1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của công ước luật biển 1982 unclos với luật pháp quốc tế và việt nam

29 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 33,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời của Công ước Sau hơn 4 năm họp trù bị và 9 năm đàm phán, ngày 10-12-1982, Côngước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 Công ước Luật Biển 1982 được 107 quốc gia ký tại Monteg

Trang 1

VAI TRÒ CỦA CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 - UNCLOS

VỚI LUẬ PHÁP QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM

Đặt vấn đề

Trong số các văn kiện pháp lý quốc tế được ký kết kể từ sau chiến tranhthế giới thứ hai, Công ước Luật Biển 1982 (được ký ngày 10/12/1982) và 20năm Công ước Luật Biển 1982 có hiệu lực (ngày 16-11-1994), đây là văn kiệnđứng thứ hai về tầm quan trọng, chỉ sau Hiến chương Liên hợp quốc

Đây được coi là bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế, không chỉbao gồm các điều khoản kế thừa từ các điều ước quốc tế trước đó về biển mà cònpháp điển hoá các quy định mang tính tập quán quốc tế, tồn tại qua một thời giandài trong thực tiễn của các quốc gia, cũng như những xu hướng phát triển mớitrong thực tiễn sử dụng và khai thác biển và đại dương

1. Sự ra đời của Công ước

Sau hơn 4 năm họp trù bị và 9 năm đàm phán, ngày 10-12-1982, Côngước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (Công ước Luật Biển 1982) được

107 quốc gia ký tại Montego Bay, Jamaica, đánh dấu thành công của Hội nghịLHQ về Luật Biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia có biển vàkhông có biển, và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ.Sau Hiến chương LHQ, Công ước Luật biển 1982 được coi là văn kiện pháp lýquốc tế quan trọng nhất kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, được nhiều quốcgia ký kết và tham gia

Công ước Luật Biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16-11-1994, 12 tháng kể từngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16-11-1993 Ngày 24-9-

Trang 2

2012, quốc gia châu Phi Swaziland chính thức phê chuẩn UNCLOS, trở thànhthành viên thứ 164 của Công ước.

Là một văn kiện đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 phụ lục, với hơn

1000 quy phạm pháp luật, Công ước Luật Biển 1982 được coi là Hiến pháp củathế giới về các vấn đề biển và đại dương Công ước xác định một cách toàn diệnquy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của cácquốc gia ven biển cũng như quy chế pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy biểnquốc tế Đồng thời, Công ước cũng thành lập một loạt cơ chế quốc tế quan trọngnhư Tòa án quốc tế về Luật Biển, Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương,

Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước.Đặc biệt, liên quan đến các tranh chấp về việc giải thích hoặc áp dụng Công ước

có thể nảy sinh giữa các thành viên, Công ước Luật Biển năm 1982 đòi hỏi cácquốc gia giải quyết bằng biện pháp hòa bình, theo đúng quy định của Hiếnchương LHQ, đồng thời nêu rõ các cơ chế tài phán để giải quyết tranh chấp.Công ước đạt được là một giải pháp cả gói, các quốc gia thành viên không đượcphép bảo lưu khi tham gia Công ước

Công ước Luật Biển 1982 là thành quả của nỗ lực xử lý hài hòa các khácbiệt về lợi ích và quan điểm, tạo ra một trật tự pháp lý cân bằng trên biển, vừacân bằng lợi ích giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa phạm vivùng biển thuộc chủ quyền quốc gia và vùng biển tự do hàng hải, vừa dung hòađược quyền và nghĩa vụ của các nhóm quốc gia có biển, không có biển, quốc giaquần đảo và các nhóm khu vực… Công ước Luật Biển ra đời là chiến thắng củacác nước đang phát triển trong cuộc đấu tranh để ghi nhận các quyền của mìnhtrong mối quan hệ với các nước phát triển, là sự điều chỉnh các quyền và nghĩa

vụ đã tồn tại trong lịch sử của các quốc gia để thay thế bằng một trật tự pháp lý

Trang 3

mới hiện đại công bằng hơn, điều hòa tốt hơn giữa việc khai thác và bảo tồn cáctài nguyên biển để hướng tới sự phát triển bền vững cho nhân loại.

2. Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải ly

Một số chế định quan trọng của Công ước bao gồm: Công ước khẳng địnhlại cách thức xác định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải dựa trên haiphương pháp: đường cơ sở thẳng và đường cơ sở theo ngấn nước thủy triều thấpnhất ven bờ biển Vùng nước phía bên trong đường cơ sở là nội thủy; phía bênngoài đường cơ sở ra đến 12 hải lý là lãnh hải

Tại nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệtđối như đối với lãnh thổ đất liền

Tại lãnh hải, quốc gia ven biển có chủ quyền đối với vùng nước, vùng đáybiển và lòng đất dưới đáy biển và vùng trời phía trên lãnh hải, đồng thời, quốcgia ven biển phải tôn trọng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của tàuthuyền nước ngoài

Quốc gia ven biển có quyền xác định vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hảilý; vùng thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý, tối đa là 350 hải lý

Tại các vùng biển này, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền thăm dò,khai thác, bảo quản tài nguyên; quyền tài phán đối với nghiên cứu khoa họcbiển, bảo vệ môi trường biển, lắp đặt và sử dụng các thiết bị, công trình Cácquốc gia khác có quyền tự do hàng hải và hàng không; quyền tự do đặt cáp vàống dẫn ngầm

Bên ngoài các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tàiphán của quốc gia ven biển là vùng biển quốc tế, nơi tất cả các quốc gia cóquyền tự do hàng hải, đánh bắt cá; có nghĩa vụ hợp tác bảo vệ môi trường, chống

Trang 4

tội phạm, đặc biệt là tội phạm cướp biển, chuyên chở, buôn bán ma túy, chất độchại…

Đáy biển và lòng đất dưới đáy biển phía ngoài thềm lục địa của quốc giaven biển là tài sản chung của nhân loại, Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đạidương thay mặt các quốc gia thành viên quản lý việc thăm dò, khai thác tàinguyên ở đây theo chế độ chung

Công ước có nhiều điều khoản quy định về chế độ hợp tác giữa các quốcgia thành viên để điều chỉnh việc sử dụng các eo biển dùng cho hàng hải quốc tếhay các biển kín và nửa kín, thúc đẩy việc nghiên cứu khoa học biển, chống ônhiễm môi trường biển, bảo đảm tự do và an toàn hàng hải, bảo vệ hệ thống dâycáp và ống dẫn ngầm

3. Cơ chế giải quyết tranh chấp

Đặc biệt, Công ước có hẳn một phần quy định chi tiết các nguyên tắc, thủtục, cơ chế giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế liên quan đến giải thích và

áp dụng Công ước

Ngày 16/11/1994, 12 tháng kể từ ngày Guyana, quốc gia thứ 60 phê chuẩnCông ước, Công ước Luật Biển 1982 chính thức có hiệu lực Việc Công ướcchính thức có hiệu lực đã đáp ứng được nguyện vọng và mong đợi của cộngđồng quốc tế về một trật tự pháp lý mới, điều chỉnh toàn diện các vấn đề về sửdụng, khai thác, quản lý, bảo vệ biển và đại dương Cho đến nay đã có 164 quốcgia là thành viên Công ước Số lượng các quốc gia thành viên ban hành luật lệquốc gia để nội luật hóa các quyền nghĩa vụ theo Công ước ngày càng tăng lên

Công ước Luật Biển 1982 là điều ước quốc tế yêu cầu các thành viên phảichấp thuận sự điều chỉnh cả gói, điều đó có nghĩa là các quốc gia thành viên cótrách nhiệm thực hiện toàn bộ các quy định của Công ước và không được phép

Trang 5

đưa ra các bảo lưu, trừ việc có những tuyên bố được quy định cụ thể trong Côngước.

4. Công ước Luật biển đối với Việt Nam

Việt Nam là một trong 107 quốc gia đầu tiên tham gia ký Công ướctại Montego Bay

Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩnCông ước Luật Biển, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với cácvùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếpgiáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở cácquy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu cácnước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam

Đồng thời, Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội Việt Nam cũng mộtlần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũngnhư các bất đồng khác liên quan đến vấn đề Biển Đông thông qua thương lượnghòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọngpháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982, tôn trọng chủquyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùngđặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Là thành viên của Công ước Luật biển 1982, Việt Nam được quyền cólãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địarộng ít nhất 200 hải lý Đồng thời, Việt Nam cũng có những nghĩa vụ đối với cácquốc gia khác tại các vùng biển thuộc quyền tài phán của mình

Trang 6

Trong những năm qua, Việt Nam thực thi đầy đủ các quy định của Côngước, tiến hành sửa đổi, ban hành mới pháp luật Việt Nam phù hợp với các quyđịnh của Công ước.

Ngày 21/6/2012, Việt Nam đã ban hành luật Biển nhằm thống nhất quản

lý việc hoạch định, sử dụng, thăm dò, khai thác, bảo quản các vùng biển, thềmlục địa và hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trên biểngiữa Việt Nam với các nước láng giềng tại một văn bản có giá trị hiệu lực cao

Đây được coi là bước tiến quan trọng trong việc nội luật hóa các quy địnhcủa Công ước vào pháp luật Việt Nam, tạo thuận lợi cho Nhà nước Việt Namquản lý thống nhất về biển và phát triển nền kinh tế biển của Việt Nam Đâycũng là một bằng chứng sống động thể hiện sự cam kết thực tế của Việt Nam đốivới việc tôn trọng và thực thi các quy định của Công ước Luật biển 1982

Sau 30 năm kể từ khi ra đời, không thể phủ nhận ý nghĩa to lớn và vai tròtích cực của Công ước Luật biển 1982 trong việc điều chỉnh hoạt động của cộngđồng quốc tế tại mọi vùng biển và đại dương

Nếu như ngay từ khi được thông qua, Công ước được cho là kết quả củaquá trình hợp tác và đấu tranh giữa các quốc gia có chế độ chính trị, trình độphát triển kinh tế và quan điểm pháp luật khác nhau, thì sau 30 năm tồn tại, đặcbiệt là kể từ khi chính thức có hiệu lực vào năm 1994, Công ước đã cho thấykhông chỉ là sự dung hòa lợi ích giữa các quốc gia mà còn là khuôn khổ pháp lýcho các quốc gia điều chỉnh hành vi ứng xử của mình trên biển và đại dương, vì

sự công bằng và tiến bộ của toàn nhân loại

5. Công ước LHQ về Luật Biển 1982 bản Hiến pháp về đại dương

Công ước LHQ về Luật Biển 1982 là một văn kiện quốc tế đa phương đồ

sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 phụ lục Công ước có hiệu lực từ ngày

Trang 7

16/11/1994 và đã trở thành một trong những điều ước quốc tế đa phương quantrọng nhất của thế kỷ 20 và là điều ước quốc tế phổ cập với 164 quốc gia thànhviên, tính đến thời điểm hiện nay Công ước đã trù định toàn bộ những vấn đềliên quan các vùng biển của các quốc gia ven biển cũng như những vấn đề liênquan việc sử dụng, khai thác vùng biển quốc tế và đáy đại dương.

Những vấn đề cơ bản được đưa vào nội dung Công ước bao gồm: Quy chếpháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phánquốc gia gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tếvà thềm lục địa; Chế độ pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy đại dương - di sảnchung của loài người; Việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao gồm tàinguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứukhoa học biển, an ninh trật tự trên biển; Vấn đề giải quyết tranh chấp và hợp tácquốc tế về biển; Quy chế hoạt động của Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đạidương, Ủy ban ranh giới ngoài thềm lục địa, Tòa án Luật Biển quốc tế, Hội nghịcác quốc gia thành viên Công ước, v.v

Công ước được đánh giá là bản Hiến pháp về đại dương Những quy địnhcủa Công ước là kết quả của quá trình hợp tác, đấu tranh, thỏa hiệp và xây dựngtrong nhiều năm giữa các quốc gia trên thế giới với các chế độ chính trị - xã hội,trình độ phát triển kinh tế, góc nhìn luật pháp khác nhau

Việt Nam là một trong số 107 quốc gia tham gia ký Công ước ngay trongngày văn bản này được mở và để ký Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước ta đã raNghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này Ðiểm 1 của Nghịquyết nêu rõ: "Bằng việc phê chuẩn Công ước LHQ về Luật Biển 1982, nướcCHXHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng mộttrật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển"

Trang 8

Việc Việt Nam trở thành thành viên của Công ước có ý nghĩa rất to lớn vìCông ước là cơ sở pháp lý quốc tế xác nhận các vùng biển, vùng đặc quyền kinh

tế và thềm lục địa của Việt Nam, cũng như các quyền và lợi ích chính đáng củanước ta trên biển Việc tham gia Công ước chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế

về phạm vi các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.Gia nhập Công ước, nước ta được quốc tế thừa nhận có vùng lãnh hải 12 hải lý,vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể

mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở

Công ước còn là cơ sở pháp lý quốc tế cho việc phân định vùng biểnchồng lấn giữa nước ta với các nước ven Biển Ðông, góp phần tạo môi trường

ổn định, hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực Vận dụng Công ước,trong những năm qua chúng ta đã tiến hành đàm phán, phân định vùng biển vàthềm lục địa chồng lấn giữa nước ta với các nước chung quanh Biển Ðông như:phân định ranh giới biển với Thái Lan (năm 1997); phân định ranh giới lãnh hải,vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc (năm2000); phân định ranh giới thềm lục địa với Indonesia (năm 2003)

18 năm sau khi phê chuẩn Công ước, ngày 21/6/2012, tại kỳ họp thứ 3,Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Biển Việt Nam Lần đầu tiên, Luật BiểnViệt Nam đã quy định đầy đủ chế độ pháp lý của các vùng biển, đảo thuộc chủquyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam theo đúng nộidung của Công ước Luật Biển Việt Nam là cơ sở quan trọng cho việc thống nhấtquản lý, sử dụng, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo của nước ta Qua việcthông qua Luật Biển Việt Nam, chúng ta đã làm cho thế giới thấy rõ Việt Nam làmột thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, luôn luôn tuân thủ vàtôn trọng luật pháp quốc tế, thể hiện quyết tâm của Nhà nước ta phấn đấu vì hòabình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới

Trang 9

Trong những năm gần đây, tình hình Biển Ðông diễn biến phức tạp Chủtrương của Ðảng và Nhà nước ta là tôn trọng và tuân thủ Công ước, vận dụngCông ước để giải quyết các tranh chấp trên Biển Ðông bằng các biện pháp hòabình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như tôntrọng lợi ích của các nước liên quan Trong khi tìm kiếm một giải pháp cơ bảnlâu dài cho vấn đề Biển Ðông, các bên liên quan cần kiềm chế không làm gì đểtình hình phức tạp thêm, phù hợp với các quy định của Công ước.

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóacác mối quan hệ; đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo bằng sức mạnh tổng hợp;kiên trì giải quyết tranh chấp Biển Ðông và các vấn đề nảy sinh trên biển bằngbiện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển

1982, Việt Nam đã và đang thể hiện là một thành viên có trách nhiệm của Côngước, tích cực vận dụng Công ước nhằm thiết lập một trật tự pháp lý công bằng,bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia

6. LHQ kêu gọi tuân thủ Công ước về luật biển

Ngày 10-12-2012, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Moon kêu gọimọi quốc gia cam kết với Công ước quốc tế của Liên Hiệp Quốc về luật biển(UNCLOS) vốn được xem là “hiến pháp của đại dương” này.Tổng thư ký LiênHợp Quốc nhấn mạnh, Công ước Luật Biển là "một trong những công cụ pháp lýquan trọng nhất của thế giới… góp phần vào hòa bình an ninh quốc tế, cũng nhưviệc sử dụng công bằng và hiệu quả các nguồn tài nguyên của đại dương, bảo vệvà bảo tồn môi trường biển và hiện thực hóa một trật tự kinh tế công bằng vàhợp lý”

Trên trang chủ của Liên Hiệp Quốc, ông Ban phát biểu nhân kỷ niệm 30năm ngày ra mắt UNCLOS: “Tôi vui mừng thấy các nước ủng hộ gia tăng vữngchắc cho công ước trong những năm qua Như một hiến pháp, đây là nền tảng

Trang 10

vững chắc, một tài liệu lâu dài mang lại trật tự, sự ổn định, tính đoán trước đượcvà an ninh, tất cả dựa trên nguyên tắc pháp quyền”.

UNCLOS quy định mọi khía cạnh liên quan tới biển và đại dương, baogồm cách phân định biên giới trên biển, quy định về môi trường, nghiên cứukhoa học, thương mại và giải quyết tranh chấp quốc tế trên biển Trong bài phátbiểu, ông Ban nói công ước sắp đạt được “mục tiêu phổ quát toàn cầu” mà đạihội đồng đặt ra, khi 163 nước và Liên minh châu Âu đã đặt bút ký công ước,được mở cho các nước ký từ năm 1982

“Hãy cùng nỗ lực đưa tất cả các quốc gia vào khuôn khổ tư pháp, sự bảo

vệ và hướng dẫn của hiệp ước tối quan trọng này”, ông Ban kêu gọi Có hiệu lực

từ năm 1994, UNCLOS phản ánh các hiệp ước quốc tế khác và công nhận quyềncủa các bên tham gia chấp nhận những nghĩa vụ theo công ước quy định

Phó chủ tịch Đại hội đồng Rodney Charles cũng nói UNCLOS trở thànhnhân tố rất quan trọng trong khuôn khổ luật pháp quốc tế “Thiếu vắng mộtkhung pháp lý toàn cầu dẫn tới đe dọa xảy ra xung đột trên biển cũng như việckhai thác hỗn loạn và không được quản lý các nguồn tài nguyên biển”, ôngCharles nói

Trên trang web về hàng hải Marine Link, chủ tịch Hiệp hội Vận tải biểnquốc tế, ông Masimichi Morooka cũng ca ngợi UNCLOS “có tầm quan trọngsống còn” vì vận tải biển quốc tế “chiếm 90% thương mại của thế giới” “Sự cânbằng tinh tế giữa quyền và trách nhiệm giữa các nước do UNCLOS thiết lập làtrung tâm tạo ra lòng tin trong ngành công nghiệp hàng hải Điều hết sức quantrọng là công ước Liên Hiệp Quốc này phải tiếp tục phát huy tác dụng”, ôngMorooka nói

Trang 11

Việc 107 quốc gia cùng ký vào Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biểntại Montego Bay, Jamaica 30 năm trước đây là một thành quả hết sức quan trọngcủa Hội nghị lần thứ 3 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển Sự ra đời của Côngước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước Luật Biển 1982) đã đápứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một chuẩn mực pháp lýquốc tế công bằng mang tính toàn cầu đối với tất cả các vấn đề về biển và đạidương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

Quá trình xây dựng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 đãdiễn ra nhiều năm với sự nỗ lực của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế,

kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ Đến nay, thành viên của Công ước Luậtbiển năm 1982 đã lên tới 164 quốc gia Công ước Luật biển 1982 không chỉ quyđịnh về quyền, nghĩa vụ của quốc gia ven biển mà còn đề cập đến quyền đượctiếp cận với biển của các quốc gia không có biển, do vậy Công ước Luật Biển

1982 được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận

7. Hội thảo nhân kỷ niệm 30 năm ky Công ước LHQ về Luật biển năm 1982

Công ước LHQ về Luật biển đã trở thành khung pháp lý quan trọng trongquá trình xác định và đàm phán về quyền tài phán lãnh hải trên thế giới Tuynhiên, một số nước không tham gia phê chuẩn Công ước quan trọng này là Hoa

Kỳ, Israel và Iran Vào thời điểm ký Công ước Luật biển tồn tại hơn 300 vùngbiên giới biển chưa xác định Sau 30 năm thực thi Công ước biển, khoảng 100vùng biên giới biển đã được xác lập thông qua các thỏa thuận đàm phán songphương hoặc phán quyết của tòa án quốc tế, qua đó giảm bớt nguy cơ xung đột.Hiện còn tồn tại hơn 200 vùng biên giới biển vẫn đang trong khu vực tranh chấp

do chưa xác định được chủ quyền vì nhiều lý do khác nhau Tại hội thảo, các đạibiểu quốc tế đến từ Brazil, Bỉ, Chile đã cùng các đại biểu của Viện hải dương

Trang 12

học Pháp, Viện biển của Pháp và Trung tâm nghiên cứu cấp cao hải dương học(CESM) của Pháp đánh giá những thành tựu đạt được sau 30 năm ký Công ướcLuật biển 1982.

Hội thảo đã khẳng định giá trị của Công ước biển 1982, những thành tựucủa Công ước biển 1982 trong quá trình bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinhhọc biển và những nỗ lực trong quá trình bảo vệ môi trường Các đại biểu cũngnêu lên cơ sở pháp lý, khoa học giải quyết các tranh chấp trên biển và những khókhăn trong kế hoạch xây dựng các tuyến hàng hải quốc tế tự do

8. Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm

Năm 1977, CHXHCN Việt Nam tham dự Hội nghị lần thứ 3 của LHQ vềLuật Biển Đoàn Việt Namkhi đó đã đóng góp vào cuộc đấu tranh của các nướcđang phát triển và các nước XHCN ngay trong Hội nghị Việt Nam là một trong

130 nước bỏ phiếu thông qua UNCLOS; sau đó Việt Nam lại là một trong 119nước đầu tiên ký kết Công ước vào tháng 12-1982, là nước thứ 64 phê chuẩnCông ước trước khi Công ước chính thức có hiệu lực Cũng trong quá trình Hộinghị lần thứ 3 của LHQ về Luật Biển, nắm bắt được xu thế tiến bộ chung, ngày12-5-1977, Chính phủ ta đã ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam Đây là một trong

số các tuyên bố sớm nhất theo tinh thần Công ước ở khu vực Đông Nam Á Tiếp

đó ngày 12-11-1982, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về đường cơ sở ven bờ lụcđịa Việt Nam Các tuyên bố này phản ánh nỗ lực của Việt Nam tuân thủ các quyđịnh của Công ước, xây dựng hệ thống luật pháp về biển, định hướng các hoạtđộng khai thác biển và đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên cơ sở các quy định củaCông ước

Từ khi trở thành thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982,Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế

Trang 13

theo Công ước Việt Nam đã được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Cơ quanQuyền lực quốc tế về đáy đại dương và thành viên của Hội đồng Cơ quan Quyềnlực Tại các diễn đàn liên quan, Nhà nước ta luôn khẳng định các quốc gia phảituân thủ đúng các quy định trong Công ước trong hoạt động sử dụng biển, thựchiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo công ước Là một quốc gia ven Biển Đông,Nhà nước ta triển khai nhiều hoạt động khai thác các vùng biển thuộc chủ quyềnvà quyền chủ quyền của mình để xây dựng và phát triển đất nước Trong khi tiếnhành các hoạt động ở Biển Đông, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của Côngước, tôn trọng quyền của các quốc gia khác ven biển Đông cũng như các quốcgia khác theo đúng các quy định của Công ước Đồng thời, Nhà nước ta đã kiênquyết đấu tranh để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán củaViệt Nam đối với các vùng biển của ViệtNam theo Công ước Luật Biển 1982.Trong thời gian tới, Việt Nam đang nỗ lực cùng các bên liên quan tìm kiếm giảipháp lâu dài, bền vững dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Côngước Luật Biển 1982 cho các tranh chấp trên Biển Đông.

Áp dụng các quy định của Công ước, Việt Nam đã tiến hành đàm phánphân tích các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn với các quốc gia láng giềngtrong khu vực Biển Đông, chủ trương giải quyết những vấn đề bất đồng thôngqua đàm phán và các biện pháp hòa bình Cụ thể, Việt Nam đã hoàn thành phânđịnh ranh giới thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế với Thái Lan (1997); hoànthành phân định lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộvới Trung Quốc (2000); hoàn thành phân định ranh giới thềm lục địa vớiIndonexia (2003) Đồng thời, tuân thủ thời hạn và các thủ tục theo quy định củaCông ước Luật Biển 1982, tháng 5-2009, Việt Nam và Malaysia đã cùng độ trìnhbáo cáo chung về ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý tại khu vực phíaNam Biển Đông lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Những thành tựu trên một

Trang 14

mặt chứng tỏ Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm của Công ước, mặtkhác chứng tỏ giá trị và ý nghĩa của Công ước trong việc tạo lập trật tự pháp lýtrên biển vì hòa bình ổn định và phát triển chung.

Một sự kiện quan trọng là ngày 21-6-2112, Quốc hội Việt Nam chính thứcthông qua Luật Biển và sẽ có hiệu lực từ ngày 1-1-2013 Luật Biển là biểu hiện

rõ nét nhất quyết tâm của Việt Nam thực hiện có trách nhiệm các cam kết quốc

tế nói chung và Công ước Luật Biển nói riêng Đây là một quá trình lập phápbình thường nhưng có ý nghĩa to lớn nhằm đưa Công ước Luật Biển vào thựctiễn Điều 2 khoản 2 Luật Biển quy định "Trường hợp quy định của Luật nàykhác với quy định của Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó” Việc đặtCông ước Luật Biển có giá trị pháp lý cao hơn so với pháp luật quốc gia thểhiện tôn trọng và tuân thủ nghiêm túc có trách nhiệm của Chính phủ Việt namđối với các vấn đề pháp lý trên biển Nội dung của Luật Biển Việt Nam về cơbản phù hợp với những quy định trong Công ước Luật Biển, khẳng định cácvùng biển, đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc giacủa Việt nam, nhấn mạnh chủ trương giải quyết các tranh chấp bất đồng liênquan đến biển đảo với các quốc gia láng giềng bằng biện pháp hòa bình trên cơ

sở tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, tuân thủ pháp luậtquốc tế và Công ước Luật Biển

Sau 30 năm kể từ ngày ra đời, Công ước Luật Biển đã đóng vai trò quantrọng trong việc tạo dựng một trật tự pháp lý mới công bằng và toàn diện, điềuchỉnh tất cả các khía cạnh của việc khai thác và quản lý biển giữa các quốcgia.Là một thành viên của Công ước Luật Biển, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tụcchủ động, tích cực, có tinh thần trách nhiệm trong việc vận dụng các quy địnhcủa Công ước một cách thiện chí, giải quyết các vấn đề còn tồn tại bằng các biện

Ngày đăng: 01/05/2019, 23:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w