S c n thi t c a giáo d c ý th c b o v môi trự cần thiết của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên ần thiết của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên ết của giáo dục ý
Trang 1B GIÁO D C VÀ ĐÀO T O Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ỤC VÀ ĐÀO TẠO ẠO H C VI N CHÍNH TR QU C GIA ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA ỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Ị QUỐC GIA ỐC GIA
H CHÍ MINH Ồ CHÍ MINH
H C VI N BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUY N ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA ỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA ỀN
ĐÀO THU HI N ỀN
GIÁO D C Ý TH C B O V MÔI TR ỤC VÀ ĐÀO TẠO ỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA ƯỜNG NG
HÀ N I HI N NAY
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
LU N ÁN TI N SĨ CHÍNH TR H C ẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC ẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Ị QUỐC GIA ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HÀ N I - 2019 Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2B GIÁO D C VÀ ĐÀO T O Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ỤC VÀ ĐÀO TẠO ẠO H C VI N CHÍNH TR QU C GIA ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA ỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Ị QUỐC GIA ỐC GIA
Mã s : ố: 9 31 02 01
LU N ÁN TI N SĨ CHÍNH TR H C ẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC ẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Ị QUỐC GIA ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: I HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: NG D N KHOA H C: ẪN KHOA HỌC: ỌC:
PGS.TS PH M HUY KỲẠM HUY KỲ
HÀ N I – 2019 Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào.
Tác giả luận án
Đào Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án tiến sĩ:
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn củatôi là PGS,TS Phạm Huy Kỳ, người đã luôn tận tình giúp đỡ tôi hoàn thànhluận án
Thứ hai, tôi trân trọng cảm ơn các lãnh đạo của Đảng ủy Khối cáctrường đại học, cao đẳng Hà Nội; Thành Đoàn Hà Nội; Hội sinh viên Thànhphố Hà Nội; lãnh đạo Khoa, Phòng, Ban của các trường: Đại học Thủy Lợi,Học viện Quản lý giáo dục, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Tàichính, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Đại học Kinh doanh và Công nghệ HàNội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tiến hành điều tra khảo sát và thu thập
số liệu phục vụ nghiên cứu
Thứ ba, tôi rất cảm ơn anh em, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên
và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập
Cuối cùng, tôi xin dành những lời đặc biệt nhất tới những người thânyêu trong gia đình đã luôn là điểm tựa, là nguồn động lực mạnh mẽ để tôi cốgắng hoàn thành nhiệm vụ
Tác giả luận án
Đào Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Nh ng nghiên c u v giáo d c t tững nghiên cứu về giáo dục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ứu về giáo dục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ề giáo dục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ư tưởng ư tưởngởngng và giáo d c t tục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ư tưởng ư tưởngởngng cho
thanh niên, sinh viên
1.2 Những nghiên cứu về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường
1.3 Những nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
1.4 Tổng hợp kết quả nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO D C Ý TH C B O ỤC VÀ ĐÀO TẠO ỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
V MÔI TR ỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA ƯỜNG NG CHO SINH VIÊN Đ I H C ẠO ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
2.1 Ý thức bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh
viên
2.2 C u trúc ho t đ ng giáo d c ý th c b o v môi trấu trúc hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh ạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh ộng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh ục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ứu về giáo dục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ảo vệ môi trường cho sinh ệ môi trường cho sinh ư tưởngờng cho sinhng cho sinh
viên
2.3 S c n thi t c a giáo d c ý th c b o v môi trự cần thiết của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên ần thiết của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên ết của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên ủa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên ục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ứu về giáo dục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho ảo vệ môi trường cho sinh ệ môi trường cho sinh ư tưởngờng cho sinhng cho sinh viên
đ i h c hi n nay ạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh ọc ệ môi trường cho sinh
Ch ương 3: ng 3: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI
3.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh
viên các trường đại học ở Hà Nội
3.2 Thực trạng và nguyên nhân của thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
3.3 Một số vấn đề đặt ra về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
đại học ở Hà Nội hiện nay
1 8
8 12
22
27
31 31
54 63
Trang 6Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC
Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
4.1 Các quan điểm định hướng cho hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội
4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho sinh viên các trường đại học trong giai đoạn hiện nay
137
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
GDYTBVMT : Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
YTBVMT : Ý thức bảo vệ môi trường
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1 Nhận thức của sinh viên các khóa về: lĩnh vực hoạt
động chủ yếu nhất gây nên ô nhiễm MT
99
Biểu đồ 2.2 Mức độ thực hiện các hành vi bảo vệ MT của sinh viên 105
Biểu đồ 2.3 Các đơn vị, tổ chức thu hút sinh viên tham gia hoạt
Biểu đồ 2.4 Nhận thức của sinh viên về lĩnh vực chịu tác động nhiều nhất
bởi ô nhiễm MT, BĐKH
117
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục tư tưởng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong công tác
tư tưởng, nhằm đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước thấm nhuần vào nhận thức nhân dân, khơi dậy và phát huytinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tính chủ động, sáng tạo của quầnchúng, tạo nên sự thống nhất, đồng thuận cao trong xã hội Trong mỗi thời
kỳ lịch sử nhất định của dân tộc, thực tiễn đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ giáodục tư tưởng có tính chất đặc thù, nội dung giáo dục có những biến đổi chophù hợp điều kiện phát triển của xã hội Công cuộc đổi mới để phát triển đấtnước hiện nay đòi hỏi nội dung giáo dục tư tưởng rất phong phú, đa dạng,trong đó có nội dung giáo dục về YTBVMT – một vấn đề vừa có tính thời
sự, vừa cấp bách không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới
Hiện nay, ô nhiễm MT và BĐKH đang trở thành một thách thức lớn với
cả nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng BĐKH tác động nghiêm trọngđến sản xuất, đời sống con người và MT trên phạm vi toàn thế giới; làm thayđổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển và anh ninh toàn cầu như: an ninhlương thực, an ninh nguồn nước, đất đai, an ninh năng lượng, ; ảnh hưởngđến các vấn đề an toàn xã hội, văn hóa, ngoại giao và thương mại ở các quốcgia Việt Nam được IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change - Ủyban liên chính phủ về BĐKH) xác định là một trong năm quốc gia đang và sẽchịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH Bức tranh ảm đạm về MT sinh thái
ở nước ta cũng như trên thế giới gần đây đã phản ánh rõ nét sự thiếu ý thứctrách nhiệm của con người với tự nhiên Thái độ cực đoan và hành vi phinhân tính của con người tàn phá MT, cho thấy YTBVMT của con người yếukém là căn nguyên sâu xa của mọi tình trạng khủng hoảng MT toàn cầu Đểhình thành và phát triển YTBVMT, chúng ta cần phải không ngừng
Trang 10GDYTBVMT Đây được xem là nhiệm vụ chính trị quan trọng, lâu dài; cần
sự định hướng đúng đắn, thống nhất của Đảng và Nhà nước, sự chung taycủa cả xã hội Tuy nhiên, suốt thời gian dài vừa qua, việc tuyên truyềnGDYTBVMT để nâng cao nhận thức, điều chỉnh hành vi, thái độ ứng xử củacon người trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiênnhiên vẫn chưa được quan tâm đúng mức
GDYTBVMT rất cần được xem là cái gốc cho mọi giải pháp, cần đitrước, đi cùng và theo sau mọi hoạt động bảo vệ MT Vì thế, công tác tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục cho nhân dân về bảo vệ MT, ứng phó với BĐKHphải ngày càng được quan tâm Trong công tác tư tưởng, nội dungGDYTBVMT cũng là một nội dung quan trọng, góp phần tích cực vào quátrình thực hiện sự lãnh đạo của Đảng ở lĩnh vực bảo vệ tài nguyên MT, chủđộng ứng phó với BĐKH Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Đảng nêu rõ : “Bảo vệ MT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân”[35,78] Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Đảng xác định: “Nâng cao YTBVMT, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ MT với phát triển kinh tế xã hội”
GDYTBVMT cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giáo dục cho thế
hệ trẻ về vấn đề này có ý nghĩa to lớn Thế hệ trẻ, trong đó có thanh niênsinh viên, là bộ phận xã hội luôn được Đảng ta quan tâm đào tạo, bồi dưỡng
Họ sẽ trở thành lực lượng nòng cốt gánh vác trọng trách tương lai của đấtnước Những năm qua, việc GDYTBVMT cho thanh niên sinh viên đã đượcthực hiện, góp phần trang bị nền tảng nhận thức, cổ vũ tinh thần nhiệt tìnhhăng hái của họ trong các hoạt động bảo vệ MT, vì sự phát triển bền vững,nhằm phát huy vai trò xung kích của thanh niên trên mọi mặt trận trong côngcuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc GDYTBVMT cho sinh viên ở các trườngđại học có ý nghĩa quan trọng không chỉ với mục tiêu giáo dục toàn diện conngười thế hệ mới, mà còn có thể tạo sự lan tỏa ý nghĩa giáo dục cho cả xãhội, góp phần thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phóvới BĐKH, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Trang 11Hà Nội là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, tậptrung số lượng lớn các trường đại học và số lượng lớn nhất sinh viên tại đây.Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng gắn liền với việc đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hà Nội ngày nay phải đối mặt vớinhiều thách thức nghiêm trọng do ô nhiễm MT, ảnh hưởng tới những mụctiêu phát triển và đảm bảo chất lượng an sinh xã hội Trước yêu cầu bức thiếtcủa thực tiễn, công tác giáo dục và đào tạo của các nhà trường nói chung vàcác trường đại học ở Hà Nội nói riêng cần phải có nhiều đổi mới hơn nữa,chú trọng nội dung GDYTBVMT nhằm hình thành nên những thế hệ conngười tích cực, biết sống có trách nhiệm với MT và xứng đáng là lực lượngnòng cốt của thế hệ thanh niên thời đại mới.
GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội những nămgần đây đã bước đầu được quan tâm và đạt kết quả nhất định Tuy nhiên,những biểu hiện hạn chế trong YTBVMT của sinh viên cũng phản ánh rõ nétmột thực tế rằng: việc giáo dục cho sinh viên đại học ở Hà Nội hiện nay vềnội dung này vẫn còn nhiều bất cập Quá trình giáo dục đòi hỏi phải thườngxuyên, liên tục và được đầu tư về mọi mặt, nhưng GDYTBVMT cho sinhviên thì gặp rất nhiều khó khăn nên hiệu quả đạt được chưa cao Mặc dù vậy,bất luận thế nào, việc GDYTBVMT cũng không thể bị trì hoãn trong bốicảnh hiện nay Nghiên cứu về GDYTBVMT cho sinh viên các trường đạihọc trên địa bàn Hà Nội nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung có ýnghĩa rất quan trọng đối với việc tìm ra giải pháp nhằm khắc phục mọi khókhăn để nâng cao hiệu quả GDYTBVMT cho sinh viên nước ta, góp phầnxây dựng một lực lượng xã hội tích cực trong lĩnh vực bảo vệ MT, chủ độngứng phó với BĐKH Hiện có rất ít công trình nghiên cứu sâu về hoạt độngGDYTBVMT cho sinh viên đại học Đặc biệt lĩnh vực về GDYTBVMT chosinh viên đại học trên địa bàn Hà Nội theo góc độ tiếp cận của khoa học côngtác tư tưởng thì còn nhiều nội dung lớn phải được nghiên cứu một cáchnghiêm túc và toàn diện cả lý luận lẫn thực tiễn, nhằm làm rõ hơn nữa về vịtrí và vai trò của GDYTBVMT cho sinh viên trong công tác tư tưởng hiện
nay Do đó, tác giả chọn vấn đề “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
Trang 12sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nêu trên, tác giả luận án cần thực hiện nhiệm vụ:
+ Tổng quan các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước
có liên quan đến đề tài, để từ đó xác định hướng nghiên cứu của luận án + Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận về GDYTBVMTcho sinh viên đại học, tầm quan trọng của GDYTBVMT cho sinh viên trongbối cảnh BĐKH trên thế giới và Việt Nam hiện nay
+ Khảo sát thực trạng GDYTBVMT cho sinh viên và đánh giá thựctrạng YTBVMT của sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay (quakhảo sát 6 trường đại học đại diện ở Hà Nội); từ đó khái quát những vấn đềđặt ra đối với hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên
+ Đề xuất một số quan điểm định hướng và giải pháp chủ yếu nhằmtăng cường GDYTBVMT cho sinh viên đại học ở Hà Nội hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề GDYTBVMT cho sinh viên cáctrường đại học ở Hà Nội hiện nay
Trang 13Quản lý giáo dục, Học viện Tài chính, Học viện Kỹ thuật quân sự, Học việnBáo chí và Tuyên truyền, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội) Đây làcác trường đại học đại diện cho nhiều khối ngành đào tạo (ngành kỹ thuật,ngành kinh tế, ngành khoa học quản lý, khoa học xã hội nhân văn, quân sự);đồng thời đại điện cho các khối trường: công lập và ngoài công lập; khối dân
sự và lực lượng vũ trang
+ Thời gian khảo sát: từ năm học 2013-2014 đến nay Thời gian khảosát tính từ thời điểm luận án bắt đầu được thực hiện để có được số liệu cậpnhật Ngoài ra, luận án còn sử dụng bổ sung tư liệu được thu thập trong 10năm gần đây từ 2008 đến 2018 về các trường đại học
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên,sinh viên
Đồng thời, luận án cũng dựa trên các quan điểm của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước; một số kết quả nghiên cứu của các công trình khoahọc trong và ngoài nước về vấn đề giáo dục và GDYTBVMT cho thanhniên, sinh viên
4.2 Cơ sở thực tiễn
Cơ sở thực tiễn của luận án là hoạt động GDYTBVMT cho sinh viêncác trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay thông qua những số liệu củacác trường đại học, số liệu của Thành ủy Hà Nội, số liệu của Thành Đoàn HàNội, Hội sinh viên Thành phố Hà Nội, số liệu điều tra xã hội học của tác giả;các báo cáo tổng kết hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên ở các trường đạihọc trên địa bàn Hà Nội hiện nay
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, cụ thể là vận dụngcác nguyên tắc, quan điểm cơ bản trong nghiên cứu như: nguyên tắc khách
Trang 14quan, nguyên tắc đề cao tính năng động chủ quan của ý thức, quan điểm toàndiện, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử - cụ thể; nguyên tắc lý luận gắn
bó chặt chẽ với thực tiễn
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử
- lôgic, phân tích và tổng hợp, thống kê, nghiên cứu tài liệu, phương phápđiều tra xã hội học, phương pháp phỏng vấn chuyên gia
- Với phương pháp lịch sử - lôgic, vấn đề nghiên cứu được đặt trongbối cảnh nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự suy thoái
MT, BĐKH ngày càng trở nên nghiêm trọng, có nhiều biểu hiện phức tạpnhưng vẫn tuân theo quy luật khách quan tất yếu, đòi hỏi quá trìnhGDYTBVMT phải bám sát những quy luật đó Phương pháp này còn đượcdùng để khái quát hóa những nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài theolịch sử của từng nhóm vấn đề liên quan đến GDYTBVMT cho sinh viên, từ
đó rút ra một số nội dung cốt lõi làm nền tảng
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng khi luận án làm rõ
từng yếu tố, cấu trúc, đặc điểm của hoạt động GDYTBVMT, đồng thời hệthống hóa và chỉ ra các mối liên hệ tất yếu khách quan, rút ra những kết luậnmang tính bản chất về GDYTBVMT cho sinh viên
- Phương pháp thống kê, nghiên cứu tài liệu được sử dụng trong quátrình thu thập, sắp xếp nguồn tài liệu, thống kê các số liệu liên quan đến hoạtđộng GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội để làm rõnhững vấn đề lý luận và thực tiễn mà đề tài đặt ra
- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng trong quá trình khảosát và phân tích thực trạng YTBVMT của sinh viên hiện nay và thực trạngGDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội: lập bảng hỏi, chọnmẫu mang tính đại diện để điều tra đối tượng giáo dục; thu thập dữ liệu theomẫu và tiến hành phân tích, xử lý số liệu Để số liệu phục vụ phân tích có sựthuyết phục hơn, tác giả còn dùng phương pháp tổ chức thảo luận với cácnhóm sinh viên đại diện các khóa
Trang 15- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được sử dụng khi trao đổi lấy ýkiến của các cán bộ giáo dục (gồm cán bộ văn phòng đảng ủy, cán bộ phòngcông tác chính trị và quản lý sinh viên, cán bộ quản lý ký túc xá, cán bộ đoàn
- hội sinh viên, cán bộ giảng viên) để làm rõ hơn nội dung của luận án
5 Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, khi phân tích những vấn đề lý luận của GDYTBVMT chosinh viên dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng, luận án tập trung làm rõcác khái niệm công cụ (YTBVMT, GDYTBVMT), cấu trúc YTBVMT, cácthành tố của hoạt động GDYTBVMT Đồng thời, luận án chỉ ra sự cần thiếtcủa GDYTBVMT cho sinh viên trong bối cảnh BĐKH hiện nay
Thứ hai, trên cơ sở khảo sát thực trạng GDYTBVMT cho sinh viên cáctrường đại học ở địa bàn Hà Nội, luận án đánh giá những thành tựu và hạn chếcủa quá trình giáo dục, từ đó khái quát những vấn đề đặt ra với việcGDYTBVMT cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, từ thực trạng và những vấn đề đặt ra với việc GDYTBVMTcho sinh viên, luận án đề xuất bốn quan điểm định hướng hoạt độngGDYTBVMT cho sinh viên đại học và luận giải cơ sở khoa học của nămnhóm giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả GDYTBVMT cho sinhviên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học, xâydựng khung lý thuyết về cấu trúc GDYTBVMT cho sinh viên đại học, địnhhướng quá trình giáo dục bảo vệ MT có tính liên tục nối tiếp từ bậc phổthông đến đại học Từ đó, luận án có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu,giảng dạy ở các học viện, trường đại học, cao đẳng trong cả nước
Ngoài ra, luận án có ý nghĩa đóng góp cho việc xây dựng định hướng,chính sách, chương trình giáo dục, tuyên truyền, xây dựng nội dung tập huấnnhằm nâng cao nhận thức và hình thành tính tích cực trong hoạt động thựctiễn của sinh viên với nhiệm vụ bảo vệ MT, chủ động ứng phó với BĐKH
7 Kết cấu của luận án
Trang 16Luận án gồm: 4 chương (12 tiết), kết luận, danh mục các công trìnhnghiên cứu của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Những nghiên cứu về giáo dục tư tưởng và giáo dục tư tưởng cho thanh niên, sinh viên
1.1.1.Những nghiên cứu về giáo dục và giáo dục tư tưởng
- Những nghiên cứu về giáo dục
Giáo dục là một hoạt động đặc biệt, có vai trò quan trọng đối với sựphát triển xã hội con người Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tưtưởng lớn đồng thời cũng là nhà giáo dục mẫu mực, luôn quan tâm đến sự
nghiệp giáo dục - “trồng người” Cuốn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục” do tác giả Đào Thanh Hải và Minh Tiến sưu tầm, Nxb Lao động năm
2005, tập hợp tất cả các bài nói, bài viết, thư gửi của Người đến cán bộ giáodục, học sinh, sinh viên, thể hiện một tình cảm đặc biệt và tầm nhìn sángsuốt của Người về công tác này
Cuốn “Giáo dục học” của tác giả Phạm Viết Vượng [116] đã khái quát
những vấn đề chung của giáo dục và xem xét giáo dục học với tư cách là mộtkhoa học về quá trình giáo dục con người Tác giả phân tích bản chất, mụcđích, nội dung, phương pháp, hình thức, vai trò của giáo dục; phân biệt lýluận dạy học và giáo dục học Trong đó, tác giả khẳng định quá trình dạy họctrong nhà trường là thành tố quan trọng của giáo dục
Mục tiêu của giáo dục là hoàn thiện nhân cách con người với tổ hợpnhững phẩm chất phù hợp các giá trị, chuẩn mực của xã hội, được xã hộithừa nhận, đồng thời cũng đóng góp cho quá trình phát triển xã hội Do đó,giáo dục rất đa dạng gồm: giáo dục ý thức – tư tưởng, giáo dục văn hóa –thẩm mỹ, giáo dục lao động – hướng nghiệp, giáo dục thể chất – quân
sự, Bài viết “Giáo dục tư tưởng- đạo đức và giáo dục khoa học – công nghệ” của tác giả Nguyễn Tường Lân trên Tạp chí Dân tộc và Thời đại, số
Trang 1764, 2004; Cuốn sách “Giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành lối sống văn hóa cho thanh niên vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” của tác giả
Lương Thanh Tân, Nxb Chính trị quốc gia năm 2010 đã phản ánh điều đó.Ngày nay, khi xã hội có nhiều biến đổi nhanh chóng cùng với sự xuất hiệnnhững vấn đề lớn về MT, an ninh, chất lượng cuộc sống thì giáo dục cầnđược bổ sung những nội dung mới: giáo dục MT, giáo dục giới tính, giáodục kỹ năng, giáo dục pháp luật,
- Những nghiên cứu về giáo dục tư tưởng
Công tác tư tưởng có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động củaĐảng, là bộ phận trọng yếu để bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, gópphần to lớn trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức.Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyệnĐảng ta, đã rất quan tâm đến công tác tư tưởng Những lời nói, bài viết của
Người, tập hợp trong cuốn “Về công tác tư tưởng” – Hồ Chí Minh, Nxb Sự
thật năm 1985, là mẫu mực về lý luận và phương pháp công tác tư tưởngMác – Lênin được vận dụng nhuần nhuyễn, phù hợp ở Việt Nam, đồng thời
là chỉ dẫn quý báu cho chúng ta nghiên cứu về công tác tư tưởng nói chung
và giáo dục tư tưởng nói riêng
Giáo dục tư tưởng là chức năng cơ bản của công tác tư tưởng, nhằmthực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục hệ tư tưởng, quan điểm, chínhsách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, làm cho chúng trở thành nhân tố chiphối đời sống tinh thần của xã hội, động viên tính tích cực trong hoạt độngthực tiễn của nhân dân Giáo dục tư tưởng có nhiều nội dung phong phú, đadạng
Bàn về giáo dục tư tưởng, mỗi khoa học có những góc độ tiếp cận khácnhau Trong khoa học công tác tư tưởng, những vấn đề lý luận về giáo dục tưtưởng được phân tích khá sâu sắc Tác giả Đào Duy Tùng là người có nhiềuđóng góp lớn lao cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, đồng
thời có nhiều nghiên cứu tiêu biểu ở lĩnh vực chính trị, tư tưởng Bộ “Tuyển tập Đào Duy Tùng” gồm 3 tập, 2008, do Nxb Chính trị quốc gia sưu tầm,
Trang 18tuyển chọn những bài nói, bài viết tiêu biểu của đồng chí phân tích về vị trí,
vai trò, yêu cầu với công tác tư tưởng, trong đó có giáo dục tư tưởng Tác giả
khẳng định những yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức, việc tổ chức vàhoạt động; đồng thời nêu lên một số quan điểm định hướng có giá trị nhằmxây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng trước tình hình mới
Cuốn “Phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh” của tác
giả Hoàng Quốc Bảo, Nxb Lý luận chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm
2006, đã chỉ ra đặc trưng cơ bản của phương pháp tuyên truyền Hồ ChíMinh: tính khoa học và tính cách mạng, tính đại chúng và tính nghệ thuật, sựkết hợp giữa lời nói và hành động Từ việc chắt lọc những giá trị về phươngpháp tuyên truyền cách mạng của Hồ Chí Minh, tác giả khẳng định sự cầnthiết phải vận dụng để đổi mới phương pháp tuyên truyền, giáo dục tư tưởngcủa cán bộ tư tưởng hiện nay
Cuốn “Cơ sơ lý luận công tác tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam” của tác giả Lương Khắc Hiếu (2017) [53] và cuốn “Cơ sở lý luận công tác
tư tưởng” của tác giả Phạm Huy Kỳ [67] đã luận giải rất kỹ hệ thống khái
niệm cơ bản, các yếu tố cấu thành của hoạt động tư tưởng, các hình thái củacông tác tư tưởng, mối quan hệ giữa các quá trình tư tưởng với hình tháicông tác tư tưởng Các tác giả nêu bật vị trí quan trọng, nội dung cơ bản, cácyếu tố quy định giáo dục tư tưởng Theo nghiên cứu, giáo dục tư tưởng trongcông tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là giáo dục tư tưởng xã hộichủ nghĩa, là hoạt động truyền bá, tiếp thu, lĩnh hội và vận dụng sáng tạo hệ
tư tưởng của giai cấp công nhân, làm cho nó thống trị trong đời sống tinh
thần xã hội, thúc đẩy tính tích cực chính trị - xã hội “Đó là quá trình lĩnh hội và tiếp thu ý thức và hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa biến chúng thành nhận thức, niềm tin, giá trị, lý tưởng của đối tượng phấn đấu cho sự thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa” [53, 154].
Những nội dung lý luận được phân tích là cơ sở vững chắc, chỉ dẫn quantrọng cho nghiên cứu đề tài luận án
1.1.2 Những nghiên cứu về giáo dục tư tưởng cho thanh niên, sinh viên
Trang 19Công tác thanh niên với nhiệm vụ “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng”, có ý nghĩa lớn lao với sự nghiệp cách
mạng của Đảng và toàn dân tộc Công tác thanh niên chủ yếu là giáo dục, bồidưỡng và tổ chức hoạt động cho thanh niên về mọi mặt, đặc biệt nhấn mạnh
giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng Trong cuốn “Kark Marx, Friederich Engels, Vladimir Ilish Lenin bàn về giáo dục”, Nxb Giáo dục,
1984, do nhóm tác giả Hà thế Ngữ, Bùi Đức Thiệp sưu tầm, đã tổng hợpquan điểm của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác về giáo dục và phát huy sứcmạnh của thanh niên, sinh viên
Kế thừa tư tưởng, tầm nhìn vĩ đại đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đểlại cho chúng ta di sản tinh thần vô giá là hệ thống quan điểm nhận thức vềthanh niên trong suốt cuộc đời cống hiến cho cách mạng của Người Cuốn
sách “Tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về vận động thanh niên” của tác giả
Văn Tùng, Nxb Thanh niên năm 2000 là một công trình nghiên cứu cho thấy
rõ vị trí, vai trò của công tác thanh niên Tác giả khẳng định: Tư tưởng HồChí Minh về vận động thanh niên sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường cho côngtác thanh niên và phong trào thanh niên với những luận điểm khoa học, cáchmạng sâu sắc để có thể vận dụng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau
Hoạt động giáo dục tư tưởng với nội dung, phương thức và những đặctrưng nhất định do chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố đốitượng giáo dục Đối tượng giáo dục khác nhau thì nội dung, phương thứcgiáo dục khác nhau V.I.Lênin đã từng căn dặn cán bộ tuyên giáo: “Khôngthể nói về chế độ đó một cách giống nhau trong cuộc mít tinh ở nhà máy vàtrong nông thôn Côdăc, trong buổi họp sinh viên và trong ngôi nhà của nôngdân, trên diễn đàn Đuma III và trên các báo chí nước ngoài” [53,157] Về
điều này, tác giả Hà Thị Bình Hòa trong cuốn “Giáo trình tâm lý học tuyên truyền”, Nxb Chính trị - Hành chính (2012) có phân tích việc cần phải chú ý
đến đặc trưng tâm lý các nhóm đối tượng tuyên truyền, trong đó có nhómthanh niên, sinh viên, để có tác động phù hợp
Trang 20Cuốn “Thanh niên – Lối sống” của tác giả Nguyễn Thị Oanh do Nxb
Trẻ năm 2001 phân tích đặc trưng tâm lý và lối sống thanh niên hiện nay,nhấn mạnh vai trò của Đoàn thanh niên với việc giáo dục đạo đức, lối sốngcho sinh viên là hết sức quan trọng Nghiên cứu khẳng định: để giải quyếttận gốc những vấn đề tồn tại của lối sống thanh niên thì giáo dục cần xem
“cốt lõi là giá trị đạo đức”, “giáo dục là một hoạt động mang tính thiêngliêng nên chỉ khi động cơ ban đầu là một hoài bão, nó mới đứng vững” [87,114]
Tác giả Vũ Mão là người nghiên cứu nhiều về công tác thanh niên, đã
có nhiều công trình có giá trị định hướng cho hoạt động này như: “Về công tác giáo dục thanh niên hiện nay”, Nxb Sự thật, 1984; “Nâng cao hiệu quả công tác thanh niên”, Nxb Thanh niên, 1984 Ngoài ra, nghiên cứu về giáo
dục tư tưởng thanh niên còn có nhiều nghiên cứu khác như: Đảng ủy khối cơ
quan Trung ương về công tác tư tưởng (2005), Bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay (Kỷ yếu hội thảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; “Một vài hiện tượng tiêu cực trong thanh niên hiện nay
và công tác giáo dục, vận động thanh niên” của tác giả Lê Thị Ngọc Dung
và Hồ Bá Thâm, tạp chí Tâm lý học, năm 2004, số 8
Như vậy, những nghiên cứu về công tác giáo dục tư tưởng cho thanhniên, sinh viên khá đa dạng, tạo cơ sở và gợi mở quan trọng cho nghiên cứuluận án
1.2 Những nghiên cứu về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường 1.2.1 Những nghiên cứu về môi trường và bảo vệ môi trường
1.2.1.1 Một số nghiên cứu nước ngoài về môi trường và bảo vệ môi trường
Nghiên cứu khoa học về MT, BĐKH trên thế giới đã cung cấp thông tinchi tiết về thực trạng, nguyên nhân và những nguy cơ ảnh hưởng của khủnghoảng MT giai đoạn hậu công nghiệp Điều đó thể hiện sự quan tâm khôngnhỏ của giới khoa học và lãnh đạo nhà nước ở các quốc gia
Trang 21Cuốn “Các công ước về bảo vệ MT (Việt –Anh)” (1995) [15, 8] phản
ánh nội dung các thỏa thuận quốc tế đạt được qua các hội nghị thượng đỉnhcủa Liên hợp quốc về MT từ năm 1972 ở Stockholm (Thụy Điển) đến nay,cho thấy sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và MT sống, coiviệc bảo vệ MT là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của nhân loại (bên
cạnh nhiệm vụ bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh) “Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu” do Vụ hợp tác quốc tế - Bộ Tài nguyên
và môi trường, Cơ quan Thông tin của UNEP Công ước khung của Liên hợpquốc về biến đổi khí hậu (IUC) cung cấp, đã thể hiện một sự quyết tâm cao,một ý chí thống nhất của thế giới đối với nhiệm vụ bảo vệ MT, nhằm ngănchặn tình trạng nóng lên toàn cầu [114], [115]
Nhiều công trình nghiên cứu đầu thế kỷ XXI đã chỉ rõ bức tranh hiệntại và tương lai của nhân loại gắn với các kịch bản về nước biển dâng,BĐKH: Công trình nghiên cứu cơ bản của Cơ quan phát triển Pháp (AFD-
Agence France Development) “AFD và BĐKH, dung hòa giữa phát triển và khí hậu” (2009) phân tích khí hậu là tài sản chung của thế giới và các công
cụ tài chính cần thiết trong cuộc chiến chống BĐKH
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu của các tác giả Mỹ, Châu Âu, Châu Á
bàn về vấn đề này: “Solutions for climate change challenges in the built environment”/ Ed: Colin A.Booth, Felix N.Hammond, Jessica E.Lamond, David G.Proverbs – Chichester: Wiley-Blackwell, 2012 [132]; “Museum & cultural heritage facing climate change:International conference”, 2013, H: Social science publish; “Ancounting for health impacts of climate change” –
Mandaluyong City: Asia Development Bank Các tác giả đã phân tích ảnhhưởng nhiều mặt của tình trạng BĐKH toàn cầu đến sức khỏe con người, disản văn hóa, đồng thời nêu lên giải pháp đối mặt với những thách thức mớicủa nhân loại
1.2.1.2.Một số nghiên cứu trong nước về môi trường và bảo vệ môi trường
Trang 22Con người, xã hội và tự nhiên luôn có mối quan hệ thống nhất biệnchứng với nhau và chịu sự chi phối của những quy luật phổ biến nhất địnhcủa thế giới vật chất Nghiên cứu của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin
đã có những tư tưởng vượt trước thời đại, đặt nền móng – cơ sở khoa học
cho việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề MT: C.Mác, Ph.Ăngghen, Toàn tập (1995) [19], [17], [18] Trên cơ sở nhận thức luận duy vật khoa học, tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan trong cuốn “Môi trường tự nhiên trong hoạt động sống của con người” (2013) [72] và tác giả Lê Thanh Vân trong cuốn “Con người
và môi trường” (2012) [110] đã phân tích: MT tự nhiên không những cung
cấp những giá trị vật chất cho sự hình thành, phát triển của con người và xãhội, mà còn mang lại nhiều giá trị tinh thần: giá trị thẩm mỹ, thể hiện quan
hệ đạo đức, văn hóa và tác động ảnh hưởng đến quan hệ chính trị của conngười Hoạt động của con người, trong đó có hoạt động kinh tế, gắn liền vớiquá trình đô thị hóa và sản xuất công nghiệp phát triển mạnh mẽ, là nguyênnhân cơ bản dẫn đến sự suy kiệt tài nguyên, ô nhiễm MT và BĐKH hiện nay.Các công trình tiêu biểu: Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam
(VACNE), Trương Quang Học, Nguyễn Đức Ngữ (2011), “Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu” [55]; Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Thị Hoàng Yến (2015), Một số bệnh, dịch liên quan đến ô nhiễm môi trường, Nxb Khoa học, kỹ thuật; Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam [10].
Bảo vệ MT, chủ động ứng phó với BĐKH là trách nhiệm của tất cả cácquốc gia và của mọi công dân trên toàn thế giới Với MT đã bị tàn phá nặng
nề sau chiến tranh kéo dài và sự phát triển nóng khi bước vào thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tốc độ đô thị hóa cao,…Việt Nam nhậnthức rõ nhiệm vụ phải bảo vệ MT, mà trước hết là nâng cao YTBVMT chonhân dân Nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai để thực hiệnnhiệm vụ quan trọng này, tiêu biểu là:
Cuốn “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh công tác bảo
vệ tài nguyên môi trường Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Hội đồng
Trang 23khoa học các cơ quan đảng Trung ương (2013) [56] Cuốn sách tập hợpnhiều bài viết của các tác giả đại diện trong Ban Tuyên giáo Trung ương,Hội đồng Lý luận Trung ương, Viện khoa học Khí tượng thủy văn và MT,Trung tâm Nghiên cứu, giáo dục MT và Phát triển (CERED), đánh giátổng quát về công tác bảo vệ tài nguyên MT, ứng phó với BĐKH nước tathời gian qua; nêu lên một số kinh nghiệm quốc tế trong công tác bảo vệ tàinguyên và MT; đồng thời nêu định hướng chiến lược quản lý tài nguyên vàchủ động ứng phó với BĐKH.
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Bùi Văn Dũng (1999), Mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền
[43] Nghiên cứu luận giải mối quan hệ có nhiều mâu thuẫn giữa tăng trưởngkinh tế với bảo vệ MT dưới góc độ triết học, từ đó nêu lên các điều kiện vàgiải pháp để giải quyết các mâu thuẫn, nhằm thực hiện sự phát triển lâu bềntrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Ngoài ra còn có các cuốn sách bàn về vấn đề này của tác giả Nguyễn
Thị Thơm, An Như Hải (2011), “Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường” [100]; Phạm Anh (2012), “Những vấn đề bảo vệ môi trường mà người dân cần biết” [3]; Phạm Thị Ngọc Trầm (2002), Bảo vệ MT – Nhiệm
vụ chung của toàn nhân loại” [104]; Nguyễn Minh Quang (2013), Chủ động ứng phó với BĐKH, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, MT [93] Các
công trình phân tích việc bảo vệ MT dưới nhiều góc độ: quản lý nhà nước,hoàn thiện hệ thống pháp luật, đề cao vai trò của đạo đức MT, nghiên cứucác biện pháp thích ứng và giảm nhẹ rủi ro, thiên tai
1.2.2 Những nghiên cứu về ý thức bảo vệ môi trường
1.2.2.1 Một số nghiên cứu của nước ngoài về ý thức bảo vệ môi
trường
Thông qua các nghiên cứu đầu tiên ở nước ngoài về đạo đức MT,chúng ta hiểu được những nội dung cơ bản về YTBVMT Từ những năm 60của thế kỷ XX, khi nhân loại bắt đầu có nhận thức về một hiểm họa MTđang rình rập, việc nghiên cứu được khởi xướng bằng một số ấn phẩm gây
Trang 24ảnh hưởng lớn thời kỳ đó của tác giả Rachel Carson (1962), Steward Udall
(1963), Lynn White (1967) Trong số đó có tác giả Aldo Leopold với“The land ethics” in A sand County Almanac, New York đã phân tích nguồn gốc
sự khủng hoảng MT và cho rằng chỉ có đạo đức đất đai (Land ethics) mới
giải quyết được vấn đề phức tạp này
Từ thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, khi có tạp chí Environmental Ethics
do Eugene C.Hargrove sáng lập năm 1979, thuật ngữ Environmental Ethics(đạo đức học môi trường) được sử dụng làm tên gọi cho một lĩnh vực đạođức chuyên biệt đã trở nên phổ biến Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI,những nghiên cứu về đạo đức MT trên thế giới đã phát triển hơn Một số
nghiên cứu tiêu biểu: The animal rights, environmental ethics debate : The environmental perspective / Eugene C Hargrove - New York : State
university of New York, 1992 [133], trình bày về: Mối quan hệ của đạo đứchọc MT với vấn đề bảo vệ động vật đặc biệt là vấn đề giảp phóng động vật,quyền của động vật và thiên nhiên Năm 1993, Chương trình MT Liên hợpquốc (UNEP), Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Quỹ thế giới
bảo vệ động vật hoang dã (WWF) đã công bố: “Caring for the Earth: A strategy for Sustainable life” (Cứu lấy trái đất – chiến lược cho cuộc sống bền vững) Mục đích của chiến lược này nhằm cải thiện tình trạng của trái
đất và các điều kiện sống của con người bằng cách thực hiện hai yêu cầu cấp
thiết: Một là, củng cố nền đạo đức mới vì cuộc sống bền vững một cách sâu rộng Hai là, đảm bảo sự kết hợp giữa bảo vệ và phát triển Nghiên cứu nhấn
mạnh sức mạnh của đạo đức là lớn hơn sức mạnh của công lý, chỉ thị, mệnhlệnh của Nhà nước
Những công trình nghiên cứu gần đây, khi nêu vấn đề về đạo đức MTđều gắn với thực tiễn BĐKH Tác giả Peter S.Wenz, nhà nghiên cứu của
trường Đại học Illinois (Mỹ) xuất bản cuốn: “Đạo đức MT ngày nay” (Environmental Ethics Today), 2001 Joshua W.Busby, University of Texas – Austin (2009) nghiên cứu về “Mạng lưới an ninh khí hậu: ý nghĩa của nó đối với người nghèo”, phân tích ảnh hưởng của BĐKH đối với bộ phận xã
Trang 25hội dễ tổn thương là người nghèo và đưa ra một số giải pháp, trong đó cógiải pháp tăng cường GDYTBVMT.
Ngoài ra, nghiên cứu về YTBVMT còn thể hiện ở một số công trìnhcủa các học giả, tổ chức, cơ quan Nhà nước ở một số quốc gia Châu Á như:
“Come to our future: Climate change”/ Yi-Hsuan Hsu, Yu-Hsiang Huang,
Jun-Tsong Lin, Chief ed.: Chen-Yu Wei, tranlator: James Thomas Brett,
2012 [138] nêu lên nội dung khái quát các hoạt động của cơ quan quản lýNhà nước về MT, về chính sách năng lượng Những vấn đề nghiên cứu được
đề cập chủ yếu ở tầm vĩ mô giúp việc hoạch định chính sách bảo vệ MT của
Chính phủ Trung Quốc trong nền kinh tế thị trường: “Green action in China” / Wang Yongchen, 2006 [137].
Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới những thập kỷ giữa thế kỷ XX trởlại đây đều thể hiện sự quan tâm lớn của các nhà khoa học về MT, BĐKH vàtầm quan trọng của việc nâng cao YTBVMT Những đánh giá về YTBVMTchủ yếu được phản ánh thông qua qua phân tích về thực trạng MT và biểuhiện của đạo đức MT
1.2.2.2 Một số nghiên cứu ở trong nước về ý thức bảo vệ môi trường a) Ý thức bảo vệ môi trường được tiếp cận qua nghiên cứu về đạo đức môi trường
Những thập niên cuối thế kỷ XX, khi các nghiên cứu về vấn đề đạo đức
MT trên thế giới đã khá phát triển thì thuật ngữ đạo đức MT ở Việt Nam vẫn
chưa xuất hiện chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuynhiên, bước sang thế kỷ thứ XXI, trước thực tiễn ô nhiễm MT ngày càngnghiêm trọng, nhiều thảm họa tự nhiên xảy ra do MT bị tàn phá nặng nề thìnghiên cứu về MT đã đa dạng hơn Một số dự án, đề tài nghiên cứu khôngnhững nêu bật thực trạng, nguyên nhân của các vấn đề MT hiện nay, mà cònnhấn mạnh đến nhận thức, thái độ, hành vi của con người đối với MT
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ đầu tiên về đạo đức MT ở nước ta là “Đạo đức MT – Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới”[91], chủ nhiệm đề
tài Nguyễn Văn Phúc thực hiện trong 2 năm 2009 – 2010 Tác giả đã phân
Trang 26tích các cách tiếp cận khác nhau về đạo đức MT trên cơ sở kế thừa nghiêncứu của các học giả trên thế giới, phân tích quan niệm phương Đông về đạođức MT thông qua các học thuyết tôn giáo (Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo,Đạo giáo); quan niệm phương Tây về đạo đức MT thông qua các học thuyếtCông giáo, thuyết Đạo đức duy sinh vật (biocentric ethics) của P.Taylor ,thuyết Đạo đức học duy sinh thái (ecocentric ethics) của Leopold, thuyếtSinh thái học bề sâu (deep ecology) của Arne Naess Từ đó, tác giả nêu lên
cơ sở và thực chất của đạo đức MT là giải quyết hài hòa các quan hệ lợi íchtrong khai thác và bảo vệ MT; đưa ra các chuẩn mực của đạo đức MT; phântích kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ MT và xây dựng đạo đức MT ở ViệtNam hiện nay
Đề tài thứ hai nghiên cứu về đạo đức MT ở nước ta là: Dự án điều tra cơ
bản “Đánh giá đạo đức MT ở nước ta hiện nay” do chủ nhiệm đề tài Vũ
Dũng, Bộ Tài nguyên và MT giao cho Viện Khoa học xã hội Việt Nam thựchiện trong 2 năm 2009-2010 [45] Trong đề tài này, tác giả nêu lên khái niệm
về đạo đức MT, một số tiêu chí cơ bản để đánh giá đạo đức MT (như: hành
vi thực hiện các chuẩn mực MT; ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm con ngườiđối với việc bảo vệ MT; sự tự giác, tự nguyện trong hành vi của chủ thể đốivới việc bảo vệ MT; tâm trạng lo lắng, sợ hãi hay xấu hổ khi có hành vi tráivới chuẩn mực đạo đức MT; sự tự đánh giá và phán xét của chủ thể về hành
vi của bản thân đối với việc bảo vệ MT; đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích củacon người với lợi ích của thiên nhiên; chia sẻ trách nhiệm để duy trì sự toànvẹn của MT toàn cầu) Tác giả đã tiến hành điều tra khảo sát về YTBVMTcủa nhiều bộ phận tầng lớp nhân dân qua hai khía cạnh: nhận thức (hiểu biết)
và hành vi đạo đức MT; khẳng định: nhận thức của nhân dân về đạo đức MTnước ta còn chưa đầy đủ, chưa sâu sắc
Công trình nghiên cứu thứ ba là “Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái” của tác giả Vũ Trọng Dung năm 2009 [41] Nghiên cứu về
đạo đức sinh thái cũng chính là nghiên cứu đạo đức MT Tác giả đã so sánhđiểm thống nhất và khác biệt giữa đạo đức sinh thái với đạo đức xã hội Tác
Trang 27giả chỉ ra các thành tố của đạo đức sinh thái, trong đó, ý thức sinh thái là một
yếu tố quan trọng Nghiên cứu này phân tích nội hàm khái niệm ý thức sinh thái, tuy nhiên chưa phân biệt nó với khái niệm YTBVMT
Thứ tư là cuốn “Đạo đức MT” của tác giả Nguyễn Đức Khiển xuất bản
năm 2011[63], chủ yếu cung cấp kiến thức chung về MT sinh thái: BĐKH,
sự suy giảm tầng ô-zôn, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học; vấn đềdân số với MT, bền vững,…đồng thời, tác giả thể hiện sự quan tâm đến đạođức MT Đạo đức MT không những thể hiện trong các luật lệ quốc gia mà cảnhững thay đổi tinh tế và sâu xa trong cách thức sống hàng này của mỗichúng ta, sự tiêu dùng tiêu thụ và chi phí để phòng ngừa và xử lý ô nhiễm Ngoài các đề tài, dự án nghiên cứu về đạo đức MT còn có những bài
viết trên các tạp chí chuyên ngành về đạo đức MT Bài“Về đạo đức MT” của
tác giả Hồ Sĩ Quý trên tạp chí Triết học, số 9, tháng 9 -2005 [95] hệ thống lạicác trường phái, học thuyết khác nhau về đạo đức MT trên thế giới Tác giảchưa khái quát điểm chung của các học thuyết đạo đức MT, chưa phân tíchcác yếu tố của đạo đức MT, nhưng đã nêu một vài biểu hiện cụ thể cách ứng
xử của người Việt với tự nhiên, mà chưa phân tích về bản chất sâu xa củathực trạng
Bài viết “Đạo đức sinh thái – Vấn đề cần được quan tâm” của tác giả
Trần Sĩ Phán trong Tạp chí Giáo dục lý luận, số 17, năm 2006 [88] Tác giảtập trung phân tích năm nguyên nhân lý giải vì sao nhân loại phải quan tâmđến đạo đức sinh thái: Thứ nhất, con người là một bộ phận đặc thù của giới
tự nhiên nên không thể tách khỏi giới tự Thứ hai, con người cần phải biếtcách giải quyết sao cho hài hòa quan hệ lợi ích giữa con người với tự nhiên.Thứ ba, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt làcông nghệ gen - nhân bản vô tính, con người cần phải tính đến việc đối mặtvới nhiều vấn đề mới gây tranh cãi giữa giá trị và phản giá trị Thứ tư, conngười cần nhìn lại lối sống công nghiệp đang làm ô nhiễm MT nặng nề Thứnăm, quan tâm đến đạo đức sinh thái là quan tâm đến tương lai của nhânloại Tuy nhiên, nội hàm khái niệm đạo đức sinh thái chưa được phân tích rõ
Trang 28Bài viết “Trách nhiệm MT – Một phương diện của trách nhiệm xã hội”
của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương đăng trên Tạp chí Triết học số 8, năm
2009 [59] đề cập đến một phương diện của đạo đức MT và cũng là mộtphương diện của đạo đức xã hội: Trách nhiệm MT Khi bàn đến trách nhiệm
MT, tác giả chỉ ra mối liên hệ giữa nó với nhận thức con người về MT, sự tựgiác, tự nguyện và quyết tâm hành động một cách khôn ngoan nhằm bảođảm lợi ích của chính con người và sinh thể Con người biết bảo vệ MT cũngchính là biết bảo vệ lợi ích của chính mình và các thế hệ tương lai
Tóm lại, việc hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về đạo đức MTgiúp chúng ta thấy: đạo đức MT (hay đạo đức sinh thái) là một lĩnh vực củađạo đức xã hội, ngày càng góp phần bổ sung thêm những tiêu chí đánh giá vềđạo đức con người trong xã hội hiện đại; có mối quan hệ thống nhất vớiYTBVMT
b) Ý thức bảo vệ môi trường được tiếp cận qua nghiên cứu về văn hóa ứng xử của con người với tự nhiên
Văn hóa ứng xử của con người với tự nhiên phản ánh những trình độphát triển của ý thức con người khi sống cùng tự nhiên, khai thác, cải biến tự
nhiên Tác giả Trần Quốc Vượng (chủ biên) cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (2001) quan niệm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt độngthực tiễn trong sự tương tác giữa con người với MT tự nhiên và xã hội củamình”[115, 22] Một trong mười đặc điểm của văn hóa thế giới hiện đại màgiới lý luận văn hóa Trung Hoa đã tổng kết là: văn hóa từ chỗ quá tự tin vàosức mạnh của con người chuyển đến chỗ biết sức mạnh của thiên nhiên vàchỗ yếu của con người Văn hóa công nghiệp là văn hóa chinh phục thiênnhiên, nay nhìn lại, con người đã thấy trong đó sự can thiệp thô bạo vàothiên nhiên là có hại cho mình [115, 27]
Ý thức về thiên nhiên của con người Việt thể hiện trong truyền thống
“hòa hợp với thiên nhiên” Văn hóa truyền thống của người Việt cho thấykhá đậm nét tình yêu thiên nhiên; lối sống nương nhờ và biết tận dụng những
Trang 29giá trị của thiên nhiên mang lại, lối tiêu dùng cần kiệm, giản dị; khả năngứng phó uyển chuyển trước mọi biến cố; theo tác giả Trần Lê Bảo (chủ
biên) (2001), Văn hóa sinh thái – nhân văn [5]; Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2014), Giá trị văn hóa Việt Nam – truyền thống và biến đổi [99].
Ngày nay, trong điều kiện mới ở Việt Nam, văn hóa sinh thái có sựchuyển đổi Chúng ta cần xây dựng giá trị “văn hóa thiên nhiên” trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gắn với điều kiện nềnkinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Triết lý sống hài hòa với thiên nhiênmang ý nghĩa sâu sắc Chữ “hài hòa với tự nhiên” cần được hiểu là: có khaithác tài nguyên song cần có lộ trình phù hợp, biết “bù đắp” kịp thời cho thiênnhiên và phải biết dừng khi đã tới giới hạn cho phép Con người thời đại mớicần có lối tiêu dùng văn minh, tránh lãng phí những giá trị mà thiên nhiênmang lại Tình yêu thiên nhiên không thể chỉ cảm tính, mà cần phải xâydựng trên cơ sở nhận thức sâu sắc và toàn diện về cấu trúc, bản chất quy luậttồn tại của tự nhiên; từ đó con người sẽ tự nguyện, tự giác có thái độ và hành
vi ứng xử đúng đắn với tự nhiên; biết phương pháp giải quyết vấn đề MTtheo nguyên tắc phát triển bền vững Theo tác giả Chu Khắc Thuật – Nguyễn
Văn Thủ (chủ biên), “Văn hóa, lối sống với MT” [101], tuy khoa học và
công nghệ phát triển như vũ bão nhưng bản chất và điều kiện cho sự sống,đời sống văn hóa con người vẫn cần đến tự nhiên, MT sinh thái trong sạch,
ổn định, bền vững Do đó, con người vẫn đề cao văn hóa sinh thái – nhânvăn, phát triển và hoàn thiện YTBVMT Để thực hiện điều này, chúng ta cầnphải giáo dục YTBVMT cho nhân dân
c) Ý thức bảo vệ môi trường được tiếp cận qua nghiên cứu về ý thức sinh thái
Trước yêu cầu bảo vệ MT sinh thái, một số công trình nghiên cứu ởViệt Nam đã đề cập và phân tích vấn đề ý thức sinh thái sâu sắc, từ đó tìm ra
căn nguyên cơ bản và giải pháp cho MT sinh thái hiện nay Khái niệm ý thức sinh thái có nội hàm rất gần với khái niệm YTBVMT và được phân tích khá
rõ
Trang 30Trong cuốn “Văn hóa sinh thái – nhân văn” của tác giả Trần Lê Bảo
[5] chủ biên, tuy chưa phân tích nhiều về ý thức sinh thái, tác giả chủ yếulàm rõ bản chất những nội dung của vấn đề sinh thái – nhân văn, các thành tốcủa MT sinh thái tự nhiên, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, văn hóasinh thái thể hiện trong nếp sống sinh hoạt, song qua đó chúng ta cũng đãhiểu được tầm quan trọng của việc xây dựng ý thức sinh thái
Để hiểu hơn về phạm trù ý thức sinh thái và thực trạng ý thức sinh thái
ở Việt Nam, cuốn sách “Nâng cao ý thức sinh thái cộng đồng vì sự phát triển bền vững”(2005) của tác giả Phạm Thành Nghị [82] chủ biên đã phân
tích rất kỹ Tác giả tập trung làm rõ nội hàm của khái niệm ý thức sinh tháicộng đồng, đặt ý thức sinh thái cộng đồng trong mối quan hệ với ý thức cộngđồng nói chung Ý thức sinh thái cộng đồng gồm các thành phần: (1) Nhậnthức của cộng đồng; (2) Thái độ, trách nhiệm của cộng đồng; (3) Địnhhướng hành động của cộng đồng nhằm duy trì sự cân bằng sinh thái, bảo vệ
sự trong sạch của MT sống xung quanh Trong số các nghiên cứu đã nêu trênthì nghiên cứu này có khái niệm “Ý thức sinh thái cộng đồng” gần nhất vớikhái niệm “YTBVMT” mà luận án sẽ tiếp cận
Cuốn sách “Ý thức sinh thái và sự phát triển lâu bền” của tác giả Phạm
Văn Boong xuất bản năm 2002 [14] cũng làm rõ khái niệm và cấu trúc của ýthức sinh thái Mục tiêu của ý thức sinh thái là phản ánh đúng quy luật tồntại và phát triển của tự nhiên (hệ sinh thái – sinh học) và mối quan hệ giữacon người, xã hội với tự nhiên (hệ sinh thái – nhân văn), làm nền tảng chohoạt động thực tiễn của con người hướng tới mục tiêu duy trì sự phát triểnlâu bền của xã hội Tác giả đã nhấn mạnh vào thành tố tri thức (hiểu biết)trong cấu trúc ý thức sinh thái; tuy nhiên các thành tố khác còn cần phảiđược làm rõ hơn nữa
Tóm lại, YTBVMT đã được nghiên cứu qua nhiều cách tiếp cận khácnhau Các nghiên cứu về YTBVMT cho thấy: trong truyền thống tư tưởngcủa cộng đồng đã tồn tại YTBVMT là một nét đẹp tinh thần YTBVMT có
sự vận động phát triển, nhưng về cơ bản luôn theo sau sự biến đổi của xã hội.Hiện nay, một bộ phận xã hội còn thiếu hiểu biết về MT và BĐKH; về cách
Trang 31thức bảo vệ MT; về những quy định của pháp luật và về kỹ năng cần thiết đểbảo vệ MT Ở Việt Nam và trên thế giới vẫn còn quan điểm phiến diện, hoặc
“lạc quan tếu”, hoặc thờ ơ với hiện tượng nóng lên của trái đất
Mặc dù nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo vệ MT
và YTBVMT chưa trực tiếp phân tích về GDYTBVMT cho sinh viên đạihọc, nhưng những luận giải của các nhà khoa học đã là chỉ dẫn quý báu chotác giả tiếp tục thực hiện nghiên cứu đề tài của luận án
1.3 Những nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
1.3.1 Những nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
1.3.1.1 Vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được tiếp cận thông qua nghiên cứu về giáo dục đạo đức môi trường, giáo dục đạo đức sinh thái
Nhiều nhà nghiên cứu về đạo đức MT đã khẳng định: Một trong nhữngbước đi đầu tiên có tính chất quyết định để giải quyết vấn đề bảo vệ MTsống hiện nay là phải nâng cao nhận thức, thay đổi quan niệm, thay đổi thái
độ và hành vi con người với MT Khi nhận thức được vấn đề bảo vệ MTsống là trách nhiệm của mỗi người, mỗi quốc gia dân tộc và toàn nhân loạithì chúng ta cũng hiểu được yêu cầu mới đặt ra trong thời đại ngày nay: xâydựng hệ thống chuẩn mực phù hợp nhằm điều chỉnh hành vi, thái độ ứng xửcủa con người với tự nhiên, xem đó như tiêu chuẩn để đánh giá con người
Tác giả Vũ Trọng Dung trong cuốn “Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái” [41] trên cơ sở phân tích thực trạng giáo dục đạo đức sinh thái
ở nước ta hiện nay, nêu ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của giáo dụcđạo đức sinh thái Tác giả khẳng định: nước ta chưa có chương trình giáodục riêng về đạo đức sinh thái, vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái được đặttrong chương trình giáo dục – đào tạo về MT
Trong nghiên cứu “Nâng cao ý thức sinh thái cộng đồng vì mục tiêu phát triển bền vững”[82], tác giả Phạm Thành Nghị nêu lên 7 nhóm giải
pháp nâng cao ý thức sinh thái cộng đồng mà nhóm giải pháp đầu tiên là:
Trang 32Tuyên truyền – giáo dục Đối với cộng đồng, hoạt động tuyên truyền – giáodục không chỉ nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và định hướng hoạt độngcủa cá nhân mà còn củng cố, điều chỉnh hệ thống giá trị, hướng dẫn thái độ
và định hướng hoạt động của toàn cộng đồng Tuyên truyền – giáo dục đượcthực hiện phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, được tiến hànhthường xuyên Nội dung giáo dục phù hợp làm cho cộng đồng hiểu đượcquyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân trong thực hiện Luật môi trường,bảo vệ MT sống một cách tự giác
Ngoài ra, một số ít bài viết trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan
đến giáo dục đạo đức MT đã đăng: “Giáo dục đạo đức sinh thái đối với cán
bộ chủ chốt” của tác giả Lê Bỉnh trên Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7, 2005.
“Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng MT văn hóa trong lịch trình thế kỷ XXI” của tác giả Đỗ Huy đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 2, 2007
Nhìn chung, nghiên cứu về giáo dục đạo đức MT, giáo dục đạo đứcsinh thái ở nước ta chưa nhiều Do đó, việc tiếp cận GDYTBVMT thông quacác nghiên cứu về giáo dục đạo đức MT còn nhiều hạn chế Hơn thế,GDYTBVMT theo góc độ tiếp cận có tính hệ thống của công tác tư tưởng thìcòn nhiều nội dung phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ
1.3.1.2 Vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được tiếp cận thông qua nghiên cứu về giáo dục môi trường sống cho nhân dân
Trước hết, việc giáo dục về MT sống được thực hiện ở các nhà trườngphổ thông, được kết hợp với nhiều môn học trong chương trình phổ thông,hướng đến mục tiêu nâng cao YTBVMT Quá trình GDYTBVMT là mộtquá trình lâu dài, liên tục và phải được bắt đầu từ khi con người ở tuổi ấu thơđến khi trưởng thành, do đó được thực hiện với các lứa tuổi: mầm non, tiểu
học và tiếp tục lên các cấp học phổ thông Các tài liệu: “Kể chuyện về MT thiên nhiên quanh em” của tác giả Lê Trọng Túc (1997); “Giáo dục trẻ mầm non ứng phó với BĐKH qua trò chơi, thơ ca, kể chuyện, câu đố” – Tuyển chọn của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thu, 2014; “Hướng dẫn giáo viên về nâng cao nhận thức MT và BĐKH” – Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí
Trang 33Minh (2013) [26] Việc GDYTBVMT không thể chỉ thực hiện ở một giaiđoạn, cũng không chỉ qua một môn học hay một hoạt động mà cần có sựliên kết giữa nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục khác nhau Nhiều tácgiả đã nghiên cứu đóng góp cho việc xây dựng một chương trình giáo dục có
sự lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ MT và giáo dục ứng phó với BĐKH,tích hợp rất đa dạng trong nhiều môn học khác nhau của chương trình phổthông: Môn Tự nhiên – xã hội ở lớp 1-2-3, môn Khoa học ở lớp 4-5, mônSinh học, Vật lý, Hóa học, Văn học, Lịch sử, Địa lý, Kỹ năng sống của họcsinh phổ thông cấp II và cấp III
Giáo dục MT không chỉ được thực hiện trong các nhà trường mà phải
thường xuyên tuyên truyền, phổ biến trong nhân dân Cuốn “Hỏi – đáp về công tác bảo vệ MT ở cơ sở” của tác giả Nguyễn Quang và Lê Thị Ngân
biên soạn [92] đã cung cấp kiến thức cơ bản cho cán bộ và nhân dân ở cơ sở
về lĩnh vực tài nguyên và MT, đa dạng sinh học, BĐKH, những qui định củapháp luật về bảo vệ MT đối với một số tổ chức và mức độ thưởng –
phạt.“Tài liệu đào tạo tập huấn viên về BĐKH” do Trương Quang Học và
nhóm tác giả biên soạn [54], đưa ra các module thiết kế những bài học chi
tiết dành cho việc hỗ trợ nhóm tập huấn viên nguồn của dự án “Xây dựng năng lực về BĐKH cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam” do Đại sứ quán
Phần Lan tài trợ
Nhìn chung, tài liệu giáo dục về MT sống để phục vụ cho các cấp học
và phổ biến kiến thức cho nhân dân cũng khá phong phú Các tài liệu đều cóchung mục tiêu là nâng cao YTBVMT cho nhân nhân dân Tuy nhiên,nghiên cứu lý luận có tính hệ thống về GDYTBVMT như một đối tượngnghiên cứu độc lập thì còn ít ỏi
1.3.2 Những nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
Nếu như với học sinh phổ thông, việc giáo dục MT là nhằm trang bịcho các em kiến thức nền tảng cơ bản để bước đầu nhận thức và hình thànhtình cảm, thái độ đúng đắn với MT, cũng như được hướng dẫn những hành
Trang 34vi cụ thể để bảo vệ MT xanh – sạch – đẹp; thì đối với sinh viên đại học, việcgiáo dục không chỉ dừng ở mục tiêu trang bị kiến thức cơ bản về MT mà còncần phải nâng cao tri thức lý luận sâu sắc, vững chắc, một mặt giúp các emtrở thành các nhà nghiên cứu trong tương lai, mặt khác giúp củng cố niềm tin
và thôi thúc hành động với tinh thần trách nhiệm cao, sự tự giác tự nguyện ởmột thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước vì sự phát triển bền vững của xãhội
Tiếp nối những kết quả đạt được từ giáo dục phổ thông, việc giáo dục
về MT cho sinh viên đại học góp phần phát triển YTBVMT cho sinh viên vàđược tiếp tục thực hiện qua một số môn học, hoạt động trong trường đại học
Sinh viên ở một số trường đã có tài liệu học tập như: “MT và giáo dục bảo
vệ MT: Dùng cho các trường đại học - cao đẳng khối Sư phạm” (2011) do
Lê Văn Khoa (ch.b.), Phan Văn Kha, Phan Thị Lạc, Nguyễn Thị Minh
Phương; Cuốn “Con người - MT và giáo dục bảo vệ MT : Giáo trình dành cho sinh viên hệ ĐHSP và CĐSP” (2009) của Nguyễn Văn Hồng, Nxb Khoa học và Kỹ thuật; Cuốn: “Đề cương bài giảng cao học giáo dục học” (2005)
của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương, Viện chiến lược và chương trình giáodục, Hà Nội
Đặc biệt, sinh viên ở một số trường đại học theo học những chuyênngành chuyên sâu về MT đã có điều kiện được tiếp cận với các tài liệu, giáotrình dùng trong các trường đại học cung cấp tri thức khái quát giúp họ hiểuđược nguyên nhân và kỹ thuật xử lý MT cũng như khả năng quản lý MTphục vụ cho lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn sau này của họ
Nghiên cứu về GDYTBVMT cho sinh viên được đề cập thông quanghiên cứu về giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên, trong công trình luận
án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Hồng Duyên: “Vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay” (2012) [46] Công trình đã phân tích
sâu sắc khái niệm, cấu trúc của đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinhthái cho sinh viên Luận án phân tích những phạm trù cơ bản và chỉ ra thựctrạng của việc giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên hiện nay ở góc độ
Trang 35đạo đức học và triết học, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa con người với
tự nhiên, nhằm mục tiêu củng cố mối quan hệ đó vì sự phát triển bền vững Ngoài ra, GDYTBVMT cho sinh viên còn được đề cập trong công trình
luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Như An: “Phát triển năng lực giáo dục bảo vệ MT cho sinh viên đại học sư phạm ngành giáo dục tiểu học”[1] Đây
là luận án tiến sĩ ngành giáo dục học nên góc độ nghiên cứu mà tác giả tậptrung vào phân tích là năng lực giáo dục của sinh viên sư phạm ngành giáodục tiểu học (cụ thể là năng lực giáo dục bảo vệ MT), để từ đó tìm ra giảipháp nâng cao năng lực giáo dục, giúp sinh viên sư phạm có thể trở thànhnhững giáo viên tương lai có năng lực giáo dục tốt cho học sinh về bảo vệ
MT Tuy nhiên, luận án chỉ đề cập đến một bộ phận đối tượng rất nhỏ là sinhviên sư phạm ở ngành giáo dục tiểu học Do nghiên cứu tiếp cận dưới góc độgiáo dục học nên luận án phần lớn tập trung phân tích năng lực nghiệp vụ sưphạm cần có ở sinh viên sư phạm, các hoạt động cần thiết để phát triển nănglực giáo dục cho đội ngũ giáo viên tiểu học tương lai và thực nghiệm sưphạm
Mặc dù, số lượng các công trình nghiên cứu về GDYTBVMT cho sinhviên còn rất hạn chế nhưng đã hệ thống hóa về mặt lý luận (khái niệm, nộidung, vai trò, điều kiện giáo dục) làm nền tảng cho việc phát triển nghiêncứu về GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay.GDYTBVMT cho sinh viên theo góc độ khoa học công tác tư tưởng cầnđược phát triển nghiên cứu theo hệ thống các yếu tố cấu thành, từ đó đánhgiá thực trạng và những vấn đề đặt ra, đồng thời khẳng định tính chất đặc thù
và biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả GDYTBVMT cho sinh viên
1.4 Tổng hợp kết quả nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
1.4.1 Kết quả nghiên cứu đã đạt được
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã chỉ ra vị
trí, vai trò của công tác tư tưởng trong hoạt động của Đảng, đồng thời làm rõtính tất yếu và yêu cầu đặt ra phải đổi mới công tác tư tưởng trong thời kỳ
Trang 36đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo mục tiêu phát triển bềnvững đất nước Trong giai đoạn mới, toàn Đảng, toàn dân tộc phải thốngnhất và nỗ lực thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có nhiệm vụbảo vệ MT, chủ động ứng phó với BĐKH Sự nghiệp cách mạng của Đảng
có thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào quá trình phát huy khôngngừng vai trò của thế hệ thanh niên, trong đó có sinh viên Vì thế, công tácthanh niên luôn được quan tâm, chú trọng
Thứ hai, các nghiên cứu phân tích mối quan hệ biện chứng giữa con
người với MT tự nhiên, con người và đời sống xã hội không thể tách khỏi tựnhiên, song con người lại là chủ thể của các quá trình gây nên ô nhiễm, suythoái, cạn kiệt tài nguyên MT, hành động của con người là tác nhân chínhgây BĐKH ngày càng nghiêm trọng hiện nay Trước thực trạng và hậu quảcủa ô nhiễm MT, cạn kiệt tài nguyên, suy giảm đa dạng sinh học và BĐKHđang đe dọa tương lai của nhân loại, thì việc bảo vệ MT trở nên vô cùng cấpbách Quá trình bảo vệ MT có nhiều nội dung, trong đó có nội dungGDYTBVMT cho nhân dân Các nghiên cứu đều khẳng định YTBVMT làyếu tố cốt lõi trong mọi chương trình hành động bảo vệ MT
Thứ ba, các nghiên cứu khẳng định rằng: Mọi hành vi, hoạt động thực
tiễn của con người đều trên cơ sở chi phối của ý thức con người Ý thức conngười, trong đó có YTBVMT, có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
xã hội theo hướng bền vững Khái niệm YTBVMT đã được nhiều công trìnhnghiên cứu tiếp cận ở các góc độ khác nhau (triết học, giáo dục học, đạo đứchọc, văn hóa học, tâm lý học) Một số khái niệm gần với khái niệmYTBVMT (như: đạo đức MT, đạo đức sinh thái, ý thức sinh thái) đã đượcphân tích nội hàm, cấu trúc, góp phần làm rõ khả năng phản ánh của ý thứccon người về những vấn đề MT, từ đó định hướng hành vi bảo vệ MT
Thứ tư, các công trình nghiên cứu nêu lên vai trò, tầm quan trọng của
GDYTBVMT qua nhiều góc độ tiếp cận khác nhau (góc độ tiếp cận của triếthọc, giáo dục học, đạo đức học) Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu
Trang 37luôn khẳng định việc tuyên truyền, GDYTBVMT cho nhân dân là giải phápcần thiết hàng đầu trong hệ thống giải pháp bảo vệ MT.
Thứ năm, GDYTBVMT cho sinh viên là một nội dung quan trọng trong
giáo dục thế hệ trẻ hiện nay, khi suy thoái MT và BĐKH toàn cầu đang ngàycàng có nhiều diễn biến khó lường Mặc dù vai trò của GDYTBVMT chothanh niên sinh viên đã được nhận thức, việc giáo dục đã được tiến hànhtrong thực tiễn với những hình thức nhất định, song kết quả đạt được chưacao Hoạt động GDYTBVMT cho sinh viên hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.Việc nghiên cứu về GDYTBVMT cho sinh viên theo góc độ tiếp cận củakhoa học công tác tư tưởng thì còn mờ nhạt Nhất là vấn đề GDYTBVMTcho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay, theo góc độ tiếp cận củakhoa học công tác tư tưởng, chưa được làm rõ cả về lý luận và thực tiễn
1.4.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
Qua quá trình tổng hợp, hệ thống hóa các nhóm công trình nghiên cứu
ở trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, luận án sẽ nghiên cứu vấn đềGDYTBVMT theo góc độ tiếp cận của khoa học công tác tư tưởng, phântích một cách hệ thống, sâu sắc cả lý luận lẫn thực tiễn Trên cơ sở kế thừacác kết quả đạt được, luận án sẽ làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, luận án cần nghiên cứu các khái niệm cơ bản, vị trí, vai trò
của GDYTBVMT, trong đó có GDYTBVMT cho sinh viên theo góc độ tiếpcận của khoa học công tác tư tưởng Từ định hướng đó, luận án cần phân tíchnội hàm, cấu trúc của các khái niệm cơ bản, đồng thời phân biệt với nhữngkhái niệm gần với chúng để thấy được đặc trưng cách tiếp cận, phạm vi giớihạn của vấn đề nghiên cứu Luận án khẳng định vị trí của YTBVMT trongđời sống tư tưởng và nêu rõ đặc trưng của GDYTBVMT cho sinh viên tronghoạt động công tác tư tưởng hiện nay
Luận án phân tích làm rõ vai trò của GDYTBVMT cho sinh viên trongbối cảnh MT đang suy thoái nhanh, BĐKH ảnh hưởng ngày càng nghiêmtrọng đến mọi mặt của đời sống xã hội Mặc dù, vai trò của GDYTBVMT
Trang 38cho sinh viên đã được đề cập trong một số bài viết nhưng còn tản mạn, do đóluận án phân tích một cách hệ thống hơn nữa về tầm quan trọng củaGDYTBVMT cho sinh viên để thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữaGDYTBVMT cho sinh viên với công tác thanh niên trong công tác tư tưởngcủa Đảng.
Thứ hai, luận án phân tích những nhân tố tác động đến GDYTBVMT
và thực trạng GDYTBVMT cho sinh viên hiện nay Với định hướng này,nghiên cứu sẽ làm rõ hơn những đặc trưng nhất định của một nhóm xã hội làsinh viên đại học ở Hà Nội với việc bảo vệ MT Đồng thời, luận án làm sáng
tỏ các nguyên nhân của thực trạng đó, nêu lên những vấn đề đặt ra với hoạtđộng GDYTBVMT cho thanh niên sinh viên hiện nay
Thứ ba, từ kết quả khảo sát, luận án đánh giá những ưu điểm và hạn chế
của thực trạng GDYTBVMT và nguyên nhân của thực trạng, những vấn đềđặt ra trong việc GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nộihiện nay
Thứ tư, luận án nghiên cứu đề xuất một số quan điểm và giải pháp
nhằm tăng cường GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học trên địabàn Hà Nội hiện nay Phương hướng và giải pháp không những phù hợp vớiđối tượng giáo dục mà còn phù hợp với điều kiện giáo dục, đồng thời phảimang tính hệ thống, toàn diện
Tóm lại, nghiên cứu GDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở
Hà Nội có quá trình tổng hợp và phát triển những nghiên cứu đã có, làm rõhơn những vấn đề lý luận, tính chất đặc trưng của GDYTBVMT cho sinhviên theo góc độ tiếp cận của khoa học công tác tư tưởng nên khác biệt vớiGDYTBVMT theo các góc độ nghiên cứu khác như triết học, đạo đức học,giáo dục học Việc khảo sát để đánh giá thực trạng GDYTBVMT cho sinhviên cũng có những yêu cầu riêng Từ đó, phương hướng và các nhóm giảipháp được đề xuất phải phù hợp với cấu trúc quá trình GDYTBVMT, gópphần đạt hiệu quả trong công tác tư tưởng
Tiểu kết chương tổng quan
Trang 39Qua việc hệ thống hóa các công trình nghiên cứu cả trong và ngoàinước liên quan đến vấn đề GDYTBVMT, một số nội dung nổi bật đã đượcphân tích là: Mối quan hệ mật thiết giữa sự phát triển của con người, xã hộivới MT tự nhiên; Nhận thức về thực trạng MT khí hậu hiện nay; Tính cấpthiết của việc bảo vệ MT sinh thái, chủ động ứng phó với BĐKH; Những nộidung về giáo dục MT; Đạo đức MT, đạo đức sinh thái; Giáo dục đạo đứcsinh thái cho sinh viên.
Điểm chung của các công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng:những mục tiêu định hướng xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con ngườivới thiên nhiên vì sự phát triển bền vững và chủ động ứng phó với BĐKHchỉ có thể thực hiện được trên cơ sở con người phải có ý thức tốt về bảo vệ
MT sinh thái Các nghiên cứu đã góp phần làm rõ nội dung này theo nhiềuhướng tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề GDYTBVMTcho sinh viên các trường đại học hiện nay còn ít ỏi, đặc biệt là tiếp cận dướigóc độ của chuyên ngành công tác tư tưởng thì vẫn rất mới mẻ
Từ góc độ khoa học công tác tư tưởng, chưa có nghiên cứu phân tíchmột cách hệ thống cơ sở lý luận, đồng thời khảo sát đánh giá thực trạngGDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học ở Hà Nội hiện nay, từ đó đềxuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao YTBVMT cho sinh viên Do
đó, luận án kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đitrước vừa tổng hợp và phát triển về cơ sở lý luận, thực tiễn củaGDYTBVMT cho sinh viên các trường đại học hiện nay ở những chươngtiếp theo
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC
Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC
2.1 Ý thức bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
2.1.1 Ý thức bảo vệ môi trường
2.1.1.1 Khái niệm ý thức, môi trường, bảo vệ môi trường và ý thức bảo
vệ môi trường
- Khái niệm ý thức
Trang 40Ý thức con người là một phạm trù rất rộng, là đối tượng nghiên cứu củarất nhiều khoa học khác nhau như tâm lý học, triết học, luật học, văn học,kinh tế học, nghệ thuật học, đạo đức học, Mọi trạng thái tâm lý, mọi dạnghoạt động sống của con người đều là biểu hiện và bị chi phối bởi ý thức conngười Mỗi lĩnh vực nghiên cứu làm rõ đặc trưng của ý thức tinh thần conngười theo khía cạnh khác nhau
Thứ nhất, tiếp cận theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật Mácxit, ý thức
con người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cáchnăng động, sáng tạo Ý thức là hình ảnh tinh thần chủ quan về thế giới kháchquan “Ý thức [das Bewuβtsein] không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là
sự tồn tại được ý thức [das bewuβt Sein], và tồn tại của con người là quátrình đời sống hiện thực của con người” “Không phải ý thức quyết định đờisống mà chính đời sống quyết định ý thức”[17, 37-38] Ý thức con ngườimang bản chất xã hội, hình thành, phát triển gắn liền với sự phát triển cácquan hệ xã hội, đồng thời phản ánh và điều chỉnh các quan hệ xã hội
Ý thức có kết cấu phức tạp gồm nhiều thành tố có quan hệ biện chứngvới nhau, có thể phân chia kết cấu đó theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.Theo chiều ngang, ý thức bao gồm: tri thức, niềm tin, tình cảm và ý chí;trong đó tri thức là nhân tố cốt lõi Theo chiều dọc, ý thức được chia theonhững “lát cắt” của chiều sâu nội tâm con người bao gồm: tự ý thức, tiềmthức, vô thức
Nhìn ở phương diện ý thức xã hội, theo trình độ phản ánh, đó là sựphản ánh tồn tại xã hội với những cấp độ khác nhau như: ý thức thôngthường và ý thức lý luận (hay tâm lý xã hội và hệ tư tưởng) Theo nội dung
và lĩnh vực phản ánh đời sống, ý thức xã hội gồm nhiều hiện tượng tinh thần,những hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội với phương thức khácnhau như: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức khoahọc, ý thức thẩm mỹ, ý thức tôn giáo Theo chủ thể phản ánh, ý thức xã hộigồm ý thức giai cấp, ý thức dân tộc, ý thức xã hội Theo phương thức tồn tại