Tìm hiểu về thời gian và cách TH của HS
- Tìm hiểu những khó khăn của HS trong quá trình TH
Trang 401.5.4 Thu thập kết quả và đánh giá kết quả điều tra
1.5.4.1 Kết quả điều tra từ học sinh
Thông qua khảo sát một số thông tin liên quan đến năng lực tự học của HS Chúng tôi đã thực hiện khảo sát ở 8 lớp 10 trên tổng số 320 HS Trong đó đa phần
là HS có hạnh kiểm tốt, lực học trung bình, khá trở lên
Bảng 1.2 Kết quả điều tra năng lực tự học của học sinh
(320)
Phần trăm
Học tập để có kiến thức, cách giải quyết vấn đề, ứng dụng
kiến thức vào thực tiễn là hành trang cho bản thân bước vào
chủ yếu vào 3 nội dung:
+Bản thân chưa có cách học phù hợp
+ Kiến thức học tập nhiều quá mức cần thiết
+ Bản thân quá thụ động không tích cực trong học tập
182
58
46
56,87% 18,12 % 14,37%
HS tham gia học thêm các lớp học phụ đạo nhằm cho chắc
kiến thức, lấp đầy lỗ hổng, theo kịp chương trình học