1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thảo luận nhóm 5- Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008- Tâm

36 200 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 764,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Cuộc đại khủng hoảng tài chính 2008 chủ yếu xảy ra tại Mỹ và các nước công nghiệp Tây Âu. Nhưng vì Mỹ và Tây Âu là những trung tâm tài chính lớn của thế giới, cho nên cuộc khủng hoảng tài chính này đã nhanh chóng lan rộng ra toàn thế giới. Diễn biến của cuộc khủng hoảng đã bắt đầu từ mùa hè năm 2007, và kéo dài cho đến nay vẫn chưa kết thúc. Đỉnh cao là sự sụp đổ của nhiều ngân hàng đầu tư khổng lồ ở Wall Street (New York) vào giữa tháng 9 năm 2008. Chính phủ Mỹ đã phải vội vã nhảy vào can thiệp, bằng cách tung tiền ra cứu nguy cho các định chế tài chính lớn nhất. Trong đó, phải kể tới hai công ty bảo hiểm bất động sản lớn nhất của Mỹ, Fannie Mae và Freddie Mac., và công ty AIG, công ty bảo hiểm lớn hàng thứ ba trên thế giới. Vào tháng 9-2008, nhiều người đã nghĩ là cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã kích hoạt sự sụp đổ thị trường chứng khoán tại các quốc gia vùng ngoại vi của thế giới tài chính, kể cả bốn nước khổng lồ có nền kinh tế đang nổi lên thuộc khối BRIC (Brazil, Russia, India, China). Điều này thực tế đã xảy ra, và người ta có thể gọi đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, làm cho họat động thương mại và đầu tư trên thế giới tuột dốc chưa từng thấy trong lịch sử. Cũng có người cho rằng hiện tượng phản ứng dây chuyền này trong thế giới tài chính chứng tỏ rõ rệt là không có sự cách ly giữa các nước công nghiệp phát triển và phần còn lại của thế giới. Tuy nhiên, bắt đầu từ mùa xuân năm 2009, các thị trường chứng khoán của các nước vùng ngoại vi lại có dấu hiệu phục hồi một cách vững chãi, sớm hơn hẳn thị trường tại các quốc gia công nghiệp. Hậu quả là hoạt động kinh tế (sản xuất, thương mại, đầu tư…) của các quốc gia vùng ngoại vi không bị suy thoái trầm trọng, mà chỉ giảm nhẹ. Cụ thể nhất là mức tăng trưởng của Trung Quốc vẫn ở mức 6-8 %, ở Việt Nam từ 3-5 %, theo như dự báo của các tổ chức tài chính quốc tế, như Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc tế. Điều này có nghĩa là, về phương diện kinh tế, có lẽ có một sự cách ly nào đó chăng giữa hai thế giới: Thế giới công nghiệp như Mỹ và Tây Âu suy thoái trầm trọng (tăng trưởng giảm từ 4-6 %), trong khi thế giới của các quốc gia mới nổi lên vẫn tiếp tục tăng trưởng, mặc dù có giảm so với những năm trước. Sự cách ly này cho phép các nhà làm chính sách ở mỗi quôc gia mới nổi (cần) có đường hướng riêng của mình, tùy theo tình hình cụ thể ở mỗi nơi, không thể lấy nước này làm mô hình cho nước khác được. Cuộc đại khủng hoảng làm lộ rõ thế giới hiện nay là đa cực. Các cực và khu vực ảnh hưởng của nó đều bị chao đảo, nhưng ở các mức độ khác nhau. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng tài chính chủ yếu xảy ra tại Mỹ, và một số quốc gia Tây Âu đã đi theo đường lối Tân Tự do của chính quyền R.Reagan từ những năm 1980. Chính sách này đã bãi bỏ sự kiểm tra chặt chẽ hoạt động tài chính của các ngân hàng đầu tư, và xóa bỏ ranh giới giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Nhờ thế, các ngân hàng đầu tư đã có thể tiến hành nhiều phi vụ mang tính rủi ro cao độ trong hoạt động đầu tư, nhất thời thu hút rất mạnh dòng vốn thế giới vì tính chất “lợi nhuận cao và nhanh chóng”, đã tạo nên một trời bong bóng khổng lồ thấy chóng mặt, đẩy toàn bộ vật giá thế giới lên cao ngất ngưỡng, nhưng cuối cùng đã đi đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống. Cổ xe Tân Tự do và uy tín những người đã từng cổ xúy cho nó bị sụp đổ và phá sản hoàn toàn trong chốc lát. Số người hưởng lợi của gần 30 năm chế độ Tân Tự do (1980-2008) chỉ có rất ít, giới hạn trong giới tư bản tài phiệt tại Mỹ và Tây Âu. Người thua thiệt là các nước mới nổi, mang tiền tiết kiệm qua Mỹ và Tây Âu để đầu tư trong bất động sản cũng như trong thị trường chứng khoán. Nặng nề nhất là Trung Quốc và Nhật Bản, mỗi quốc gia này đã mua tới hàng ngàn tỷ USD công trái và tín phiếu của Mỹ. Tiền lời khổng lồ của các nhóm tài phiệt đã được chuyển qua các nước nhỏ li ti, “thiên đàng về thuế”, ví dụ như đảo Cayman ở vùng biển Trung Mỹ. Tại đây, hàng ngàn tỷ USD đã được tảy rửa sạch sẽ, rồi được chuyển ngược về Mỹ để mua công trái của chính phủ Mỹ. Khi thị trường tài chính sụp đổ, chính phủ Mỹ đã phải đi vay nợ hàng ngàn tỷ USD, và in mới hàng ngàn tỷ USD khác, để cứu nguy các định chế tài chính lớn. Hậu quả rõ rệt là gánh nặng trả nợ trong tương lai sẽ đè nặng lên vai quần chúng lao động Mỹ. Cùng lúc, sự phát hành hàng loạt tiền giấy đô la sẽ làm cho đồng tiền này, trong tương lai, mất giá. Như thế, sẽ làm mất giá trị, các quỹ dự trữ quốc gia của các nước mới nổi, và các quỹ tiết kiệm của người lao động tại Mỹ. Nói cách khác, chính sách cứu nguy tài chính của chính phũ Mỹ là một biện pháp chuyển nhượng tài sản từ các nước mới nổi về tay giới tài phiệt quốc tế, mà đa số là ở Mỹ.Và chuyển nhượng của cải của giới lao động vào tay giới chủ ngân hàng. Trước tình hình như vậy, nhóm 5 vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng để giải thích cuộc khủng hoảng này.

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN NHÓM

MÔN:

KINH TẾ HỌC TIỀN TỆ NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

Chủ đề: “Vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng để giải thích

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

Đánh giá tác động của cuộc khủng hoàng này đến Việt Nam ”

GIẢNG VIÊN: TS Nguyễn Thanh Huyền

NHÓM THỰC HIỆN: Nhóm 5

Lớp CH24B4QLKT

Bắc Giang, tháng 2 năm 2019

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 5

STT Họ và tên Năm sinh tham gia Mức độ (Ghi rõ họ tên)Ký xác nhận

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Cuộc đại khủng hoảng tài chính 2008 chủ yếu xảy ra tại Mỹ và các nướccông nghiệp Tây Âu Nhưng vì Mỹ và Tây Âu là những trung tâm tài chính lớncủa thế giới, cho nên cuộc khủng hoảng tài chính này đã nhanh chóng lan rộng

ra toàn thế giới Diễn biến của cuộc khủng hoảng đã bắt đầu từ mùa hè năm

2007, và kéo dài cho đến nay vẫn chưa kết thúc Đỉnh cao là sự sụp đổ của nhiềungân hàng đầu tư khổng lồ ở Wall Street (New York) vào giữa tháng 9 năm

2008 Chính phủ Mỹ đã phải vội vã nhảy vào can thiệp, bằng cách tung tiền racứu nguy cho các định chế tài chính lớn nhất Trong đó, phải kể tới hai công tybảo hiểm bất động sản lớn nhất của Mỹ, Fannie Mae và Freddie Mac., và công

ty AIG, công ty bảo hiểm lớn hàng thứ ba trên thế giới

Vào tháng 9-2008, nhiều người đã nghĩ là cuộc khủng hoảng tài chính tại

Mỹ đã kích hoạt sự sụp đổ thị trường chứng khoán tại các quốc gia vùng ngoại

vi của thế giới tài chính, kể cả bốn nước khổng lồ có nền kinh tế đang nổi lênthuộc khối BRIC (Brazil, Russia, India, China) Điều này thực tế đã xảy ra, vàngười ta có thể gọi đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, làm cho họatđộng thương mại và đầu tư trên thế giới tuột dốc chưa từng thấy trong lịch sử.Cũng có người cho rằng hiện tượng phản ứng dây chuyền này trong thế giới tàichính chứng tỏ rõ rệt là không có sự cách ly giữa các nước công nghiệp pháttriển và phần còn lại của thế giới Tuy nhiên, bắt đầu từ mùa xuân năm 2009,các thị trường chứng khoán của các nước vùng ngoại vi lại có dấu hiệu phục hồimột cách vững chãi, sớm hơn hẳn thị trường tại các quốc gia công nghiệp Hậuquả là hoạt động kinh tế (sản xuất, thương mại, đầu tư…) của các quốc gia vùngngoại vi không bị suy thoái trầm trọng, mà chỉ giảm nhẹ Cụ thể nhất là mứctăng trưởng của Trung Quốc vẫn ở mức 6-8 %, ở Việt Nam từ 3-5 %, theo như

dự báo của các tổ chức tài chính quốc tế, như Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền

Tệ Quốc tế Điều này có nghĩa là, về phương diện kinh tế, có lẽ có một sự cách

ly nào đó chăng giữa hai thế giới: Thế giới công nghiệp như Mỹ và Tây Âu suythoái trầm trọng (tăng trưởng giảm từ 4-6 %), trong khi thế giới của các quốc giamới nổi lên vẫn tiếp tục tăng trưởng, mặc dù có giảm so với những năm trước

Sự cách ly này cho phép các nhà làm chính sách ở mỗi quôc gia mới nổi (cần)

có đường hướng riêng của mình, tùy theo tình hình cụ thể ở mỗi nơi, không thểlấy nước này làm mô hình cho nước khác được Cuộc đại khủng hoảng làm lộ rõ

thế giới hiện nay là đa cực Các cực và khu vực ảnh hưởng của nó đều bị chao

đảo, nhưng ở các mức độ khác nhau

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng tài chính chủ

yếu xảy ra tại Mỹ, và một số quốc gia Tây Âu đã đi theo đường lối Tân Tự

do của chính quyền R.Reagan từ những năm 1980 Chính sách này đã bãi bỏ sự

kiểm tra chặt chẽ hoạt động tài chính của các ngân hàng đầu tư, và xóa bỏ ranh

Trang 4

giới giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại Nhờ thế, các ngân hàngđầu tư đã có thể tiến hành nhiều phi vụ mang tính rủi ro cao độ trong hoạt độngđầu tư, nhất thời thu hút rất mạnh dòng vốn thế giới vì tính chất “lợi nhuận cao

và nhanh chóng”, đã tạo nên một trời bong bóng khổng lồ thấy chóng mặt, đẩytoàn bộ vật giá thế giới lên cao ngất ngưỡng, nhưng cuối cùng đã đi đến sự sụp

đổ của toàn bộ hệ thống Cổ xe Tân Tự do và uy tín những người đã từng cổ xúycho nó bị sụp đổ và phá sản hoàn toàn trong chốc lát Số người hưởng lợi củagần 30 năm chế độ Tân Tự do (1980-2008) chỉ có rất ít, giới hạn trong giới tưbản tài phiệt tại Mỹ và Tây Âu Người thua thiệt là các nước mới nổi, mang tiềntiết kiệm qua Mỹ và Tây Âu để đầu tư trong bất động sản cũng như trong thịtrường chứng khoán Nặng nề nhất là Trung Quốc và Nhật Bản, mỗi quốc gianày đã mua tới hàng ngàn tỷ USD công trái và tín phiếu của Mỹ

Tiền lời khổng lồ của các nhóm tài phiệt đã được chuyển qua các nướcnhỏ li ti, “thiên đàng về thuế”, ví dụ như đảo Cayman ở vùng biển Trung Mỹ.Tại đây, hàng ngàn tỷ USD đã được tảy rửa sạch sẽ, rồi được chuyển ngược về

Mỹ để mua công trái của chính phủ Mỹ

Khi thị trường tài chính sụp đổ, chính phủ Mỹ đã phải đi vay nợ hàngngàn tỷ USD, và in mới hàng ngàn tỷ USD khác, để cứu nguy các định chế tàichính lớn Hậu quả rõ rệt là gánh nặng trả nợ trong tương lai sẽ đè nặng lên vaiquần chúng lao động Mỹ Cùng lúc, sự phát hành hàng loạt tiền giấy đô la sẽlàm cho đồng tiền này, trong tương lai, mất giá Như thế, sẽ làm mất giá trị, cácquỹ dự trữ quốc gia của các nước mới nổi, và các quỹ tiết kiệm của người laođộng tại Mỹ Nói cách khác, chính sách cứu nguy tài chính của chính phũ Mỹ làmột biện pháp chuyển nhượng tài sản từ các nước mới nổi về tay giới tài phiệtquốc tế, mà đa số là ở Mỹ.Và chuyển nhượng của cải của giới lao động vào taygiới chủ ngân hàng

Trước tình hình như vậy, nhóm 5 vận dụng lý thuyết thông tin bất cân xứng

để giải thích cuộc khủng hoảng này

Trang 5

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG

VÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH

1.1 Khái quát về thông tin bất cân xứng

Trong giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường khôngbiết tất cả những gì anh ta hay chị ta cần biết về bên kia để có những quyết địnhđúng đắn Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên nhân được gọi là thôngtin bất cân xứng

Trong mọi nền kinh tế, các giao dịch về tài chính đều hướng tới mục tiêucuối cùng là chuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến những dự án đầu tư hiệu quả nhấtvới chi phí thấp nhất có thể Khi sản xuất hàng hóa và dịch vụ của xã hội liên tụcphát triển sẽ làm gia tăng không ngừng giá trị thặng dư Những chủ nhân củaphần giá trị thặng dư đó luôn tìm các cơ hội đầu tư tốt nhất nhằm giảm thiểu chiphía cơ hội của việc giữ tiền Những người muốn thành lập hoặc mở rộng sảnxuất kinh doanh luôn tìm kiếm các nguồn vốn đầu tư có chi phí thấp nhất Sựgặp nhau của hai luồng nhu cầu trên tạo nên các giao dịch về tài chính và tổnghợp các giao dịch tài chính đó hình thành thị trường tài chính Tuy nhiên sẽkhông đơn giản để các giao dịch tài chính đạt đến mục tiêu cuối cùng trên.Nguyên nhân là do sự tương hợp về yêu cầu giữa người đi vay và người cho vaykhông phải bao giờ cũng đạt được Các giao dịch tài chính luôn gặp phải mộtmâu thuẫn cơ bản, cố hữu, một mâu thuẫn tạo nên cơ sở tồn tại của các điều kiệncho vay, đó là sự không cân xứng thông tin giữa người cho vay và người đi vay.Tóm lại trong các giao dịch tài chính thường có sự chênh lệch về thông tin giữacác bên tham gia, đó chính là hiện tượng thông tin không cân xứng

Như vậy bất cân xứng về thông tin có các đặc điểm sau:

+ Thứ nhất có sự khác biệt về thông tin giữa các bên giao dịch

+ Thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa các bên

+ Thứ ba, trong hai bên một bên có thông tin chính xác hơn

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin cònbên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó

Thông tin bất cân xứng là khái niệm mô tả các tình huống trong đó nhữngngười tham gia tương tác trên thị trường nắm được thông tin khác nhau về giá trịhoặc chất lượngcủa một tài sản đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó.Nói một cách khác, nếu như không tồn tại tình trạng bất cân xứng đối với việc

Trang 6

tiếp cận các thông tin về tài sản, thì các bên tham gia thị trường được hiểu là

"cân xứng" về thông tin Tóm lại, thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giaodịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin khôngchính xác Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có những quyết địnhkhông chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơncũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giaodịch Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn đốinghịch (adverseselection) và rủi ro đạo đức (moral hazard)

1.2 Các hệ quả của thông tin bất cân xứng và tác động của nó đến thị trường

1.2.1 Sự lựa chọn đối nghịch

a Khái niệm lựa chọn đối nghịch

Lựa chọn đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trướckhi diễn ra cuộc giao dịch Lựa chọn đối nghịch xảy ra trên thị trường tài chínhkhi những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn(đối nghịch) – Tức là những rủi ro không trả được nợ- là những người tích cựctìm vay nhất và do vậy có nhiều khả năng được lựa chọn nhất Do vậy, lựa chọnđối lập khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho nhưng trườnghợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không chovay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ

Lựa chọn đối nghịch (hay còn gọi là lựa chọn ngược, lựa chọn trái ý, lựachọn bất lợi) là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiệngiao dịch hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng Lựa chọn bất lợi là hànhđộng xảy ra trước khi thực hiện giao dịch mà bên có nhiều thông tin có thể gây

ra tổn hại cho bên có ít thông tin hơn Lựa chọn bất lợi là trục trặc của yếu tố cơhội chủ nghĩa trước hợp đồng; nó nảy sinh vì thông tin riêng mà người thực hiện

"giao dịch" có trước khi họ ký hợp đồng, trong lúc đang tính toán xem việc thựchiện "giao dịch" thì có lợi hay không

Lựa chọn đối nghịch là một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tạitình trạng thông tin bấtcân xứng, người lựa chọn thứ tốt lại chọn phải thứ khôngtốt Trong điều kiện thông tin đối xứng, các bên trong giao dịch nắm thông tinngang nhau và đầyđủ về thứ được giao dịch Khi đó, người ta có thể tìm đượcthứ tốt hoặc thứ tương xứng vớicái giá mà họ phải bỏ ra Nhưng trong điều kiệnthông tin phi đối xứng, nghĩa là một bên trong giao dịch có nhiều thông tin vềđối tượng giao dịch hơn bên kia, người có ưu thế về thông tin có thể cung cấpnhững thông tin không trung thực về đối tượng được giao dịch cho bên kém ưu

Trang 7

thế thông tin Kết quả là, bên kém ưu thế về thông tin đồng ý hoàn thành giaodịch và nhận được thứ không như mình mong muốn.

b Tác động của lựa chọn đối nghịch đến thị trường

Trên thị trường hàng hóa hữu hình, đặc biệt các thị trường của loại sảnphẩm có mức chất lượng biến thiên rộng, sự xuất hiện của bất cân xứng thôngtin là yếu tố quan trọng kìm hãm giao dịch Người bán luôn có thông tin tốt hơnngười mua nên sự nghi ngờ về chất lượng sản phẩm của người mua là không thểtránh khỏi Điều đó đẩy người mua đến hai con đường: hoặc là chọn mặt hàngthay thế hoặc là tìm cách có thêm thông tin về hàng hóa đó (mua thông tin, thuêchuyên gia thẩm định…) Tuy nhiên, việc làm này tăng chi phí giao dịch màngười mua phải trả thêm Những yếu tố này làm giảm nhu cầu của người mua vàkết quả là trên những thị trường như thế doanh số giao dịch sẽ không cao

Chẳng hạn như trên thị trường tín dụng, người cho vay thường không thểnắm bắt đầy đủ thông tin về người vay tiền nên sẽ tính một mức lãi suất cho vay

có phần bù rủi ro Những dự án kinh doanh có rủi ro thấp, lợi nhuận sẽ không đủtrả lãi, chỉ còn lại những dự án có rủi ro cao mới có thể chấp nhận mức lãi suấtcao Chính vì tình trạng thông tin không cân xứng về dự án kinh doanh giữangười cho vay và người đi vay nên cuối cùng người cho vay chỉ toàn cho vaynhững dự án rủi ro cao hoặc sẽ không chấp nhận cho vay Điều này làm thu hẹpthị trường tín dụng Khi đó, người cho vay đã thực hiện một lựa chọn đối nghịchthay vì cho vay những khách hàng có mức tín nhiệm cao thì họ lại chọn nhữngkhách hàng có mức tính nhiệm thấp vay

Trên thị trường chứng khoán, lựa chọn đối nghịch xảy ra khi những nhàđầu tư không biết thông tin về cổ phiếu của các công ty khác nhau do đó có thểđịnh giá cổ phiếu không chính xác hoặc mua cổ phiếu của công ty hoạt độngkém, rủi ro cao Thị trường chứng khoán không minh bạch thông tin hoặc thôngtin không đầy đủ nhà đầu tư thường có khuynh hướng trả mức giá trung bìnhcho các loại chứng khoán khác nhau để đề phòng ngừa rủi ro vì thế những công

tu hoạt động kém nhưng biết cách tiếp thị sẽ sẵn sàng phát hành chứng khoánvới mức giá trung bình mà các nhà đầu tư muốn mua trong khi những công tyhoạt động tốt đòi hỏi một mức giá cao thì có thể phát hành sẽ không thành công.Giao dịch chứng khoán trong điều kiện thị trường bất cân xứng thông tin Nhữngngười tham gia có thể đẩy thị trường đến một trạng thái lựa chọn đối nghịch, đó

là việc mua chứng khoán của những công ty hoạt động kém và đẩy khỏi thịtrường những công ty có chất lượng tốt Trong thực tế, những nhà đầu tư sẽ dần

ý thức được khả năng lựa chọn đối nghịch bất lợi của mình nên sẽ không tiếp tụcmua bất kỳ một loại chứng khoán nào nữa, trong khi đó những cổ phiếu tốt do bị

Trang 8

trả giá thấp ngang bằng với giá cổ phiếu trung bình nên cũng không bán ra nữa.Nếu những diễn biến trên xẩy ra thì nhà đầu tư sẽ quy lưng lại đối với thịtrường, thị trường chứng khoán sẽ mất tính thanh khoản và ngày càng bị thuhẹp, hàng hóa trên thị trường chỉ còn là những hàng hóa có chất lượng kém Nhưvậy thị trường chứng khoán đã không còn làm tốt vai trò chu chuyển vốn trongnền kinh tế.

1.2.2 Rủi ro đạo đức

a Khái niệm rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin bất cân xứng tao ra sau khicuộc giao dịch diễn ra Rủi ro đạo đức trong các thị trường tài chính xảy ra chongười cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện nhữnghoạt động không tốt (thiếu đạo đức) xét theo quan điểm của người cho vay, bởinhững hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay được hoàn trả Do rủi rođạo đức giảm bớt xác suất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyếtđịnh thôi không cho vay

Rủi ro đạo đức (hay còn gọi là tâm lý ỷ lại) là kết quả của hành vi bị cheđậy và xuất hiện sau khi ký hợp đồng Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tếhọc và tài chính được sử dụng để chỉ một loại rủi ro phát sinh khi đạo đức củachủ thể kinh tế bị suy thoái Rủi ro đạo đức là một kiểu thất bại thị trường nảysinh trong môi trường thông tin bất cân xứng Rủi ro đạo đức là hình thức cơ hộichủ nghĩa sau hợp đồng, phát sinh do các hành động có tác động đến hiệu quảnhưng lại không dễ dàng quan sát được và vì thế những người thực hiện cáchành động này có thể chọn theo đuổi những lợi ích cá nhân của mình trên cơ sởgây tổn hại cho người khác Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tinhiểu được tình thế thông tin phi đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiênhình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hànhđộng đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin Hành vi tha hóa theohướng như thế của bên có ưu thế thông tin được bên kém ưu thế thông tin cho làkhông đứng đắn, là một thứ nguy hiểm, rủi ro cho mình

Để có sự tồn tại của rủi ro đạo đức, ba điều kiện phải được thỏa mãn:+ Thứ nhất, phải có sự khác biệt về quyền lợi giữa các bên

+ Thứ hai, phải có một cơ sở nào đó để tạo ra trao đổi có lợi hay một hìnhthức hợp táckhác nhau giữa các cá nhân (tức là có lý do để đồng ý giao dịch) từ

đó làm lộ ra mâu thuẫn về quyền lợi;

+ Thứ ba là phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem các điềukiện thỏa thuậncó đúng là được tuân thủ và thực hiện hay không

Rủi ro đạo đức có những đặc điểm chính sau đây:

Trang 9

+ Thứ nhất, có sự xuất hiện của hành động ẩn giấu Một bên tham gia giaodịch không thể giám sát hành động của phía bên kia.

+ Thứ hai, bên có hành động ẩn giấu dù vô tình hay cố ý sẽ làm tăng xácsuất xảy ra hậu quả xấu

b Tác động của rủi ro đạo đức đến thị trường

Trong thực tế, vấn đề rủi ro đạo đức xuất hiện trong rất nhiều thị trường,chẳng hạn: có một số thị trường mà tình trạng bất cân xứng thông tin dễ đượcnhận thấy như thị trường bảo hiểm, thị trường vay tín dụng, thị trường chứngkhoán

Trong thị trường cho vay tín dụng, người vay tiền biết nhiều thông tin hơnngười cho vay về hiệu quả của phương án kinh doanh, khả năng quản lý vốn vàmức độ rủi ro của dự án hơn người cho vay tiền, thậm chí họ còn hiểu rõ uy tíncủa bản thâm và biết chắc rằng mình có sử dụng khoản vay đúng mục đích haykhông Nói tóm lại, trong thị trường cho vay tín dụng bất cân xứng thông tin sẽdẫn đến cả lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức

Trên thị trường chứng khoán, công ty phát hành chứng khoán biết nhiềuthông tin hơn người mua chứng khoán về kế hoạch kinh doanh, kế hoạch sửdụng vốn, khả năng sinh lợi của tài sản, mức độ rủi ro của dự án… Công ty pháthành có thể che giấu những thông tin bất lợi của công ty, thay vào đó là việctrưng ra những kế hoạch kinh doanh và sổ sách kế toán đã được làm đẹp Saukhi huy động được vốn thì công ty có thể dùng vốn vào những mục đích khácvới cam kết ban đầu để thu lựi và chuyển dịch rủi ro cho nhà đầu tư, nhà đầu tư

dù muốn cũng không thể kiểm soát được rủi ro này vì biết ít thông tin hơn hoặcnăng lực can thiệp hạn chế Một trường hợp dễ nhận thấy của rủi ro đạo đức trênthị trường chứng khoán là tình trạng thao túng các mặt hoạt động của công ty cổphần và giá cổ phiếu Các cổ đông lớn hoặc những người nằm trong ban điềuhành công ty do có được thông tin về công ty hoặc tạo ra những sự kiện rồi liênkết mua bán để đẩy giá cổ phiếu tăng cao kéo những nhà đầu tư nhỏ lẻ ít kinhnghiệm vào cuộc Khi những cổ đông lớn đã rút ra khỏi thị trường thì những cổđông nhỏ nắm giữ những cổ phiếu giá cao (lựa chọn bất lợi) Trên thị trườngchứng khoán khi thông tin khi thông tin không cân xứng thì những người muabán trung thực thường chịu thiệt hại hơn những người mua bán với thông tin nội

bộ, nhà đầu tư cá nhân là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất Khi nhữngngười bán trung thực bị thua lỗ kéo dài thì chắc chắn họ sẽ rút ra khỏi thị trường

vì không ai muốn chơi trong cuộc chơi mà mình luôn ở thế bất lợi, hậu quả là thịtrường bị thu hẹp

1.3 Khủng hoảng tài chính

Trang 10

Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nềnkinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Dấuhiệu của khủng hoảng tài chính là:

- Các NHTM không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền

- Các khách hàng vay vốn , gồm cả khách hàng được xếp loại A cũngkhông thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng

- Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định

Một số nguyên nhân của việc không thực hiện được các nghĩa vụ thanhtoán là do gặp phải vấn đề thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc do cố tìnhchiếm dụng vốn vì điều này có thể có lợi ở khía cạnh nào đó Tình trạng mất khảnăng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề

về chi tiêu của Chính phủ Bản thân Chính phủ cũng gặp khó khăn trong việctìm tài trợ khi gặp khó khăn về thanh toán do những kỳ vọng không sáng sủamặc dù trong điều kiện bình thường nền kinh tế hoàn toàn có khả năng chi trả

Sự mất khả năng thanh toán thường có tính dây chuyền Vì vậy, khủng hoảng tàichính là điều không mong muốn

- Khủng hoảng nợ quốc gia: trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài(vay chính thức, vay thương mại) quá nhiều, sử dụng không hiệu quả vốn nênkhông trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ,xóa nợ thậm chí phải tuyên bố vỡ nợ (như trường hợp của CHDCND TriềuTiên) Khủng hoảng nợ xảy ra khá nhiều (Argentina mới đây hay nhiều nướcChâu Phi vừa qua) cùng với tiến trình toàn cầu hóa kinh tế do các điều kiện vay

nợ nước ngoài trở nên dễ dàng hơn

- Khủng hoảng tiền tệ: là hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán cácnghĩa vụ đến hạn hay đáp ứng nhu cầu cả thực tế và giả tạo do đầu cơ buộcchính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giánội tệ cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng

- Khủng hoảng thị trường chứng khoán: với tư cách đỉnh cao của kinh tế thịtrường, thị trường chứng khoán rất nhạy cảm và phức tạp nên cũng dễ đổ vỡ.Khủng hoảng thị trường chứng khoán xảy ra khi giá chứng khoán biến động

Trang 11

mạnh (“tuột dốc” hay “không thang” quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát và do hiệuứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị “bán đổ”, bán tháo” hay thị trường bịđông cứng vì không có giao dịch tạo ra sự thâm hụt giữa tiền (chứng khoán) vào

so với tiền ra thị trường chứng khoán (quỹ chứng khoán)

- Khủng hoảng cán cân thanh toán, cán cân vốn là cấu thành quan trọng

nhất của tài khoản quốc gia: khủng hoảng xảy ra khi cán cân này thâm hụt quánặng trong thời gian dài và không có nguồn bù đắp Khủng hoảng cán cân vãnglai thường xảy ra khi cán cân thương mại (nhập trừ đi xuất) bị thâm hụt vàkhủng hoảng cán cân thanh toán khi tổng các nguồn ngoại tệ ra lớn hơn ngoại tệvào (cán cân vãng lai, tài khoản vốn) gây nên thâm hụt nặng nề

- Khủng hoảng khả năng tính thanh khoản: nếu các loại khủng hoảng tài

chính ở trên liên quan tới cả ba mặt số lượng, thời hạn và chủng loại tiền (vàgiống như tiền) thì khủng hoảng thanh khoản là sự mất cân đối chủ yếu liênquan tới thời hạn và chủng loại của “giống như tiền” và một số loại tài sản đặcthù

1.3.2 Những yếu tố gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính

Có 5 yếu tố trong môi trường kinh tế có thể dẫn đến việc gây tồi tệ hơnmột cách căn bản cho vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trong các thịtrường tài chính, và đưa đến một cuộc khủng hoảng tài chính: Tăng lãi suất; sựsụt giảm thị trường cổ phiếu; Sự sụt giảm bất ngờ về mức giá tổng hợp; Tìnhtrạng không chắc chắn tăng lên và Sự hoảng loạn ngân hàng

- Sự tăng lãi suất: Như ta đã thấy trước đây, những cá nhân và công ty vớinhững dự án đầu tư rủi ro nhất chắc chắn là những người sẵn lòng chịu vay vớilãi suất cao nhất Nếu lãi suất trên thị trường được nâng lên một cách đầy đủ vì

hu cầu tín dụng tăng lên hoặc vì sự sụt giảm lượng tiền cung ứng, những vụ mạohiểm vay tín dụng có triển vọng tốt bới có khả năng xảy ra, trong khi đó những

vụ maohi hiểm vay tín dụng có triển vọng xấu vẫn nhiều khả năng xảy ra Dohậu quả việc này làm tăng lựa chọn đối nghịch khiến người cho vay sẽ khôngcòn muốn thức hiện các món vay Sự sụt giảm quan trọng trong việc cho vaydẫn đến sự sụt giảm quan trọng trong đầu tư và hoạt động kinh tế tổng hợp

- Sự sụt giảm ở thị trường cổ phiếu: Một sự sụt giảm mạnh trong thị trường

cổ phiếu có thể làm tăng vấn đề chọn lựa đối nghịch và rủi ro đạo đúc trong cácthị truowfnmg tài chính và tạo ra một cuộc khủng hoảng tài chính Một sự sụtgiảm do chỗ giá cổ phiếu khiến cho những người cho vay giảm bới ý định chovay vì, như chúng ta thấy, giá trị tài sản ròng của một công ty có vai trò tương tựnhư vật thế chấp vay, do đó tổn thất từ món cho vay dễ có khả năng là nghiệmtrọng hơn Do những người cho vay này kém bảo vệ chống lại những hậu quả

Trang 12

của lựa chọn đối nghịch hơn, họ giảm bớt việc cho vay của mình, việc này khiếncho việc đầu tư tổng sản phẩm cuối cùng giảm.

Ngoài ra, sự sụt giảm nói trên về giá trị tài sản ròng công ty do sự sụtgiảm ở thị trường cổ phiếu gây ra, làm tăng ý muốn gây rủi ro, bởi vì nay họ có

ít hơn để mất nếu các cuộc đầu tư của họ có kết cục tồi tệ Sự tăng rủi ro đạo đứckết cục khiến cho việc cho vay trở thành kém hấp dẫn – đây là một lý do khác vìsao một sự sụt giảm ở thịt rường cổ phiếu và do đó một sự sụt giảm giá trị tàisản ròng, dẫn đến sự giảm bớt hoạt động cho vay và hoạt động kinh tế

- Những sụt giảm bất ngờ về mức giá: Sự sụt giảm bất ngờ về mức giá cũnglàm giảm giá trị tài sản ròng của các công ty Do việc thanh toán nợ đã được cốđịnh theo hợp đồng thành những khoản danh nghĩa, một sự sụt giảm bất ngờ vềmức giá làm tăng giá trị các món nợ của công ty theo hiện vât (sự tăng sức nặngcủa món nợ này), nhưng không tăng giá trị thực của những tài sản của các công

ty Kết quả là giá trị ròng theo hiện vật (hiệu số) giữa tài sản và nợ theo hiện vậtgiảm Do vậy, một sự tụt mạnh mức giá gây ra một sự sụt giảm quan trọng giátrị tài sản ròng thực và một sự tăng các vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạođức đối mặt với những người cho vay Một sự sụt giảm bất ngờ về mức giá, nhưvây, dẫn đến một kết cục mô tả trên đây trong đó hoạt động cho vay và hoạtđộng kinh tế giảm xuống

- Tình trạng không chắc chắn tăng lên: Một sự tăng không bình thường tínhkhông chắc chắn trong các thị trường tài chính có thể do sự thất bài của một tổchức tài chính hoặc phi tài chính nổi tiếng, một sự suy thoái, hoặc sự đổ vỡ thịtrường cổ phiếu gây ra, khiến cho những người cho vay khó phân biệt những vụmạo hiểm vay tín dụng có triển vọng totost với những vụ mạo hiểm vay tín dụng

có triển vọng xấu -> người cho vay không có khả năng giải quyết lựa chọn đốinghịch làm họ giảm bớt ý định cho vay, đầu tư và hoạt động kinh tế tổng hợp

- Sự hoảng loạn ngân hàng: Các ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chínhquan trọng bằng việc tiến hành những hoạt động tạo thông tin, những hoạt độngnày tạo dễ dàng cho những cuộc đầu tư sinh lợi đối với nền kinh tê Như vây,một cuộc khủng hoảng tài chính trong đó nhiều ngân hàng không còn kinhdoanh được nữa (gọi là hoảng loạn ngân hàng) làm giảm tổng số những hoạtđộng trug gian tài chính mà ngân hàng thực hiện, như thế, dẫn đến sự sụt giảm

về đầu tư và hoạt độn kinh tế tổng hợp Một sự giảm sổ lượng các ngân hàngtrong một cuộc khủng hoảng tài chính cũng là giảm sự cung ứng vốn cho ngườivay, điều này đãn đến việc tăng lãi suất cao hơn, Do một sự tăng lãi suất cũnglàm tăng sự lựa chọn đối nghịch trong thị trường tín dụng, các vụ hoảng loạnngân hàng cũng làm tăng thêm sự suy giảm hoạt động kinh tế qua kênh này

Trang 13

1.4 Tác động của thông tin bất cân xứng đến thị trường tài chính

Thành phần chính của các cuộc khủng hoảng tài chính là các thông tinkhông đối xứng Thông tin không đối xứng có vai trò chính yếu trong các giaodịch tài chính Nó đưa người vay tới những hành vi cơ hội nguy hiểm và là mầmmống cho những kỳ vọng xấu của người cho vay về người đi vay Thông tinkhông cân xứng khiến cho người đi vay và người gửi tiền do họ khó khăn trongviệc phân biệt giữa vấn đề thanh khoản và tình trạng mất khả năng thanh toán,qua đó dẫn đến việc người sở hữu bán đi những tài sản bằng ngoại tệ của nướcgặp khó khăn

1.4.1 Tác động của lựa chọn đối nghịch

“Sự lựa chọn đối nghịch” và “Hiểm họa đạo đức” là hai hiện tượng phổbiến nhất xảy ra trong điều kiện thông tin bất cân xứng, bóp méo quyết định củacác chủ thể kinh tế tham gia trên thị trường Lợi thế thuộc về những người cóthông tin, điều đó không còn xa lạ trong nền kinh tế.Trong trường hợp nghiêmtrọng, thông tin bất cân xứng bóp méo thị trường và có thể dẫn đến thất bại thịtrường Bất cân xứng thông tin khiến người cho vay không phân biệt được đâu

là đối tượng nên cho vay, khiến người cho vay e dè trong vấn đề cung nguồnvốn nhàn rỗi của mình Điều này ảnh hưởng đầu tiên đến những người cần vốnthật sự, sau đó là lợi ích của người cho vay, và theo đó là ảnh hưởng tới thịtrường tài chính

Một số tác động của thông tin bất cân xứng đối với thi trường tài chínhnhư sau:

- Trong giao dịch bất động sản: Bên bán là bên có ưu thế thông tin về một

lô đất hay ngôi nhà (gặp những điều kiện không tốt như: trong diện giải tỏa, hay

ở nơi dễ ngập lụt, v.v…) còn bên mua có nhu cầu mua đất nhưng không đủ khảnăng tìm hiểu về các thông tin liên quan – là bên kém ưu thế thông tin Kết quả

là bên mua gánh chịu bất lợi khi mua phải đất hay nhà không tốt

- Trong lĩnh vực ngân hàng: Lựa chọn bất lợi xảy ra trước cho vay, khingân hàng bị khách hàng che giấu một số thông tin dẫn tới việc lựa chọn kháchhàng không tốt và cấp tín dụng không hiệu quả Khách hàng có độ rủi ro caothường là những khách hàng tích cực nhất trong việc xin vay Ví dụ, nhữngngười liều lĩnh hay có động cơ lừa đảo thường là những người hăm hở chấpnhận khoản vay, bởi vì họ biết rõ rằng khả năng trả lại khoản vay là khó hoặckhông xảy ra Hậu quả của sự lựa chọn đối nghịch có thể dẫn đến việc cấp tíndụng cho khách hàng có rủi ro cao nên trong trường hợp này các ngân hàng cóthể sẽ cắt giảm cho vay hoặc không tiếp tục cho vay mặc dù trên thị trường vẫn

Trang 14

có nhiều khách hàng tốt.

nhà đầu tư do dự trước việc lựa chọn chứng khoán của công ty A hay của công

ty B Nhà đầu tư không biết được đâu là công ty tốt, có lợi tức dự tính cao, rủi rothấp và đâu là công ty tồi, có lợi tức dự tính thấp và rủi ro cao Công ty biết rõ

về tình hình kinh doanh của mình, nếu họ cung cấp thông tin không chính xác,

quả là chỉ có công ty hoạt động kém bán được cổ phiếu, thị trường cổ phiếu trởnên kém hiệu quả

1.4.2 Tác động của rủi ro đạo đức

Thông tin bất cân xứng cũng gây ra rủi ro đạo đức trên thị trường Thiếuthông tin dẫn tới giám sát không đầy đủ của chính phủ có thể dẫn tới các rủi rođạo đức ở chủ thể kinh tế được chính phủ ủy thác thực hiện các nhiệm vụ chingân sách, đó là việc các chủ thể này sử dụng lãng phí ngân sách

Thực tế, phần góp vốn của những người lãnh đạo công ty chỉ chiếm mộtphần nhỏ so với tổng vốn công ty Điều này đồng nghĩa với việc họ đang quản lýmột phần lớn vốn của những cổ đông Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyềnquản lý là nguyên nhân xảy ra rủi ro đạo đức trong các công ty cổ phần Nhữngngười lãnh đạo công ty có thể hành động vì lợi ích cá nhân mà đi ngược lại lợiích của các cổ đông Nó làm tăng các chi phí phục vụ cho lợi ích của người quản

lý công ty Ngoài việc theo đuổi những lợi ích cá nhân, người quản lý công ty cóthể theo đuổi những chiến lược của công ty nhằm đề cao quyền lực cá nhân màkhông làm tăng lợi ích của công ty Chính việc không có đủ thông tin khiến các

cổ đông sở hữu không biết đầy đủ những gì người đại diện đang làm và khôngthể ngăn ngừa những chỉ tiêu vô ích hoặc gian lận

Trang 15

Năm 2008 là năm thua lỗ nghiêm trọng của các tập đoàn tài chính lớn tại

Mỹ Đây là nguyên nhân dẫn tới sự chao đảo mạnh của hệ thống tài chính toànthế giới, vì trong một thế giới mở như hiện nay, biên giới là thứ gần như không

hề tồn tại trong ngành tài chính Mặt khác, các loại chứng khoán bảo đảm bằngđịa ốc có nguồn gốc tại Mỹ cũng được bán cho rất nhiều nhà đầu tư trên khắpthế giới chứ không riêng gì ở nước này

Đỉnh điểm của cơn khủng hoảng là vào tháng 9/2008 sau vụ phá sản củangân hàng đầu tư Phố Wall Lehman Brothers và nguy cơ đổ vỡ của một loạt tậpđoàn tài chính lớn của Mỹ, trong đó có hãng bảo hiểm AIG Sau cơn hoảng loạnlan rộng khắp các châu lục là sự đóng băng của thị trường tín dụng vì các ngânhàng đã quá sợ cho vay, bất chấp những nỗ lực bơm vốn vào hệ thống tài chínhcủa các chính phủ Các công ty cạn vốn để làm ăn, dẫn tới sa thải hàng loạt.Người tiêu dùng vừa không thể vay tín dụng để chi tiêu, vừa mất việc, nên thắtlưng buộc bụng, khiến các ngành sản xuất càng gặp khó.v.v Cứ thế, lần lượt cácnền kinh tế đầu tàu: Mỹ, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu, Nhật Bản

và Anh đã cùng tuyên bố suy thoái Nhiều nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu

ở châu Á thì chứng kiến tốc độ sụt giảm trong kim ngạch xuất khẩu và cũng cónguy cơ suy thoái theo Thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh

tế lớn nhất từ trước đến nay

Khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ cuối năm 2007 đã lan nhanh vàảnh hưởng sâu rộng đến toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ của nhiều định chế tàichính khổng lồ, thị trường chứng khoán khuynh đảo Năm 2008 cũng chứngkiến những nỗ lực chưa từng có để chống chọi với bão tài chính Nền kinh tế thếgiới đang bước vào giai đoạn suy giảm nghiêm trọng trước cú sốc tài chính nguyhiểm nhất kể từ năm 1930 ở các thị trường lớn Ngân hàng thế giới (WB) nhận

Trang 16

định “ GDP toàn cầu năm nay sẽ giảm lần đầu tiên từ sau đại chiến thế giới lần2”

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ thực chất là biểu hiện rõ nétnhất của một quá trình khủng hoảng rất lâu trước đó, sau đây là những mốc sựkiện chính:

- Năm 2002-2004 : giá cả ở các bang Arizona, Califfornia, Florida, Hawaii,

và Nevada tăng trên 25% / năm, bùng nổ nhà đất bắt đầu

- Năm 2005 : bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005

- Năm 2006: thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá giảm, kinhdoanh bất động sản, dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể

- Năm 2007: kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồnước tính cao nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm vớihơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sảnnhà ở bị tịch thu đê thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006

- Năm 2008: sự đổ vỡ tài chính lên đến cực điểm vào tháng 10 khi ngay cảnhững ngân hàng khổng lồ và lâu đời từng sống sót qua những cuộc khủnghoảng tài chính và kinh tế trước đây, như Lehman Brothers, Morgan Stanley,Citigroup, AIG,… cũng lâm nạn Chính phủ Mỹ đã cung cấp 700 tỉ USD để mualại nợ xấu của các ngân hàng

2.1.2 Tình hình các nước trên thế giới trong giai đoạn khủng hoảng

Nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển, nhất là các nước ở Châu

Âu, cũng tham gia vào thị trường tí dung nhà thứ cấp ở Hoa Kỳ Chính vì vây,bong bóng nhà ở của Hoa Kỳ bị vỡ cũng làm các tổ chức tài chính này gặp nguyhiểm tương tự như các tổ chức tài chính của Hoa Kỳ Những nước Châu Âu bịnổi loạn tài chính nặng nhất là Anh, Iceland, Ireland, Bỉ và Tây Ban Nha

Iceland là nước đầu tiên có nguy cơ phá sản trên qui mô quốc gia, Chínhphủ Iceland đã phải đóng cửa thị trường chứng khoán và quốc hữu hóa nhữngngân hàng đầu Từ đó, động nội tệ của nước này mất giá trầm trọng và gần như

bị xóa sổ

Tại Châu Á, kinh tế Hàn Quốc cũng báo động đỏ khi đồng Won mất giáhơn 40% kể từ đầu năm và hiện ở mức thấp nhất kết từ cuộc khủng hoảng tàichính năm 1997 Chính phủ Hàn Quốc đã phải thực hiện một số biện pháp khẩncấp như cắt giảm lãi suất và bơm tiền vào hệ thống tài chính

Nhiều nền kinh tế lớn, bắt đầu từ Nhật và EU tuyên bố rơi vào trạng tháisuy thoái, Mỹ, lần đầu tiền sau 8 năm, chính thức thừa nhận đã lâm vào tìnhtrạng trên từ tháng 12/2007 Điều tương tụ cũng xảy ra với Nga, cường quốc

Trang 17

kinh tế lớn thứ 4 thế giới Giá dầu sụt giảm mạnh cùng với đó là nhu cầu xâydụng đi xuongs ảnh hưởng nghiệm trọng tới hai mặt hàng xuất khẩu chiến lượccủa Nga là dầu mỏ và kim loại, góp phần khiến quốc gia này rơi vào suy thoái.

2.2 Vận dụng lý thuyết giải thích cuộc khủng hoảng tài chính 2008

2.2.1 Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu: 4 nguyên

và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao làm chobong bóng nhà đất hình thành, Khi lãi suất cao thì thị trường dậm chân, ngườibán nhiều hơn người mua đẩy giá nhà xuống thấp

Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa để biếncác khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất độngsản đầy rủi ro cung cấp cho thị trường

Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được cáckhoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu cócác danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng giatăng thì viecj phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản giảm Điều này cónghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm, rủi ro tín dụng càng tăng

Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục, làm cho giá chứng khoản sụt giảmmanh Các ngân hàng đầu tư mặc dù không năm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũngtrực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chúng khoán lien quan đến bấtđộng sản Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đâu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗkinh doanh

Thứ hai: Hệ thống tín dụng đổ vỡ

Sự co lại của thị trường tín dụng, sự đổ vỡ của bong bóng nhà đất rấtnhiều Trong cho vay nhà đát lẫn trong thị trường nợ, việc dung đòn bẩy tàichính là hết sức quan trongm Một donh nghiệp có thể đi vay 3 nếu có vốn riêng

là 1, như vậy được gọi là sử dụng đòn bẩy bằng 3 lần Các doanh nghiệp hoạt

Trang 18

động trong nền kinh tế thực nếu có đòn bẩy tài chính không lơn hơn 3 thì đượccoi là bình thường, với hình thức này, trong trường hợp rủi ro người di vay sẽchịu rủi ro đầu tiên khi đòn bẩy càng cao thf tức là rủi ro càng lớn Khi cho vay,các ngân hàng thường chú ý đến hệ số đòn bẩy này bới vì nếu hệ số đòn bẩy quảcao thì khi có lãi nguwoif vay được lợi, khi thua lỗ thì ngân hàng phải gánhchịu Trên thị trường tài chính, các ngân hàng sư dụng đòn bẩy cao hơn, co khilên đến cả tram lần do các ngân hàng đầu tư các công ty tài chính không có quiđịnh nghiêm ngặt về vấn đề này.

Thứ ba: thị trường thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ.

Các ngân hàng thương mại chịu sự quản lý, giám sát của các cơ quan nhànước, còn các ngân hàng đầu tư, các công ty tài chính chịu sự giám sát ít hơn.Các cơ quan quản lý lỏng lẻo, không theo kiepj hoạt động của tất cả các tổ chứctài chính ngân hàng dẫn đến những rủi ro khôn lường Có tiền, các công ty thoảimái cho khác hàng vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cung caaos thôngqua việc mua lại danh mục cho vay của các công ty nay Các ngân hàng này,trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại, sẽ phát hành chứng khoán để vay tiền.Danh mục cho vay được chia ra thành các mục như rủi ro ít, rủi ro cao… tùydịnh mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình Cóloại chứng khaons không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi rocũng lớn

Như vây, rủi ro trong việc cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công

ty tài chính sang ngân hàng đàu tư Nhà đầu tư trên thế giới đổ tiền mua cácchứng khaons nay, nhờ vậy, chính họ đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ chothị trwuofng bất động sản ở Mỹ tăng nóng

Thứ tư: Khủng hoảng niềm tin

Theo giáo sư Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảmkhốc của niềm tin, Các ngan hàng đánh đố lẫn nhau về mức đọ cho vay cũngnhư tài sản, Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấynhững trượt giá trị tài sản thực của ngân hàng Đay là một trò chơi mà hi người

ta bắt đầu cảm nhận “mùi vị” của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi

đó thua lỗ sẽ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả người chơi đều thua lỗ

Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy và độ tin cậy

đó đã bị xói mòn xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức

độ tin cậy xuống một mức thaaos mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục

Ngày đăng: 03/05/2019, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w