1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chứng minh rằng chính sách và pháp luật của nước ta hiện nay về thương mại là chính sách và pháp luật mang tính hội nhập kinh tế quốc tế

29 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 196 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tích tụ tập trung tư bản dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất. Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế chính trị của các nước nói riêng và của thế giới nói chung. Đó là sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế có nhiều sự thay đổi. Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, EU, AFTA và nhiều tam giác phát triển khác cũng là do toàn cầu hoá đem lại. Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau này. Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam rất nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đem lại không ít khó khăn thử thách tuy nhiên việc hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan đối với Việt Nam. Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình lâu dài và hết sức phức tạp đòi hỏi nhà nước sử dụng mọi khả năng, biện pháp, cách thức và công cụ hiện có. Trong đó có một công cụ hết sức quan trọng đó là pháp luật. Suy cho cùng thì sự thay đổi chuyển sang tiến trình hội nhập của đất nước cũng chính là sự thay đổi, phát triển và điều chỉnh hệ thống pháp luật của nhà nước. Pháp luật là do nhà nước ban hành, phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, được đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Kể từ khi đất nước ta tiến hành đổi mới và hội nhập (tính từ năm 1986) đến nay, trong lĩnh vực kinh tế chúng ta đã chứng kiến sự phát triển và thay đổi của hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung và hệ thống chính sách và pháp luật về thương mại nói riêng. Sự thay đổi, phát triển và hoàn thiện đó đã góp phần quan trọng đưa nước ta hội nhập thành công và đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế xã hội như hiện nay.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt củalực lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộngtrên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ vàtích tụ tập trung tư bản dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất Sự hợp nhất vềkinh tế giữa các quốc gia tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến nền kinh tế chính trịcủa các nước nói riêng và của thế giới nói chung Đó là sự phát triển vượt bậccủa nền kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cơ cấu kinh tế cónhiều sự thay đổi Sự ra đời của các tổ chức kinh tế thế giới như WTO, EU,AFTA và nhiều tam giác phát triển khác cũng là do toàn cầu hoá đem lại Theo

xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hộinhập kinh tế quốc tế Đây không phải là một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà làvấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng nhưsau này Hội nhập kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam rất nhiều thời cơthuận lợi nhưng cũng đem lại không ít khó khăn thử thách tuy nhiên việc hộinhập kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan đối với Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình lâu dài và hết sức phức tạp đòihỏi nhà nước sử dụng mọi khả năng, biện pháp, cách thức và công cụ hiện có.Trong đó có một công cụ hết sức quan trọng đó là pháp luật Suy cho cùng thì sựthay đổi chuyển sang tiến trình hội nhập của đất nước cũng chính là sự thay đổi,phát triển và điều chỉnh hệ thống pháp luật của nhà nước Pháp luật là do nhànước ban hành, phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, được đặt ra đểđiều chỉnh các quan hệ xã hội Kể từ khi đất nước ta tiến hành đổi mới và hộinhập (tính từ năm 1986) đến nay, trong lĩnh vực kinh tế chúng ta đã chứng kiến

sự phát triển và thay đổi của hệ thống pháp luật về kinh tế nói chung và hệ thốngchính sách và pháp luật về thương mại nói riêng Sự thay đổi, phát triển và hoànthiện đó đã góp phần quan trọng đưa nước ta hội nhập thành công và đạt đượcnhững thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội như hiện nay

Để làm rõ hơn vấn đề này, bản thân tôi xin chọn đề tài “Chứng minh

rằng chính sách và pháp luật của nước ta hiện nay về thương mại là chính sách và pháp luật mang tính hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu

của mình

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng thực hiện nhưng với sự hiểu biết cònhạn chế thì không thể không có thiếu sót mắc phải Em kính mong nhận đượcnhững ý kiến đánh giá của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn vàđem lại những kinh nghiệm cho bản thân em trong những bài viết sau

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG

I ĐƯỜNG LỐI CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.

1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình tất yếu của nền kinh tế thế giới,

từ thấp đến cao, từ quy mô hẹp đến quy mô ngày càng rộng lớn hơn, đặc biệt làtrong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và quốc tế hóađang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạngkhoa học công nghệ Trước đây, tính chất xã hội hóa của quá trình sản xuất chủyếu mới lan tỏa bên trong phạm vi biên giới của từng quốc gia, nó gắn các quátrình sản xuất, kinh doanh riêng rẽ lại với nhau, hình thành các tập đoàn kinh tếquốc gia và làm xuất hiện phổ biến các loại hình công ty cổ phần trong nền kinh

tế quốc gia Qua đó quan hệ về tư liệu sản xuất đã có những thay đổi đáng kể,dần hình thành nên sở hữu hỗn hợp Từ đó, việc đáp ứng yêu cầu về quy mô vốnlớn cho sản xuất kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn.Tình hình này càng đòi hỏi

sự tham gia ngày càng lớn của chính phủ các quốc gia có nền kinh tế phát triển.Bởi lẽ các quốc gia này là những quốc gia có thế mạnh về vốn, công nghệ, trình

độ quản lý Ngày nay một mặt do trình độ phát triển ngày càng cao của lựclượng sản xuất làm cho tính chất xã hội hóa của chính nó càng vượt ra khỏiphạm vi biên giới quốc gia, lan tỏa ra các quốc gia khu vực và thế giới nóichung Mặt khác, tự do hóa thương mại cũng trở thành xu hướng tất yếu, đượcxem là nhân tố quan trọng thúc đẩy buôn bán giao lưu giữa các quốc gia, thúcđẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của mỗi quốc gia Chính vì vậyhầu hết các quốc gia trên thế giới theo định hướng phát triển của mình đều điềuchỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cản thươngmại tạo điều kiện cho việc điều chuyển các nguồn lực và hàng hóa tiêu dùnggiữa các quốc gia ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng hơn Không ngừng traođổi hàng hóa và dịch vụ, mở rộng sự phân công và hợp tác quốc tế trên các lĩnhvực kinh tế, khoa học – kỹ thuật là một nhu cầu không thể thiếu được của đờisống kinh tế và là một tất yếu khách quan của thời đại, dù đó là nước lớn haynước nhỏ, nước công nghiệp phát triển hay kém phát triển, nước theo chế độ tưbản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa Mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập đểphát triển, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt đều phải chú ý đến các quan hệtrong và ngoài khu vực.Về lâu dài cũng như trước mắt, việc giải quyết các vấn

đề của quốc gia đều phải tính đến và cân nhắc với xu hướng hội nhập toàn cầu

để đảm bảo được lợi ích phát triển tối ưu của quốc gia.Việt Nam cũng khôngnằm ngoài quá trình này Trong điều kiện hội nhập, quốc gia dù giàu có hoặcphát triển đến đâu cũng không thể tự mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu của

Trang 3

trường thế giới Đó là vấn đề mang tính quy luật Tuy nhiên để hội nhập có hiệuquả, cần phải có quan điểm nhận thức đúng đắn, nhất quán, cơ chế chính sáchphù hợp, tận dụng tốt cơ hội, không bỏ lỡ thời cơ, giảm thách thức, hạn chế rủi

ro trong quá trình tiến lên của mình

Hội nhập kinh tế quốc tế là thuật ngữ xuất hiện trong vài thập kỷ trở lạiđây nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu về thuật ngữ này Có ý kiến chorằng hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các thể chế quốc gia tiếnhành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đaphương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn trong cáclĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế Loạt ý kiến khác cho rằng hộinhập kinh tế quốc tế là quá trình loại bỏ dần các hàng rào thương mại quốc tế,thanh toán quốc tế và di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước Mặc dù cònnhiều quan niệm khác nhau nhưng hiện nay khái niệm tương đối phổ biến vàđược nhiều nước chấp nhận như sau: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nềnkinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu,trong đó mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên có sự ràng buộc theo nhữngquy định chung của khối Nói cách khác đây là quá trình các quốc gia thực hiện

mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào cách định chế kinh tế và tài chínhquốc tế, thực hiện thuận lợi hóa và tự do thương mại, đầu tư và các hoạt độngkinh tế đối ngoại khác1

Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm giải quyết 6 vấn đề chủ yếu gồm: Đàmphán cắt giảm thuế quan; Giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan; Giảm bớt cáchạn chế đối với dịch vụ; Giảm bớt các trở ngại đối với đầu tư quốc tế; Điềuchỉnh các chính sách thương mại khác; Triển khai các hoạt động văn hóa, giáodục, y tế có tính chất toàn cầu Hội nhập là kết quả chính trị có chủ đích rõràng nhằm hình thành một tập hợp khu vực để thúc đẩy sản xuất, mở rộng thịtrường cho sản phẩm, dịch vụ nước mình Do đó hội nhập là hoạt động chủ quancủa con người, ở đây là các chính phủ nhằm lợi dụng sức mạnh của thời đại đểtăng cường sức mạnh dân tộc mình

2 Đường lối chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta.

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nướctrong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc Đảng ta đã đưa ra chủ trươngtranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật,tham gia ngày càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong “Hộiđồng tương trợ kinh tế và mở rộng với các nước khác” Tại Đại hội lần thứ VII

(năm 1991), Đảng ta đề ra phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”,

1 xuat-136215.html

Trang 4

http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-cua-viet-nam-va-mot-so-de-đánh dấu cột mốc quan trọng khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tếquốc tế trong thời kỳ mới, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đốingoại song phương và đa phương sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu

tan rã Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), với mục tiêu: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới”, Nghị quyết của Đảng đã đề cập

đến việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mục tiêu phục vụ sựnghiệp phát triển của đất nước, tiếp tục đánh dấu một bước chuyển biến cơ bảntrong nhận thức về nhu cầu cần tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đạihội IX (2001) của Đảng nhấn mạnh việc “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế vàkhu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc

tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”.2

Nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác kinh tế quốc tế nhằm thúcđẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị khóa

IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW “về hội nhập kinh tế quốc tế” Tại Đạihội X (2006), Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hội nhậpkinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” Giai đoạnnày cũng đánh dấu một trong những sự kiển nổi bật về hợp tác kinh tế quốc tếkhi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1/2007

Tại Đại hội lần thứ XI (2011), Đảng đã đề ra đường lối đối ngoại của đất

nước trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Để cụ thể hóa chủ trương này, ngày

10/4/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhậpquốc tế, trong đó tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế quốc tế của đất nước đãchuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập toàn diện trên các mặt: Kinhtế; chính trị, khoa học công nghệ và giáo dục, đào tạo

Gần đây, ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII banhành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham giacác hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới Nghị quyết 06-NQ/TW xácđịnh hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; Hội nhập trongcác lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh

tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức làlực lượng đi đầu

Từ khi nước ta chính thức trở thành thành viên của WTO (năm 2007) đếnnay, tiến trình chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ngàycàng sâu rộng, đạt được nhiều kết quả, khá toàn diện trên các lĩnh vực Hội nhậpkinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển

2

Trang 5

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2015/31233/Hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; Thúc đẩy hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao thu nhập và mứcsống của người dân.

Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình lâu dài và phức tạp trải quanhiều giai đoạn, quá trình trong đó việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật nhất là pháp luật về dân sự, kinh tế giữ vai trò quan trọng, thiết yếu Nhậnthức được tầm quan trọng đó, ngày 24/5/2005, Bộ chính trị đã ban hành Nghịquyết số 48 – NQ/TW Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtViệt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 trong đó có nội dung về

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế: “Tiếp tục ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo vệ môi trường Đồng thời, đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam

là thành viên.

Ưu tiên xây dựng các văn bản pháp luật và các thiết chế bảo vệ nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; khẩn trương rà soát, hoàn thiện pháp luật theo yêu cầu gia nhập WTO; thực hiện các cam kết với ASEAN, tham gia đầy đủ vào AFTA năm 2006, tiến tới cộng đồng kinh tế châu Á vào năm 2020.

Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế (trọng tài, hoà giải) phù hợp với tập quán thương mại quốc tế Tham gia các điều ước quốc tế đa phương

về tương trợ tư pháp, nhất là các điều ước liên quan tới việc công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định của toà án, quyết định trọng tài thương mại”.

Những quan điểm chỉ đạo của Đảng nêu trên là phương hướng quan trọngtrong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ quá trình hộinhập kinh tế quốc tế Đến nay Việt Nam đã cơ bản xây dựng và hoàn thiện được

hệ thống pháp luật đồng bộ, các chính sách và pháp luật về thương mại đượcđánh giá là chính sách và pháp luật mang tính hội nhập kinh tế quốc tế

II SỰ THAM GIA CỦA VIỆT NAM VÀO CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI SONG PHƯƠNG VÀ ĐA PHƯƠNG VỀ THƯƠNG MẠI.

1 Việc đàm phán và ký kết các hiệp định Thương mại tự do (FTA):

Theo quan niệm truyền thống, hiệp định thương mại tự do (FTA) là mộtthỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự dohóa thương mại về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảmthuế quan, có các quy định tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tưgiữa các thành viên Sự ra đời, phát triển của FTA gắn liền với quá trình pháttriển của thương mại thế giới Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, nhìn chung

Trang 6

buôn bán trên thế giới phát triển tự do Bối cảnh thế giới sau chiến tranh, nhất làsau cuộc đại khủng hoảng 1929 - 1933 và tiếp đến cuộc chiến tranh thế giới thứhai đã tác động mạnh đến hoạt động thương mại quốc tế Để khôi phục nền kinh

tế, nhiều quốc gia đã xác lập các hàng rào thuế để bảo vệ thị trường nội địa trước

sự xâm nhập của hàng hóa bên ngoài có khả năng cạnh tranh cao hơn Các quốcgia gần gũi về địa lý thực hiện các thỏa thuận trong giao dịch thương mại, tạocác ưu đãi để thúc đẩy phát triển kinh tế, thúc đẩy thương mại tự do, hợp táckinh tế và đầu tư Để đẩy mạnh quá trình hội nhập hóa, Việt Nam đã tích cực vàchủ động đàm pháp ký kết FTA với các nền kinh tế lớn trên thế giới Tính đếnnay, Việt Nam đã phê chuẩn 10 FTA song phương và đa phương với các đối táctrong khu vực và trên thế giới, bao gồm: Khu vực thương mại tự do ASEAN(AFTA) và 5 FTA ASEAN +1 (Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, NewZealand; 4 FTA song phương giữa Việt Nam với Nhật Bản (VJEPA), với HànQuốc (KVFTA), với Chile (VCFTA) với Liên minh kinh tế Á - Âu (EAEUFTA).Việt Nam cũng đã kết thúc đàm phán FTA với EU (EVFTA), cùng ASEAN kýFTA với Hong Kong vào tháng 11/2017 Ngoài ra, còn có một số FTA khác ViệtNam đang trong quá trình đàm phán3

Việc thực thi các FTA nói trên đã góp phần tích cực cho sự phát triển kinh

tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giátrị, mạng lưới sản xuất toàn cầu, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực,cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tranh thủ vốnđầu tư, công nghệ tri thức, kinh nghiệm quản lý, tạo thêm nhiều việc làm, thunhập cho người dân

2 Việc tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO).

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1

năm 1995 và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan

và thương mại (GATT) WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thànhviên ký kết, đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT),Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữutrí tuệ (TRIPs) Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việctrao đổi hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ Các nguyên tắc và quy định đượccác Thành viên đàm phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và khôngchính thức khác trong các diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phánthương mại đa phương định kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiệnnay (DDA) Nhận thức rõ những tác động của WTO sẽ đem lại cho Việt Namtrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tháng 1/1995 Việt Nam nộp đơn xin gianhập WTO, trải quan 12 năm đàm phán đến ngày 11/01/2007 Việt Nam đượcWTO chính thức kết nạp làm thành viên thứ 150 của tổ chức này Khi gia nhập

Trang 7

WTO, Việt Nam được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nướcthành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ,không bị phân biệt đối xử; việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơchế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạchcác thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của ViệtNam ngày càng được cải thiện;Việt Nam có được vị thế bình đẳng như các thànhviên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội đểđấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, cóđiều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp; việc hội nhập vàonền kinh tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm chotiến trình cải cách của Việt Nam đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn.

Việc trở thành thành viên chính thức của WTO (năm 2007) đánh dấu bướctiến lớn, là dấu mốc quan trọng của nước ta trên con đường hội nhập kinh tếquốc tế của đất nước Quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, đạt được nhiều kếtquả, khá toàn diện trên các lĩnh vực

3 Việc hoàn tất đàm phán, thông qua và phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương ( CPTPP ).

Ngày 8/3, tại Santiago, Chile, 11 quốc gia, gồm: Úc, Brunei, Canada,Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam

đã chính thức ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái BìnhDương gọi tắt là CPTPP Đây là kết quả đạt được của các nước bên lề Diễn đànKinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) diễn ra ở Đà Nẵng vào tháng 11năm 2017 Ngày 12/11/2018, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã biểu quyếtthông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyênThái Bình Dương (CPTPP hay TPP-11) cùng các văn kiện liên quan do đó ViệtNam là nước thứ 7 thông qua Hiệp định Như sau sau ngày 30/12/2018 thìCPTPP sẽ chính thức có hiệu lực thi hành

Hiệp định TPP gồm 30 Chương và 9 Phụ lục điều chỉnh nhiều vấn đề từthương mại truyền thống đến các vấn đề ít truyền thống hơn như mua sắm củacác cơ quan Chính phủ, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước và mở rộng

ra cả các vấn đề được coi là phi truyền thống trong đàm phán, ký kết các FTAnhư lao động, môi trường, chống tham nhũng trong thương mại và đầu tư Mặc

dù các nước thành viên CPTPP đã quyết định tạm hoãn áp dụng một số nhómnghĩa vụ được coi là có mức độ cam kết cao nhưng về tổng thể, Hiệp địnhCPTTP vẫn được đánh giá là một FTA chất lượng cao và toàn diện với mức độcam kết sâu nhất từ trước đến nay Việc tham gia và sớm phê chuẩn Hiệp địnhCPTPP giúp nước ta thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với đổi mới và hội nhậpquốc tế toàn diện, sâu rộng; khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan

Trang 8

trọng của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á cũng như châu Á - Thái BìnhDương, thực sự nâng cao vị thế của nước ta trong khối ASEAN, trong khu vựccũng như trên trường quốc tế Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình chính trị-anninh thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khólường, tham gia CPTPP vừa giúp Việt Nam có điều kiện nâng cao nội lực để ứngphó, vừa giúp củng cố vị thế để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đaphương hóa, đa dạng hóa đi đôi với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh.Hiệp định CPTPP khi đi vào triển khai sẽ góp phần tăng cường sự đan xen lợiích, làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước thành viênCPTPP, đặc biệt là các nước thành viên có quan hệ đối tác chiến lược với nước

ta Cùng với việc tham gia vào tổ chức Thương mại thế giới thì việc tham giaCPTPP là cột mốc đáng nhớ, đánh dấu sự hội nhập sâu rộng rộng trong các quan

hệ kinh tế quốc tế đối với nước ta

III HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM MANG TÍNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.

1 Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế và vai trò của pháp luật đối với việc phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội

Nó là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiệnbằng sức mạnh cưỡng chế, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, nócũng là công cụ có hiệu lực nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, chứađựng những chuẩn mực chung được số đông trong xã hội ủng hộ

Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa con người và xãhội, liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng cácloại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao củacon người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn Cũng có thể hiểu,kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, cácmỗi quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Nói đến kinh tế suycho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích

Là một trong những yếu tố của thuộc kiến trúc thượng tầng, pháp luậtcũng có quan hệ mật thiết với kinh tế - yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng Trong đó,kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật Nó quyết định sự ra đời, tồn tại

và phát triển của pháp luật Tuy nhiên, pháp luật cũng có tính độc lập tương đối

và có sự tác động mạnh mẽ tới kinh tế

Với đặc điểm riêng biệt của mình, pháp luật là phương tiện quan trọngnhất để nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Pháp luật có khảnăng triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước một cách thống nhất,nhanh chóng và có hiệu quả trên quy mô rộng lớn nhất Nhờ vào pháp luật, nhà

Trang 9

nước có cơ sở để phát huy quyền lực của mình Trong tổ chức và quản lý kinh

tế, pháp luật lại càng có vai trò to lớn Nó góp phần tích cực vào việc tổ chức,quản lý và điều tiết nền kinh tế, cụ thể ở một số điểm quan trọng sau:

- Pháp luật xác định rõ chế độ kinh tế, các thành phần kinh tế, các hìnhthức sở hữu, chính sách tài chính…, qua đó góp phần vào việc sắp xếp, cơ cấucác ngành kinh tế, tác động đến sự tăng trưởng và ổn định, cân đối nền kinh tế.Với mức độ đáng kể, sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bị chiphối và nhằm phục vụ cho định hướng xã hội chủ nghĩa Đương nhiên, nhân tốsâu xa bảo đảm định hướng chính trị đối với kinh tế là đường lối, quan điểm, tưtưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền Song, để đường lối, quan điểm, tưtưởng chỉ đạo của Đảng biến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúngphải được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội và được triển khai bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước,dưới sự quản lý của Nhà nước do Đảng lãnh đạo Thông qua pháp luật, Nhànước hoạch định các chính sách kinh tế, trật tự hóa các hoạt động sản xuất, kinhdoanh của các tổ chức và cá nhân, định hướng cho các quan hệ kinh tế phát triểntheo những mục đích mong muốn Chính sách kinh tế của nước ta hiện nay được

xác định trong điều 15 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001: “Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức

tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữutập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.Chính sách kinh tế của Nhà nước ta luôn hướng tới mục đích làm cho dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đáp ứng ngày càng tốt hơnnhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân.Thông qua pháp luật, nhà nước ta xácđịnh các hình thức sở hữu trong xã hội, từ đó tác động tới quan hệ sở hữu, đặcbiệt là sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu trong nền sản xuất xã hội Đốivới nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay, pháp luật cũng đã có nhữngđiều chỉnh mang tính định hướng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế đất nước.Chẳng hạn, việc quy đinh về các hình thức sở hữu trong xã hội được thể chếtrong chương II Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 Việc thừanhận kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tưcủa nước ngoài dưới nhiều hình thức, bên cạnh việc củng cố, khẳng định vai tròchủ đạo của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể thông qua pháp luật là một bước điphù hợp với nền kinh tế nước ta trong giai đoạn đổi mới Trước tình hình hộinhập với quốc tế, việc điều chỉnh trong pháp luật đã giúp nước ta phá bỏ được

Trang 10

nhiều trở ngại trong tiến trình phát triển nền kinh tế của đất nước cũng như trongcác quan hệ hợp tác kinh tế với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

- Pháp luật thể chế hóa các chính sách kinh tế của nhà nước, điều chỉnhcác hợp đồng kinh tế, quy định trình tự và thủ tục ký kết các hợp đồng kinh tế,trình tự và thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế, nhằm bảo vệ quyền và lợiích chính đáng của các chủ thể Thông qua các quy định đó, việc tổ chức vàquản lý nền kinh tế của Nhà nước mới có hiệu quả, giúp cho kinh tế tăng trưởngtrong sự ổn định, cân đối Nó biến các nhu cầu sản xuất, kinh doanh thành quyềnpháp định và thậm chí cao hơn là quyền Hiến định Nhu cầu kinh doanh cũngnhư sản xuất trong nền kinh tế là nhu cầu mang tính xã hội, vì vậy, việc biếnnhững nhu cầu xã hội này thành quyền Hiến định hay pháp định là tiền đề đểthúc đấy kinh tế phát triển Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta hiện nay, việc thể chế kinh tế thông qua pháp luật đóng vai tròquan trọng trong việc định hướng, hướng dẫn, tạo khung khổ cho việc tổ chức

và hoạt động của nền kinh tế Nó góp phần đồng bộ hoá hệ thống thị trường,từng bước hoàn thiện và phát triển hệ thống thị trường của nền kinh tế thị trườngnước ta Không chỉ vậy, pháp luật còn tạo ra những tiền đề điều kiện hạn chếnhững khuyết tật của kinh tế thị trường Bên cạnh những mặt tích cực là tạo ra

cơ chế năng động, sáng tạo và hiệu quả thì cũng tồn tại những mặt tiêu cực nhưchạy theo lợi nhuận mà quên đi mục tiêu xã hội, phân hóa giàu nghèo… thôngqua hệ thống pháp luật, hệ thống các chính sách mà nhà nước ta có thể điềuchỉnh, hạn chế các mặt tiêu cực đó

2 Sự phát triển và thay đổi của Luật thương mại Việt Nam là sự phát triển và thay đổi nhằm đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Luật Thương mại đầu tiên đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 10 tháng 5 năm 1997, có hiệu lực từ ngày

01 tháng 01 năm 1998 Đây là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lýcao nhất từ trước đến nay quy định thống nhất về hoạt động thương mại trênlãnh thổ Việt Nam Qua hơn 7 năm thực hiện, Luật Thương mại năm 1997 đã cónhững tác động tích cực đến đời sống kinh tế – xã hội của Việt Nam, từng bướcđưa hoạt động thương mại vào nề nếp, khuyến khích và phát triển hoạt độngthương mại hợp pháp, ngăn chặn và xử lý các hành vi bất hợp pháp gây ảnhhưởng xấu đến môi trường thương mại Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế

- xã hội và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì Luật thương mại 1997 bộc lộnhững hạn chế, kìm hãm quá trình hội nhập của nền kinh tế nước ta, trong đóphải kể đến một số lý do sau:

Trang 11

- Thứ nhất: Việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là chủ

trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Nhiều hiệp định song phương và điều ướcquốc tế đa phương đã và đang được ký kết hoặc gia nhập, trong đó đặc biệt làHiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ (BTA) Thời điểm đó, Việt Nam cũngđang thực thi các cam kết trong ASEAN và đẩy mạnh việc đàm phán gia nhập

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với mục tiêu sớm trở thành thành viêncủa tổ chức này Do đó, việc thu hẹp sự không tương thích giữa pháp luậtthương mại của Việt Nam và pháp luật thương mại quốc tế là một ưu tiên hàngđầu Một số nội dung của Luật Thương mại năm 1997 chưa phù hợp, không thểhiện kịp thời các quy định của BTA và WTO, thiếu cơ sở pháp lý cho việc thựchiện các cam kết trong BTA nói riêng và qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế nói

chung (ví dụ cùng một số quy định mang tính phân biệt đối xử chưa hợp lý, thiếu quy định liên quan đến một số vấn đề quan trọng như quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, xuất xứ hàng hóa, qúa cảnh hàng hóa) Bên cạnh đó, quyền và

nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động mua bán hàng hoá, trong đó có muabán hàng hóa quốc tế, theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 cũng chưatương thích với điều ước và tập quán thương mại quốc tế đã được thừa nhậnrộng rãi trên thế giới như Công ước Viên năm1980 về mua bán hàng hoá quốc

tế, tập quán theo Incoterms về nghĩa vụ của bên bán hàng, bên mua hàng, về thờiđiểm chuyển rủi ro

- Thứ hai: Sau khi Luật Thương mại năm 1997 ban hành, nhiều văn bản

quy phạm pháp luật mới được ban hành và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sựphát triển của hoạt động thương mại Do đó, nhiều chế định của Luật Thương

mại năm 1997 đã trở nên không phù hợp (ví dụ sự chồng chéo với Luật Doanh nghiệp về địa vị pháp lý của thương nhân, không tương thích với Pháp lệnh Trọng tài Thương mại về khái niệm hoạt động thương mại …).

Luật Thương mại năm 1997 có những nội dung không đáp ứng được quátrình vận động của thực tiễn thương mại, ví dụ như các quy định liên quan đếnchính sách thương mại Phải khẳng định rằng việc có những điều về chính sáchthương mại trong Luật Thương mại năm 1997 là một bước đột phá trong việcchuyển hướng các chính sách thương mại của Việt Nam khi nền kinh tế củachúng ta chuyển sang cơ chế thị trường Tuy nhiên, việc quy định những chínhsách thương mại trong Luật cũng thể hiện sự bất cập là làm cho chính sách trởnên cứng nhắc, khó có thể điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với điều kiện kinh tế– xã hội của từng thời kỳ trong khi Luật lại không thể chế hóa cụ thể các chínhsách đó

Chính vì vậy Luật thương mại 1997 cần phải được sửa đổi để phù hợp vớithực tiễn phát triển của đất nước và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càngmạnh mẽ của nước ta Trên cơ sở đó Luật thương mại 2005 được tiến hành xây

Trang 12

dựng để thay thế Luật thương mại 1997 trên cơ sở quán triệt sâu sắc nhữngnguyên tắc chỉ đạo sau đây:

(1) Bảo đảm thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vềphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó xây dựngchính sách, pháp luật thương mại tạo điều kiện phát triển thị trường hàng hóa vàdịch vụ là vấn đề trọng tâm

(2) Tôn trọng và phát huy quyền tự do hoạt động thương mại của cá nhân,pháp nhân

(3) Phù hợp với các nguyên tắc của Bộ Luật Dân sự, trong đó nguyên tắctôn trọng tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được xác định là nền tảng củahoạt động thương mại

(4) Phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành về thương mại,trong đó Luật Thương mại điều chỉnh những nguyên tắc, định chế chung củathương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ

(5) Bảo đảm sự phù hợp với các điều ước quốc tế về thương mại mà ViệtNam đã ký kết hoặc gia nhập và pháp luật, tập quỏn thương mại quốc tế

(6) Bảo đảm tính minh bạch, nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nướcnhưng không gây cản trở cho hoạt động thương mại hợp pháp trên thị trường

Luật Thương mại năm 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hũa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 thỏng 6 năm 2005.Ngày 27 thỏng 6 năm 2005, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 10/2005/L/CTN công

bố ban hành Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006

Luật Thương mại năm 2005 gồm 9 chương, 324 điều (Luật Thương mạinăm 1997 có 6 chương, 264 điều), trong đó có 96 điều trong Luật Thương mạinăm 1997 được bãi bỏ, 149 điều được sửa đổi và 143 điều được bổ sung mới bốcục của Luật Thương mại năm 2005 gần như đã được thay đổi hoàn toàn so vớiLuật Thương mại năm 1997 Sự đổi mới đó chủ yếu là do việc mở rộng phạm viđiều chỉnh của Luật, không chỉ điều chỉnh các hoạt động mua bán hàng hóa màcòn điều chỉnh cả các hoạt động cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương mại Cácnhóm hoạt động thương mại cùng tính chất được tập hợp trong chương riêngnhư Chương IV "Xúc tiến thương mại" hay Chương V "Các hoạt động trung gian thương mại"

Nhìn chung nội dung của Luật thương mại 2005 so với Luật thương mại

1997 đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và thể hiện những nội dung mới củaluật thể hiện rõ xu hướng hội nhập nền kinh tế quốc tế của Việt Nam, tiêu biểunhư như các quy định về:

Trang 13

Về phạm vi điều chỉnh: phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại năm

2005 được mở rộng phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, theo hướng LuậtThương mại xác định hoạt động thương mại theo nghĩa rộng và đưa ra quy địnhkhung cho các hoạt động này Đối với các hoạt động mua bán hàng hóa và cáchoạt động thương mại gắn liền và phục vụ trực tiếp cho mua bán hàng hóa, LuậtThương mại năm 2005 đưa ra những chế định cụ thể Những hoạt động thươngmại khác chưa được quy định cụ thể trong Luật Thương mại năm 2005 sẽ đượccác luật chuyên ngành quy định

Về đối tượng áp dụng: Luật Thương mại năm 2005 được áp dụng đối với

thương nhân hoạt động thương mại, tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liênquan đến thương mại Riêng đối với cá nhân hoạt động thương mại một cáchđộc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh thì căn cứ vào nhữngnguyên tắc của Luật này, Chính phủ sẽ có quy định cụ thể sau Đối tượng ápdụng của Luật Thương mại 2005 không chỉ dừng lại ở các thương nhân hoạtđộng thương mại tại Việt Nam mà còn cả những thương nhân có hoạt động

thương mại tại nước ngoài (mà các bên thỏa thuận áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này)

Đối tượng áp dụng của Luật này còn được mở rộng ra đối với những đốitượng không phải là thương nhân khi có hoạt động không nhằm mục đích sinhlợi trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằmmục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này

Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm tổchức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cáchđộc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Điều 6)

Về những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại: Luật Thương

mại năm 2005 quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại phùhợp với nguyên tắc của Bộ Luật Dân sự năm 2005 cũng như thực tiễn hoạt độngthương mại tại Việt Nam Một trong những điểm mới của Luật Thương mại năm

2005 là đã xác định rõ ràng vị trí của Luật Thương mại năm 2005 trong hệ thốngpháp luật Cụ thể là, trong mối quan hệ với Bộ luật Dân sự năm 2005, LuậtThương mại năm 2005 được xác định là luật chuyên ngành, còn trong mối quan

hệ với các luật quy định các hoạt động thương mại đặc thù thì Luật Thương mạinăm 2005 được xác định là luật chung

Về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam: Luật

Thương mại năm 2005 xác định các hình thức và quyền hoạt động thương mạicủa thương nhân nước ngoài tại Việt Nam Luật Thương mại năm 2005 đã dành

Trang 14

hẳn một mục trong Chương I để quy định về quyền, nghĩa vụ của văn phòng đạidiện, chi nhánh, doanh nghiệp thương mại có vốn đầu tư nước ngoài và thẩmquyền cấp phép cho các chủ thể này So với Luật Thương mại năm 1997, LuậtThương mại năm 2005 bổ sung thêm 2 hình thức hiện diện thương mại bao gồmdoanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài bên cạnh hìnhthức chi nhánh, văn phòng đại diện Sự bổ sung này là phù hợp với quy định củađiều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết như BTA.

Tất cả các nội dung mang tính quy định chung nêu trên được cụ thể hóatrong các quy định thuộc các chương tiếp theo của Luật thương mại 2005, tạođiều kiện thuận lợi để các hoạt động thương mại trong nước và quốc tế phát triển

và phù hợp với các điều ước quốc tế Việt Nam đã ký kết và các hiệp định thươngmại chúng ta đã tham gia Sau khi luật Thương mại 2005 được ban hành, Chínhphủ đã ban hành Nghị định 187/2013/NĐ – CP ngày 20/11/2013 Quy định chitiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và cáchoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Đây

là những căn cứ pháp lý quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của hoạt độngngoại thương, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động xuất, nhập khẩu góp phầnđưa nước ta hội nhập sâu với thế giới trong lĩnh vực thương mại Trải qua thờigian hơn 12 năm thi hành Luật thương mại 2005, đến nay chúng ta thấy rằngHoạt động ngoại thương trong thời gian qua diễn ra sôi động và có những đónggóp lớn cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế Công tác quản lý nhà nước về ngoại thương đã chặt chẽ, thôngsuốt, minh bạch và hiệu quả hơn, song quá trình hội nhập mạnh mẽ của nền kinh

tế khiến cho chính sách và pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực này bộc lộmột số điểm chưa hoàn chỉnh, cần tiếp tục hoàn thiện, cụ thể là:

Thứ nhất, Luật Thương mại 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan

chưa thể hiện rõ yêu cầu hội nhập, công tác quản lý nhà nước về ngoại thươngchưa tương xứng với yêu cầu đặt ra Do đó, bên cạnh việc đẩy mạnh tự do hóathương mại, quản lý nhà nước về ngoại thương phải bảo đảm hiệu quả, chặtchẽ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp hợp lý, phù hợp với cáccam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Thứ hai, những bất cập của hệ thống pháp luật ngoại thương hiện hành và

những yêu cầu về hoàn thiện pháp luật về ngoại thương bao gồm:

(i) Sự trùng lắp, chồng chéo: Có quá nhiều các văn bản quy phạm pháp

luật cùng quy định quản lý nhà nước về hoạt động ngoại thương dẫn đến tảnmát, thiếu sự đồng bộ, thống nhất về cùng một biện pháp; một số văn bản có quyđịnh về cùng một vấn đề nhưng khác nhau về nguyên tắc, tiêu chí, thẩm quyền,biện pháp xử lý Do vậy, cần quy định thống nhất hoạt động quản lý nhà nước về

Ngày đăng: 03/05/2019, 08:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w