Kiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái NguyênKiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng
Lớp : K46 - QLTNR - N03
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2014 - 2018
Giảng viên hướng dẫn : TS Trần Công Quân
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân em, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực và khách quan
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2018
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian thực tập tại trạm Khe Mo em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức quý báu từ các anh, các chú để có thể hoàn thành đề tài này và vững bước trên con đường mình đã chọn Lời đầu tiên em xin gửi lời tới ban giám hiệu, quý thầy cô đã giảng dạy tại khoa Lâm nghiệp một lời cảm ơn chân thành nhất vì đã trực tiếp dạy dỗ, dìu dắt và truyền đạt cho em kiến thức nghề nghiệp trong thời gian học tâp tại trường Em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Công Quân người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý kiến cho em để
em có thể hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cám ơn đến ban lãnh đạo, các cô chú, anh chị trong Hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn và cung cấp cho
em những thông tin số liệu cần thiết trong suốt quá trình thực tập để em có cơ
sở hoàn thành đề tài này
Lời cuối cùng, em xin gửi tới quý thầy cô, các anh chị cũng như ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên lời chúc sức khỏe và thành công trong cuộc sống Chúc mọi người hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Với nhận thức và khả năng còn hạn hẹp bài báo cáo của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô và các bạn giúp đỡ em sửa chữa, bổ sung những thiếu sót ấy để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Tạ Xuân Kiên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình khí hậu thuỷ văn của huyện Đồng Hỷ 21 Bảng 2.2 Thống kê diện tích đất lâm nghiệp của huyện Đồng Hỷ 25 Bảng 4.1 Hiện trạng tài nguyên rừng theo địa phương ở huyện Đồng Hỷ 37 Bảng 4.2 Kết quả nghiên cứu về công tác tham mưu trong quản lý bảo vệ
rừng của hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ (2014 – 2016) 39 Bảng 4.3 Kết quả kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật của Hạt kiểm lâm Đồng
Hỷ (2014-2016) 42 Bảng 4.4 Tổng hợp công tác kiểm tra kiểm soát lâm sản của hạt Kiểm lâm
Đồng Hỷ giai đoạn (2014-2016) 43 Bảng 4.5 Kết quả công tác tuyên truyền vận động nhân dân của hạt Kiểm lâm
Đồng Hỷ (2014 - 2016) 45 Bảng 4.6 Theo dõi diễn biến rừng tại khu vực nghiên cứu 47
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Một vụ cháy rừng xảy ra tại xã Tân Lợi, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên (tháng 2-2014) 43 Hình 4.2 Tang vật tịch thu được đưa về Hạt kiểm lâm Đồng Hỷ 44 Hình 4.3 Kiểm lâm địa bàn đến từng nhà tuyên truyền cho người dân 46
Trang 7
9 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
10 PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của công việc sinh viên trực tiếp thực hiện 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu công việc sinh viên trực tiếp thực hiện 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 4
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 4
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học về Kiểm lâm địa bàn 5
2.2 Những nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng trên thế giới và Việt Nam 9
2.2.1 Những kinh nghiệm về quản lý bảo vệ rừng trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình về quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam 12
2.2.3 Tình hình quản lý bảo vệ rừng ở Thái Nguyên 17
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 19
2.3.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ 19
2.3.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ 23
Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 28
3.1 Thời gian và phạm vi thực hiện 28
3.2 Nội dung thực hiện 28
3.3 Các bước thực hiện nghiên cứu 28
Trang 93.3.1 Thu thập số liệu, thực hiện nhiệm vụ 28
3.3.2 Xử lý số liệu và viết báo cáo 31
Phần 4 KẾT QUẢ THỰC HIỆN VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ (2014-2016) 32
4.1.1 Cơ cấu tổ chức của Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ 32
4.1.2 Hiện trạng tài nguyên rừng của huyện Đồng Hỷ 36
4.2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao của người Kiểm lâm địa bàn trong quá trình thực tập 38
4.2.1 Kết quả tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng, đất lâm nghiệp 38
4.2.2 Kết quả kiểm tra giám sát xử lý vi phạm pháp luật 41
4.2.3 Kết quả công tác tuyên truyền vận động nhân dân 46
4.2.4 Kết quả công tác theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trong khu vực 47
4.3 Một số bài học kinh nghiệm và giải pháp tổ chức thực hiện công tác kiểm lâm địa bàn tại khu vực hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ 48
4.3.1 Một số bài học kinh nghiệm trong thực hiện công việc của Kiểm lâm địa bàn 48
4.3.2 Một số giải pháp tổ chức thực hiện công tác kiểm lâm địa bàn tại khu vực hạt Kiểm lâm Đồng Hỷ 50
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của công việc sinh viên trực tiếp thực hiện
Rừng là lá phổi xanh của nhân loại, rừng có giá trị nhiều mặt cho con người, nơi sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm Trong rừng có nhiều loại cây khác nhau Ðây là nguồn thực phẩm, nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp và dược phẩm, là nguồn gen có giá trị trong lai tạo giống mới cho nông nghiệp và chăn nuôi
Rừng bảo vệ và cải tạo đất, rừng có tác dụng điều hoà dòng chảy trong sông ngòi và dưới đất Rừng cản không cho dòng chảy mặt chảy quá nhanh, làm cho lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác liệt của từng trận
lũ Nước thấm xuống đất rừng vừa là nguồn dự trữ nuôi cây và các sinh vật sống trong đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các sông trong thời gian không mưa Do đó những vùng có nhiều rừng che phủ sẽ giảm bớt được thiên tai hạn hán và lũ lụt Rừng càng nằm gần đầu nguồn sông, tác dụng điều hoà dòng chảy càng lớn hơn [19]
Hiện nay, do các nhu cầu ngày càng tăng của mình, con người không thể không khai thác rừng Tuy nhiên, nếu biết khai thác một cách hợp lý và có
kế hoạch trồng rừng thích hợp, chúng ta sẽ vẫn vừa thoả mãn được các nhu cầu của mình, vừa không làm tổn hại đến rừng Việc khai tác tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí, không có kế hoạch, việc xả thải bừa bãi vào môi trường của con người đã dẫn tới chất lượng môi trường đang bị giảm sút nghiêm trọng Sự giảm sút này thể hiện ở việc suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, diện tích rừng đang tiếp tục có xu hướng bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây mất đa dạng sinh học đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có, tài nguyên nước đang dần bị cạn kiệt kéo theo tình
Trang 11trạng thiếu nước trên thế giới ngày càng lan rộng, nạn khô hạn kéo dài, gây nhiều hậu quả về kinh tế và xã hội cho nhiều vùng rộng lớn, trữ lượng chất đốt hóa thạch đang giảm sút đột ngột trong khi tiêu thụ năng lượng ngày một gia tăng, các nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu đang bị ô nhiễm trầm trọng Và con người đang phải gánh chịu những hậu quả từ việc suy thoái chất lượng môi trường như việc biến đổi khí hậu dẫn tới nạn hạn hán, lũ lụt, sóng thần diễn ra ngày càng thường xuyên Việc phải có những hành động, biện pháp cụ thể để bảo vệ bển vững tài nguyên rừng là cần thiết
Thái Nguyên hiện có trên 186 nghìn ha rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên trên 76 nghìn ha Tỷ lệ che phủ rừng đạt gần 53% Những năm gần đây, tỉnh đã tập trung thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng tự nhiên; đồng thời, đẩy mạnh công tác phát triển rừng, đặc biệt là trồng rừng sản xuất
và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên rừng để giúp người dân tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh [2]
Đồng Hỷ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, là một huyện nằm phía Đông Bắc của Thành phố Thái Nguyên Trung tâm huyện cách Thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 46.177,34 ha, diện tích dất lâm nghiệp là 23.691,00 ha, chiếm 45,86% tổng diện tích tự nhiên Huyện có 03 thị trấn, 17 xã Ở huyện Đồng Hỷ “cuộc chiến” bảo vệ rừng còn nhiều khó khăn, phức tạp bởi các đối tượng vi phạm rất tinh vi và manh động Chúng biết lợi dụng kẽ hở của cơ chế chính sách để khai thác, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép, cuộc sống của đồng bào miền núi còn nghèo khó, dễ bị kẻ xấu lợi dụng là các vụ: Phá rừng phòng hộ Ngàn Me và rừng Khe Cạn…[2]
Để thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, Ngày 04/10/2007 Bộ trưởng Bộ NN&PTNT ban hành Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN, quy định về nhiệm vụ công chức Kiểm lâm địa bàn xã (thay thế Quyết
Trang 12định số 105/2000/QĐ-BNN ngày 17/10/2000), với phương châm "Kiểm lâm
bám dân, bám rừng, bám chính quyền cơ sở” Để tham mưu giúp chính quyền
cơ sở thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định số 23/NĐ-CP ngày 23/3/2006 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng Mục tiêu nhằm nâng cao năng lực Kiểm lâm địa bàn xã, làm thay đổi căn bản công tác bảo vệ rừng, chuyển hoạt động kiểm tra, kiểm soát trong khâu lưu thông sang tổ chức bảo vệ rừng tận gốc, giám sát nơi tiêu thụ, chế biến lâm sản, nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng, nâng cao nhận thức của nhân dân để tham gia bảo vệ và phát triển rừng, giúp người làm kinh tế rừng yên tâm đầu tư góp phần làm tăng độ che phủ của rừng [14]
Kiểm lâm địa bàn có vai trò quan trọng là một phần không thể thiếu trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên rừng quý giá Để bổ trợ cho những kiến thức đã học tại trường (đặc biệt nghiệp vụ kiểm lâm) và để hiểu rõ hơn công tác quản lý
bảo vệ rừng của kiểm lâm địa bàn nên tôi đã chọn đề tài “Báo cáo công việc của
kiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tại hạt kiểm lâm Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
Đề tài hoàn thành là tài liệu tham khảo cho sinh viên đang học hoặc mới ra trường làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng
1.2 Mục tiêu và yêu cầu công việc sinh viên trực tiếp thực hiện
- Tìm hiểu các văn bản Luật và dưới Luật có liên quan đến công tác kiểm lâm địa bàn
- Đánh giá công tác kiểm lâm địa bàn của Hạt trong những năm qua (2014-2016)
- Tham gia vào công việc hàng ngày của các kiểm lâm viên địa bàn và ghi chép lại chi tiết các công việc đó vào nhật kí
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp và rút ra bài học kinh nghiệm nhằm tăng cường hiệu quả công tác kiểm lâm địa bàn tại khu vực quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống
và củng cố lại những kiến thức đã học, đặc biệt những kiến thức về quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Giúp cho sinh viên bước đầu làm quen, hiểu thêm về kiến thức điều tra ngoài thực tế không những hoàn thiện về mặt lý thuyết mà cả về mặt thực hành, làm quen với công việc của những chiến sĩ Kiểm lâm địa bàn khi thực hiện nhiệm vụ, từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng học tập
Làm tiền đề cho mỗi sinh viên sau khi ra trường có kiến thức vững vàng
để bước vào cuộc sống sau này, đặc biệt khi thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo
vệ và phát triển triển rừng
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Sau khi nghiên cứu sẽ đóng góp một phần nhất định trong việc đề xuất một số bài học kinh nghiệm khi xử lý các tình huống thực thể của người Kiểm lâm địa bàn ở các cơ sở được phân công nhiệm vụ
Đề tài giúp sinh viên khi thực tập nắm bắt được công việc cụ thể phải thực hiện của mỗi chiến sỹ Kiểm lâm địa bàn, phương pháp, cách thức xử lý các
vụ việc xảy ra về quản lý bảo vệ và phát triển rừng, sẽ tạo tiền đề gắn những kiến thức đã học vào thực tế, củng cố và rút ra những bài học thực tế cho bản thân
người học, cũng như giải quyết các sự việc cụ thể tại địa phương
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học về Kiểm lâm địa bàn
Kiểm lâm địa bàn cấp xã là công chức nhà nước thuộc biên chế của Hạt Kiểm lâm huyện, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ (dưới đây gọi chung là Hạt Kiểm lâm) phân công về công tác tại địa bàn xã, phường, thị trấn có rừng (sau đây gọi chung là Kiểm lâm địa bàn) chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm
Trách nhiệm của Kiểm lâm địa bàn cấp xã được quy định rất rõ trong Quyết định số 83/2007/QĐ-BNN của Bộ trưởng bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ký ngày 04 tháng 11 năm 2007, cụ thể như sau [16]:
(1) Tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường và thị trấn có rừng (dưới đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp xã) thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng, đất lâm nghiệp, bao gồm:
- Xây dựng phương án, kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng, hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện sau khi phương án được phê duyệt
- Đề xuất việc quy hoạch diện tích sản xuất nương rẫy và kiểm tra việc
thực hiện hướng dẫn công tác giao rừng
- Xây dựng các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng
- Huy động lực lượng dân quân tự vệ, các lực lượng và phương tiện khác trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng, chống phá rừng trái phép, phòng trừ sâu hại rừng
- Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, quản
lý lâm sản theo quy định của pháp luật
- Xác nhận về nguồn gốc lâm sản theo quy định của pháp luật
(2) Thực hiện nhiệm vụ nghiệp vụ sau:
Trang 15- Báo cáo và đề nghị với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm về công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn
- Phát hiện những vụ phá rừng, khai thác rừng, vận chuyển, buôn bán lâm sản và động vật rừng trái phép báo cáo kịp thời với Hạt trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ngăn chặn, xử lý kịp thời
- Thống kê, kiểm kê rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn được phân công
- Kiểm tra hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn theo quy định của pháp luật
- Hướng dẫn và giám sát các chủ rừng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, gây nuôi trồng cấy nhân tạo động vật, thực vật hoang dã
- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
- Các hoạt động về phát triển rừng và khuyến lâm
- Các hoạt động khác trong lĩnh vực lâm nghiệp
(4) Trách nhiệm và quyền hạn quản lý, chỉ đạo hoạt động của Kiểm lâm địa bàn
a) Trách nhiệm quản lý và quyền hạn của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
- Chỉ đạo, giám sát hoạt động của Kiểm lâm địa bàn quy định tại của Quyết định này
Trang 16- Chỉ đạo việc phối hợp hoạt động của Kiểm lâm địa bàn với Công an
xã, dân quân tự vệ và các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn trong bảo
vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản
- Tổ chức và tạo điều kiện cho Kiểm lâm địa bàn thực hiện nhiệm vụ quy định tại Quyết định 83/QĐ-BNN
- Bố trí nơi làm việc, sinh hoạt và giải quyết các chi phí cho các hoạt động của Kiểm lâm địa bàn đối với những công việc do Uỷ ban nhân dân cấp
xã giao
b) Trách nhiệm quản lý và quyền hạn của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm
- Quản lý toàn diện các hoạt động của Kiểm lâm địa bàn quy định tại của Quyết định 83/2007/QĐ-BNN
- Giải quyết các chế độ lương, phụ cấp lương và kinh phí hoạt động cho Kiểm lâm địa bàn theo quy định của pháp luật [16]
Nhiệm vụ của kiểm lâm địa bàn cấp xã được quy định rất rõ trong Nghị định 119/2006 của Chính phủ về: Tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm, cụ thể như sau [9]
Điều 13 Nhiệm vụ của Kiểm lâm địa bàn cấp xã
1 Kiểm lâm địa bàn cấp xã là công chức nhà nước thuộc biên chế của Hạt kiểm lâm huyện phân công về công tác tại địa bàn xã, phường, thị trấn có rừng, chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
Số lượng cán bộ kiểm lâm ở xã phụ thuộc vào quy mô diện tích rừng và tích chất công tác bảo vệ rừng
2 Kiểm lâm địa bàn cấp xã có quyền hạn, trách nhiệm theo quy định tại
Điều 12 của Nghị định này và có những nhiệm vụ sau đây:
a) Tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng, đất lâm nghiệp; xây dựng các tổ, đội quần
Trang 17chúng bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng trừ sâu hại rừng; xây dựng phương án, kế hoạch quản lý, bảo vệ rừng và phát triển rừng; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện sau khi phương án được phê duyệt; huy động lực lượng dân quân tự vệ, các lực lượng và phương tiện khác trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, phòng chống phá rừng trái phép
b) Thống kê, kiểm kê rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn được phân công; kiểm tra việc sử dụng rừng của các chủ rừng trên địa bàn; xác nhận về nguồn gốc lâm sản hợp pháp theo đề nghị của chủ rừng trên địa bàn;
c) Phối hợp với các lực lượng bảo vệ rừng trên địa bàn trong việc bảo
vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; hướng dẫn và giám sát các chủ rừng trong việc bảo vệ và phát triển rừng;
d) Hướng dẫn, vận động cộng đồng dân cư thôn, bản xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng tại địa bàn;
đ) Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
e) Tổ chức kiểm tra, phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; xử lý các vi phạm hành chính theo thẩm quyền và giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo quy định của pháp luật;
g) Trong hoạt động của mình, kiểm lâm địa bàn xã báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện, cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp và sự kiểm tra của Uỷ ban nhân dân cấp xã;
h) Thực hiện các nhiệm vụ khác về phát triển lâm nghiệp theo sự phân công của Hạt trưởng Hạt kiểm lâm và Uỷ ban nhân dân cấp xã
Trang 182.2 Những nghiên cứu về quản lý bảo vệ rừng trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Những kinh nghiệm về quản lý bảo vệ rừng trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức FAO (1999), những năm cuối thập kỷ XX,
tỷ lệ mất rừng các nước trên Thế giới và đặc biệt ở Việt Nam đang diễn ra ngày càng phức tạp Nếu tính cả thế giới mất đi 56 triệu ha rừng (mỗi năm mất khoảng 11 triệu ha rừng) Trong khi đó diện tích rừng trồng chỉ bằng 1/10 diện tích rừng bị mất đi, chưa kể đến việc mất đi tính đa dạng sinh học [18]
- Ở Indonesia: Trong ngành lâm nghiệp đang tồn tại hai thực tế Một
thực tế là những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá, những đầm lầy than bùn bị rút hết nước, rừng bị đốt phá để thay thế bằng những đồn điền cây công nghiệp Trong khi đó, vẫn có một thực tế khác là cây cối đang được trồng lại, rừng được khôi phục với hy vọng giải quyết được vấn đề khí thải trong một tương lai gần [19]
Quan điểm nhất quán về chính sách quản lý rừng ở Inđônêxia là dựa trên nguyên tắc vừa khai thác lợi ích rừng, vừa bảo tồn và phát triển rừng Vì vậy các nhà khoa học đã kiến nghị với Chính phủ đưa ra 3 chương trình mang tính chất quốc gia Đó là:
+ Chương trình kiểm tra, giám sát, du canh, du cư
+ Chương trình phát triển làng, bản
+ Chương trình lâm nghiệp xã hội
Các nhà khoa học Inđônêxia còn đưa ra và thí điểm thành công mô hình đồng quản lý rừng Theo mô hình này, các cơ quan phát triển lâm nghiệp Nhà nước cùng với người dân và cộng đồng địa phương cùng tham gia quản lý rừng Cụ thể các cán bộ quản lý lâm nghiệp Nhà nước tiếp cận hộ gia đình, cộng đồng địa phương để lựa chọn hệ thống cây trồng, từ đó giúp đỡ nhóm nông dân sản xuất rừng Giúp đỡ nhóm hộ soạn thảo kế hoạch quản lý rừng Người nông dân được khuyến khích trồng rừng trên đất rừng do Nhà nước
Trang 19quản lý, được quyền thu hái sản phẩm phụ Các chương trình lâm nghiệp xã hội đã giúp đỡ người dân tổ chức lại thành nhóm, hiệp hội, tạo mối quan hệ gắn bó giữa các công ty Nhà nước với các cộng đồng địa phương [19]
- Ở Philippin: Đã áp dụng chương trình xã hội Lâm nghiệp tổng hợp cá
nhân, tổ chức, cộng đồng địa phương được giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp, người dân sử dụng đất và có kế hoạch trồng rừng
Các nhà khoa học Philippin đã khẳng định chính sách quản lý lâm nghiệp đổi mới trong những năm gần đây là yếu tố có tính quyết định đến phát triển lâm nghiệp, trong đó có chính sách giao, khoán rừng cho hộ nông dân từ trước năm 1970 Chính sách lâm nghiệp hướng vào việc bảo vệ cho những người được hưởng đặc ân có quyền sử dụng lâm sản cho mục đích thương mại, còn dân cư có cuộc sống phụ thuộc vào rừng thì bỏ qua Đứng trước thực trạng đó, năm 1970 đã có ba chương trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được qui định:
+ Chương trình hộ gia đình tham gia tạo rừng và bảo vệ rừng;
+ Chương trình quản lý rừng đang bị người dân chiếm dụng;
+ Chương trình trồng cây nhân dân;
Để quản lý rừng bền vững, các nhà khoa học đề xuất 3 chương trình: + Chương trình lâm nghiệp xã hội
+ Chương trình trồng rừng và bảo vệ rừng quốc gia
+ Chương trình lâm nghiệp cộng đồng
Từ kinh nghiệm quản lý rừng ở Philippin cho thấy cần kết hợp quản
lý Nhà nước với quản lý cộng đồng và hộ gia đình, tạo mọi điều kiện cho cộng đồng và hộ gia đình để họ thực hiện chức năng quản lý tốt hơn Nhưng nhà nước phải tổ chức đào tạo kiến thức về quản lý, kỹ thuật, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các chủ thể, hỗ trợ về vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Trang 20- Ở Nêpan: Chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể
khu rừng cộng đồng thông qua sử dụng Panchagal (tổ chức chính quyền cấp sở) để quản lý rừng Theo báo cáo của Oli Krishna Prasad (1999) tại khu bảo tồn hoàng gia Chitwan ở Nepal, để quản lý rừng bền vững, cộng đồng dân cư vùng đệm được tham gia hợp tác với một số bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ cho du lịch Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng 30 - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ được đầu tư trở lại cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng (dẫn
từ Oli Krishna Prasad (ed.), 1999)
- Ở Ấn Độ: Khi chính sách Lâm nghiệp được quốc gia thông qua năm
1998, là việc coi trọng những nhu cầu cơ bản của người dân sống gần kề với rừng như chất đốt, thức ăn gia súc, gỗ làm nhà…và vai trò của họ trong gìn giữ và bảo tồn tài nguyên Và Luật đất đai đã tạo điều kiện gây nên động lực cho cá nhân và cộng đồng trồng cây phân tán, trồng rừng tập trung và quản lý bảo vệ rừng hiện có, đặc biệt đối với những thổ dân có truyền thống và tập tục riêng biệt Có hai hình thức chủ yếu, điển hình đó là rừng cộng quản (JFM) và rừng cộng quản có sự tham gia (JPFM)
- Ở Trung Quốc: Pháp lệnh bảo vệ và phát triển rừng được ban hành
vào đầu năm 1980 đã làm rõ sở hữu đất rừng và rừng Chủ rừng là cơ quan Nhà nước, tập thể và tư nhân Các công trình nghiên cứu gần đây đã phân loại quản lý rừng ra 4 loại hình, đó là:
+ Trang trại, lâm nghiệp làng, bản: Đây là loại hình quản lý rừng chủ yếu hiện nay Ở hình thức này người dân đóng góp ngày công lao động, tiền vốn để trồng rừng Sau khi trồng xong, làng, bản xây dựng các trang trại vườn, rừng và lựa chọn người có kinh nghiệm trông coi, quản lý Khi có thu nhập, sau khi hoàn trả tiền công, chi phí sản xuất, thu nhập từ rừng đem phân phối cho dân theo sự đóng góp của họ
Trang 21+ Mô hình tổ hợp: Trong trường hợp một hộ gia đình không đủ khả năng trồng rừng, họ cùng hợp tác lại với nhau với nhiều hình thức, dưới sự hướng dẫn của Nhà nước Đất rừng, tiền vốn, lao động, công nghệ được đóng góp theo mô hình cổ phần Lợi nhuận sau khi trừ chi phí sản xuất được phân phối theo cổ phần
+ Lâm nghiệp hộ gia đình: Đó là những hộ gia đình hợp đồng để trồng rừng hoặc quản lý rừng thuộc sở hữu tập thể hoặc trồng cây trên đất rừng phục vụ cho nhu cầu cần thiết của gia đình, thông thường là cây ăn quả, cây thuốc, cây lâm sinh ngoài gỗ
Nghiên cứu về quả lý, bảo vệ rừng ở Trung Quốc, các nhà khoa học đã rút ra kinh nghiệm như sau:
Để quản lý rừng và phát triển vốn rừng cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình khác như: phát triển nông thôn, bảo vệ nguồn nước dịch vụ sản xuất và đời sống, chương trình dân số
Nhà nước cần tăng đầu tư, tín dụng cho phát triển lâm nghiệp và tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế:
+ Hỗ trợ phát triển kinh tế địa phượng, thông qua các dự án để cải thiện cuộc sống của người dân để giảm áp lực tới khai thác rừng Cải tiến hệ thống quản lý rừng từ Trung ương đến địa phượng Phát triển lâm nghiệp cộng đồng
là chiến lược quản lý rừng có hiệu quả [20]
2.2.2 Tình hình về quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam
Việt Nam nằm phía đông nam châu Á, diện tích tự nhiên 33.019km2, trong đó 3/4 diện tích lãnh thổ trên đất liền là đất lâm nghiệp Tính đến 31/12/2006 cả nước có 12.530.201ha rừng các loại, độ che phủ của rừng là 37,7% Việt Nam có biên giới đất liền 3.700km và 3.200km bờ biển, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 623km, chỗ hẹp nhất khoảng 42km Rừng và đất lâm nghiệp giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống của người dân và dân tộc Việt
Trang 22Nam Rừng và nghề rừng là một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam
Trải qua quá trình lịch sử, từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX công tác quản lý bảo vệ rừng đã tưng bước hoàn thiện cả về nội dung và tổ chức Trong thời kỳ phong kiến việc quản lý bảo vệ rừng từ chỗ thông qua các sản phẩm cống nộp đã tiến đến đặt ra các lệ thu thuế cho nhà nước phong kiến
Thời kỳ Pháp đô hộ, công tác quản lý bảo vệ rừng bắt đầu đựơc đưa thành các luật pháp và có tổ chức chặt chẽ từ cấp trung ương đến các tỉnh, hạt,
xã Cách mạng tháng 8/1945 thành công sau ký sắc lệnh sát nhập Nha lâm chính
và bộ canh nông Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 20/7/1946 đã ký sắc lệnh số 131 quy định kiểm sát viên kiểm lâm cùng làm nhiệm vụ tư pháp công an lâm nghiệp
Ngày 21/12/1949 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh quy định bổ xung trương hạt kiểm lâm chính và trưởng hạt kiểm lâm chính có tư cách uỷ viên có tư pháp công an
Việt Nam đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ đây là tình trạng và nguyên nhân gây mất rừng nhiều nhất Tỷ lệ che phủ của rừng năm 1945 là 43,3% Năm 1976 là 33,8% , năm 1990 giảm xuống còn 27,8% Sự suy giảm về tài nguyên rừng không chỉ làm suy giảm về trữ lượng gỗ, lâm sản mà còn kéo theo là những suy giảm về tính đa dạng sinh học, khả năng bảo vệ nguồn đất và nước
Ngày nay khi đất nước đang trên đà phát triển mạnh trong sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước mà chúng ta phải từng ngày từng giờ đối phó với vấn đề hết sức nghiêm trọng về môi trường, nạn phá rừng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác bừa bãi, sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, thiên tai liên tục xảy ra làm thiệt hại rất lớn đến đời sống kinh
tế xã hội
Trang 23Để đóng góp tích cực vào việc khác phục những hậu qủa nêu trên, vì lợi ích lâu dài và bền vững của đất nước Nhiệm vụ trước mắt đặt ra là phải trồng cây gây rừng nâng độ che phủ rừng và từ năm 1990 đến nay đảng và Nhà nước ta đã nâng độ che phủ rừng lên đến 33,2% Đây là một sự đánh dấu
một bước phát triển của lịch sử ngành lâm nghiệp Việt Nam
Năm 1943, Việt Nam có khoảng 14,3 triệu ha rừng, trải qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc vĩ đại của dân tộc, diện tích rừng đã bị tàn phá nghiêm trọng, thực tế cho thấy giai đoạn lịch sử như vậy chúng ta đã dồn toàn lực cho cách mạng giải phóng dân tộc, chưa có điều kiện để quan tâm công tác bảo vệ và phát triển rừng Hòa bình lập lại đất nước tập trung ưu tiên phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, những thành tựu đạt được là không thể phủ nhận song chúng ta phải trả giá về mặt môi trường, tài nguyên rừng bị khai thác kiệt quệ, diện tích rừng giảm nhanh chóng
Để bảo vệ rừng, sử dụng rừng hiệu quả, phát triển bền vững tài nguyên rừng, những năm qua, cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách phù hợp với thực tế, được nhân dân tích cực đón nhận, đáp ứng được hiệu quả trước mắt cũng như lâu dài
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991 tại kỳ họp thứ 9, khóa VIII Là văn bản luật cơ bản, cơ sở pháp lý để các văn bản khác được ban hành nhằm thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, phát triển lâm nghiệp Tiếp đến là các văn bản khác liên quan lần lượt được ban hành, Nghị định số 39/CP ngày 18 tháng 5 năm 1994 của Chính phủ về hệ thống tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm lâm nhằm tăng cường nhiệm
vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ, ngăn chặn có hiệu quả những hành vi
vi phạm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản [5]
Trang 24Ngày 01 tháng 01 năm 1990, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực là tiền đề để Chính phủ ban hành Nghị định số 14/CP ngày 05 tháng
12 năm 1992 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý
và bảo vệ rừng Có tác dụng đánh vào thiệt hại kinh tế đối với những đối tượng vi phạm về các hành vi trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng đồng thời răn đe kẻ khác [5]
Chỉ thị số: 525/TTg ngày 02 tháng 11 năm 1993 của Thủ tướng chính phủ về một số chủ trương, biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế – xã hội miền núi [12]
- Về Lâm nghiệp: Bảo vệ rừng hiện có, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng mới, tạo được những vùng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, khôi phục được môi trường sinh thái kể cả bảo vệ thảm thực vật Có chế độ sử dụng nguồn tài nguyên rừng hợp lý theo yêu cầu của từng loại rừng [10]
Ngày 15 tháng 10 năm 1993, luật đất đai có hiệu lực, tiếp đó Nghị định
số 02/CP ( nay được thay thế bằng Nghị định 163/NĐ-CP ) ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính phủ Ban hành quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đã tạo điều kiện, giải quyết việc làm, khuyến khích người dân yên tâm
và gắn bó lâu dài vào sản xuất lâm nghiệp Bên cạnh đó công tác trồng rừng được chú trọng, ngày 29 tháng 7 năm 1998, Quyết định số 661/QĐ-TTg được ban hành về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (ngày 07 tháng 7 năm 2007 ban hành Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 661 ), nhằm đưa độ che phủ rừng của nước ta năm 2010 lên 43% [1]
Để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép, nhiều Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ đã được ban hành, gần đây nhất là Chỉ
Trang 25thị số 12/CT-TTg năm 2003 thực hiện các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản
Ngày 01 tháng 4 năm 2005 Luật số: 29/2004/QH11 - Bảo vệ và phát triển rừng có hiệu lực thay thế Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, là tiền đề để ban hành các văn bản dưới luật tiếp theo Nghị định số 09/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 01 năm 2006 Quy định về phòng cháy chữa cháy rừng [8] Nghị định số 119/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 10 năm 2006
về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm [9] Nghị định số 159/2007/QĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 10 năm 2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ rừng, quản lý rừng và quản lý lâm sản [10]
Thực tế mang lại cho thấy, các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ban hành đã phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả rõ rệt, tác động tích cực đến người dân Tuy còn những tồn tại đó là Bảo vệ phát triển rừng chưa chú trọng đến chất lượng rừng, chưa phát huy được cây trồng bản địa; tình trạng chặt phá rừng trái phép, cháy rừng vẫn xảy ra, công tác kiểm tra, giám sát chủ rừng chưa được thực hiện triệt để; chênh lệch mức sống giữa miền núi và đồng bằng còn cao, nhân lực hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp vừa thiếu, vừa yếu…
Nhưng trong những năm qua công tác bảo vệ rừng, sử dụng và phát triển rừng đã đạt được những kết quả to lớn Diện tích rừng tăng hàng năm, năm 1999 diện tích rừng toàn quốc 10,9 triệu ha, đến tháng 12 năm 2007, diện tích rừng toàn quốc 12.837.333 ha, trong đó 10.283.965 ha rừng tự nhiên và 2.553.369 ha rừng trồng, độ che phủ đạt 38,2% (Ban hành kèm theo Quyết định số 2159/QĐ-BNN-KL ngày 17 tháng 7 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn) Kinh tế – xã hội miền núi được nâng lên rõ rệt, chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững
Trang 262.2.3 Tình hình quản lý bảo vệ rừng ở Thái Nguyên
Trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên gặp không ít khó khăn Người dân tuy đã nhận thức được tác dụng, lợi ích của việc bảo vệ và phát triển rừng nhưng chưa thấy được đầy đủ vai trò, vị trí, ý nghĩa của rừng đối với môi trường sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội bền vững
Toàn tỉnh có gần 180 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó diện tích đất có rừng là 167 nghìn ha gồm xấp xỉ 100 nghìn ha rừng tự nhiên và hơn 67 nghìn ha rừng trồng Thực tế này cho thấy, rừng đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất sinh hoạt của người dân trong tỉnh Tuy nhiên, làm thế nào để bảo vệ và phát triển được vốn rừng hiện có lại không phải là chuyện giản đơn [2]
Một số cá nhân, hộ gia đình tự ý sử dụng vốn rừng không hợp lý, lợi dụng sự thông thoáng của chính sách để khai thác trái phép lâm sản vì mục đích thương mại làm suy giảm diện tích và sản lượng rừng Đặc biệt, các chủ rừng chưa chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, chưa thực sự quan tâm, tìm biện pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng rừng, đất rừng được giao quản lý Trong khi đó, chế độ, chính sách
về lâm nghiệp của Nhà nước lại luôn có sự đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích bảo vệ rừng, trồng rừng và tham gia kinh doanh rừng còn chưa thỏa đáng, chưa khuyến khích và tạo điều kiện để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng nhất là các khu rừng tự nhiên phòng hộ, đặc dụng; công tác quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng còn chưa đồng bộ [11]
Trước thực trạng đó, lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với cấp, ngành chức năng tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng trong nhân dân để phát huy tinh thần tự giác của bà
Trang 27con trong việc đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm và các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng Đặc biệt, qua các buổi biểu diễn văn nghệ quần chúng tại các huyện, xã có rừng trong tỉnh, bằng hình thức sân khấu hóa, nhiều văn bản, chính sách pháp luật liên quan đến công tác này đã được chuyển tải đến người dân một cách gần gũi, dễ hiểu, từ đó giúp bà con nhận thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của mình trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Ông Phạm Văn Cảnh, một người dân ở xóm Thậm Thình, xã Cát Nê (Đại Từ) chia sẻ: Trước đây, tôi cứ nghĩ đất rừng của mình, cây giống
do mình đầu tư nên mình thích khai thác, thích bán như thế nào là quyền của mình Nhưng khi đã được tuyên truyền, tôi hiểu, dù là rừng mình trồng, mình vẫn phải khai báo với chính quyền địa phương và làm các thủ tục để được bán cây rừng theo đúng quy định của pháp luật [14]
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, Chi cục đã xây dựng kế hoạch nhằm đẩy mạnh hoạt động của Đoàn Kiểm tra liên ngành, trong đó lực lượng Hạt Kiểm lâm làm nòng cốt để thường xuyên kiểm tra, truy quét các đối tượng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép cũng như ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng Trong đó đặc biệt quan tâm đến các khu rừng phòng hộ, đặc dụng trọng điểm của tỉnh, các khu vực rừng giáp ranh, các khu rừng chưa được giao đến chủ cụ thể
Với nhiều nỗ lực, từ năm 2011 đến nay, công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh ngày càng được chú trọng và tăng cường, tình hình vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn giảm rõ rệt (riêng 10 tháng năm
2014, chỉ có 5 vụ cháy rừng, số vụ vi phạm chỉ còn trên 340 vụ, giảm khoảng 10-25% so với năm trước) Nhận thức của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng được nâng cao; đã vận động được đông đảo nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, góp phần thực hiện xã hội hoá công tác này Sự phối hợp giữa các cơ
Trang 28quan chức năng trong tỉnh tạo ra sức mạnh tổng hợp về lực lượng, phương tiện và vị thế pháp lý trong quá trình kiểm tra, truy quét, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, góp phần phát triển kinh
tế đồi rừng, xóa nghèo, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn Về công tác phát triển rừng, tỉnh cũng đã trồng rừng tập trung được khoảng 22 nghìn ha, trong
đó có hơn 20 nghìn ha rừng sản xuất Việc thực hiện các chỉ tiêu chăm sóc rừng cũng đạt cao khi tổng diện tích thực hiện chăm sóc rừng hằng năm là 2.966,6 ha/năm, đạt 100% kế hoạch; khoán bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dụng được được gần 11,5 nghìn ha, khoanh nuôi tái sinh được 1.250ha, khai thác
gỗ được trên gần 500 nghìn m3 [3]
Để thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, trong thời gian tới, các cấp, ngành chức năng của tỉnh sẽ chỉ đạo việc thực hiện chuẩn bị hiện trường, thiết kế và cây giống để trồng rừng những năm tiếp theo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tập huấn cho các tổ chức, cá nhân
và hộ gia đình tham gia trồng rừng, tuyên truyền pháp luật về quản lý bảo vệ và phát triển rừng, công tác khuyến lâm đến người dân [3]
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Đồng Hỷ là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, bao gồm 18 xã, thị trấn, có tổng diện tích tự nhiên là 45.774 ha, có toạ độ địa lý:
Trang 29Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Từ 21035’02” đến 21050’34” vĩ độ Bắc
Từ 105042’02” đến 105055’25” kinh độ đông
Địa giới hành chính:
- Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai - Thái Nguyên
- Phía Đông giáp huyện Yên Thế - Bắc Giang
- Phía Tây giáp huyện Phú Lương
- Phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình
Trang 302.3.1.2 Địa hình
Đồng Hỷ thuộc tiểu vùng 1 của tỉnh Thái Nguyên, có kiểu địa hình đồi độc lập và núi thấp Phía Đông và Đông Bắc có dãy núi Tèn và núi Bắc Lâu kéo dài tạo thành bức tường ngăn cách 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn Độ cao trung bình của huyện là 350m, cao nhất là đỉnh núi Tèn 759m Địa hình chia cắt mạnh ở phía Bắc và thấp dần từ Bắc xuống Nam, có độ cao tuyệt đối
từ 50m đến 750m so với mực nước biển Nhìn chung địa hình huyện Đồng Hỷ
có thể chia làm 2 vùng: Phía Bắc là núi thấp và núi trung bình, còn lại là vùng đồi Tuy nhiên, đây lại là vùng thượng lưu của sông Cầu nên vai trò của thảm thực vật rất quan trọng, có tác dụng điều tiết dòng chẩy và cung cấp nươc cho sản xuất và sinh hoạt
2.3.1.3 Khí hậu
Theo số liệu của trung tâm khí tượng thuỷ văn tỉnh Thái Nguyên, Đồng
Hỷ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt:
Bảng 2.1 Tình hình khí hậu thuỷ văn của huyện Đồng Hỷ
Tháng Nhiệt độ không khí
trung bình ( 0 C)
Tổng lượng mưa phổ biến (mm)
Độ ẩm không khí trung bình (%)
Trang 31- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, số ngày mưa trung bình từ 155 ngày đến 160 ngày trong năm, lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 2000 - 2100mm tập trung chủ yếu vào tháng 6 ,7
- Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, khí hậu khô hanh, có sương mù
- Nhiệt độ bình quân từ 21,20C - 22,90C Nhiệt độ tối cao trung bình là
270C nhiệt độ tối thấp trung bình là 200C Tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 7 (28,50C), tháng có nhiệt độ thấp nhất trong năm là tháng 1 (15,60C) Số ngày nắng bình quân từ 16 - 20 ngày /tháng, tổng giờ nắng trong năm là 1.628 giờ, năng lượng bức xạ hạt 115Kcal/cm2, ẩm độ không khí bình quân từ 81,4% đến 84,5%, lượng bốc hơi từ 96mm đến 98mm, chế độ gió chủ yếu là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, lưu lượng gió thổi từ 13m/giây đến 15m/giây Hàng năm có sương muối từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau chủ yếu tập chung ở các xã miền núi của huyện
2.3.1.4 Tình hình thuỷ văn của Huyện Đồng Hỷ
Huyện Đồng Hỷ có các sông suối chính chảy qua là: Sông Cầu bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn chảy qua 2 xã Văn Lăng và Hoà Bình
về thành phố Thái Nguyên Ngoài ra còn có hệ thống suối bắt nguồn từ các khe núi đổ ra các sông Trong đó, có 2 suối lớn là suối Nà Sa bắt nguồn từ Võ Nhai qua xã Vân Lăng đổ ra sông Cầu và suối Quang Sơn cũng bắt nguồn từ
Võ Nhai qua các xã Quang Sơn, Khe Mo và Linh Sơn đổ ra sông Cầu Do cấu tạo địa hình có độ dốc lớn, tốc độ dòng chảy mạnh nên có nhiều bất lợi cho việc vận chuyển thuỷ của một số nhánh suối lớn Lưu tốc dòng chảy từ 600 – 800m/giây, thường tập trung vào mùa mưa, có ảnh hưởng không tốt cho sản xuất nông lâm nghiệp
2.3.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng
Kết quả điều tra lập địa xây dựng bản đồ dạng đất tỉnh Thái Nguyên của phân viện điều tra quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ năm 2001, đất đai huyện
Trang 32Đồng Hỷ được hình thành bởi quá trình phong hoá của loại đá mẹ chính là đá vôi Gi ét với 2 loại đất chính:
- Đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét (Fs) có mầu vàng đỏ, độ dầy tầng đất ở mức trung bình > 60cm, độ PH = 4 - 5
- Đất Feralit phát triển trên đá Macma chua có mầu vàng nhạt, độ dầy tầng đất từ 40cm đến 50cm, độ PH = 5 - 6
Hai loại đất này phù hợp cho trồng cây lâm nghiệp và cây công nghiệp
2.3.2 Điều kiện dân sinh - kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ
2.3.2.1 Đặc điểm dân số, lao động, kinh tế
- Dân số: Tổng dân số toàn huyện tính đến tháng 31/12/2016 là 114.893 người Mật độ dân số bình quân 251 người/km2, thấp nhất là xã Văn Lăng 69 người/km2, cao nhất là thị trấn Chùa Hang 3.278 người/km2 (Theo báo cáo năm 2016 của Chi cục thống kê huyện Đồng Hỷ)
- Lao động: Toàn huyện có khoảng 63.000 người lao động chiếm 54,8% dân số Trong đó, lao động nông thôn chiếm trên 67% tổng số lao động, lao động phi nông nghiệp chiếm gần 35% tổng số lao động Qua số liệu thống kê hàng năm cho thấy: Người lao động chỉ sử dụng khoảng 70% quỹ thời gian lao động do thiếu việc làm, có khoảng 3-5% lao động thường xuyên không có việc làm và có khoảng 30% lao động nông nghiệp không có việc
làm khi kết thúc thời vụ nông nghiệp chính (Theo báo cáo của Cục thống kê
tỉnh Thái Nguyên năm 2016)
- Kinh tế:
Năm 2017, mặc dù gặp phải một số khó khăn về thời tiết song nhờ tranh thủ tối đa các nguồn lực cùng với sự nỗ lực rất lớn của các cấp, các ngành và nông dân nên sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển, chương trình xây dựng nông thôn mới thu được những kết quả tích cực
Trang 33Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp đạt 1.188,5 tỷ đồng; sản lượng lương thực đạt trên 45.000 tấn, bằng 116% kế hoạch; sản lượng chè búp tươi đạt 36.500 tấn, trồng mới, trồng lại trên 148 ha chè, đạt 148% kế hoạch, mở rộng diện tích chè sản xuất theo quy trình VietGap lên 165 ha; về chăn nuôi tuy có biến động do giá thịt lợn hơi giảm mạnh song vẫn duy trì ổn định được tổng đàn vật nuôi; công tác thú y được triển khai thực hiện hiệu quả, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn; trồng rừng đạt 148% kế hoạch, độ che phủ rừng đạt 47%, công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật, dịch vụ cung ứng vật tư vào sản xuất đảm bảo chất lượng, số lượng, chủng loại và kịp thời góp phần nâng cao giá trị sản xuất
Về xây dựng: Năm 2017, huyện đã huy động được 267,958 tỷ đồng, trong đó huy động từ cộng đồng doanh nghiệp được trên 55 tỷ đồng, nhân dân đóng góp trên 38 tỷ đồng Trong năm có thêm 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới;
4 xã đạt từ 10-14 tiêu chí; 4 xã đạt 9 tiêu chí [20]
+ Nông nghiệp: Trong nhưng năm ngần đây ngành nông nghiệp đạt được tốc độ tăng trưởng ổn định từ 3-5% đã giải quyết được nhu cầu lương thực, thực phẩm của nhân dân Năm 2016, giá trị kinh tế nghành trồng trọt đạt
154 tỷ đồng, chiếm 63% trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp; giá trị kinh tế ngành chăn nuôi đạt 76 tỷ đồng chiếm 35% giá trị sản xuất nông nghiệp Có được kết quả như trên là nhờ huyện Đồng Hỷ đã có những biện pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
+ Lâm nghiệp và hiện trạng tài nguyên rừng
Tình hình sản xuất lâm nghiệp của huyện Đồng Hỷ trong những năm ngần đây đã có những bước tiến đáng kể Người dân đã phần nào nhận thức được vai trò, lợi ích của rừng trong vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội Do đó, ngày càng có nhiều hoạt động tích cực hơn trong công tác gây trồng và quản lý bảo vệ rừng Chính vì vậy, diện tích rừng trồng ngày