1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Khóa luận tốt nghiệp) Tìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

76 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 728,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái NguyênTìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của hợp tác xã chè Phú Nam 1 xã Phú Đô huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

LƯU THỊ AN

Tên đề tài:

“TÌM HIỂU CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CỦA HTX CHÈ PHÚ NAM 1 XÃ PHÚ ĐÔ, HUYỆN PHÚ LƯƠNG,

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên nghành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế và Phát triển nông thôn Khóa : 2014 - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

LƯU THỊ AN

Tên đề tài:

“TÌM HIỂU CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CỦA HTX CHÈ PHÚ NAM 1 XÃ PHÚ ĐÔ, HUYỆN PHÚ LƯƠNG,

TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên nghành : Phát triển nông thôn Khoa : Kinh tế và Phát triển nông thôn

Khóa : 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Giang Cán bộ cơ sở hướng dẫn : Nguyễn Thị Hoàng

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi sinh viên, đây là thời gian

để sinh viên nghiên cứu, áp dụng những kiến thức lý thuyết với thực tế, củng cố và

nâng cao khả năng phân tích, làm việc sáng tạo của bản thân phục vụ cho công tác

sau này

Xuất phát từ nhu cầu thực tế đồng thời được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa

Kinh Tế và Phát triển nông thôn, em thực hiện đề tài: “Tìm hiểu cơ cấu tổ chức và

hoạt động kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1 xã Phú Đô, huyện Phú Lương,

tỉnh Thái Nguyên’’

Trong quá trình thực hiện đề tài này em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của

bác Phạm Ngọc Tân chủ tịch UBND xã Phú Đô, cán bộ hướng dẫn cô Nguyễn Thị

Hoàng giám đốc HTX, các thầy cô giáo khoa Kinh Tế và Phát triển nông thôn - trường

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Ths Nguyễn Thị Giang giảng

viên khoa Kinh Tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và

giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh Tế và Phát triển

nông thôn, Bác Phạm Ngọc Tân chủ tịch UBND xã Phú Đô, gia đình cô Nguyễn Thị

Hoàng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn

thành khóa luận

Do kiến thức còn hạn hẹp, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất

mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để đề

tài của em được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2018

Sinh viên Lưu Thị An

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Phú Đô năm 2017 32

Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã trong giai đoạn 2015 – 2017 34

Bảng 3.3: Tình hình chăn nuôi của xã trong giai đoạn 2015 – 2017 35

Bảng 3.4: Tình hình dân số và lao động xã Phú Đô 2015 - 2017 37

Bảng 3.5: Thông tin chung của các làng nghề chè 39

Bảng 3.6: Số lượng thành viên và giới tính trong HTX 44

Bảng 3.7: Tình hình vốn quỹ của HTX chè Phú Nam 1 45

Bảng 3.8: Sản lượng, năng suất một số giống chè kinh doanh tại HTX chè Phú Nam 1/năm/ha 53

Bảng 3.9: Giá bán của các giống chè tại HTX chè Phú nam 1 53

Bảng 3.10: Chi phí đầu tư cho các loại chè về máy móc, công cụ, dụng cụ trên 1 ha 56

Bảng 3.11 Chi phí đầu tư về giống của các loại chè trên 1 ha 57

Bảng 3.12 Chi phí trung gian của chè TRI777 và chè LDP1 trên 1 ha trong 1 năm 57

Bảng 3.13 Chi phí trung gian của chè trung du và chè kim tuyên trên 1 ha trong 1 năm 58

Bảng 3.14 Doanh thu của các hộ trồng chè theo giống chè/ha/năm 59

Bảng 3.15 Kết quả sản xuất chè của các hộ thành viên 59

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu giống chè của các hộ nông dân xã Phú Đô năm 2017 40

Hình 3.2: Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý của HTX 47

Hình 3.3: Sơ đồ kênh phân phối sản phẩm chè của các hộ xóm Phú Nam 1 55

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập 1

1.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.2.1 Về chuyên môn 2

1.2.2 Về thái độ 2

1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc 3

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện 3

1.3.1 Nội dung thực tập 3

1.3.2 Phương pháp thực hiện 3

1.4 Thời gian và địa điểm thực tập 6

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7

2.1 Cơ sở khoa học 7

2.1.1 Một số vấn đề về HTX 7

2.1.2 HTX nông nghiệp 12

2.1.3 Thủ tục đăng ký hợp tác xã 17

2.1.4 Điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã 19

2.1.5 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập 19

2.2 Cơ sở thực tiễn 19

2.2.1 Tình hình phát triển HTX ở Việt Nam 19

2.2.2 Một số giải pháp để phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam 29

PHẦN 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP 31

Trang 8

3.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Phú Đô 31

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Phú Đô 34

3.1.3 Thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Phú Đô 38

3.1.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè ở xã Phú Đô 41

3.1.5 Quá trình hình thành và phát triển của HTX chè Phú Nam 1 42

3.1.6 Những thành tựu HTX đã đạt được 45

3.1.7 Những thuận lợi và khó khăn của HTX chè Phú Nam 1 46

3.2 Kết quả thực tập 46

3.2.1 Tìm hiểu cơ cấu tổ chức bộ máy kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1 46

3.2.2 Những công việc tham gia làm tại HTX 49

3.2.3 Tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1 năm 2017 52

3.2.4 Bài học kinh nghiệm của bản thân rút ra từ thực tế 60

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX chè Phú Nam 1xã Phú Đô 60

3.3.1 Giải pháp về phương thức tổ chức và công tác cán bộ 60

3.3.2 Giải pháp về cơ chế chính sách 61

PHẦN 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

4.1 Kết luận 63

4.2 Kiến nghị 64

4.2.1 Kiến nghị với các cấp chính quyền 64

4.2.2 Đối với HTX chè Phú Nam 1 64

4.2.3 Đối với hộ nông dân 64

4.2.4 Đối với viện nghiên cứu, Trường Đại học 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập

Việt Nam là một nước nông nghiệp với gần 65,4% dân số sống ở nông thôn

và có thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp [15] Nông thôn Việt Nam có vai trò

hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước, công cuộc đổi mới

đất nước phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng “Công nghiệp hoá, hiện

đại hoá” mà nền tảng sản xuất nông nghiệp hàng hoá có vai trò hết sức quan trọng

Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, chè là cây công nghiệp truyền

thống và là cây có giá trị kinh tế cao Người dân trồng chè đã có nhiều kinh nghiệm

trồng và chế biến chè đồng thời đã biết tận dụng những điều kiện về đất đai, khí hậu

tạo nên sản phẩm chè Việt Nam nổi tiếng thế giới

Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu: Nhờ những

đặc tính tốt, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế giới Thói quen uống chè của

người dân Việt Nam bất kể ở nông thôn hay thành thị đã đi vào tiềm thức như là một

thức uống không thể thiếu được đối với mỗi gia đình Tác dụng chữa bệnh và chất

dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định như sau: Cafein và một

số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần

kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự

hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc

sau những lúc làm việc căng thẳng; Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa

một số bệnh đường ruột như tả, lỵ, thương hàn Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè,

đặc biệt là chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày; Chè

còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin PP và nhiều nhất là

vitamin C… Sử dụng chè một cách hợp lý, khoa học còn mang lại hiệu quả trong việc

điều trị một số bệnh liên quan đến tim mạch, cao huyết áp, các bệnh liên quan đến

tiêu hoá bài tiết Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng

chống phóng xạ (Chất Sr 90 - một đồng vị phóng xạ nguy hiểm) mở ra hướng điều trị

Trang 10

Cùng với giá trị kinh tế và giá trị tiêu dùng cao hiện nay cả nước đã có rất

nhiều tỉnh có điều kiện thích hợp đã và đang trồng chè Thái Nguyên là tỉnh có điều

kiện thích hợp cho cây chè Chè Thái Nguyên đã trở thành một mặt hàng có tiếng ở

trong nước, cũng như trên thị trường thế giới

Xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, là một trong những địa

phương có diện tích cũng như sản lượng chè lớn của huyện hiện nay Cây chè đã

góp phần hết sức quan trọng trong sản xuất hàng hoá, nâng cao thu nhập, làm giàu

cho nông dân Để khai thác hết tiềm năng, lợi thế của xã Phú Đô trong phát triển sản

xuất, chế biến và tiêu thụ sao cho đạt hiệu quả cao nhất cần phải có những giải pháp

đồng bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của địa phương

Xuất phát từ thực tế nói trên cùng với sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường,

ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Ths Nguyễn Thị Giang, em tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh của HTX

chè Phú Nam 1 xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu cụ thể

1.2.1 Về chuyên môn

chè Phú Nam 1 xã Phú Đô

kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1

kinh doanh của HTX chè Phú Nam 1

1.2.2 Về thái độ

xã Phú Đô

Trang 11

- Có tinh thần trách nhiệm cao khi nhận công việc được giao, làm đến nơi

đến chốn, chính xác kịp thời do đơn vị thực tập phân công

HTX để hoàn thành tốt các công việc chung bên cạnh đó cũng tự khẳng định được

năng lực của bản thân sinh viên

1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện

1.3.1 Nội dung thực tập

HTX chè Phú Nam 1

- Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển sản xuất, chế biến và tiêu

thụ chè của HTX chè Phú Nam 1

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh

doanh của HTX chè Phú Nam 1 xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

1.3.2 Phương pháp thực hiện

1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập dữ liệu, số liệu thông tin có sẵn từ UBND xã Phú Đô

- Kế thừa có chọn lọc những tài liệu điều tra cơ bản và tài liệu nghiên cứu

của các nhà khoa học có liên quan đến cây chè, mô hình sản xuất chè đã có, tài liệu

về cây chè

* Thu thập số liệu sơ cấp

- Thông qua việc hỏi ý kiến của những người chịu trách nhiệm quản lí chung,

Trang 12

- Dựa vào quan sát thực địa và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý HTX, các thành

viên để nắm được tình hình sơ bộ về không gian sống sinh hoạt và mức sống của

các thành viên trong HTX

- Tiến hành trên phạm vi hợp tác xã chè Phú Nam 1 thuộc xã Phú Đô,

huyện Phú Lương

* Phương pháp tổng hợp, so sánh

Từ những số liệu thông tin thu thập được, ta tiến hành tổng hợp lại sau đó đem

so sánh rồi phân tích các chỉ tiêu có được trong quá trình so sánh, từ đó đưa ra nhận xét

đánh giá rút ra kết luận hoặc nêu ra nguyên nhân của sự thay đổi

1.3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin

* Phương pháp xử lý thông tin

Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, đồng thời được xử lý

thông qua chương trình Excel Việc xử lý thông tin là cơ sở cho việc phân tích

* Phương pháp phân tích thông tin

Khi đủ số liệu, tiến hành kiểm tra, rà soát và chuẩn hóa lại thông tin, loại bỏ

thông tin không chính xác, sai lệch trong điều tra Toàn bộ số liệu thu thập được tổng

hợp, tính toán từ đó phân tích hiệu quả (vốn, đất đai, lao động, trình độ quản lý)

* Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất

- Chỉ tiêu về kết quả sản xuất

+ Tổng giá trị sản xuất (GO) của từng ngành kinh tế: Là giá trị bằng tiền của

các loại sản phẩm trên một đơn vị diện tích hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh

1

*

Tổng giá trị của chè được tính bằng cách lấy sản lượng, sản phẩm năm báo

cáo nhân với đơn giá Tổng giá trị sản xuất sẽ được nghiên cứu trên tổng các hộ

thành viên sản xuất chè trong HTX

+ Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất (trừ phần

khấu hao tài sản cố định) và dịch vụ sản xuất Trong sản xuất, kinh doanh chè, chi

Trang 13

phí trung gian bao gồm các khoản chi phí nguyên, nhiên vật liệu: Giống, phân bón,

thuốc bảo vệ thực vật, hệ thống cung cấp nước

=

i j

C

IC

1

Trong đó: Cj là các khoản chi phí thứ j trong một chu kỳ sản xuất

+ Khấu hao tài sản: Là lượng giá trị tương đương với giá trị hao mòn của tài

sản cố định trong thời gian phục vụ của nó

+ Giá trị gia tăng (VA): Là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành

sản xuất sáng tạo ra trong một năm hay một chu kỳ sản xuất Chỉ số này thể hiện kết

quả của quá trình đầu tư chi phí vật chất và lao động sống vào quá trình sản xuất

VA = GO - IC + Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần tuý của người sản xuất

bao gồm cả phần trả công lao động và phần lợi nhuận mà họ có thể nhận được trong

một chu kỳ sản xuất

MI = VA - (A + W) Trong đó: A: Là phần khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ

W: Tiền thuê công lao động (nếu có)

- Chỉ tiêu phản ánh phân bổ nguồn lực

Chỉ tiêu nguồn lực lao động phân bố cho sản xuất chè Các chỉ tiêu chi phí

vật chất và dịch vụ được sử dụng trong sản xuất chè Vốn đầu tư cơ bản bao gồm

toàn bộ giá trị các tài sản và dịch vụ đầu tư để xây dựng, các cơ sở hạ tầng và mua

sắm tài sản cố định

- Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội

Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp là chỉ tiêu được xem xét để phản ánh hoạt động

sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ chè có hiệu quả, năng suất lao động, mức tiêu dùng

Các chỉ tiêu về giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm sẽ phản ánh hiệu quả sản xuất

Có thể thể hiện chỉ tiêu hiệu quả theo công thức cơ bản sau:

H =

Trang 14

Trong đó: H: Hiệu quả

Q: Kết quả thu được C: Chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này tính toán cho toàn bộ quá trình sản xuất thì được tổng hiệu quả

kinh tế, chẳng hạn tổng giá trị gia tăng, tổng thu nhập hỗn hợp hay tổng lãi ròng thu

được Chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như: Tổng chi phí,

chi phí trung gian, chi phí lao động hay chi phí một yếu tố đầu vào cụ thể nào đó

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè

- Giá trị sản xuất/Chi phí trung gian

- Giá trị gia tăng/Chi phí trung gian

- Giá trị sản xuất/Công lao động

- Giá trị gia tăng/Công lao động

1.4 Thời gian và địa điểm thực tập

Thời gian: Từ ngày 15/1/2018 đến ngày 30/5/2018

Địa điểm: HTX chè Phú Nam 1 xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Một số vấn đề về HTX

2.1.1.1 Khái niệm

- Khái niệm hợp tác xã theo luật hợp tác xã năm 2003: "Hợp tác xã là tổ chức

kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau gọi chung là xã viên) có

nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật

này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp

nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời

sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân,

tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn

tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.”

- Theo luật hợp tác xã năm 2012 thì khái niệm này đã được thay đổi như sau:

thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất,

kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự

chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã

Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp

nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau

trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của hợp tác xã

thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản

lý liên hiệp hợp tác xã"

So với luật hợp tác xã năm 2003 thì luật hợp tác xã năm 2012 đã làm rõ được

bản chất của HTX là một tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể thành lập

trên tinh thần tự nguyện, nhằm lợi ích chung của các thành viên Luật hợp tác xã

năm 2012 đã bỏ quy định “HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”, quy

Trang 16

định này đã gây ra hai luồng ý kiến Đa số ý kiến cho rằng, hợp tác xã là tổ chức

kinh tế tự chủ do các thành viên tự nguyện thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu chung

của mình mà từng thành viên đơn lẻ không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu

quả hơn Một số ít ý kiến khác cho rằng: Cần khẳng định “hợp tác xã hoạt động như

một loại hình doanh nghiệp” như được quy định tại luật hợp tác xã năm 2003 vì

thực chất hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp đặc thù, cần được

bảo đảm hoạt động bình đẳng với mọi loại hình doanh nghiệp khác và có quyền

kinh doanh một số ngành nghề mà pháp luật không cấm

Theo ý kiến chúng tôi, chúng tôi ủng hộ quan điểm thứ nhất và nhận thấy

quan điểm thứ hai là chưa phù hợp Hợp tác xã với quan niệm thứ hai không có tác

dụng đối với hàng chục triệu hộ nông dân, hàng triệu hộ sản xuất nhỏ phi nông

nghiệp, hàng trăm nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì vấn đề đối với họ không phải

là góp vốn để tìm kiếm lợi nhuận, mà là cần một loại hình tổ chức phù hợp liên kết

họ lại với nhau, đáp ứng nhu cầu chung của họ về cung ứng và tiêu thụ những sản

phẩm, dịch vụ chung để giúp họ nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế, cải thiện thu

nhập và đời sống của mình.[11]

- Tại điều 1 Luật HTX sửa đổi được thông qua tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội

khóa XI vào tháng 11 năm 2003 quy định: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá

nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức

lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên

tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế,

xã hội của đất nước

HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và

các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật”.[13]

2.1.1.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX nông nghiệp

Theo điều 7 - Luật HTX 2012 quy định:

* Tự nguyện

1 Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi

hợp tác xã Hợp tác xã tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi liên hiệp hợp tác xã

Trang 17

2 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã

thành viên

3 Thành viên, hợp tác xã thành viên có quyền bình đẳng, biểu quyết ngang

nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động

của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời,

chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và

những nội dung khác theo quy định của điều lệ

4 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động

của mình trước pháp luật

5 Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có

trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ

Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ

sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên hoặc theo công sức

lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm

6 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng

cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác

xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp

hợp tác xã

7 Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng

thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào

hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế.[2]

2.1.1.3 Điều lệ HTX

Khi thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bên cạnh các vấn đề về vốn,

nhân lực, trụ sở,… thì bản điều lệ cũng là một yếu tố bắt buộc không thể thiếu Một

bản điều lệ hoàn chỉnh, hợp lệ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cần phải có đầy

đủ các nội dung cụ thể như sau:

- Tên gọi, địa chỉ trụ sở chính; Biểu tượng của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác

xã (nếu có)

Trang 18

- Ngành, nghề sản xuất, kinh doanh

- Đối tượng, điều kiện, thủ tục kết nạp, thủ tục chấm dứt tư cách thành viên,

hợp tác xã thành viên; Biện pháp xử lý đối với thành viên, hợp tác xã thành viên nợ

quá hạn

- Mức độ thường xuyên sử dụng sản phẩm, dịch vụ; Giá trị tối thiểu của sản

phẩm, dịch vụ mà thành viên, hợp tác xã thành viên phải sử dụng; Thời gian liên tục

không sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhưng không

quá 03 năm; Thời gian liên tục không làm việc cho hợp tác xã đối với hợp tác xã tạo

việc làm nhưng không quá 02 năm

- Quyền và nghĩa vụ của thành viên, hợp tác xã thành viên

- Cơ cấu tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và phương thức hoạt động của hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản

trị, giám đốc (tổng giám đốc), ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên; Thể thức bầu, bãi

nhiệm, miễn nhiệm thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, ban kiểm

soát hoặc kiểm soát viên; Bộ phận giúp việc cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Số lượng thành viên, cơ cấu và nhiệm kỳ của hội đồng quản trị, ban kiểm soát;

Trường hợp thành viên hội đồng quản trị đồng thời làm giám đốc (tổng giám đốc)

Trình tự, thủ tục tiến hành đại hội thành viên và thông qua quyết định tại đại

hội thành viên; Tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục bầu đại biểu tham dự đại hội đại biểu

thành viên

- Vốn điều lệ, mức vốn góp tối thiểu, hình thức góp vốn và thời hạn góp vốn;

Trả lại vốn góp; Tăng, giảm vốn điều lệ

- Việc cấp, cấp lại, thay đổi, thu hồi giấy chứng nhận vốn góp

- Nội dung hợp đồng dịch vụ giữa hợp tác xã với thành viên, giữa liên hiệp

hợp tác xã với hợp tác xã thành viên bao gồm nghĩa vụ cung ứng và sử dụng sản

phẩm, dịch vụ; Giá và phương thức thanh toán sản phẩm, dịch vụ Đối với hợp tác

xã tạo việc làm, nội dung hợp đồng dịch vụ giữa hợp tác xã và thành viên là nội

dung hợp đồng lao động giữa hợp tác xã và thành viên

Trang 19

- Việc cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm mà hợp tác xã, liên

hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho thành viên, hợp tác xã thành viên ra

thị trường Tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm mà hợp tác xã, liên

hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho thành viên, hợp tác xã thành viên ra

thị trường cho từng lĩnh vực, loại hình theo quy định của Chính phủ

- Đầu tư, góp vốn, mua cổ phần, liên doanh, liên kết; Thành lập doanh

nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

- Lập quỹ; Tỷ lệ trích lập quỹ; Tỷ lệ, phương thức phân phối thu nhập

- Quản lý tài chính, sử dụng và xử lý tài sản, vốn, quỹ và các khoản lỗ; Các

loại tài sản không chia

- Nguyên tắc trả thù lao cho thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát

hoặc kiểm soát viên; Nguyên tắc trả tiền lương, tiền công cho người điều hành,

người lao động

- Xử lý vi phạm điều lệ và nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ

- Sửa đổi, bổ sung điều lệ.[14]

2.1.1.4 Các loại hình HTX

* HTX dịch vụ

- HTX dịch vụ từng khâu: Có nội dung hoạt động tập trung ở từng lĩnh vực

trong quá trình sản xuất hoặc từng khâu công việc như: Đầu vào, đầu ra, phòng trừ

sâu bệnh…

- HTX dịch vụ tổng hợp đa chức năng: Có nội dung hoạt động đa dạng, gồm

nhiều khâu dịch vụ cho sản xuất như: Cung ứng vật tư đầu vào, tiêu thụ sản phẩm,

dịch vụ giống, phòng trừ sâu bệnh, tưới tiêu…

- HTX dịch vụ chuyên ngành: HTX này được hình thành từ nhu cầu của các

hộ thành viên cùng sản xuất, kinh doanh một loại hàng hóa đặc trưng, hoặc cùng

làm một nghề giống nhau (HTX trồng rừng, HTX trồng mía…) HTX thực hiện các

khâu dịch vụ của kinh tế hộ như chọn giống, cung ứng vật tư, trao đổi hướng dẫn kỹ

thuật, dịch vụ vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, đại diện các hộ thành viên quan hệ

với các cơ sở chế biến, tổ chức tín dụng…

Trang 20

* HTX sản xuất kết hợp dịch vụ

Các HTX loại này thường dưới dạng các HTX chuyên môn hóa theo sản phẩm

Đó là các HTX gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ, trong đó trực tiếp sản xuất là các

hộ nông dân, HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản phẩm như: Các HTX

sản xuất rau, HTX sản xuất sữa HTX loại này có đặc điểm: Nội dung sản xuất là

chủ yếu, dịch vụ là kết hợp Đây là hình thức HTX khá phổ biến ở nước ta

* HTX sản xuất - kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện

Mô hình HTX sản xuất - kinh doanh ở mức độ toàn diện, vừa trực tiếp tổ chức

sản xuất kinh doanh tập trung như: Tổ chức các cơ sở chế biến của HTX để đảm bảo

cung ứng đầu vào cho các thành viên (chế biến thức ăn gia súc, sản xuất cây giống…),

hoặc đảm bảo tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho thành viên là chế biến và tiều thụ sản phẩm

hoặc tổ chức phát triển ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp để tạo việc làm, tăng thu nhập

cho thành viên và người lao động tạo ra lợi nhuận để hỗ trợ các khâu dịch vụ cho thành

viên phát triển kinh tế hộ tự chủ

Đây là mô hình tổ chức HTX có hiệu quả mà nhiều nước trên thế giới đã áp

dụng như: HTX sản xuất rau quả của Đài Loan, HTX chế biến rượu nho ở CHLB

Đức… Đồng thời nó cũng phù hợp với điều kiện ở nhiều vùng nước ta, trước hết là

đối với các vùng sản xuất hàng hóa, kinh tế đã có bước phát triển Xây dựng HTX

theo mô hình loại này sẽ tạo điều kiện để cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại

hóa nông nghiệp nông thôn có điều kiện hiện đại hóa sản xuất tạo ra nhiều loại hàng

hóa có sức cạnh tranh cao, vừa phát huy được vai trò vị trí tự chủ của kinh tế hộ thành

viên trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa, không hạn chế tính năng động,

sáng tạo của hộ thành viên.[13]

2.1.2 HTX nông nghiệp

2.1.2.1 Khái niệm

Theo Trần Quốc Khánh (2005) thì “HTX nông nghiệp là một trong các hình

thức cụ thể của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những

người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp

giúp đỡ nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống của mỗi

Trang 21

thành viên, tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc pháp luật quy định, có tư cách

pháp nhân”.[1]

2.1.2.2 Vai trò của HTX nông nghiệp

- Đối với các thành viên: Vì mô hình HTX xuất phát và hình thành hoàn toàn

trên tinh thần tự nguyện, tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên

nên HTX nông nghiệp là tổ chức liên kết hợp tác của bản thân các thành viên Các

thành viên được giúp đỡ lẫn nhau thông qua hợp tác này Thông qua HTX nông

nghiệp mà các thành viên có thể tương trợ, giúp đỡ được cho nhau, tự cứu được lấy

mình, trước khi mất hết những cơ sở kinh tế để tồn tại nếu không hợp tác lại với

nhau Nếu các thành viên có điều kiện tiếp cận với các loại thị trường (thị trường

nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào, thị trường dịch vụ, sản phẩm đầu ra) nhờ có mô hình

kinh tế HTX nói chung thì thông qua mô hình HTX nông nghiệp nói riêng, các thành

viên đã có điều kiện tiếp cận với các sản phẩm và dịch vụ của thị trường tín dụng,

ngân hàng

Thành viên cũng sẽ được tư vấn, cung cấp thông tin, trao đổi kinh nghiệm

thông qua HTX nông nghiệp vì đó cũng thường là nơi tập hợp kiến thức, hiểu biết,

kinh nghiệm làm ăn của cả địa phương Họ sẽ tự tạo ra được công ăn việc làm cho

bản thân và có thể còn cho cả địa phương nữa Họ cũng được hưởng những quyền

lợi từ HTX nông nghiệp với tư cách là chủ sở hữu như được chia cổ tức, được

quyền tham gia biểu quyết, quyết định các chính sách kinh doanh của HTX nông

nghiệp thông qua các bộ máy, cơ quan lãnh đạo để HTX nông nghiệp ngày càng

phục vụ họ đắc lực và tốt hơn Qua sự hỗ trợ này mà các hoạt động kinh tế, sản

xuất, kinh doanh của các thành viên đã được hỗ trợ thiết thực, cuộc sống của họ

được cải thiện rõ rệt và có những tích luỹ

Trước đây, khi chưa có mô hình này, nếu từ hoạt động kinh tế của bản thân,

họ không thể tạo ra lợi nhuận hoặc chỉ tạo ra ít lợi nhuận thì nay, trong sự hợp tác,

họ được hỗ trợ và có điều kiện tạo ra nhiều lợi nhuận hơn Đó chính là ý nghĩa to

lớn của mô hình kinh tế hợp tác nói chung và mô hình HTX nông nghiệp nói riêng

Trang 22

Các HTX nông nghiệp có vai trò bảo đảm và duy trì sự độc lập về kinh tế và cơ sở

kinh tế để tồn tại và phát triển của các thành viên

- Đối với địa phương: Mô hình HTX nông nghiệp ra đời sẽ cung cấp các dịch

vụ tín dụng, ngân hàng cho dân cư trên địa bàn hoạt động Bất kể người dân nào

cũng sẽ được hưởng các sản phẩm, dịch vụ của HTX nông nghiệp với tư cách là

khách hàng Qua hoạt động của HTX nông nghiệp, ý thức tiết kiệm và tích luỹ của

người dân được nâng cao Những đồng vốn nhàn rỗi được huy động để đưa vào đầu

tư phục vụ cho phát triển, giảm sự lãng phí tài nguyên cũng như tạo ra sự phồn vinh

cho xã hội HTX nông nghiệp vừa là người quản lý tài sản của thành viên, dân cư,

vừa là nhà đầu tư trên địa bàn Đó cũng là nơi học nghề cho nhiều người Trình độ

và nhận thức của người nhân trên địa bàn cũng sẽ được nâng cao thông qua các hoạt

động tư vấn, thông tin của bản thân HTX nông nghiệp, góp phần nâng cao trình độ

dân trí tại địa phương

Khi địa phương có HTX nông nghiệp hoạt động, nạn cho vay nặng lãi lập tức

bị đẩy lùi tiến tới xoá sổ Những ý nghĩa về xã hội như góp phần xoá đói giảm

nghèo, hỗ trợ địa phương chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, vật nuôi, cây trồng…

cũng là những đóng góp rất tích cực Với tư cách là một HTX nông nghiệp, HTX

nông nghiệp đóng góp một cách đáng kể các khoản thuế hàng năm cho ngân sách

địa phương Các HTX nông nghiệp sẽ là những tổ chức hoạt động tại địa phương,

bám sát địa bàn, tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế ở địa phương, hỗ

trợ đắc lực nhất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách kịp thời, tạo ra nhiều

việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Như vậy, HTX nông nghiệp là một yếu tố kinh tế quan trọng ở địa phương,

góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân đem lại ổn định trật tự chính

trị, xã hội trên địa bàn, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế

- Đối với nhà nước: Xét trên góc độ Nhà nước, hoạt động của những HTX

nông nghiệp sẽ bổ sung cho những nỗ lực vĩ mô của Nhà nước như cung cấp vốn

cho người nghèo, nông thôn, nông nghiệp, thực hiện các mục tiêu xã hội lớn như

tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định tình hình trật tự kinh tế, chính

trị, xã hội… ở những nơi, lĩnh vực mà nhiều khi Nhà nước không có khả năng hay

hoạt động không hiệu quả thì mô hình HTX nông nghiệp nói riêng và mô hình kinh

Trang 23

tế HTX nói chung lại là phù hợp

Mô hình HTX nông nghiệp thể hiện rất rõ tinh thần phát hút nội lực của

người dân để tự giải quyết các khó khăn, vướng mắc của chính bản thân Mô hình

HTX nông nghiệp cũng góp phần thực hiện các chương trình tiết kiệm, huy động

tiềm năng trong nhân dân của Nhà nước phục vụ cho đầu tư, hay tránh lãng phí tài

nguyên, nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân Mô hình HTX nông nghiệp vì vậy có

thể xem là mô hình “bộ đội địa phương” tại chỗ, kết hợp với các tổ chức tín dụng –

“bộ đội chủ lực” nhằm thông qua dịch vụ tín dụng, ngân hàng đánh bại giặc đói,

giặc nghèo để phát triển kinh tế Mặc dù có vai trò to lớn đối với Nhà nước, song

các HTX nông nghiệp không phải là công cụ của Nhà nước và lại càng không có

nhiệm vụ công ích Nó đơn thuần chỉ là một tổ chức kinh tế tự trợ giúp của các

thành viên, là công cụ và phương tiện của các thành viên và hoạt động chỉ vì lợi ích

của các thành viên Tuy nhiên, trong quá trình theo đuổi tạo ra lợi ích cho các thành

viên thì nó cũng đã mô hình trung trực tiếp hay gián tiếp tạo ra cả những lợi ích xã

hội khác kèm theo mà Nhà nước rất mong muốn nhưng đó chỉ là những lợi ích hệ

quả.[19]

2.1.2.3 Các đặc trưng của HTX nông nghiệp

Một là, HTX nông nghiệp là tổ chức liên kết kinh tế tự nguyện của những

nông hộ, trang trại có chung yêu cầu về những dịch vụ cho sản xuất kinh doanh và

đời sống của mình mà bản thân từng nông hộ không làm được hoặc làm không có

hiệu quả

Hai là, cơ sở thành lập của các HTX là dựa vào việc cùng góp vốn của các thành

viên và quyền làm chủ hoàn toàn bình đẳng giữa các thành viên theo nguyên tắc mỗi

thành viên một phiếu biểu quyết không phân biệt lượng vốn góp ít hay nhiều

Ba là, mục đích kinh doanh của HTX trước hết là làm dịch vụ cho thành

viên, đáp ứng đầy đủ và kịp thời về số lượng, chất lượng của dịch vụ, đồng thời

cũng phải tuân theo nguyên tắc bảo toàn và tái sản xuất mở rộng vốn bằng cách

thực hiện mức giá và lãi suất nội bộ thấp hơn giá thị trường

Trang 24

Bốn là, HTX thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và

cùng có lợi

Năm là, HTX là một tổ chức liên kết kinh tế chỉ liên kết những thành viên

thực sự có nhu cầu, có mong muốn, không lệ thuộc vào nơi ở và cũng chỉ liên kết ở

những dịch vụ cần thiết và đủ khả năng quản lí kinh doanh Như vậy, trong mỗi

thôn, mỗi xã có thể tồn tại nhiều loại hình HTX có nội dung kinh doanh khác nhau,

có số lượng thành viên không như nhau, trong đó có một số nông hộ, trang trại đồng

thời là thành viên của một số HTX

Sáu là, nông hộ trang trại thành viên vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong HTX,

vừa là đơn vị kinh tế cơ sở hoạt động kinh doanh và hạch toán độc lập Do vậy,

quan hệ giữa HTX và thành viên vừa là quan hệ liên kết, giúp đỡ nội bộ vừa là quan

hệ giữa hai đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân độc lập Cơ chế liên kết của

HTX cần phản ánh được mối quan hệ phức tạp đó

Từ những đặc trưng trên có thể rút ra đặc trưng, bản chất của HTX là: HTX

là tổ chức kinh tế liên kết cơ sở của các nông hộ và trang trại, mang tính chất vừa

tương trợ giúp đỡ, vừa kinh doanh.[11]

2.1.2.4 Các hình thức của HTX nông nghiệp

* HTX nông nghiệp làm dịch vụ

Về hình thức, đây là tổ chức kinh tế trong nông nghiệp tách ra làm dịch vụ

cho nông nghiệp, bao gồm: Dịch vụ các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp

(các HTX cung ứng vật tư, giống…); Dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp

(HTX làm đất, tưới nước, bảo vệ thực vật…); Dịch vụ quá trình tiếp theo của quá

trình sản xuất nông nghiệp (HTX chế biến, tiêu thụ sản phẩm…)

Về thực chất, các HTX trên được tổ chức với mục đích phục vụ cho khâu sản

xuất nông nghiệp của các hộ nông dân là chủ yếu Vì vậy, sự ra đời của các HTX

nông nghiệp làm dịch vụ hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu khách quan của sản xuất

nông nghiệp, trong đó, đặc điểm của ngành, trình độ sản xuất của các hộ nông dân

chi phối một cách trực tiếp nhất

Trang 25

HTX dịch vụ nông nghiệp gồm: HTX dịch vụ chuyên khâu (là HTX chỉ thực

hiện một chức năng dịch vụ một khâu cho sản xuất nông nghiệp như: HTX dịch vụ

thuỷ nông, HTX dịch vụ điện nông thôn…) và HTX dịch vụ tổng hợp (là các HTX

thực hiện các chức năng dịch vụ nhiều khâu cho sản xuất nông nghiệp, đôi khi cho

cả đời sống)

* HTX sản xuất kết hợp dịch vụ

Các HTX loại này có đặc điểm, nội dung hoạt động sản xuất chủ yếu, dịch

vụ là kết hợp mô hình HTX loại này phù hợp trong các ngành tiểu thủ công nghiệp,

xây dựng, nghề đánh cá, làm muối (trừ các ngành trồng trọt và chăn nuôi)

* HTX sản xuất kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện

Đặc điểm của mô hình hợp tác xã loại này là:

+ Cơ cấu tổ chức nội dung hoạt động, bộ máy quản lý và chế độ hạch toán,

kiểm kê, kiểm soát phân phối theo nguyên tắc HTX kiểu mới và tương tự một

“doanh nghiệp” tập thể

+ Sở hữu tài sản trong HTX gồm 2 phần: Sở hữu tập thể và sở hữu cổ phần

Thành viên HTX tham gia hoạt động trong HTX được hưởng theo nguyên tắc phân

phối theo lao động và hưởng lãi cổ phần (ngoài phúc lợi tập thể của HTX)

+ HTX hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm phát triển kinh tế

HTX và đem lại lợi ích cho thành viên

+ HTX loại này thích hợp với lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, khai

thác, sản xuất vật liệu xây dựng, nuôi trồng thủy sản, nghề làm muối, đánh cá.[13]

2.1.3 Thủ tục đăng ký hợp tác xã.[3]

Theo thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26 tháng 05 năm 2014 của bộ

kế hoạch và đầu tư hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình

hoạt động của hợp tác xã, thủ tục đăng ký HTX được quy định tại điều 6 và điều 7

của thông tư:

Điều 6 Tiếp nhận, xử lý hồ sơ

1 Khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký hợp tác xã:

Trang 26

a) Yêu cầu người đến làm thủ tục nộp bản sao hợp lệ giấy chứng minh nhân

dân hoặc hộ chiếu còn hiệu lực

Trường hợp được ủy quyền thì yêu cầu nộp thêm các giấy tờ quy định tại

Điều 4 Thông tư này

b) Nếu hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng ký hợp tác xã ghi giấy biên nhận theo

mẫu quy định tại Phụ lục II-1 và trao cho người nộp hồ sơ

Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì cơ quan đăng ký hợp tác xã yêu cầu người

đến làm thủ tục bổ sung, hoàn thiện hồ sơ

c) Cơ quan đăng ký hợp tác xã không được yêu cầu hợp tác xã nộp thêm bất

kỳ giấy tờ nào khác ngoài các giấy tờ được pháp luật quy định Hợp tác xã phải chịu

hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, chính xác, trung thực về

những nội dung đã kê khai trong hồ sơ

2 Cơ quan đăng ký hợp tác xã thực hiện việc xử lý hồ sơ trong thời hạn 5

ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ

b) Điều lệ của hợp tác xã được xây dựng theo Điều 21 Luật Hợp tác xã;

c) Phương án sản xuất kinh doanh theo mẫu quy định tại Phụ lục I-2;

d) Danh sách thành viên theo mẫu quy định tại Phụ lục I-3;

đ) Danh sách hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc), ban kiểm soát

hoặc kiểm soát viên theo mẫu quy định tại Phụ lục I-4;

e) Nghị quyết của hội nghị thành lập về những nội dung quy định tại Khoản

3 Điều 20 luật hợp tác xã đã được biểu quyết thông qua

2 Nếu hợp tác xã đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 24 luật hợp tác xã

thì cơ quan đăng ký hợp tác xã cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã cho hợp tác

xã trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ

Trang 27

Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, có quyền hoạt động theo nội dung trong

giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký

hợp tác xã Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký, hợp tác xã được khắc dấu

và có quyền sử dụng con dấu của mình

Trường hợp không cấp giấy chứng nhận đăng ký thì cơ quan đăng ký hợp tác

xã thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho hợp tác xã biết

2.1.4 Điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Theo luật hợp tác xã số 23/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012 của Quốc

hội ban hành: Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký

khi có đủ các điều kiện sau đây:

1 Ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm;

2 Hồ sơ đăng ký theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của luật này;

3 Tên của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được đặt theo quy định tại Điều

22 của luật này;

4 Có trụ sở chính theo quy định tại Điều 26 của luật này.[2]

2.1.5 Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập

- Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26 tháng 05 năm 2014 của bộ kế

hoạch và đầu tư hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt

động của hợp tác xã

- Luật số 23/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội ban hành

luật hợp tác xã

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình phát triển HTX ở Việt Nam

2.2.1.1 Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1958

Thí điểm xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp

Trong nông nghiệp sau cải cách ruộng đất chế độ bóc lột ruộng đất phong

kiến bị xóa bỏ, nông dân giành quyền làm chủ, hai triệu hộ nông dân nghèo chia 8

vạn ha ruộng hăng hái làm ăn theo con đường hợp tác mà Đảng đã vạch ra Khởi

Trang 28

1.094.000 hộ tham gia chiếm 40,5% số hộ nông dân trong đó có 12.400 tổ đổi công

thường xuyên với số hộ nông dân bằng 8,1% số hộ tham gia các tổ đổi công Đến

năm 1958 số hộ đổi công đã tăng lên 244.000 thu hút 65,7% số hộ nông dân trong

đó tổ thường xuyên là 74.500 thu hút 32% số hộ tham gia hợp tác Hình thức hợp

tác lao động giản đơn dưới dạng tổ đổi công tự nguyện trong giai đoạn này rất có

hiệu quả, phù hợp với tâm lý và nguyện vọng của đông đảo nhân dân, nên đã có tác

dụng tích cực đến sản xuất nông nghiệp và quan hệ sản xuất mới trong nông thôn

Trên cơ sở xác định các tổ đổi công, Đảng ta đã hình thành chủ trương về đẩy mạnh

hợp tác hóa trong nông nghiệp Thực hiện chủ trương đó trong nông nghiệp tính đến

cuối năm 1957 đã thí điểm xây dựng 42 HTX ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên và

Thanh Hóa

Các HTX thí điểm được hình thành chủ yếu từ các tổ đổi công có quy mô

xóm hoặc thôn bình quân có 20 – 30 hộ xã viên, có ban quản trị rất gọn nhẹ từ 2 – 3

người và 1 kiểm soát viên, hình thức hợp tác chủ yếu là cùng làm chung và phân

phối theo công điểm, các tư liệu sản xuất chung vẫn của hộ xã viên, quyền sở hữu

ruộng đất của từng hộ vẫn được đảm bảo Nhưng được HTX sử dụng để sản xuất

chung và chia hoa lợi hàng năm cho các hộ xã viên Với chủ trương đúng đắn đó đã

tạo ra sự hăng hái phấn khởi trong nông dân, sản xuất, phát triển đời sống nông dân

và bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ rệt Bình quân lương thực đầu người tăng từ

257 (1957) lên 304 kg (1958) và 334 kg (1959).[12]

2.2.1.2 Giai đoạn 1959 - 1960

Sau 3 năm tiến hành thí điểm thành lập HTX nông nghiệp đến tháng 4 năm

1959 Đảng và nhà nước đã tổng kết đánh giá: Xuất hiện mâu thuẫn giữa phương

thức tập thể với cá nhân, mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng năng suất với kỹ thuật lạc

hậu Nghị quyết số 16 TW tháng 4/1959 nhận định “còn chế độ tư hữu tư nhân về

TLSX và lối làm ăn cá thể vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện cho khuynh hướng

TBCN phát triển” Từ quan điểm này NQ 16 TW quyết định cần phải cải tạo sản

xuất cá thể thành nền sản xuất tập thể, chặn đứng con đường TBCN ở nông thôn,

cứu nông dân thoát khỏi nanh vuốt của CNTB góp phần củng cố liên minh công

Trang 29

nông Nguyên tắc xây dựng HTX là “ Dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi Ưu tiên kết

nạp xã viên bần cố nông, trung nông lớp dưới, sau đó mới kết nạp trung nông,

không bố trí trung nông vào vị trí chủ chốt”

Về hình thức tổ chức: HTX bậc thấp trả hoa lợi ruộng đất, HTX bậc cao tập

thể hóa TLSX, xóa trả hoa lợi ruộng đất

Về quản lý: HTX thống nhất quản lý điều hành đến từng lao động theo công

việc chung

Về phân phối: Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động bằng phương

pháp trừ lùi, thuế quỹ, chi phí sản xuất, các khoản điều hòa còn lại chia theo ngày

công theo chế độ kinh tế hiện vật

Chỉ trong 1 năm từ mùa hè năm 1959 đến mùa thu năm 1960 đã đưa 2,4 triệu

hộ vào HTX băng 84,8% số hộ nông dân và 70% diện tích ruộng đất vào làm ăn tập

thể trong 41.000 HTX nông nghiệp.[12]

2.2.1.3 Giai đoạn năm 1961 - đến năm 1980

Bước sang giai đoạn 1961 – 1975 phong trào HTX bộc lộ nhiều nhược điểm

biểu hiện là sự không phù hợp của mô hình HTX bậc cao Quá trình củng cố và mở

rộng quy mô HTX luôn luôn trái chiều với kết quả trong sản xuất nông nghiệp Nền

kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, sản xuất nông nghiệp ngày càng sa sút,

kinh tế HTX ngày càng có biểu hiện tiêu cực: Mất dân chủ, tham ô, lãng phí thu nhập

của xã viên HTX đã thấp lại còn giảm

Giai đoạn 1966 - 1972 tốc độ tăng thu nhập bình quân hàng năm là 13,6% thì

tốc độ tăng chi phí là 15,1%

Giai đoạn 1976 - 1980 ở miền nam số HTX tổ đổi công tăng lên nhanh

chóng, thậm chí dùng cả biện pháp hành chính đưa nông dân vào HTX Giai đoạn

này nền kinh tế đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, trước hết là

tình trạng khủng hoảng kinh tế tập thể trong nông nghiệp trên phạm vi cả nước.[12]

2.2.1.4 Giai đoạn 1981 - 1988

Giai đoạn thực hiện chỉ thị 100 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán

Trang 30

Chỉ thị 100 đã đem lại sinh khí cho nông nghiệp trong giai đoạn 1981 -1985

được coi là thời kỳ thành công của quá trình thực hiện chỉ thị 100

Sau đó những hạn chế của khoán 100 bộc lộ rõ: Hoạt động quản lý yếu kém,

phân phối bình quân bao cấp, chi phí bất hợp lý… dẫn đến tình trạng vi phạm lợi

ích của người lao động, tỷ lệ vượt khoán ngày càng giảm, nông dân chán nản, trả

ruộng khoán ngày càng nhiều.[12]

2.2.1.5 Giai đoạn 1988 - 1996

Năm 1993 luật HTX được ban hành, hộ xã viên được cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất lâu dài và được hưởng 5 quyền HTX rút dần khỏi các hoạt động

trực tiếp sản xuất tiến hành chuyển giao quyền tự chủ cho xã viên Trước sự thay

đổi của cơ chế mới, các HTX kiểu cũ gặp nhiều khó khăn, lúng túng lâm vào tình

trạng trì trệ, suy giảm tác dụng đối với hộ xã viên tự chủ thậm chí một bộ phận

HTX, đặc biệt các tập đoàn sản xuất tan rã: Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp

&PTNT từ năm 1988 đến 1995 giải thể 2958 HTX và 33.804 tập đoàn sản xuất

nông nghiệp, đồng thời số hộ xã viên tham gia HTX và tập đoàn sản xuất cũng giảm

mạnh từ 86% xuống còn 10% ở các tỉnh nam bộ, các tỉnh miền núi phía bắc giảm từ

91% xuống 45% Số HTX còn lại buộc phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ cơ cấu tổ

chức và cơ chế nội bộ theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nhiều chức danh được lồng

ghép để giảm bớt chi phí quản lý Nhiều HTX phải chia nhỏ cho phù hợp với trình

độ quản lý, đến năm 1995 cả nước còn 16.243 HTX và 2.548 tập đoàn sản xuất với

64% số hộ nông dân cả nước Các HTX đang tồn tại có thể chia thành 3 nhóm theo

mức độ dịch vụ cho hộ xã viên và hiệu quả hoạt động:

Loại hoạt động tốt: 2.528 đơn vị chiếm 15,5% tổng số, là những HTX còn vốn

có đội ngũ cán bộ giỏi, có hướng hoạt động tốt, làm tốt công tác dịch vụ tưới tiêu,

BVTV, giống, kỹ thuật, vật tư, vốn cho xã viên, HTX có vốn và tài sản Bình quân tài

sản cố định một HTX của nhóm này khoảng 742 triệu đồng

Loại hoạt động cầm chừng ở một vài khâu công việc nhưng kết quả thấp:

6.562 đơn vị, chiếm 40,2% tổng số HTX còn ít vốn, nợ đọng nhiều và ban quản lý

kém năng động hoặc trì trệ

Trang 31

Loại không hoạt động tồn tại hình thức: 7.152 đơn vị chiếm 43,3% tổng số

Đây là những HTX đã hoàn toàn mất vai trò của kinh tế hợp tác, xã viên không yên

tâm và tin tưởng vào bộ máy quản lý cũng như bộ phận kinh tế tập thể của

HTX.[12]

2.2.1.6 Giai đoạn từ 1996 đến năm 2003

Về số lượng HTX: Đến 31 tháng 6 năm 2003 số lượng HTX của cả nước là

14.207 Theo Liên minh HTX trong số này có khoảng 5.800 HTX thành lập mới

(riêng lĩnh vực nông nghiệp khoảng 2139 HTX, chiếm tỷ lệ 37%); Khoảng 8.400 là

các HTX chuyển đổi từ mô hình cũ sang Trong thời gian này luật doanh nghiệp

cũng đã được ban hành và số lượng các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực tư

nhân được thành lập theo luật này ở khu vực nông nghiệp, nông thôn chỉ có 2613

doanh nghiệp, bằng khoảng 36% so với số lượng các HTX hoạt động trong lĩnh vực

này (Tóm tắt kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản, Tổng cục

Thống kê, 10/2003) Những con số này cho thấy đối với khu vực nông nghiệp và

nông thôn thì HTX có vai trò và vị trí vô cùng to lớn

Các HTX chuyển đổi và thành lập mới theo luật đã phân bố không đồng đều,

chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn, như vùng trung du miền núi phía Bắc có 4.034

HTX( 28%); Vùng đồng bằng sông Hồng 5.063 HTX(36%); Ở các vùng phát triển của

sản xuất hàng hoá cao như Đông Nam Bộ số lượng HTX chỉ có 642 HTX (4,5%)

Số lượng HTX cũ chưa được xử lý đã giảm đáng kể Chỉ trong 2 năm 2001 -

2002 đã giải thể được 2.271 HTX, đưa số lượng HTX yếu kém, hình thức xuống

còn khoảng 500 HTX Có thể coi đây là thành công trong việc xử lý các HTX yếu

kém, không có khả năng phát triển mà trong nhiều năm trước vì những lý do chủ

quan và khách quan khác nhau đã không xử lý được Việc mạnh dạn xử lý các HTX

hình thức dựa trên cơ sở thực hiện Luật HTX đã phản ánh kết quả tích cực trong đổi

mới tư duy và hành động củng cố và phát triển khu vực kinh tế này

Trang 32

Về xã viên và lao động: Theo báo cáo tổng hợp của ban chỉ đạo tổng kết

kinh tế hợp tác và HTX (năm 2001) thì số lượng xã viên của 4.876 HTX đã chuyển

đổi và thành lập mới có báo cáo là 3.171.576 người, chiếm khoảng 8% lực lượng

lao động của cả nước, nếu suy rộng cho đầy đủ 14.207HTX thì lực lượng lao động

đang làm việc trong khu vực HTX sẽ là 24% (8%* 3) Đây là một con số đáng kể

thể hiện vai trò to lớn của khu vực kinh tế hợp tác và HTX trong việc giải quyết

công ăn việc làm, đặc biệt là cho lao động ở khu vực nông thôn Vai trò của HTX

trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động thể hiện rất rõ ở

các HTX điển hình tiên tiến trên cả nước Có những HTX đã thu hút phần lớn số hộ

trong thôn, trong xã tham gia vào HTX như: HTX Thiệu Hưng - Thanh Hoá có 830

hộ với 1.010 xã viên tham gia HTX, chiếm 50.6% tổng số hộ của toàn xã; HTX

nông nghiệp An Mỹ - Hà Tây có tới 3.277 xã viên; HTX nông nghiệp Đại Đồng -

Hà Tây có số xã viên lên đến 4.687 xã viên Đây đều là các HTX làm ăn khá giỏi

và đã tham gia giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập cho phần lớn lao động trên

địa bàn (kết quả điều tra kinh nghiệm hoạt động của 33 HTX, Viện nghiên cứu quản

lý trung ương thực hiện trong năm 2003)

Về vốn hoạt động: Khu vực HTX hiện vẫn đang nắm giữ một lượng vốn đầu

tư không nhỏ Theo điều tra của ban kinh tế trung ương tháng 8 năm 2001, đến

31/12/2000 tổng số vốn của 5.052 HTX có báo cáo là 5.018.994 triệu đồng (hơn 5

nghìn tỉ đồng), trong đó gần 2.000 tỉ đồng là vốn tự có của các HTX Số liệu tổng

hợp của Viện quản lý kinh tế trung ương từ báo cáo của 51 sở kế hoạch và đầu tư

các tỉnh/thành phố đến 31/6/2002 cho kết quả về quy mô vốn hoạt động trung bình

như sau: HTX dịch vụ thương mại 438,7triệuđồng/HTX (thấp nhất); Quỹ tín dụng

nhân dân 2684,5 triệu đồng (cao nhất).[18]

2.2.1.7 Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2012

Về số lượng hợp tác xã: Tính đến ngày 01/7/2008, cả nước có 14.500 hợp tác

xã đang hoạt động, tăng 718 hợp tác xã so với năm 2006 và 1.487 hợp tác xã so với

năm 2005 Trong tổng số 14.500 hợp tác xã có 609 hợp tác xã thành lập trước năm

Trang 33

1997 chưa chuyển đổi, chiếm 4,2% tổng số hợp tác xã; 5.742 hợp tác xã thành lập

trước năm 1997 đã chuyển đổi, chiếm 39,6% tổng số hợp tác xã

Về xã viên, lao động trong hợp tác xã: Tính đến ngày 31/12/2007, cả nước có

tổng số 7.478.019 xã viên, trong đó: 2.451.210 xã viên là cá nhân, chiếm 32,78%

(trong đó có 11,93% là cán bộ công chức); 5.000.541 xã viên là đại diện hộ chiếm

66,87%; 328 xã viên là đại diện pháp nhân, chỉ chiếm 0,04%; Còn lại 205.940 xã viên

là các thành phần khác chiếm 0,34%

Nhìn chung, tỷ lệ xã viên/hợp tác xã có sự khác nhau giữa các vùng Khu vực

Duyên hải miền Trung là 1.310 xã viên/hợp tác xã; Đồng bằng sông Hồng là 868 xã

viên/hợp tác xã; Khu vực Bắc Trung Bộ là 541 xã viên/hợp tác xã Khu vực Đông

Bắc và Tây Bắc có tỷ lệ xã viên/hợp tác xã thấp nhất cả nước, trung bình 151 xã

viên/hợp tác xã ở vùng Tây Bắc, 171 xã viên/hợp tác xã ở khu vực Đông Bắc Các

khu vực khác dao động từ 238 đến 342 xã viên/1 hợp tác xã

Thu nhập bình quân một lao động làm việc thường xuyên của hợp tác xã

hàng năm được cải thiện một cách đáng kể ở tất cả các ngành nghề Đặc biệt, các

ngành xây dựng, thương nghiệp và tín dụng có mức thu nhập bình quân tăng hàng

năm rất cao: Ngành xây dựng có thu nhập bình quân năm 2007 tăng thêm so với

năm 2005 là 886 nghìn đồng/tháng, cao hơn năm 2006 là 558 nghìn đồng/tháng;

Các ngành khác đều có thu nhập bình quân năm 2007 cao hơn năm 2005 khoảng

500 nghìn đồng/tháng Cá biệt chỉ có ngành lâm nghiệp có mức thu nhập bình quân

thấp nhất, đồng thời thu nhập hàng năm không có sự chuyển biến, thậm chí thu

nhập bình quân năm 2006, 2007 cũng giảm thấp hơn so với năm 2005.[9]

2.2.1.8 Giai đoạn từ năm 2012 đến nay

Thực hiện đường lối đổi mới HTX nông nghiệp của Đảng và thi hành Luật

HTX, tất cả các địa phương đều đã tập trung chỉ đạo chuyển đổi HTX nông nghiệp

kiểu cũ sang HTX nông nghiệp kiểu mới cho phù hợp với quy luật kinh tế thị

trường và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp dựa trên quyền tự chủ sản xuất kinh

doanh của hộ nông dân Xuất phát từ đặc điểm kinh tế- xã hội của từng địa phương,

Trang 34

quyền các cấp, việc chuyển đổi HTX nông nghiệp đã diễn ra hết sức đa dạng và

phong phú Đáng chú ý là đã xuất hiện nhiều mô hình HTX nông nghiệp làm ăn có

hiệu quả, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của hộ nông dân trong quá trình chuyển

đổi sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 68-CT/TW

ngày 24/5/1996 của Ban bí thư Trung ương Đảng khoá VII về: “Phát triển kinh tế

hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế” và 4 năm thực hiện luật hợp tác xã

(HTX) Việc chuyển đổi, xây dựng mới HTX nông nghiệp và các hình thức kinh tế

hợp tác đã có những chuyển biến bước đầu Tuy nhiên trên thực tế diễn ra còn nhiều

phức tạp, khó khăn trong quá trình chuyển đổi và thành lập mới HTX nông

nghiệp.[10]

HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế do những người nông dân tự nguyện

thành lập nhằm mục đích trợ giúp các hoạt động nông nghiệp của họ thông qua việc

cung cấp các dịch vụ giá rẻ do lợi thế về quy mô và phân công chuyên môn hóa lao

động, dựa trên nền tảng kinh tế của hộ nông dân, mà đa số họ là những người yếu

thế về trình độ học vấn, trình độ kỹ thuật - công nghệ và khả năng hạn hẹp về vốn,

theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi và cần có sự hỗ trợ của Nhà nước

Đây là nét khác cơ bản với kiểu góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hay công

ty cổ phần

Theo tổng cục thống kê tính đến thời điểm 01/01/2017 có 13,5 nghìn HTX,

giảm nhẹ so với năm 2012 Các hợp tác xã thu hút 206 nghìn lao động, giảm 14,9%

so với năm 2012 Theo ngành kinh tế, các hợp tác xã chủ yếu hoạt động trong khu

vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (chiếm 51%), dịch vụ (chiếm 29,5% trong đó chủ

yếu là các quỹ tín dụng nhân dân và hoạt động thương nghiệp) Khu vực công

nghiệp xây dựng chiếm 19,5% số lượng hợp tác xã Các con số trên cho thấy hoạt

động chưa thực sự hiệu quả của mô hình kinh tế này.[16]

Mở rộng các hình thức hợp tác trong nông nghiệp nói chung và xây dựng

HTX nông nghiệp nói riêng là một bộ phận của xây dựng quan hệ sản xuất mới bao

gồm cả quan hệ sở hữu và hình thức tổ sản xuất và quản lý Trong đường lối công

nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay, chúng ta thực hiện chính

Trang 35

sách đa dạng hóa hình thức sở hữu và tổ chức sản xuất - quản lý với mục tiêu nâng

cao hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái Do đó, trong nông

nghiệp, nông thôn tồn tại nhiều thành phần kinh tế có quyền bình đẳng trước pháp

luật, cùng hợp tác và cạnh tranh với nhau Phát triển các loại hình tổ chức sản xuất

nông nghiệp đa dạng, từ hộ nông dân tự chủ đến HTX, kinh tế trang trại, doanh

nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài… trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: Sản xuất, dịch

vụ, chế biến nông sản, thương mại… các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

muốn tồn tại và phát triển đều phải có sự hợp tác với nhau theo quan hệ thị trường

Khác với trước đây, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

ngày nay được quan niệm rộng hơn, toàn diện hơn, chuyển đổi về lực lượng sản

xuất và quan hệ sản xuất gắn với thị trường, xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần ở

nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, bao gồm thủy lợi hóa, cơ khí hóa, điện

khí hóa, sinh học hóa, thị trường hóa, hợp tác hóa, nhân văn hóa… nghĩa là, chuyển

đổi nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở nông nghiệp sang nền kinh tế chủ yếu dựa

trên cơ sở công nghiệp và dịch vụ, xét cả về tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động

với phương thức và trình độ cao về phân công và hợp tác lao động xã hội

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và ưu tiên

công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển HTX nông nghiệp

vừa là nội dung quan trọng, vừa là tiền đề của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sự

phát triển HTX nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

đang gặp nhiều mâu thuẫn và khó khăn, trước hết là đang đứng trước một nghịch lý

giữa lý luận và thực tiễn Về lý luận, ai cũng thấy hợp tác nói chung và HTX nông

nghiệp là cần thiết và có lợi cho chính người nông dân, được Đảng và Nhà nước

quan tâm (có Nghị quyết số 13 - NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX) về

tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể và Quốc hội đã có

Luật HTX năm 1996 và Luật HTX sửa đổi bổ sung năm 2003), nhưng trên thực tế

việc chuyển đổi HTX nông nghiệp vẫn mang nặng tính hình thức, phát triển chậm

Trang 36

Tuyệt đại đa số lao động nông nghiệp và nông thôn làm việc trong các hộ

nông dân tự chủ, tuy vẫn được HTX cung ứng các dịch vụ phục vụ sản xuất nông

nghiệp, nhưng không là xã viên và do đó thiếu mối quan hệ gắn bó giữa hộ tự chủ với

HTX Họ có thể sử dụng hoặc không sử dụng dịch vụ của HTX là tùy thuộc vào giá

cả và tinh thần phục vụ Như vậy, HTX nông nghiệp chưa tạo được một sức hút mạnh

mẽ các hộ nông dân tham gia hợp tác Trước thực trạng đó bước đầu xin được nêu

một số nguyên nhân chủ yếu:

- Các hộ nông dân chưa có nhu cầu và động lực tham gia hợp tác Do đất

chật người đông, lao động nông nghiệp dư thừa nhiều, thời gian nông nhàn lớn,

nhiều hộ nông dân chưa có nhu cầu hợp tác, cộng với tâm lý sợ mất tự chủ trong sản

xuất kinh doanh và tâm lý mặc cảm, định kiến và hoài nghi đối với mô hình HTX

nông nghiệp kiểu cũ, trong khi nguyên tắc tham gia HTX là tự nguyện, dân chủ, hộ

nông dân chưa thấy rõ lợi ích kinh tế nên chưa có động lực vào HTX nông nghiệp

- Bản thân HTX nông nghiệp hoạt động kinh doanh còn nhiều hạn chế, chưa

thích ứng với sản xuất hàng hóa và chưa nêu gương về mô hình tổ chức sản xuất

tiên tiến và hiệu quả Ngoại trừ một số mô hình HTX nông nghiệp tiên tiến, năng

động và kinh doanh có hiệu quả, đại bộ phận HTX nông nghiệp còn lại vẫn hoạt

động theo nếp cũ, chuyển sang làm dịch vụ được chăng hay chớ, chưa quan tâm

nhiều đến mục tiêu hiệu quả kinh tế, mà nặng về mặt chính trị- xã hội

- Còn thiếu những cán bộ cốt cán quản lý HTX nông nghiệp có trình độ, kinh

nghiệm và có tâm huyết vì lợi ích của HTX và xã viên Chủ nhiệm HTX, ban quản

trị chưa được tuyển chọn, rèn luyện, bồi dưỡng phù hợp với điều kiện quản lý kinh

doanh nông nghiệp trong kinh tế thị trường

- Sự chỉ đạo chuyển đổi và phát triển HTX nông nghiệp còn nhiều mặt hạn

chế cả về tuyên truyền giáo dục, tổ chức, cơ chế chính sách, điều hành cụ thể đối

với phong trào hợp tác và HTX nông nghiệp Chính quyền địa phương nhiều nơi

vẫn duy trì HTX nông nghiệp một cách hình thức với nhiều lý do khác nhau và do

đó tạo nên sự trì trệ đối với phát triển HTX nông nghiệp.[10]

Trang 37

2.2.2 Một số giải pháp để phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam

- Trước hết cần tập trung phân loại, xử lý các tồn đọng của các HTX kiểu cũ,

để tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ các HTX tiếp tục chuyển đổi có hiệu quả Đối với các

HTX yếu kém không có khả năng chuyển đổi nên giải thể, để thành lập mới các

hình thức kinh tế hợp tác đa dạng, phù hợp hơn từ thấp đến cao theo nhu cầu của

kinh tế hộ với đặc điểm của từng cơ sở Đồng thời tiến hành tổng kết các mô hình

HTX nông nghiệp có hiệu quả để phổ biến nhân ra diện rộng, tập trung vào các mô

hình sau: Mô hình HTX kinh doanh tổng hợp, mô hình HTX chuyên khâu, mô hình

HTX dịch vụ tổng hợp, HTX nông nghiệp ngành hàng v.v…

- Tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền về luật HTX, cùng các văn bản

hướng dẫn thi hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển

kinh tế hợp tác và HTX Giới thiệu và tổ chức tham quan các mô hình kinh tế hợp

tác và HTX kiểu mới ở địa phương là nội dung có ý nghĩa và tác dụng rất lớn trong

giai đoạn hiện nay vì qua một thời gian dài tồn tại mô hình HTX kiểu cũ đã gây ra

không ít những mặc cảm, tâm lý thiếu tin tưởng của đông đảo hộ xã viên

- Để khuyến khích kinh tế hợp tác và HTX phát triển, Nhà nước cần bổ sung,

ban hành thêm một số chính sách và thực hiện một số giải pháp mang tính hỗ trợ về

kinh tế, để khuyến khích, tạo thuận lợi cho kinh tế hợp tác và HTX phát triển

+ Về chính sách đất đai, mặc dù đã có luật đất đai sửa đổi và có các văn bản

hướng dẫn thi hành, song các HTX nông nghiệp hiện nay vẫn gặp không ít vướng

mắc và cản trở cần được tháo gỡ Đối với đất HTX dùng vào làm trụ sở, xây dựng

kho bãi, Nhà nước cần thiết có chính sách giao đất hoặc cho thuê ưu đãi đối với

HTX, để tạo điều kiện cho HTX mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

+ Chính sách tín dụng hiện nay chưa thực sự tạo điều kiện cho HTX vay vốn,

để HTX vay được vốn cần phải lập quỹ bảo lãnh tín dụng, để HTX vay vốn thông

qua bảo lãnh của quỹ này Đồng thời cho phép HTX được làm chức năng tín dụng

nội bộ, để HTX thuận lợi trong việc huy động vốn tại chỗ cho sản xuất kinh doanh

+ Chính sách xoá nợ cũ cho các HTX là phù hợp với thực tiễn hiện nay, để

Trang 38

+ Về đầu tư, nhà nước cần dành một phần vốn đầu tư để xây dựng cơ sở hạ

tầng thông qua các HTX, đặc biệt ở các vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên

canh sản xuất hàng hoá

- Nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn cho cán bộ cơ sở và HTX:

Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX, như là một giải pháp quan trọng nâng

cao nguồn lực lâu dài cho HTX, tăng cường hoạt động kinh doanh có hiệu quả và mở

rộng quan hệ liên doanh, liên kết, hợp tác với các thành phần kinh tế khác

- Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với HTX Ngoài ban hành các

chính sách tạo hành lang pháp lý để HTX hoạt động, chính quyền các cấp cần hỗ trợ

giúp đỡ theo hướng lấy HTX làm cầu nối giữa nhà nước với hộ nông dân trong việc

tổ chức thực hiện dự án, làm đại lý cung ứng vật tư và thu gom nguyên liệu, phân

cấp quản lý thuỷ nông, trình diễn mô hình… như là điểm tựa cho xây dựng nông

thôn mới và đào tạo cán bộ cho cơ sở Mặt khác tiến hành tổng kết, nghiên cứu các

mô hình kinh tế hợp tác, để chuyển giao có hiệu quả phong trào xây dựng và phát

triển HTX hiện nay

- Cần bổ sung và sửa đổi thêm những nội dung trong luật và điều lệ HTX cho

phù hợp hơn với thực tế hiện nay trong quá trình tổ chức phát triển và nâng cao hiệu

quả hoạt động của các HTX Chức năng và nhiệm vụ của HTX không chỉ phục vụ

mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài dịch vụ để nâng cao lợi nhuận

cho HTX Đối với HTX ngoài mục tiêu dịch vụ phát triển kinh tế hộ cần phải có sự

kết hợp tốt với mục tiêu nâng cao lợi nhuận trong các hoạt động của HTX, để HTX

phấn đấu có tích luỹ và tái sản xuất mở rộng, nâng cao thu nhập của hộ nông dân

Cần mở rộng các hình thức vốn góp của xã viên, không chỉ vốn góp mà còn cả vốn

dưới dạng tài sản cố định, đất đai, máy móc, trâu bò và các yếu tố khác có thể quy

về vốn.[10]

Ngày đăng: 03/05/2019, 09:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Quốc Khánh (2005), Quản trị kinh doanh nông nghiệp, Nxb Lao động - Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Tác giả: Trần Quốc Khánh
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã Hội
Năm: 2005
8. UBND xã Phú Đô (2017), Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020. II. Tài liệu internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2017 - 2020
Tác giả: UBND xã Phú Đô
Năm: 2017
9. Cổng thông tin điện tử bộ kế hoạch và đầu tư, http://www.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=12256&idcm=139 10. Hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta, khó khăn và giải pháp,https://honhuhai.wordpress.com/2012/10/17/hop-tac-xa-nong-nghiep-o-nuoc-ta-kho-khan-va-giai-phap/ Link
11. Khái niệm, đặc điểm hợp tác xã, https://luatduonggia.vn/khai-niem-dac-diem-hop-tac-xa Link
12. Luận văn Một số giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây, http://doc.edu.vn/tai-lieu/luan-van-mot-so-giai-phap-phat-trien-hop-tac-xa-nong-nghiep-o-tinh-ha-tay-49629/ Link
13. Một số hình thức hợp tác chủ yếu trong nông nghiệp, http://luanvan.net.vn/luan- van/mot-so-hinh-thuc-hop-tac-chu-yeu-trong-nong-nghiep-59589 Link
14. Nội dung của điều lệ hợp tác xã, https://luatduonggia.vn/noi-dung-cua-dieu-le-hop-tac-xa Link
15. Tổng cục thống kê năm 2016, http://gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=&ItemID=16171 16. Tổng cục thống kê năm 2017 Link
19. Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp, http://socencoop.org.vn/tai-lieu-ve-htx/vai-tro-c%E1%BB%A7a-htx-nong-nghi%E1%BB%87p/ Link
3. Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT ngày 26 tháng 05 năm 2014 của bộ kế hoạch và đầu tư hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của hợp tác xã Khác
4. UBND xã Phú Đô (2016), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015, phương hướng nhiệm vụ và các giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 Khác
5. UBND xã Phú Đô (2017), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, phương hướng nhiệm vụ và các giải pháp trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 Khác
6. UBND xã Phú Đô (2018), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 Khác
7. UBND xã Phú Đô (2017), Báo cáo kết quả thống kê đất đai năm 2017 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w