1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Đề tài) nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện phụ lục IV công ước MARPOL 7378 về ngăn ngừa ô nhiễm do nước thải từ tàu biển

43 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 748,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu lý luận, công nghệ, các vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ môi trường và đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu ô nhiễm do nước thải từ tàu biển gây ra. Phân tích khó khăn thuận lợi trong việc thực thi công ước Marpol 7378 của Việt Nam, đưa ra đề xuất hoàn thiện hệ thống luật bảo vệ môi trường biển.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biển và đại dương chiếm 71% diện tích hành tinh chúng ta, với độsâu trung bình 3.710m và tổng khối nước 1,37 tỷ Km3 Tài nguyên biển vàđại dương rất quan trọng bao gồm: Nguồn lợi hóa chất và khoáng chấtchứa trong khối nước và đáy biển; nguồn lợi nhiên liệu hóa thạch, chủ yếu

là dầu mỏ và khí tự nhiên, nguồn năng lượng “sạch” khai thác từ “gió”,nhiệt độ nước biển, các dòng hải lưu và thủy triều Mặt biển và thềm lụcđịa là đường giao thông thủy, biển là nơi chứa đựng tiềm năng cho pháttriển du lịch, thăm quan, nghỉ ngơi, giải trí, nguồn lợi sinh vật biển

Biển và đại dương là kho chứa hóa chất vô tận Tổng lượng muốitan trong nước biển là 48 triệu Km3, trong đó có muối ăn, i-ốt và 60nguyên tố hóa học khác Các loại khoáng sản khai thác từ biển chủ yếu làdầu khí, quặng sắt, mangan, quặng sa khoáng và các loại muối Nănglượng sạch từ biển và đại dương hiện đang được khai thác phục vụ vận tảibiển, chạy máy phát điện và nhiều lợi ích khác của con người

Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàngloạt nhóm động vật, thực vật và vi sinh vật Có tới 200.000 loài động thựcvật Sản lượng sinh học của biển và đại dương như sau: Thực vật nổi 550

tỷ tấn, thực vật đáy 0,2 tỷ tấn, các loài động vật (cá, mực, tôm ) 0,2 tỷ tấn.Năng suất sơ cấp của biển khoảng 50-250 g/m2/năm Sản lượng khai thácthủy sản từ biển và đại dương toàn thế giới gia tăng, năm 1960 (22 triệutấn), năm 1970 (40 triệu tấn), năm 1980 (65 triệu tấn), năm 1990 (80 triệutấn) Theo đánh giá của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên HợpQuốc (FAO), lượng thủy sản đánh bắt tối đa từ biển là 100 triệu tấn

Trang 2

Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển:Các hoạt động trên đất liền, thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lụcđịa và đáy đại dương, thải các chất độc hại ra biển, vận chuyển hàng hóatrên biển và ô nhiễm không khí.

Các nguồn gây ô nhiễm trong hoạt động hàng hải, thủy sản, du lịch,dầu khí và các hoạt động thương mại khác liên quan đến việc sử dụng tàinguyên biển hiện nay rất đa dạng và phức tạp gồm ô nhiễm dầu, ô nhiễm

do chất lỏng độc chở xô trên tàu, ô nhiễm do các loại hàng hóa nguy hiểmvận chuyển trên tàu, ô nhiễm do rác thải từ tàu, ô nhiễm do nước thải, ônhiễm không khí, ô nhiễm do sử dụng sơn chống hà, các vật liệu độc hạikhác, Các nguồn gây ô nhiễm này thực sự đã trở thành nguy cơ vô cùng

to lớn đối với môi trường biển, gây ra những ảnh hưởng rất lớn đối với hệsinh thái biển, hủy hoại các nguồn tài nguyên biển, gây nguy hiểm cho sứckhỏe con người và góp phần không nhỏ vào biến đổi khí hậu toàn cầu

Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường biển và các nguy cơgây ô nhiễm biển đối với đời sống, kinh tế, chính trị- xã hội và an ninhquốc gia, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt chú trọng côngtác bảo vệ môi trường biển

Là sinh viên của trường Đại học Hàng hải Việt Nam, em tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn khi

thực hiện Phụ lục IV công ước MARPOL 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm do nước thải từ tàu” nhằm góp phần cùng với cộng đồng hàng hải thế giới nói

chung và Việt Nam nói riêng bảo vệ môi trường biển

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài “Nghiên cứu tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện

Phụ lục IV công ước MARPOL 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm do nước thải

Trang 3

từ tàu” nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu các thiệt hại

do nước thải từ tàu gây ra trên đường biển và đường sông nước ta và gópphần thực hiện mục tiêu làm trong sạch môi trường sông, biển Nó tácđộng tốt không những cho sức khỏe con người mà còn cho vận tải biển cóthời cơ phát huy tiềm năng và phát triển bền vững trong xu thế hội nhậpkhu vực và quốc tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về nguồn gây ô nhiễm do nước thải từtàu, ảnh hưởng của ô nhiễm do nước thải từ tàu biển và môi trường biển ởViệt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các quy định, quy tắc,các luật lệ và các tài liệu liên quan

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp thống kê,phương pháp phân tích

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu lý luận, công nghệ, các vấn đềliên quan đến công tác BVMT và đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm giảmthiểu ô nhiễm do nước thải từ tàu gây ra Tổng quan các ứng dụng lýthuyết và thực tiễn công tác BVMT biển trong đề tài sẽ là cơ sở khoa học

để xây dựng những giải pháp có hiệu quả trên những lĩnh vực quản lý, điềuhành, tạo dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, đào tạo, huấn luyện đội ngũ, hoànthiện cơ chế, chính sách trong công tác BVMT ở Việt Nam

Những nghiên cứu và đề xuất trong đề tài sẽ góp phần hoàn thiện hệthống tổ chức và quy trình công nghệ BVMT biển phù hợp và hiệu quả

Trang 4

góp phần đảm bảo cho một nền kinh tế phát triển bền vững và hội nhập vớicộng đồng thế giới.

Trang 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN 1.1 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN

1.1.1 Khái niệm môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển

1.1.1.1 Khái niệm môi trường biển

Môi trường là một khái niệm khá phức tạp, có phạm vi rộng Theocách hiểu thông thường môi trường có thể được định nghĩa như sau: “Môitrường là tập hợp các vật thể, hoàn cảnh và ảnh hưởng bao quanh một đốitượng nào đó” Trong Anh ngữ là “ Environment” Khái niệm như vậy vềmôi trường được cụ thể hóa đối với từng đối tượng và mục đích nghiêncứu Trong điều 3 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 định nghĩa:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

“Môi trường biển” là một thuật ngữ chưa có bề dày lịch sử vàcũng ít được định nghĩa một cách đầy đủ, toàn diện Suốt một thời kỳ dàiloài người chỉ đề cập đến thuật ngữ “biển” hoặc “biển cả” mà không đềcập đến thuật ngữ “môi trường biển” Điều này được lí giải bởi từ xaxưa, con người chỉ biết đến vai trò to lớn của biển, tiếp nhận biển cảnhư một món quà ban tặng của thiên nhiên mà không cần phải thực hiệnmột nghĩa vụ nào, cũng như coi các nguồn tài nguyên sinh vật biển là

vô hạn, biển cả là rộng lớn vô cùng, có thể hấp thụ và chuyển hóa mọiloại chất thải mà con người đưa đến, nên thuật ngữ “môi trường biển” vớivấn đề bảo vệ môi trường biển chưa được đặt ra

Từ những năm 1960, với sự quan tâm của cộng đồng thế giới đếnbảo vệ môi trường, thuật ngữ môi trường biển cũng đã dần xuất hiện

Trang 6

Thời kỳ này, thuật ngữ môi trường biển chưa được sử dụng một cáchđộc lập mà mới chỉ được đề cập cùng với những vấn đề liên quan đếnbảo tồn tài nguyên biển và xử lý ô nhiễm biển Phải đến Công ước LuậtBiển UNCLOS 1982, bản công ước được cộng đồng quốc tế coi là Tuyênngôn về Biển, “môi trường biển” mới được đề cập một cách chính thức,nhưng cũng chỉ tồn tại dưới dạng liệt kê một số yếu tố tự nhiên của môitrường biển mà chưa xây dựng được một khái niệm hoàn chỉnh Cụ thể

là Điều 1, khoản 4 Công ước Luật Biển 1982 có quy định “môi trường

biển bao gồm các cửa sông, hệ động vật biển và hệ thực vật biển, chất lượng nước biển và giá trị mĩ cảm của biển” Rõ ràng định nghĩa trên

chưa đạt được mức khái quát về môi trường biển và vẫn còn ít nhiềuphiến diện, vì môi trường biển không chỉ bao gồm những yếu tố nêu trên

mà còn gồm các thành tố khác tạo nên môi trường biển như lòng đất dướiđáy biển, không khí, nước biển, các tài nguyên phi sinh vật biển Cùng vớinhu cầu bảo vệ biển ngày càng tăng và sự quan tâm nhiều hơn của conngười đến môi trường biển, tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệmôi trường họp tại Rio De Janeiro năm 1992, là chương trình hành động

vì sự phát triển bền vững (Agenda 21) Tại Chương 17 của Agenda 21

định nghĩa “Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các biển

và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của

hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho

sự phát triển bền vững” Đây được coi là định nghĩa chính thức về môi

trường biển Thành công của định nghĩa này là chỉ ra được giá trị cơ bảncủa môi trường biển, đó là “duy trì cuộc sống toàn cầu” và là “tài sảnhữu ích” Định nghĩa đã nhấn mạnh đến mục tiêu phát triển bền vững,một hướng đi phù hợp với quan điểm bảo vệ môi trường toàn cầu hiện đại.Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn chưa mô tả hết được những yếu tố cấu

Trang 7

thành của môi trường biển Điều đó được minh chứng qua những luậnđiểm sau đây:

Thứ nhất, môi trường biển được giới hạn bởi chiều ngang và chiều sâu Định nghĩa về môi trường biển tại Chương 17 Agenda 21 mới

chỉ ra được giới hạn theo chiều ngang của môi trường biển, bao gồm cácđại dương, các biển và các vùng ven biển Môi trường biển còn đượcgiới hạn bởi chiều sâu của nó, bao gồm cả vùng đất dưới đáy biển Xemxét dưới góc độ khoa học, môi trường biển bao gồm cả một vùng nướcmặn rộng lớn, nằm ở độ sâu trung bình khoảng 4000 mét tính từ mặtbiển trở xuống Nghĩa lẫn chiều là cần phải xem xét cả chiều ngang sâu củamôi trường biển và những yếu tố cấu thành trong nó

Thứ hai, môi trường biển được tạo nên bởi các thành phần môi trường Môi trường biển được hợp thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như

lòng đất dưới đáy biển, nước biển, không khí, hệ động vật biển, hệ thựcvật biển, tạo nên các đại dương, các biển… Biển là thành phần chính củamôi trường biển, đồng thời cũng là một trong các thành phần của môitrường nói chung Biển, đại dương và các thành phần khác của môitrường biển không nên xem là những thực thể độc lập mà cần phải đặtchúng trong mối quan hệ với nhau và quan hệ với những thành phần môitrường khác, như chúng tương tác với bầu khí quyển phía trên mặt nước,dưới đáy biển và với lục địa , mà những thành phần môi trường đó lạichính là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường biển nghiêmtrọng Các thành phần của môi trường biển cũng có mối tương tác quantrọng đối với các hoạt động của con người, đặc biệt là các hoạt động củacon người trên biển Những phân tích này cho thấy môi trường biển đượctạo thành bởi các thành phần môi trường và có mối liên hệ mật thiết qua lạilẫn nhau mà không thể tách rời chúng

Trang 8

Thứ ba, môi trường biển có chứa nhiều loại tài nguyên Tài

nguyên thuộc môi trường biển được gọi là tài nguyên biển, được hìnhthành và phân bố trong khối nước biển và đại dương, trên bề mặt đáy

biển và trong lòng đất dưới đáy biển Tài nguyên biển bao gồm tài

nguyên sinh vật biển, gồm các dạng sống của thế giới hữu sinh như tôm

cá , và tài nguyên phi sinh vật biển, gồm các dạng vật chất của thế giới

vô sinh như quặng kim loại, đất đá Tài nguyên biển cũng có thể đượcchia ra thành tài nguyên biển có thể tái tạo và tài nguyên biển không thểtái tạo, trong đó tài nguyên biển có thể tái tạo là loại tài nguyên có thểđược phục hồi, còn tài nguyên biển không thể tái tạo là các dạng tàinguyên vô sinh, không thể phục hồi thành phần và khối lượng ban đầu saukhi bị khai thác

Thứ tư, môi trường biển có nhiều giá trị kinh tế, khoa học và môi sinh Môi trường biển mang lại sự sống cho toàn bộ hệ sinh thái dưới

nước, cho tài nguyên sinh vật biển Trên thế giới, con người đã khai tháctổng giá trị kinh tế từ các nguồn tài nguyên biển ước tính khoảng 7000 tỷUSD mỗi năm Các nhà khoa học dự đoán rằng vào các thế kỉ tới, biển

và đại dương sẽ là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về thực phẩm,năng lượng và nhiên liệu Đồng thời, biển cũng là nơi diễn ra các hoạtđộng thương mại du lịch, giao thông vận tải thuỷ, nơi có thể khai thác giátrị kinh tế to lớn Khoảng 60% dân số thế giới hiện đang sống tại cácvùng ven biển, và tỉ lệ này có thể tăng lên khoảng 75% vào năm 2020

Tóm lại, môi trường biển nên được định nghĩa “là một thể thống

nhất, bao gồm các biển, đại dương, các vùng ven biển, cửa sông, được giới hạn bởi toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả những gì chứa trong đó như các loại tài nguyên sinh vật biển và tài nguyên phi sinh vật biển, được tạo nên bởi các thành phần môi trường và sự tương

Trang 9

tác giữa chúng, có giá trị về kinh tế, về khoa học và về môi sinh”.

1.1.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường biển

Từ góc độ khoa học, vào năm 1981, Nhóm chuyên gia về các khíacạnh khoa học của ô nhiễm biển (GESAMP) đưa ra định nghĩa về ô

nhiễm môi trường biển Theo đó, “ô nhiễm môi trường biển (Marine

Pollution) là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, (bao gồm cả các cửa sông), gây

ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện

sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển” Đây được xem

là định nghĩa đầu tiên trên thế giới về ô nhiễm môi trường biển Nó đã trảlời được khá đầy đủ các câu hỏi về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

và tác hại do ô nhiễm môi trường biển gây nên

Từ góc độ pháp luật quốc tế, thuật ngữ ô nhiễm môi trường biểnđược đề cập chính thức tại Công ước Luật Biển 1982, mặc dù trước đó đã

có nhiều văn bản pháp lí về biển như Công ước Giơnevơ về biển cả 1958,Công ước về đánh cá và bảo tồn các tài nguyên sinh vật của biển cả

1966 Theo khoản 4 Điều 1 Công ước Luật biển 1982, “Ô nhiễm môi

trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc

đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút

Trang 10

các giá trị mĩ cảm của biển”.

Tiếp theo hai định nghĩa nêu trên, thuật ngữ ô nhiễm môi trường

biển còn được giải nghĩa trong Tuyên bố Putrajaya về hợp tác khu vực cho

sự phát triển bền vững các biển Đông Á 2003 (PEMSEA) “ô nhiễm môi

trường biển là việc con người trực tiếp hay gián tiếp đưa các chất hoặc năng lượng vào môi trường biển, kể cả các cửa sông, dẫn đến những ảnh hưởng có hại cho các tài nguyên hữu sinh, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, cản trở các hoạt động trên biển kể cả khai thác thủy sản, suy giảm chất lượng và lợi ích của nước biển”.

Mặc dù được cho là có bước phát triển lớn về mặt học thuật, songcác định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển trong cả ba tài liệu nêu trênhiện vẫn đang nhận được nhiều tranh luận Cụ thể là:

Thứ nhất, các định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển nêu trên

mới chỉ ra được nguyên nhân duy nhất gây ô nhiễm môi trường biển là

do con người mà chưa chỉ ra các nguyên nhân khác Trên thực tế nguyênnhân gây ô nhiễm biển còn có thể do chính động vật, thực vật biển gâynên, cũng như do sự vận động, sự biến đổi bất thường của tự nhiên Bêncạnh các nguồn ô nhiễm nhân sinh, biển còn có thể bị ô nhiễm từ các sự

cố, tai họa thiên nhiên như núi lửa phun, rò rỉ khoáng chất, bão lụt Ýnghĩa khoa học của tranh luận này thể hiện ở tính bao quát, toàn diện khixem xét các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển, từ đó có cơ sở xácđịnh chính xác các loại trách nhiệm pháp lí có liên quan đến hành vi làm ônhiễm môi trường biển

Thứ hai, mặc dù các định nghĩa đã liệt kê được khá đầy đủ những

hậu quả từ ô nhiễm môi trường biển, song chúng chưa được sắp xếp một

cách thực sự khoa học Hậu quả "biến đổi chất lượng nước biển" lại được

Trang 11

đặt sau các hậu quả về tài nguyên sinh vật biển, về lợi ích kinh tế của conngười, trong khi sự thay đổi chất lượng nước biển, sự suy giảm chứcnăng, tính hữu ích của môi trường biển mới là thiệt hại trực tiếp, từ đódẫn đến các thiệt hại khác, do vậy, chúng cần phải được xác định trướccác thiệt hại khác

Thứ ba, các định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển nêu trên mới

chỉ ra được khu vực tiến hành các hoạt động gây ô nhiễm là ở biển và cửasông Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều khu vực mà ở đó tiến hành cáchoạt động của con người có thể gây ô nhiễm môi trường biển, như hoạtđộng từ đất liền, trên không trung hay dưới đáy biển

Như vậy, từ những phân tích trên có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ

hơn về ô nhiễm môi trường biển như sau: Ô nhiễm môi trường biển là

sự biến đổi thành phần môi trường biển, có nguyên nhân từ những biến đổi bất thường của tự nhiên hoặc và từ việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm từ các cửa sông, đất liền, trên không trung, đáy biển, từ đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như suy giảm chức năng và tính hữu ích của môi trường biển, gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển.

1.2 Khái niệm về tàu biển và ô nhiễm môi trường biển do nước thải từ tàu biển trong hoạt động hàng hải

1.2.1 Khái niệm về tàu biển

Trang 12

Theo định nghĩa tại Điều 11 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005

thì tàu biển được định nghĩa như sau: “Tàu biển là tàu hoặc cấu trúc nổi di

động khác chuyên dùng hoạt động trên biển Tàu biển quy định trong Bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ và tàu cá”.

Từ định nghĩa ta có thể khái quát tàu biển trong luật hàng hải baogồm những loại tàu sau:

- Tàu hàng rời là tàu được thiết kế theo mục đích chuyên chở làhàng rời ở thể rắn

- Tàu kết hợp bao gồm các loại tàu chuyên chở các loại hàng khô vàhàng dầu rời, các tàu chuyên chở hàng dầu rời và hàng quặng hoặc chở kếthợp cả hai loại hàng trên

- Tàu container là loại tàu được thiết kế với mục đích chuyên chởcontainer

- Tàu chở khí (GAS) là loại tàu chuyên chở khí nén hoặc khí hóalỏng

- Tàu chở hàng bách hóa hoặc tàu Ro- ro chuyên chở các loại hàngkhô tổng hợp

- Tàu chở quặng là loại tàu được thiết kế để chuyên chở các loạiquặng ở các khoang hàng trung tâm

- Tàu khách là loại tàu được thiết kế để chuyên chở hành khách, ô tô

Trang 13

- Tàu chở gỗ là loại tàu được thiết kế để chuyên chở gỗ cây, gỗdăm

- Thiết bị chuyên dùng hoạt động trên biển hiện nay có rất nhiều loạikhác nhau như tàu lai dắt, tàu cứu hộ, tàu chuyên trục vớt tài sản chìmđắm, tàu thăm dò-khai thác-chế biến tài nguyên biển

1.2.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường biển do nước thải

Từ trước đến nay, có nhiều định nghĩa về ô nhiễm môi trường, ô nhiễmmôi trường biển do tính phổ biến của thuật ngữ Nhưng thuật ngữ ô nhiễmmôi trường biển do nước thải từ tàu thì chưa được đề cập ở bất kì côngtrình khoa học nào Xuất phát từ thực trạng ô nhiễm môi trường biển, xuấtphát từ nước thải của tàu trong hoạt động hàng hải, ô nhiễm môi trườngbiển do nước thải từ tàu có các đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, ô nhiễm môi trường biển do nước thải từ tàu là một

loại ô nhiễm môi trường xét dưới nhiều góc độ Dưới góc độ khoa học, ônhiễm môi trường được dùng để chỉ tình trạng môi trường trong đónhững chỉ số hoá học, lí học của nó bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi.Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợicho môi trường sống về các tính chất vật lí, hoá học, sinh học, mà qua đó

có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khoẻ của con người, cácloài động thực vật và các điều kiện sống khác Còn dưới góc độ pháp lí,theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005, ô nhiễm môi trường là

sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêuchuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật Vì vậy cóthể hiểu ô nhiễm môi trường biển là sự biển đổi tính chất vật lí, hoá họccủa các thành phần môi trường liên quan đến biển như nước biển, lòng

Trang 14

đất dưới đáy biển Sự biến đổi này là không phù hợp với tiêu chuẩn, quichuẩn kỹ thuật môi trường do từng quốc gia hoặc cộng đồng quốc tế xâydựng nên.

Thứ hai, ô nhiễm môi trường biển do nước thải từ tàu được dùng để

chỉ tình trạng ô nhiễm môi trường biển xảy ra mà nguyên nhân là do cácloại nước thải từ tàu gây nên Thuật ngữ ô nhiễm môi trường biển do nướcthải từ tàu biển được sử dụng để chỉ chính xác tình trạng môi trường bị ônhiễm và suy thoái do các hoạt động thải nước từ tàu và liên quan đến nướcthải từ tàu gây ra, trong đó chủ yếu là hoạt động giao thông trên biển nhằmcác mục đích khác nhau, từ kinh tế, văn hóa, xã hội đến an ninh quốc phònghay an toàn trên biển

Thứ ba, ô nhiễm môi trường biển do nước thải từ tàu để lại

những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường biển, cho các nguồn tàinguyên biển, cho sinh vật, ảnh hưởng đến các hoạt động và sức khoẻ củacon người Hoạt động của tàu biển được tiến hành dù nhằm vào mục đích

gì thì cũng có khả năng tiêu tốn tài nguyên và thải vào môi trường biểncác loại nước thải Hoạt động tàu thuyền trên biển và ở các cảng, gây ra ônhiễm biển, để lại những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường, cho sinhvật và con người, trong chừng mực nhất định luôn gây tác động xấu đếnmôi trường biển

Từ các đặc điểm phân tích nêu trên, có thể hiểu một cách khái quát

ô nhiễm môi trường biển do nước thải từ tàu trong hoạt động hàng hải

như sau: ô nhiễm môi trường biển do nước thải từ tàu trong hoạt động

hàng hải là sự nhiễm bẩn môi trường biển do những hoạt động xả thải nước từ tàu biển, phương tiện để chuyên chở hành khách, hành lý hoặc các loại hàng hoá trên biển nhằm phục vụ các mục đích khác nhau, gây

Trang 15

ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người (nước thải là nước và các phế thải khác từ nhà vệ sinh, nhà tắm , nước thải từ buồng bệnh viện, nước thải từ khoang chứa động vật sống trên tàu).

Trang 16

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN

2.1 THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Trên thế giới, những quốc gia có biển đều chú trọng tới việc pháttriển các ngành kinh tế biển cũng như xây dựng hệ thống pháp luậtnhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển để cho các ngành kinh tế nàymang lại lợi ích kinh tế nhiều nhất cho đất nước Nhìn tổng thể, Việt Nam

có thể tham khảo kinh nghiệm xây dựng pháp luật xử lý ô nhiễm môitrường biển của một số quốc gia tiêu biểu sau đây

2.1.1 Thực trạng về vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường biển ở CANADA

Canada là quốc gia không nằm gần kề với Việt Nam về vị trí địa lí,nhưng có ba lí do mà Việt Nam cần tham khảo hệ thống pháp luật của

Canada: một là, đường bờ biển của Canada dài nhất thế giới với 265.532km; hai là, Canada được bao bọc bởi ba đại dương lớn là Đại Tây

Dương, Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương, gần giống với vị trí địa lícủa Việt Nam là có toàn bộ phần Đông Bắc, Đông, Nam và Đông Nam

giáp biển; ba là, có hai lĩnh vực mà Canada chú trọng chủ yếu trong khai

thác, sử dụng và phát triển kinh tế biển là hoạt động hàng hải và khaithác thủy sản Vì vậy, về quản lí biển, Canada là một trong những nước

đi đầu trong việc phát triển một chính sách biển tổng thể ở tầm quốc gia,

áp dụng cách thức quản lí tổng hợp, một cách thức quản lí hiện đại vàthích hợp với môi trường biển

Xét dưới góc độ ban hành pháp luật, Canada bắt đầu xây dựngLuật Biển khi mà Canada đang phải đối đầu với nhiều khó khăn, thửthách trong quản lí biển và các hoạt động trên biển Trước tiên Canada đã

Trang 17

ban hành Luật Biển vào ngày 18/12/1996 Với việc ban hành đạo luật

này, “Canada đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới có hệ thống

pháp luật toàn diện về quản lí biển” theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Thủy

sản và đại dương Canada Về cơ bản, luật Biển Canada là một đạo luậttoàn diện, qui định một khung pháp lí tương đối hoàn chỉnh cho việc xây

dựng và quản lí biển hiện đại, bao gồm: Thứ nhất, xác định một cách cơ

bản các vùng biển của Canada theo nguyên tác cơ bản của UNCLOS

1982, làm cơ sở pháp lí cho việc quản lí biển và kiểm soát ô nhiễm môi

trường biển trong hoạt động hàng hải; Thứ hai, hình thành nên một cơ

chế quản lí biển tổng hợp dựa trên sự hợp tác của các ngành, các chủ thểliên quan kể cả cộng đồng người dân ven biển và người bản địa, với một

cơ quan đầu mối là Bộ Thủy sản và Đại dương Thứ ba, đưa ra cơ sở

pháp lí mới để định hướng cho việc xây dựng chiến lược biển quốc gia

Năm 1999, Canada đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường

(CEPA) Tiếp đó, Chiến lược Biển Quốc gia Canada đã được ban hành vào

năm 2002 Chiến lược này đã đưa ra mục tiêu hỗ trợ các chương trình vàchính sách có liên quan nhằm nghiên cứu và bảo vệ môi trường biển, hỗtrợ các cơ hội phát triển kinh tế biển bền vững và tham gia vào các hoạtđộng biển quốc tế Đồng thời, Canada cũng ban hành nhiều văn bản cóliên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hànghải là: Các qui tắc và Luật Chống ô nhiễm nguồn nước; Luật Hàng hảiCanada 2001; Luật trách nhiệm hàng hải 2001 và các qui tắc hay Luật vậntải Canada 2001 Trong những văn bản pháp luật này, các vấn đề cóliên quan đến xử lý ô nhiễm môi trường biển do rác thải từ tàu được giảiquyết như vấn đề xử lý việc nhấn chìm ở biển, danh sách các chất an toànđược phép nhận chìm (theo Luật Bảo vệ môi trường 1999) Các vấn đềliến quan đến an toàn hàng hải; giải quyết các sự cố, tai nạn hàng hải và

Trang 18

các thiệt hại; việc ngăn chặn sự ô nhiễm và nghĩa vụ của Bộ Thủy sản vàđại dương… được qui định trong Luật Vận tải 2001 Ở Canada, tất cả cácvấn đề liên quan đến ô nhiễm dầu do tàu thuyền và đền bù thiệt hại dotràn dầu lại được giải quyết trong Luật về Trách nhiệm Hàng hải 2001.

Như vậy, về pháp luật, Canada ban hành hai văn bản pháp luậtquan trọng là Luật Bảo vệ Môi trường 1999 và Luật Biển 1996, đồng thời

có nhiều các văn bản pháp luật khác hỗ trợ cho việc xử lý ô nhiễm môitrường biển do nước thải từ tàu Đặc biệt, Canada rất thành công trong

việc ban hành pháp luật về việc quản lí tổng hợp nhằm xử lý ô nhiễm

môi trường biển bao gồm quản lí bên ngoài, bên trong, chiều ngang,chiều dọc, cơ chế khuyến khích, cơ chế bảo vệ, quản lí tổng hợp ven bờ,giám sát và thi hành, và hợp tác quốc tế

2.1.2 Thực trạng về vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường biển ở Na Uy

Cách tiếp cận về xử lý ô nhiễm biển của Na Uy theo một cáchkhác so với Canada Na Uy đã áp dụng đồng thời nhiều biện pháp nhằm

xử lý ô nhiễm môi trường biển do rác thải từ tàu trong hoạt động hàng hảimột cách hết sức có hiệu quả

Na Uy bảo vệ môi trường biển và xử lý ô nhiễm môi trường biểntrong hoạt động hàng hải trước tiên và xuyên suốt là kiểm soát ô nhiễm vàsuy thoái môi trường biển cũng như tài nguyên biển Na Uy đã ban hànhmột Chính sách biển quốc gia thực sự tổng hợp và dài hạn Chính sáchnày được ban hành vào năm 2002 nhằm mục đích cung cấp các điều kiệncần thiết cho phép Na Uy duy trì sự cân bằng giữa các lợi ích thươngmại của các ngành hàng hải với các ngành khác như dầu khí, nuôi trồng

và khai thác thủy sản theo định hướng phát triển bền vững Chính vì tiếpcận theo hướng phòng ngừa và khắc phục ô nhiễm và suy thoái môi trường

Trang 19

biển trong các hoạt động khác nhau nên Na Uy đã tập trung xây dựng các

kế hoạch phòng tránh ô nhiễm, kiểm soát giao thông trên biển, xây dựngchiến lược thu dọn các ô nhiễm biển, ngăn chặn sự lan rộng khi ô nhiễmxảy ra, phân loại các khu vực bị ô nhiễm.Đặc biệt quốc gia này tiếnhành kiểm soát chặt chẽ hoạt động hàng hải Việc kiểm soát được tiến

hành thông qua cơ quan đầu mối là Cơ quan Quản lí bờ biển quốc gia,

phối hợp có Cục Kiểm soát và ứng cứu khẩn cấp, các trung tâm kiểmsoát giao thông ven biển cùng với một số cơ quan nhà nước khác như BộQuốc phòng hay bộ phận Dịch vụ dân sự Việc kiểm soát này vừa nhằmmang lại những hiệu quả về mặt kinh tế, vừa góp phần xử lý ô nhiễm môitrường biển

Na Uy đã thực hiện các chiến lược và chính sách xử lý ô nhiễm

biển trong hoạt động hàng hải thông qua Luật Ô nhiễm Luật Ô nhiễm và

nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” là cơ sở chung để xử lý vàgiải quyết các hành vi gây ô nhiễm biển, trong đó có gây ô nhiễm từ

hoạt động hàng hải Đồng thời, các biện pháp tài chính tích cực cũng sẽ

được áp dụng đối với các khu vực bị ô nhiễm rộng thường có nhiều hơnmột tác nhân gây ô nhiễm Khi đó, các bên sẽ phải đóng góp tài chínhcho việc phục hồi môi trường biển bằng cách thức là các bên tự nguyệnhợp tác và chia sẻ với nhau hoặc thông qua cơ quan có thẩm quyền kiểmsoát ô nhiễm biển

2.1.3 Thực trạng về vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường biển ở Hoa Kỳ

Hoa Kì là một quốc gia có mối liên hệ thực sự và gắn kết vô cùngchặt chẽ với biển Biển và cả vùng Great Lakes của Hoa Kì mang lại giátrị to lớn cho nền kinh tế Hàng năm, các cảng của quốc gia xử lí hơn

700 tỉ USD trong thương mại, trong khi ngành kinh tế du lịch và vận

Trang 20

chuyển hành khách cho tổng số 12 tỉ USD trong chi tiêu.

Hơn 13 triệu việc làm liên quan đến thương mại hàng hải Các hoạtđộng dầu khí ngoài khơi cũng đóng góp cho Hoa Kì khoảng 5 tỉ USD tínhriêng tiền thuê mỏ Hoạt động hàng hải chuyên chở hơn 95% hàng hóaquốc gia ra nước ngoài nhưng hoạt động của tàu thuyền tiềm ẩn nhữngnguy cơ rủi ro về an ninh, an toàn, và đặc biệt là nguy cơ ô nhiễm môitrường biển Vì vậy biển và hoạt động hàng hải được quan tâm từ rất sớm

ở đây Chính sách biển của Hoa Kì đã được thực hiện từ năm 1969

Bảo vệ môi trường biển nói chung và kiểm soát ô nhiễm môitrường biển trong hoạt động hàng hải nói riêng ở Mĩ được thực hiện bởinhiều cơ quan khác nhau với các chức năng khác nhau như Bộ Nănglượng Hoa Kì; Tổng cục biển và Khí quyển quốc gia (NOAA); Ủy banchính sách biển quốc gia; Hội đồng Tư vấn của Tổng thống về chínhsách biển (gồm đại diện các bang, các vùng lãnh thổ, bộ tộc, các cấpchính quyền địa phương, đại diện lợi ích các nhà nghiên cứu và cộngđồng, các tổ chức tư nhân…) Ngoài ra, Hoa kì còn có một hệ thống các

cơ quan hỗ trợ cho vuệc giám sát thực hiện pháp luật như Cơ quan quản líkhẩn cấp liên bang (FEMA); Quân đoàn Công binh Lục quân Hoa Kì(USACE) Còn giám sát việc kiểm soát ô nhiễm môi trường biển thì có

Hệ thống giám sát biển tổng hợp quốc gia (IOOS), nhằm nâng cao ý thứcbảo vệ môi trường biển thì có Văn phòng giáo dục biển quốc gia (OceanED)…

Dưới góc độ pháp luật, ngoài Luật biển, Hoa Kì đang sử dụngnhiều đạo luật cấp liên bang có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môitrường biển trong hoạt động hàng hải như: Luật về quản lí vùng ven biển;Luật nước sạch (đưa ra các hình phạt về tài chính) và các luật liên bang;

Trang 21

Luật quản lí và bảo tồn nghề cá; Luật về các loài sinh vật biển nguy cấp;Luật quản lí và bảo vệ rạn san hô; Luật hợp tác về hải dương học quốcgia Trên cơ sở xuyên suốt, Hoa Kì đã thống nhất quan điểm các luật liênquan đến bảo vệ môi trường biển và tài nguyên biển nói chung và xử lý ônhiễm môi trường biển do nước thải từ tàu nói riêng, đó là các văn bản luật

về việc sử dụng nguồn tài nguyên biển phải rõ ràng, cần có sự phối hợpgiữa các cơ quan chính quyền và dẽ tiếp cận đối với cư dân cả nước đểtạo điều kiền thuận lợi cho sự tuân thủ pháp luật Các nội dung triển khaichính sách biển và các “ẩn ý” bên trong đó cũng phải rõ ràng và sẵn sàngcho tất cả các bên có lợi ích liên quan

Việc tổ chức hệ thống quản lý môi trường biển biển, đặc biệt là triểnkhai thực hiện Phụ lục IV Công ước MARPOL 73/78 của Hoa Kỳ có sựphối hợp của nhiều bộ phận có liên quan và lệ thuộc với nhau như EPA(Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ), Coast Guard ( Cơ quan bảo vệ bờ biển),DOS (Cơ quan ngoại giao Mỹ), MARAD (Cục hàng hải Mỹ), MSS (Cơquan quản lý khai thác khoáng sản, Bộ nội vụ), lực lượng Hải quân Mỹ,NOAA (Tổng cục biển và khí quyển quốc gia Mỹ), NPS (Công ty dịch vụcông viên), USDA ( Bộ nông nghiệp Mỹ)

2.1.4 Thực trạng về vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường biển ở Trung Quốc

Là một quốc gia Châu Á và có các điều kiện tương đối giống ViệtNam về vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xãhội và văn hóa, Trung quốc cũng là một quốc gia đang phát triển vớiđường bờ biển dài Biển luôn là một phần nội dung quan trọng trong chiếnlược phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc Hoạt động hàng hải cùngvới các ngành kinh tế biển khác đã và đang góp phần vào sự phát triểncủa nền kinh tế quốc dân Trung quốc Nhằm xử lý ô nhiễm biển trong

Ngày đăng: 01/05/2019, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w