MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngành giáo dục luôn được quan tâm hàng đầu trong đó không thể không kể đến chất lượng giáo dục của bậc mầm non. Trong hệ thống các bậc học, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, xu thế hội nhập quốc tế, trình độ dân trí ngày càng cao luôn đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống đào tạo GV nói chung và GV MN nói riêng. Đặc biệt, hệ thống kiểm tra, đánh giá chưa thực sự hiệu quả, chuẩn mực về kiến thức, kỹ năng chưa được xác định rõ ràng, nhất là trong giáo dục mầm non. Điều này tạo nên những lý do để các bậc phụ huynh, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý và các nhà giáo lo lắng, không yên tâm về chất lượng giáo dục mầm non. Nhiều người cho rằng yếu tố quyết định chất lượng giáo dục mầm non chính là chất lượng các chương trình. Nhưng ai sẽ là người đánh giá chất lượng chương trình đó, tiêu chí nào để đánh giá công tác này? Đó chính là công tác kiểm định chất lượng. Trước những đòi hỏi của xã hội về một nền giáo dục có chất lượng, một vài năm trở lại đây, trong lí luận và thực tiễn giáo dục Việt Nam đã xuất hiện một khái niệm khá mới mẻ: kiểm định chất lượng giáo dục. Đây là một giải pháp quản lý chất lượng nhằm mục đích đánh giá hiện trạng, xác định chính xác điểm mạnh, điểm yếu của các cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn đề ra, từ đó xây dựng kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để đảm bảo chất lượng và không ngừng phát triển. Công tác kiểm định chất lượng không chỉ giúp các trường mầm non xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn để xây dựng kế hoạch cải tiến, nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ mà còn là cơ sở để các cơ quan quản lý nắm rõ hơn về thực trạng chất lượng giáo dục tại các trường mầm non hiện nay. Để có căn cứ kiểm định chất lượng giáo dục mầm non, Bộ GD&ĐT đã ban hành thông tư số 07/2011/TT-BGD&ĐT ngày 17 tháng 02 năm 2011 Quy định về tiêu chuẩn chất lượng giáo dục trường mầm non. Cùng với đó, Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành thông tư số 45/2011/TT-BGD&ĐT ngày 11 tháng 10 năm 2011 về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non; văn bản số 7886/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 23 tháng 11 năm 2011 về việc hướng dẫn tự đánh giá trường mầm non; văn bản số 1007/KTKĐCLGD-KĐPT về việc xác định nội hàm, tìm minh chứng theo các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non; văn bản số 8299/BGD&ĐT-KTKĐCLGD ngày 04 tháng 12 năm 2012 về việc hướng dẫn công tác tự đánh giá trường mầm non theo quy trình rút gọn. Thông qua hoạt động TĐG trong KĐCLGD, các trường có thể chủ động hơn trong việc phát hiện những điểm mạnh cũng như những hạn chế của mình để xây dựng kế hoạch, giải pháp hoạt động phù hợp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dạy trẻ. Nhằm nâng cao công tác kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Sông Công, Phòng Giáo dục và Đào tạo (Phòng GD&ĐT) thị xã Sông Công đã triển khai các thông tư, văn bản kiểm định chất lượng giáo dục đến toàn bộ các đơn vị trực thuộc trên địa bàn thị xã Sông Công nhằm nâng cao chất lượng giáo dục góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà nói chung và nền giáo dục trong thị xã nói riêng. Công tác KĐCLGD được xem là một giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các cơ sở giáo dục mầm non. Đến nay, tất cả các trường mầm non trên địa bàn thị xã đã được triển khai công tác tự đánh giá (TĐG) theo bộ tiêu chuẩn do Bộ GD&ĐT ban hành. Tuy vậy, việc thực hiện báo cáo TĐG của các đơn vị vẫn còn mô tả chung chung, chưa đúng với nội dung tiêu chí. Việc xác định điểm mạnh, điểm yếu chưa đúng. Vì vậy, hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục theo chuẩn chưa hiệu quả. Chỉ khi hoạt động tự đánh giá chỉ có hiệu quả thì đội ngũ CBQL nhà trường mới có thể chủ động xây dựng được các giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh, khắc phục hạn chế, có điều kiện hệ thống hóa lại toàn bộ tài liệu, hồ sơ, qua đó, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác quản lý. Xuất phát từ những lí do trên tác giả chọn đề tài luận văn: “ Tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên”. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tự đánh giá trong quy trình kiểm định chất lượng giáo dục, đề xuất các biện pháp cải tiến hoạt động tự đánh giá để cải tiến hoạt động quản lý nhà trường của các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công - Thái Nguyên 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục; tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục - Khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của các trường mầm non tại thị xã Sông Công - Thái Nguyên - Đề xuất một số biện pháp nâng cao hoạt động tự đánh giá cho các trường mầm non tại thị xã Sông Công - Thái Nguyên. 3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục của các trường mầm non. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của các trường mầm non. 4. Phạm vi nghiên cứu - Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Đề tài giới hạn trong phạm vi các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công - Thái Nguyên - Giới hạn về khách thể điều tra: lãnh đạo, CBQL, GV và NV tại các trường mầm non tại thị xã Sông Công - Thái Nguyên - Hiện trạng được đánh giá từ tháng 1/2012 đến tháng 5/2013 - Các biện pháp được đề xuất áp dụng từ năm 2014 đến năm 2016 5. Phương pháp nghiên cứu Khi triển khai đề tài này phối hợp với các phương pháp nghiên cứu sau: 5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Nghiên cứu các văn bản pháp lý có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Khai thác các tài liệu khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn 5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra: Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến cho đối tượng là cán bộ quản lý về công tác tự đánh giá của nhà trường Xây dựng các phiếu hỏi cho đối tượng là GV, NV về công tác tự đánh giá của nhà trường - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng hợp, phân tích, so sánh và đánh giá công tác tự đánh giá của các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công với công tác tự đánh giá của các trường mầm non trong và ngoài tỉnh Thái Nguyên từ đó rút ra những kinh nghiệm cho công tác tự đánh giá của các trường mầm non tại thị xã Sông Công - Phương pháp chuyên gia: Tác giả hỏi ý kiến chuyên gia về bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục mầm non bằng hình thức: xin ý kiến trực tiếp chuyên gia - Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý các số liệu thu nhận được từ các phương pháp nghiên cứu khác - Phương pháp điển hình: được sử dụng để so sánh, đối chiếu, đánh giá, kết luận báo cáo tự đánh giá của các trường được lấy làm điển hình trong luận văn 6. Giả thuyết khoa học Hiện nay công tác kiểm định chất lượng giáo dục nhất là hoạt động tự đánh giá còn khá mới mẻ đối với các trường mầm non trong cả nước nói chung và đối với các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công nói riêng vì vậy các trường mầm non gặp rất nhiều khó khăn trong công tác TĐG. Do đó, nếu đề xuất được các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động tự đánh giá trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục mầm non sẽ giúp các trường mầm non đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường xác định được mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn để xây dựng kế hoạch cải tiến, nâng cao chất lượng nuôi dạy và giáo dục trẻ. 7. Cấu trúc luận văn - MỞ ĐẦU - Chương 1: Cơ sở lý luận của tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục - Chương 2: Thực trạng hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công - Thái Nguyên - Chương 3: Các biện pháp nâng cao hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công - Thái Nguyên
Trang 1DƯƠNG THỊ KIM NGÂN
TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SÔNG CÔNG -
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60 140 101
LUẬN VĂN THẠC SĨ: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG BÁ LÃM
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Giáo dục và Đào tạo Sông Công và học tập nghiên cứu tại Học viện Quản lýGiáo dục
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thàygiáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy lớp thạc sỹ chuyên ngày Quản lýgiáo dục khóa 6 (2012-2013) Học viện Quản lý Giáo dục Xin cảm ơn Họcviện Quản lý Giáo dục, các đồng chí đang công tác tại phòng GD&ĐT SôngCông, các trường mầm non trên địa bàn thị xã đã tận tình giúp đỡ và tạo điềukiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thànhluận văn này
Đặc biệt, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Bá Lãm, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình
nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã cố gắng, những chắc chắn luận văn không tránh khỏi thiếusót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của các thàygiáo, cô giáo, cùng đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Dương Thị Kim Ngân
Trang 3Cán bộ quản lýChất lượng giáo dục
Cơ sở vật chấtGiáo dụcGiáo dục và Đào tạoGiáo dục mầm nonGiáo dục thường xuyênGiáo viên
Hội đồng Tự đánh giáHội đồng Nhân dânKiểm định chất lượngKiểm định chất lượng giáo dụcMầm non
Nhân viênPhổ cập giáo dụcQuản lý
Quản lý chất lượngQuản lý giáo dục
Tự đánh giáTiểu họcTrung học cơ sở
Ủy ban Nhân dân
Trang 41 L Ý DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 M ỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
3 K HÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
4 P HẠM VI NGHIÊN CỨU 4
5 P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 G IẢ THUYẾT KHOA HỌC 5
7 C ẤU TRÚC LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 6
1.1 T ỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 6
1.2 C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG 8
1.2.1 Chất lượng và chất lượng giáo dục 8
1.2.2 Quản lý chất lượng 11
1.2.3 Kiểm định chất lượng 18
1.3 T Ự ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC 24
1.3.1 Những nhận thức cơ bản về tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục 24
1.3.2 Mục đích của tự đánh giá 25
1.3.3 Vai trò, ý nghĩa của tự đánh giá đối với cơ sở giáo dục đào tạo 26
1.3.4 Quy trình tự đánh giá 26
1.3.5 Các nhân tố tác động đến hoạt động tự đánh giá của nhà trường 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SÔNG CÔNG - THÁI NGUYÊN 34
2.1 T HÔNG TIN SƠ LƯỢC VỀ THỊ XÃ S ÔNG C ÔNG VÀ P HÒNG G IÁO DỤC VÀ Đ ÀO TẠO S ÔNG C ÔNG - T HÁI N GUYÊN 34
2.1.1 Thông tin sơ lược về thị xã Sông Công 34
2.1.2 Thông tin sơ lược về Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Sông Công 35
2.2 T ÌNH HÌNH GIÁO DỤC THỊ XÃ S ÔNG C ÔNG - T HÁI N GUYÊN 38
Trang 52.2.2 Quy mô mạng lưới, xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị
39
2.2.3 Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên 40
2.2.4 Tình hình hoạt động giáo dục 40
2.2.5 Công tác xã hội hóa giáo dục 41
2.3 T ÌNH HÌNH GIÁO DỤC MẦM NON TẠI THỊ XÃ S ÔNG C ÔNG - T HÁI N GUYÊN 43
2.3.1 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền đối với giáo dục mầm non 43
2.3.2 Quy mô mạng lưới, xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị giáo dục mầm non 44
2.3.3 Tình hình đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên 46
2.3.4 Tình hình hoạt động giáo dục mầm non 46
2.3.5 Công tác xã hội hóa giáo dục 48
2.4 T HỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC TRƯỜNG MẦM NON 51
2.4.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về hoạt động tự đánh giá 51
2.4.2 Tập huấn công tác tự đánh giá 55
2.4.3 Thực hiện quy trình tự đánh giá 59
2.5 T ÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC TRƯỜNG MẦM NON ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA NHÀ TRƯỜNG 73
2.5.1 Nhận thức về hoạt động tự đánh giá 73
2.5.2 Vai trò, trách nhiệm của các thành viên trong trường 74
2.5.3 Kế hoạch nâng cao chất lượng giáo dục 75
2.6 Đ ÁNH GIÁ CHUNG 76
2.6.1 Những điểm mạnh 76
2.6.2 Những điểm yếu 77
2.6.3 Nguyên nhân 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79 CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG
Trang 63.1 Đ ỊNH HƯỚNG CỦA BIỆN PHÁP 81
3.1.1 Căn cứ vào tình hình thực tế khi thực hiện công tác tự đánh giá của cơ sở giáo dục 81
3.1.2 Căn cứ vào kết quả tự đánh giá trước của cơ sở giáo dục 81
3.1.3 Cơ sở đổi mới hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục 82
3.2 C ÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 83
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 83
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 84
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 84
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 85
3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo hiệu quả 85
3.3 C ÁC BIỆN PHÁP ĐƯỢC ĐỀ XUẤT 85
3.3.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhà trường về tự đánh giá 86
3.3.2 Nâng cao hiệu quả tập huấn công tác tự đánh giá 88
3.3.3 Thực hiện tốt quy trình tự đánh giá 94
3.3.4 Cung cấp nguồn lực cho hoạt động tự đánh giá 96
3.3.5 Tổ chức trao đổi kinh nghiệm 99
3.4 T HĂM DÒ CÁC BIỆN PHÁP 101
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103
1 K ẾT LUẬN 103
2 K HUYẾN NGHỊ 104
2.1 Đối với Bộ GD&ĐT 104
2.2 Đối với Sở GD&ĐT Thái Nguyên 104
2.3 Đối với Phòng GD&ĐT Sông Công 105
2.4 Đối với cán bộ quản lý các trường mầm non thị xã Sông Công 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm định thế giới 21
Sơ đồ 1.2 Quy trình KĐCL Việt Nam 22
Sơ đồ 1.3 Quy trình TĐG 26
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trườngmầm non về hoạt động TĐG trong KĐCLGD 53Bảng 2.2.Thực trạng tập huấn cho Ban giám hiệu, giáo viên, nhân viêntrường mầm non về hoạt động TĐG trong KĐCLGD 56Bảng 3.1 Kết quả đánh giá tính cấp thiết và tính khả thi của các biệnpháp đề xuất 101
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngành giáo dục luôn được quan tâm hàng đầu trong đó không thểkhông kể đến chất lượng giáo dục của bậc mầm non Trong hệ thống các bậchọc, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển vềthể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ Cùng với sự phát triển của kinh tế
xã hội, xu thế hội nhập quốc tế, trình độ dân trí ngày càng cao luôn đặt rathách thức lớn đối với hệ thống đào tạo GV nói chung và GV MN nói riêng.Đặc biệt, hệ thống kiểm tra, đánh giá chưa thực sự hiệu quả, chuẩn mực vềkiến thức, kỹ năng chưa được xác định rõ ràng, nhất là trong giáo dục mầmnon Điều này tạo nên những lý do để các bậc phụ huynh, các nhà nghiên cứu,các nhà quản lý và các nhà giáo lo lắng, không yên tâm về chất lượng giáodục mầm non Nhiều người cho rằng yếu tố quyết định chất lượng giáo dụcmầm non chính là chất lượng các chương trình Nhưng ai sẽ là người đánh giáchất lượng chương trình đó, tiêu chí nào để đánh giá công tác này? Đó chính
là công tác kiểm định chất lượng
Trước những đòi hỏi của xã hội về một nền giáo dục có chất lượng, mộtvài năm trở lại đây, trong lí luận và thực tiễn giáo dục Việt Nam đã xuất hiệnmột khái niệm khá mới mẻ: kiểm định chất lượng giáo dục Đây là một giảipháp quản lý chất lượng nhằm mục đích đánh giá hiện trạng, xác định chínhxác điểm mạnh, điểm yếu của các cơ sở giáo dục theo tiêu chuẩn đề ra, từ đóxây dựng kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để đảm bảo chấtlượng và không ngừng phát triển Công tác kiểm định chất lượng không chỉgiúp các trường mầm non xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trongtừng giai đoạn để xây dựng kế hoạch cải tiến, nâng cao chất lượng nuôi dạytrẻ mà còn là cơ sở để các cơ quan quản lý nắm rõ hơn về thực trạng chấtlượng giáo dục tại các trường mầm non hiện nay
Trang 9Để có căn cứ kiểm định chất lượng giáo dục mầm non, Bộ GD&ĐT đãban hành thông tư số 07/2011/TT-BGD&ĐT ngày 17 tháng 02 năm 2011 Quyđịnh về tiêu chuẩn chất lượng giáo dục trường mầm non Cùng với đó, BộGD&ĐT cũng đã ban hành thông tư số 45/2011/TT-BGD&ĐT ngày 11 tháng
10 năm 2011 về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trườngmầm non; văn bản số 7886/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 23 tháng 11 năm
2011 về việc hướng dẫn tự đánh giá trường mầm non; văn bản số1007/KTKĐCLGD-KĐPT về việc xác định nội hàm, tìm minh chứng theocác tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non; văn bản số8299/BGD&ĐT-KTKĐCLGD ngày 04 tháng 12 năm 2012 về việc hướng dẫncông tác tự đánh giá trường mầm non theo quy trình rút gọn Thông qua hoạtđộng TĐG trong KĐCLGD, các trường có thể chủ động hơn trong việc pháthiện những điểm mạnh cũng như những hạn chế của mình để xây dựng kếhoạch, giải pháp hoạt động phù hợp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôidạy trẻ
Nhằm nâng cao công tác kiểm định chất lượng giáo dục tại các trườngmầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Sông Công, PhòngGiáo dục và Đào tạo (Phòng GD&ĐT) thị xã Sông Công đã triển khai cácthông tư, văn bản kiểm định chất lượng giáo dục đến toàn bộ các đơn vị trựcthuộc trên địa bàn thị xã Sông Công nhằm nâng cao chất lượng giáo dục gópphần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà nói chung
và nền giáo dục trong thị xã nói riêng Công tác KĐCLGD được xem là mộtgiải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các cơ sởgiáo dục mầm non Đến nay, tất cả các trường mầm non trên địa bàn thị xã đãđược triển khai công tác tự đánh giá (TĐG) theo bộ tiêu chuẩn do BộGD&ĐT ban hành Tuy vậy, việc thực hiện báo cáo TĐG của các đơn vị vẫncòn mô tả chung chung, chưa đúng với nội dung tiêu chí Việc xác định điểm
Trang 10mạnh, điểm yếu chưa đúng Vì vậy, hoạt động tự đánh giá trong kiểm địnhchất lượng giáo dục theo chuẩn chưa hiệu quả Chỉ khi hoạt động tự đánh giáchỉ có hiệu quả thì đội ngũ CBQL nhà trường mới có thể chủ động xây dựngđược các giải pháp nhằm phát huy điểm mạnh, khắc phục hạn chế, có điềukiện hệ thống hóa lại toàn bộ tài liệu, hồ sơ, qua đó, nâng cao hơn nữa chấtlượng công tác quản lý Xuất phát từ những lí do trên tác giả chọn đề tài luận
văn: “ Tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tự đánh giá trong quy trìnhkiểm định chất lượng giáo dục, đề xuất các biện pháp cải tiến hoạt động tựđánh giá để cải tiến hoạt động quản lý nhà trường của các trường mầm nontrên địa bàn thị xã Sông Công - Thái Nguyên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáodục; tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục
- Khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động tự đánh giá trong kiểmđịnh chất lượng giáo dục của các trường mầm non tại thị xã Sông Công - TháiNguyên
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hoạt động tự đánh giá cho cáctrường mầm non tại thị xã Sông Công - Thái Nguyên
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục của các trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục của cáctrường mầm non
Trang 11- Hiện trạng được đánh giá từ tháng 1/2012 đến tháng 5/2013
- Các biện pháp được đề xuất áp dụng từ năm 2014 đến năm 2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Khi triển khai đề tài này phối hợp với các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn bản pháp lý có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.Khai thác các tài liệu khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đềnghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra:
Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến cho đối tượng là cán bộ quản lý về côngtác tự đánh giá của nhà trường
Xây dựng các phiếu hỏi cho đối tượng là GV, NV về công tác tự đánhgiá của nhà trường
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng hợp, phân tích, so sánh vàđánh giá công tác tự đánh giá của các trường mầm non trên địa bàn thị xãSông Công với công tác tự đánh giá của các trường mầm non trong và ngoàitỉnh Thái Nguyên từ đó rút ra những kinh nghiệm cho công tác tự đánh giácủa các trường mầm non tại thị xã Sông Công
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả hỏi ý kiến chuyên gia về bộ tiêuchuẩn kiểm định chất lượng giáo dục mầm non bằng hình thức: xin ý kiếntrực tiếp chuyên gia
Trang 12- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê để
xử lý các số liệu thu nhận được từ các phương pháp nghiên cứu khác
- Phương pháp điển hình: được sử dụng để so sánh, đối chiếu, đánh giá, kếtluận báo cáo tự đánh giá của các trường được lấy làm điển hình trong luận văn
6 Giả thuyết khoa học
Hiện nay công tác kiểm định chất lượng giáo dục nhất là hoạt động tựđánh giá còn khá mới mẻ đối với các trường mầm non trong cả nước nóichung và đối với các trường mầm non trên địa bàn thị xã Sông Công nói riêng
vì vậy các trường mầm non gặp rất nhiều khó khăn trong công tác TĐG Do
đó, nếu đề xuất được các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động tự đánhgiá trong công tác kiểm định chất lượng giáo dục mầm non sẽ giúp các trườngmầm non đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường xác định được mức
độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn để xây dựng kế hoạch cảitiến, nâng cao chất lượng nuôi dạy và giáo dục trẻ
7 Cấu trúc luận văn
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) không còn là công tác mới
mẻ trên thế giới Ở một số nước, KĐCL được sử dụng để cấp giấy phép chomột trường cao đẳng hoặc đại học được cung cấp các chương trình đào tạo cụthể nào đó (ví dụ: Nam Phi, Anh, Tây Âu, Hoa Kì) Tại Hoa Kỳ, không códanh sách liên bang của các cơ quan KĐCL công nhận trường tiểu học (TH)
và trung học như cho giáo dục đại học Các trường công lập phải tuân thủ tiêuchuẩn do nhà nước chính phủ, và có sự khác biệt lớn giữa các từng tiểu bangtrong các yêu cầu áp dụng cho các trường TH và trung học ngoài công lập Ở
Mỹ có sáu kiểm định khu vực có lịch sử được công nhận trường TH, trườngtrung học cơ sở (THCS), trường trung học phổ thông Mỗi nước khác nhauKĐCLGD lại khác nhau Ở một số nước Đông Nam Á thành lập cơ quankiểm định quốc gia như: BDAC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN(Malaysia), FAAP (Philipines), ONESQA (Thái Lan) Trọng tâm kiểm địnhcủa mỗi quốc gia có sự khác nhau Những nước như Indonesia thực hiện kiểmđịnh ở cấp chương trình trong khi đó Malaysia, Brunei và Thái Lan thực hiện
ở cấp trường Trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương hầu hết các cơ quanđảm bảo chất lượng đều do Nhà nước thành lập, được Nhà nước cấp kinh phí
và chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiểm định
Trên thế giới KĐCLGD đã thực hiện từ lâu nhưng ở Việt NamKĐCLGD mới chỉ được triển khai một vài năm gần đây Càng những bậc họcthấp hơn thì việc triển khai KĐCLGD lại càng muộn Đối với các cơ sở giáodục phổ thông KĐCLGD mới được triển khai từ năm 2009, đối với cơ sở giáo
Trang 14dục MN (mầm non) đến năm cuối năm 2011 mới bắt đầu triển khai và thựchiện trong cả nước Ở Việt Nam hiện nay mới chỉ có bậc học đại học, caođẳng có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về hoạt động TĐG trongKĐCLGD Còn đối với bậc học phổ thông và bậc học MN chưa có công trìnhnghiên cứu khoa học lớn về hoạt động TĐG Chủ yếu những nghiên cứumang tính khoa học là những sáng kiến kinh nghiệm trong xây dựng kế hoạchTĐG của nhà trường Ví dụ như đề tài sáng kiến: “Kinh nghiệm thực hiệnhoạt động TĐG KĐCLGD nhà trường” của giáo viên (GV) Hồ Xuân Tâm -Trường tiểu học số 3 Nam Phước - Huyện Duy Xuyên - Tỉnh Quảng Nam Đềtài sáng kiến kinh nghiệm: “Giải pháp để thực hiện tốt công tác TĐGKĐCLGD trường THCS” - của GV Lê Công Lợi - trường THCS Vĩnh Phúc -Thành phố Bến Tre,…[23]
TĐG trong KĐCLGD của MN mới được triển khai từ cuối năm 2011,đến năm 2012 được nhân diện rộng đến tất cả các tỉnh, thành trong cả nước
Vì đây là hoạt động còn khá mới mẻ ở Việt Nam, đặc biệt lại là cấp học MN cấp được triển khai hoạt động TĐG muộn nhất (2011), do vậy cho đến hiệntại chưa có công trình nghiên cứu khoa học về TĐG đối với MN, hiện naymới chỉ có các báo cáo TĐG của nhà trường về hoạt động TĐG trongKĐCLGD
-Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TĐG trong KĐCLGD của cáctrường MN trên địa bàn thị xã Sông Côn nói chung và mong muốn nâng caohiểu biết về TĐG, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu “TĐG trong KĐCLGD cáctrường MN trên địa bàn thị xã Sông Công - tỉnh Thái Nguyên”
Thông qua việc nghiên cứu hoạt động TĐG của các trường MN trênđịa bàn thị xã, và đề xuất một vài biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng TĐG với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục của chính các trường
MN, giúp các nhà trường có thêm những biện pháp để thực hiện hoạt động
Trang 15TĐG được tốt hơn, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của các trườngvới việc cải tiến hoạt động quản lý từ đó xác định rõ các bước phải thực hiện
để đạt mục đích nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường Đồng thời,bước đầu tiếp cận và xây dựng nền văn hóa chất lượng ngay trong chính cácnhà trường
1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng và kiểm định chất lượng
1.2.1 Chất lượng và chất lượng giáo dục
1.2.1.1 Khái niệm chất lượng
Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với tất cả mọi người, tuy nhiênquan niệm về chất lượng lại rất đa dạng và thậm chí còn nhiều tranh cãi Dovậy, chất lượng là khái niệm khó định nghĩa Hiện nay, có rất nhiều cách hiểukhác nhau về khái niệm chất lượng Chất lượng có thể được hiểu theo nhữngcách sau:
Theo quan điểm mang tính trừu tượng triết học thì nói đến chất lượng
là nói đến sự hoàn hảo là gì tốt đẹp nhất
Theo tiêu chuẩn Pháp NFX 50 - 109: “Chất lượng là tiềm năng của mộtsản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng”
Theo quan điểm của Sallis (1993) thì chất lượng được hiểu theo nghĩatương đối và tuyệt đối Khái niệm chất lượng dùng trong cuộc sống hàng ngàythường mang ý nghĩa tuyệt đối Chất lượng tuyệt đối là những thứ tuyệt hảo,hoàn mỹ Những thứ được coi là có chuẩn mực rất cao không thể vượt quađược Nếu hiểu theo nghĩa này thì chất lượng lại rất không thực tiễn, bởi đại
bộ phận dân chúng chỉ có thể ngưỡng mộ những sản phẩm có chất lượng, chỉ
có một số người trong họ muốn được sở hữu chúng, nhưng rất ít người trong
số đó có đủ điều kiện để sở hữu Theo cách hiểu này, rất ít cơ sở giáo dục đào tạo có thể cung cấp dịch vụ đào tạo “chất lượng cao” cho người học Chấtlượng có nhiều lớp và do vậy, chúng ta có thể sử dụng khái niệm chất lượng
Trang 16-theo nghĩa tương đối Quan niệm chất lượng -theo nghĩa tương đối lại khôngxem chất lượng là thuộc tính của đồ vật hoặc dịch vụ mà là cái mà người tagắn cho nó Sản phẩm hay dịch vụ được coi là có chất lượng khi chúng đạtnhững chuẩn mực nhất định được quy định trước Chất lượng không được coi
là cái đích mà nó được coi là phương tiện, theo đó sản phẩm hoặc dịch vụđược đánh giá Sản phẩm hay dịch vụ theo nghĩa này không nhất thiết phảinhư vậy Chúng không nhất thiết phải đặc biệt mà chúng có thể bình dân, gầngũi.[18]
Theo Harvey & Green - 1993 thì chất lượng lại được thể hiện ở cáckhía cạnh đó là:
- Sự xuất sắc (vượt qua các chuẩn mực);
- Sự ổn định và không có lỗi;
- Sự đáp ứng mục tiêu đề ra (là sự hài lòng của khách hàng);
- Có giá trị kinh tế;
- Sự gia tăng về giá trị
TCVN 5814 - 1994 trên cơ sở tiêu chuẩn ISO-9000 đã đưa ra địnhnghĩa: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạocho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”
Ta thấy quan điểm nhìn nhận chất lượng từ nhiều góc độ khác nhau,mỗi quan điểm có mặt ưu điểm và nhược điểm của nó nếu tận dụng mặt ưuđiểm thì có khả năng đem lại một phần thành công cho doanh nghiệp Nhưngnhìn chung quan điểm đưa ra ngày càng tạo nên tính hoàn thiện để nhìn nhậnchất lượng
Tổng kết lại, đối với các chuyên gia chất lượng uy tín thì những địnhnghĩa sau đây có thể nói là phổ biến:
- Chất lượng là sự phù hợp với các đòi hỏi của khách hàng - là sự hiểu
rõ các đòi hỏi và mong đợi của khách hàng
Trang 17- Chất lượng là mức độ tin cậy cùng với chi phí thấp nhất và thích ứngvới các đòi hỏi của thị trường.
- Chất lượng là sự hữu ích trong sử dụng - chất lượng thiết kế, thựchiện, mức độ phổ biến của sản phẩm, chất lượng phục vụ kỹ thuật
- Chất lượng là đặc tính tập hợp của sản phẩm và dịch vụ xét về mặttiếp thị, thiết kế, thực hiện và duy trì Chúng sẽ làm cho sản phẩm và dịch vụthỏa mãn sự mong đợi của khách hàng
1.2.1.2 Chất lượng giáo dục
Giống như chất lượng nói chung, CLGD cũng có rất nhiều quan điểm
và cách hiểu khác nhau Từ trước tới nay CLGD đã được đề cập rất nhiều trêncác phương tiện thông tin đại chúng, trong hoạt động chuyên môn của ngànhgiáo dục và cũng gây tranh cãi nhiều trong dư luận - xã hội Thế nhưng, hiệnnay chúng ta vẫn chưa có một định nghĩa nào thật hoàn chỉnh
Theo Nguyễn Văn Đản (Trường đại học Sư phạm Hà Nội), CLGD lànhững lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân và xã hội, trướcmắt và lâu dài Khái niệm trên được đúc kết từ nhiều góc độ khác nhau Dướigóc độ QLCL, thì CLGD là mức độ người học nắm được các kiến thức, kỹnăng, phương pháp chuẩn mực thái độ sau một quá trình học; đáp ứng đượccác yêu cầu khi lên lớp, chuyển cấp, vào học nghề hay đi vào cuộc sống laođộng [24]
Còn dưới góc độ giáo dục học thì CLGD được giới hạn trong phạm viđánh giá sự phát triển của cá nhân sau quá trình học tập và sự phát triển xã hộikhi họ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, chính trị - xã hội, văn hóa
Trang 18Theo Tô Bá Trượng (Viện chiến lược và Chương trình giáo dục) thìcho rằng, CLGD là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động giáodục Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Cái phẩmchất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì phảigắn liền với đòi hỏi của xã hội Theo quan niệm hiện đại, CLGD phải bảođảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển.[24]
Như vậy, CLGD là sự đáp ứng mục tiêu đề ra, đảm bảo các yêu cầu vềmục tiêu giáo dục được quy định trong Luật giáo dục, phù hợp với yêu cầuđào tạo đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.[16]
1.2.2 Quản lý chất lượng
A.G Robelrtson - chuyên gia người Anh - cho rằng QLCL sản phẩm là
ứng dụng các biện pháp, thủ tục, kiến thức khoa học kỹ thuật đảm bảo cho cácsản phẩm đang hoặc sẽ sản xuất phù hợp với thiết kế,với yêu cầu bằng conđường hiệu quả nhất, kinh tế nhất
K.Ishikawa - Giáo sư người Nhật quan niệm QLCL sản phẩm có nghĩa
là nghiên cứu, thiết kế, triển khai sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm cóchất lượng, sản phẩm phải kinh tế nhất, có ích nhất và bao giờ cũng thoả mãnnhu cầu người tiêu dùng
Còn TCVN-5814-94 (tiếp thu hệ tiêu chuẩn Quốc tế ISO.9000) chorằng QLCL là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung, xácđịnh chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúngthông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, điều khiển và kiểmsoát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ
hệ chất lượng
Tuỳ thuộc những cách tiếp cận và quan điểm nhìn nhận khác nhau vềQLCL, và tuỳ thuộc vào đặc trưng của nền kinh tế mà người ta đã đưa ranhiều quan niệm khác nhau về QLCL Nhưng một nhận định chính xác và đầy
Trang 19đủ về QLCL đã được Nhà nước Việt Nam chấp nhận là định nghĩa được nêu
ra trong bộ ISO 8402: 1994: Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như: Lập kế hoạch chất lượng, điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng.
Như vậy thực chất QLCL là chất lượng của hoạt động quản lý chứ không đơn thuần chỉ làm chất lượng của hoạt động kỹ thuật
Quá trình tiến hóa của quản lý nói chung đi từ mô hình hành chính tậptrung (mọi chuyện được kiểm tra, kiểm soát) đến các hình thức phi tập trunghơn (thông qua các quy trình, cơ chế chịu trách nhiệm nhất định) QLCL cũngtiến hóa cùng quá trình quản lý từ giai đoạn mà trọng tâm là kiểm soát chấtlượng sang bảo đảm chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể Mối quan hệgiữa các phương pháp QLCL rất mềm dẻo, mang tính kế thừa và phát triển
Hệ thống QLCL theo Hệ tiêu chuẩn ISO 9000 với yêu cầu đảm bảo chấtlượng là bước phát triển mới cao hơn phương pháp Kiểm soát chất lượng, nó
mở ra phạm vi QLCL tới những người thừa hành Trình độ Quản lý chấtlượng tổng thể lại là sự phát triển theo chiều sâu, kế thừa ISO, nâng QLCL lêntầm văn hóa chất lượng; ở đó vai trò và yếu tố sáng tạo của con người đượcphát huy cao nhất TQM là đỉnh cao của hệ thống chiến lược QLCL hiện đại
Dưới đây sẽ trình bày 3 cấp độ về QLCL nói trên:
1.2.2.1 Kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử Nó baogồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng khôngthỏa mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó Nó là công đoạn xảy ra sau cùngkhi sản phẩm đã được làm xong có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối
Trang 20những hạng mục hay sản phẩm có lỗi Việc làm này thường kéo theo lãng phítương đối lớn vì phải loại bỏ hay làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu.
Kiểm soát chất lượng là phương thức QLCL ra đời trong thời đại côngnghiệp Sự kiểm soát diễn ra ở cuối quá trình sản xuất nhằm mục tiêu pháthiện và loại bỏ toàn bộ hay từng phần sản phẩm cuối cùng không đạt cácchuẩn mực chất lượng Có thể xem đây là công việc riêng của các nhàchuyên môn hoặc thanh tra chất lượng, (ví dụ bộ phận OTK trong các dâychuyền sản xuất
Nói chung, kiểm soát chất lượng là một loại quá trình mà trong đó mộtsản phẩm hay một dịch vụ, hoặc bất cứ bộ phận nào trong quá trình có liênquan đến việc sản xuất hay vận chuyển sản phẩm, được kiểm tra theo một tiêuchuẩn đó được định trước và sẽ bị loại bỏ hay làm lại nếu như nó dưới chuẩn(Ellis, 1993) [18]
Nói cách khác, kiểm soát chất lượng tập trung vào việc theo dõi lại cáclỗi trong quá khứ Kiểm soát chất lượng trong môi trường sản xuất là "mộtphương thức cần thiết cho việc thanh tra và loại bỏ những sản phẩm có khiếmkhuyết (mặc dù có một số phương pháp thống kê của lý thuyết này có thểđược sử dụng nhằm tránh khả năng có sản phẩm này)" (Freeman, 1994).[18]
Theo Vroeijenstijin (1992), kiểm soát chất lượng (và đo lường chấtlượng) là việc tóm tắt các thông tin và hàm ý là sẽ có các ý định trừng phạthay khen thưởng Kiểm soát chất lượng "vốn dĩ là trừng phạt, áp đặt các hìnhphạt cho việc làm thiếu hiệu quả, nhưng đồng thời cũng cho thấy rằng một khisản phẩm đó đạt được mức độ tối thiểu thì không cần phải nỗ lực để cải tiến".Kiểm soát chất lượng, do đó, không đi ra ngoài việc chấp nhận hay từ chốimột sản phẩm Từ quan niệm đó về kiểm soát chất lượng, chất lượng có thểđược hiểu như sau:
Trang 21- Một đánh giá về mức độ mà các đặc điểm của sản phẩm đáp ứng đượccác yêu cầu mà ngay từ đầu một quy trình sản xuất đã quy định;
- Mức độ mà một sản phẩm đáp ứng được yêu cầu về các đặc điểm màmột sản phẩm phải có theo các tiêu chí cố định nào đó;
- Đánh giá về mức độ mà một sản phẩm phải được các thanh tra viênchấp nhận
Trong khi kiểm soát chất lượng được xem là một khái niệm cũ nhất củaQLCL trong lĩnh vực sản xuất hay doanh nghiệp thì lại tương đối mới và ítđược chấp nhận trong môi trường giáo dục đào tạo Điều này là do trong giáodục, khó có thể định nghĩa thế nào là “chất lượng” và giáo dục bao giờ cũng
là một quá trình Hơn thế nữa, khó có thể xác định rõ ràng được chất lượngcác sản phẩm của giáo dục và vì chất lượng của quá trình giáo dục luôn đòihỏi sự đóng góp của “khách hàng”
1.2.2.2 Bảo đảm chất lượng
Đây là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của
nó là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên Chấtlượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâuđầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có saiphạm trong bất kì khâu nào Đảm bảo chất lượng phần lớn là trách nhiệm củangười lao động, thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệmcủa thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể có vai trò nhất định trongđảm bảo chất lượng
Trong giáo dục, đảm bảo chất lượng được xác định như các hệ thống,chính sách, thủ tục, quy trình, hành động và thái độ được xác định từ trướcnhằm đạt được, duy trì, giám sát và củng cố chất lượng (Woodhouse, 1998)
Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng được tínhđến như là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng
Trang 22(Kells, 1988; Neave & Van Vught, 1991) Theo Russo (1995), đảm bảo chấtlượng là sự “xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát và sản xuấtsản phẩm hay các dịch vụ và nhằm tránh các phế phẩm Nếu như chúng ta có
hệ thống đảm bảo chất lượng, sẽ tránh đi việc có thể có các phế phẩm.”[18]
ISO định nghĩa đảm bảo chất lượng như sau: “Tất cả các hoạt độnghoạch định hay có hệ thống cần thiết nhằm cung cấp sự đủ tự tin rằng một sảnphẩm hay một dịch vụ là đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng” Tronggiáo dục, đảm bảo chất lượng được xem là “tổng số các cơ chế và quy trìnhđược áp dụng nhằm đảm bảo chất lượng đó được định trước hoặc việc cải tiếnchất lượng liên tục - bao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyến khích,đánh giá và kiểm soát chất lượng” (Warren Piper, 1993).[18]
Một hệ thống đảm bảo chất lượng hiệu quả là một hệ thống có thể họccách tránh, tìm ra, và sửa các lỗi có thể xảy ra trong quá trình Nó được thiết
kế nhằm hỗ trợ một tổ chức đạt được các mục tiêu đó được đề ra Freemam(1994) gọi đảm bảo chất lượng là một hệ thống học tập và tự sửa lỗi: “Nóthay đổi để thể hiện các nhu cầu đang thay đổi” [18]
Có hai mô hình đảm bảo chất lượng trái ngược nhau trong giáo dục: môhình của Pháp với “Việc trao quyền kiểm soát cho các thế lực từ bên ngoài”(Cobban, 1998), và mô hình đặc trưng của Anh với cộng đồng tự trị của cácnhà khoa học (Van Vught, 1991) Mô hình của Pháp được xem như là nguyênmẫu của kiểm soát chất lượng thông qua sự giải trình trách nhiệm.[18]
Bảo đảm chất lượng khác kiểm soát chất lượng ở chỗ: nó diễn ra trước
và trong quá trình sản xuất, nhằm mục tiêu phòng ngừa sự xuất hiện nhữngsản phẩm chất lượng thấp để bảo đảm chất lượng Việc tiêu chuẩn hoá chấtlượng được chú trọng và theo đó, quá trình sản xuất được quản lý bằng cácquy trình đặt trong Hệ thống đảm bảo chất lượng Hệ thống này vừa cho phépkiểm soát toàn diện quá trình và có cơ chế ngăn ngừa ngay từ đầu sản phẩm
Trang 23dịch vụ kém chất lượng, vừa chỉ rõ quá trình sản xuất, dịch vụ phải được tiếnhành như thế nào, với những chuẩn mực chất lượng nào Trách nhiệm bảođảm và kiểm soát chất lượng được giao cho mỗi người làm việc trong quátrình chứ không chỉ là việc của thanh tra ở bên ngoài Hệ tiêu chuẩn ISO 9000
là sản phẩm khoa học QLCL tiêu biểu của chiến lược này, nhằm đảm bảo vớikhách hàng, với xã hội rằng: hệ thống quản lý chất lượng đã được thiết lậptheo hướng chuẩn hoá, do đó có thể cam kết đảm bảo những tiêu chuẩn chấtlượng sản phẩm theo chính sách chất lượng đã được công bố
1.2.2.3 Quản lý chất lượng tổng thể
Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) vừa dựa trên thành tựu tiêu chuẩnhoá, quy trình hoá quá trình quản lý của ISO 9000 nhằm đảm bảo chất lượng,vừa dựa trên thành tựu của các thuyết quản lý nhân văn: coi trọng yếu tố conngười và sự sáng tạo trong quá trình lao động Đây là sự phát triển cao nhấtcủa khoa học QLCL, trên cơ sở coi trọng việc tạo ra nền văn hoá chất lượng,trong đó mục đích hoạt động của mọi thành viên trong tổ chức đều hướng vềkhách hàng, mọi thành viên đều được lôi cuốn tham gia tích cực vào quá trìnhcải thiện chất lượng liên tục nhằm cung cấp cho xã hội những sản phẩm vàdịch vụ với chất lượng cao
Mối quan hệ giữa các mô hình QLCL rất mềm dẻo, mang tính kế thừa
và phát triển Hệ thống quản lý chất lượng theo Hệ tiêu chuẩn ISO 9000 trong
mô hình Đảm bảo chất lượng là bước phát triển mới cao hơn mô hình Kiểmsoát chất lượng, nó mở ra phạm vi QLCL tới những người thừa hành Môhình Quản lý chất lượng tổng thể lại là sự phát triển theo chiều sâu, kế thừaISO, nâng QLCL lên tầm văn hóa chất lượng; ở đó vai trò và yếu tố sáng tạocủa con người được phát huy cao nhất TQM là đỉnh cao của hệ thống chiếnlược QLCL hiện đại Triết lý của QLCL tổng thể là tất cả mọi người bất kỳ ởcương vị nào, vào bất kỳ thời điểm nào cũng đều là người QLCL của phần
Trang 24việc mình được giao và hoàn thành nó một cách tốt nhất, với mục đích tối cao
là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Chính vì vậy mô hình TQM đòi hỏi:
- Cải tiến liên tục
Triết lý quan trọng nhất của QLCL tổng thể là cải tiến không ngừng, và
có thể đạt được do quần chúng và thông qua quần chúng Sự cải tiến liên tụcnày được thể hiện trong kế hoạch chiến lược của trường bằng các chu kỳ cảitiến, nâng cao dần theo vòng xoáy trôn ốc từ lợi ích trước mắt đến lợi ích lâudài, từ trình độ xuất phát ở một thời điểm nhất định vươn không ngừng tới cáctrình độ cao hơn
Trong công tác đảm bảo chất lượng các ngành dịch vụ như giáo dục,chúng ta không thể xác định được một sản phẩm “không mắc lỗi” mà khônglàm giảm đi nhiều khả năng có thể đạt được mức độ hoàn hảo Do đó, quátrình quản lý chất lượng nhất thiết phải xuất phát từ một hệ thống đảm bảochất lượng mà trong đó có sự chú trọng đến khái niệm “cải tiến chất lượngliên tục” Khái niệm một học viên tốt nghiệp đạt chất lượng là “không mắclỗi” được xét theo một cách rất hạn chế - vì đó là trên phương diện nhữngbằng cấp tối thiểu
- Cải tiến từng bước
QLCL tổng thể được thực hiện bằng một loạt dự án quy mô nhỏ cómức độ tăng dần Về tổng thể, QLCL tổng thể có quy mô rộng, bao quát toàn
bộ hoạt động của một trường, song việc thực hiện nhiệm vụ đó trong thực tếlại có quy mô hẹp, khả thi, thiết thực và có mức độ tăng dần Sự can thiệpmạnh không phải là phương sách tốt để tạo sự chuyển biến lớn trong QLCLtổng thể Các dự án đồ sộ nhiều khi không phải là con đường tốt nhất vì thiếukinh phí, và nếu thất bại sẽ dẫn tới sự thờ ơ, bất bình Các dự án nhỏ sẽ dễthành công và tạo ra sự tự tin và làm cơ sở cho các dự án sau lớn hơn
- Hệ thống tổ chức phải hướng tới khách hàng
Trang 25Chìa khóa của sự thành công trong QLCL tổng thể là tạo ra sự gắn bóhữu cơ giữa cung và cầu, giữa các bộ phận trong từng trường với nhau và với
xã hội
Trong hệ thống tổ chức của nhà trường vai trò của các CBQL cấptrường là hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ giáo chức, học viên, chứkhông phải chỉ là lãnh đạo kiểm tra họ Hệ thống QLCL tổng thể (TQM) coikhách hàng là tối cao, bảo đảm cung cấp cho họ những gì họ muốn và bằngcách họ muốn QLCL tổng thể còn là quá trình nghiên cứu những kỳ vọng vàmong muốn của khách hàng, thiết kế sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng nhu cầucủa khách hàng Ý thức của khách hàng có thể thay đổi, do vậy, tổ chức cũngcần tìm cách duy trì quan hệ gần gũi với khách hàng để có thể đáp ứng sởthích và nhu cầu của họ
Kiểm soát chất lượng, bảo đảm chất lượng và quản lý chất lượng tổngthể là các cấp độ của QLCL và mối quan hệ giữa các cấp độ này rất mềm dẻo.Bởi QLCL tổng thể là sự tiếp tục của bảo đảm chất lượng theo chiều sâu Bảođảm chất lượng là sự mở rộng phạm vi QLCL cho tất cả những người thừahành Điều đó không có nghĩa là kiểm soát chất lượng biến mất Ở nhiềukhâu, kiểm soát chất lượng vẫn có mặt trong môi trường bảo đảm chất lượng.Chức năng kiểm soát chất lượng có thể được đẩy xuống các cấp quản lý thấphơn và hầu hết các trường hợp nằm ngay trong tay người sản xuất Do vậy, cả
3 cấp độ QLCL đều nhằm bảo đảm sản phẩm, dịch vụ được các cơ sở giáodục cung cấp theo những chuẩn mực nhất định
1.2.3 Kiểm định chất lượng
1.2.3.1 Khái niệm kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng giáo dục đã có một lịch sử phát triển lâu dài ởHoa Kỳ và Bắc Mỹ, nhưng trước đây ít được các nước khác biết đến Hiệnnay kiểm định chất lượng giáo dục ngày càng trở nên phổ biến hơn bởi nó
Trang 26chứng tỏ là một công cụ hữu hiệu giúp nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó
có Việt Nam, duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục và không ngừngnâng cao chất lượng dạy và học
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm định chất lượng, sau đây làmột số định nghĩa về kiểm định chất lượng:
- Kiểm định được xác định là “một quá trình xem xét chất lượng từ bênngoài, được giáo dục đại học sử dụng để khảo sát đánh giá các cơ sở giáo dụccao đẳng và đại học và các ngành đào tạo đại học nhằm đảm bảo và cải tiếnchất lượng” (Chea, 2003)
- Kiểm định chất lượng là “một quá trình đánh giá ngoài nhằm đưa ramột quyết định công nhận một cơ sở giáo dục đại học hay một ngành đào tạocủa cơ sở giáo dục đáp ứng các chuẩn mực quy định” (Seameo, 2003).[20]
1.2.3.2 Mục đích của kiểm định
Kết quả kiểm định, góp phần định hướng các hoạt động sau đây của xã hội:
- Định hướng lựa chọn đầu tư của người học, của phụ huynh đối với cơ
sở giáo dục có chất lượng và hiệu quả hơn mà phù hợp với khả năng củamình;
- Định hướng lựa chọn đầu tư của nhà nước để đào tạo nguồn nhân lựctheo những ngành nghề cần thiết cho sự phát triển trong tương lai;
- Định hướng đầu tư của các doanh nghiệp cần nguồn nhân lực thíchhợp cho doanh nghiệp của mình;
- Định hướng phát triển cho các có sở giáo dục để tăng cường năng lựccạnh tranh trong và ngoài nước (xây dựng văn hoá chất lượng, không ngừngnâng cao chất lượng và hiệu quả học thuật, quản lý và tài chính…);
- Định hướng cho sự hợp tác đào tạo (chuyển đổi, công nhận văn bằngchứng chỉ…) của các cơ sở trong và ngoài nước với nhau;
Do vậy, mục đích chính của kiểm định chất lượng giáo dục là nhằmđảm bảo đạt được những chuẩn mực nhất định trong đào tạo và không ngừng
Trang 27cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của người sử dụngnguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho người học Ở một số nơi, kiểmđịnh chất lượng giáo dục còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơquan quyền lực hay với các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí Hiện nay,không ít các tổ chức, cơ quan quan tâm đến việc cơ sở đào tạo hay chươngtrình đào tạo đã được kiểm định chất lượng giáo dục hay chưa trước khi đưa
ra quyết định tài trợ hay không tài trợ cho cơ sở đào tạo hay chương trình đàotạo đó Học sinh và phụ huynh, trước khi lựa chọn trường để đăng ký dựtuyển cũng cân nhắc xem nhà trường hay chương trình đào tạo có được kiểmđịnh chất lượng giáo dục hay không
1.2.3.3 Vai trò, ý nghĩa của kiểm định chất lượng
Kiểm định chất lượng giáo dục có một ý nghĩa đặc biệt quan trọngkhi mà:
- Quyền tự chủ (quản lý, học thuật và tài chính) của các cơ sở đào tạođược mở rộng;
- Tỷ trọng (số người theo học) và thành phần (loại cơ sở giáo dục đàotạo) phi chính phủ (ngoài công lập) trong hệ thống giáo dục quốc dân ngàymột phát triển;
- Yếu tố nước ngoài tham gia đào tạo (trong và ngoài công lập) ngàymột tăng (do toàn cầu hóa)
Khi đó, kiểm định chất lượng là “sự thể chế hóa được phát triển đầy đủnhất về tính chịu trách nhiệm ở đại học” (Van Vught, 1994) đối với côngluận.[18]
Kiểm định chất lượng không những mang lại cho cộng đồng bằngchứng về chất lượng đào tạo mà còn mang lại cơ hội và động cơ để nâng caochất lượng cho các cơ sở giáo dục đã qua kiểm định Một cơ sở giáo dục chỉđược công nhận đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chí của Hội đồng kiểmđịnh sau khi cơ sở giáo dục chịu sự kiểm tra của các cán bộ đánh giá giàu
Trang 28kinh nghiệm và hiểu các yêu cầu kiểm định của giáo dục Quá trình kiểm địnhcũng mang lại cho các cơ sở giáo dục đã qua kiểm định cơ hội tự phân tíchđánh giá để có những cải tiến về chất lượng.
1.2.3.4 Đặc trưng của kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng giáo dục có các đặc trưng:
- Kiểm định chất lượng giáo dục có thể được tiến hành ở phạm vi cơ sở
đào tạo (trường) hoặc chương trình đào tạo;
- Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động hoàn toàn tự nguyện;
- Kiểm định chất lượng giáo dục không thể tách rời công tác tự đánh giá;
- Tất cả các quy trình kiểm định chất lượng giáo dục luôn gắn liền vớiđánh giá ngoài (đánh giá đồng nghiệp);
- Các chuẩn mực đánh giá rất linh hoạt và được biến đổi cho phù hợpvới mục tiêu hoạt động của từng trường;
- Kiểm định cấp cơ sở giáo dục và kiểm định chương trình không chỉtập trung đánh giá các yếu tố đầu vào mà còn tập trung vào cả quá trình đàotạo và chất lượng học viên khi ra cơ sở giáo dục
1.2.3.5 Quy trình kiểm định
Trên thế giới quy trình kiểm định được thực hiện theo như sau:
Sơ đồ 1.1 Quy trình kiểm định thế giới
(Nguồn: BOGUE & SUANDER 1992)
Xác định cơ quan kiểm định
Quyết định
áp dụng
kiểm định
Đoàn thẩm định đến thăm
Sự chấp
nhận của
trường
Quyết định của cơ quan kiểm định
Trường chuẩn bị báo cáo
Báo cáo Đoàn gửi Trường &
cơ quan kiểm định Phản ứng
của trường
Trang 29Ở Việt Nam quy trình KĐCL có 4 hoạt động chủ yếu và được thực hiệntheo một trình tự nhất định trở thành quy trình 4 bước cơ bản của KĐCL, 4 bước đó được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Quy trình KĐCL Việt Nam
Các bước KĐCL được cụ thể như sau:
1) Tự đánh giá của cơ sở giáo dục
Đây là bước đầu tiên trong hoạt động KĐCLGD của cơ sở giáo dục,TĐG bao gồm các bước:
a) Thành lập Hội đồng TĐG
b) Xây dựng kế hoạch TĐG
c) Thu thập, xử lý và phân tích các thông tin, minh chứng
d) Đánh giá mức độ đạt được theo từng tiêu chí
e) Viết báo cáo TĐG
f) Công bố báo cáo TĐG
2) Đăng kí đánh giá ngoài và đăng kí công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục
Sau khi hoàn thành báo cáo TĐG cơ sở giáo dục chuẩn bị hồ sơ đăng
ký đánh giá ngoài và đăng ký công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
để gửi lên phòng GD&ĐT bao gồm:
- Công văn đăng ký đánh giá ngoài và đăng ký công nhận đạt tiêuchuẩn chất lượng giáo dục
TĐG của cơ sở GD Đăng ký đánh giá ngoài và đăng ký
đạt tiêu chuẩn CLGD (báo cáo TĐG)
Đánh giá ngoài (đoàn thẩm định, đánh giá đồng nghiệp) Công nhận cơ sở đạt tiêu chuẩn CLGD và
cấp giấy chứng nhận KĐCLGD
Trang 30- Báo cáo TĐG (2 bản)
Phòng GD&ĐT tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đăng ký đánh giá ngoài vàđăng ký công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục,thông báo bằng văn bản cho cơ sở giáo dục biết hồ sơ được chấp nhận hoặcyêu cầu tiếp tục hoàn thiện Nếu hồ sơ của cơ sở giáo dục được chấp nhậnthì Phòng GD&ĐT có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký đánh giá ngoài vàđăng ký công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục lên cho Sở Giáo dục
và Đào tạo
Sở GD&ĐT có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đăng ký đánh giángoài và đăng ký công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của cơ sở giáodục từ các phòng GD&ĐT, thông báo bằng văn bản cho Phòng GD&ĐT biết
hồ sơ được chấp nhận hoặc yêu cầu tiếp tục hoàn thiện
3) Đánh giá ngoài đối với cơ sở giáo dục
Nếu hồ sơ đăng ký đánh giá ngoài của cơ sở giáo dục được gửi đi vàđược chấp nhận cơ sơ giáo dục sẽ được tiến hành đánh giá ngoài Quy trìnhđánh giá ngoài bao gồm các bước:
a) Nghiên cứu hồ sơ đánh giá
b) Khảo sát sơ bộ tại cơ sở giáo dục
c) Khảo sát chính thức tại cơ sở giáo dục
d) Lấy ý kiến phản hồi của cơ sở giáo dục về dự thảo báo cáo đánhgiá ngoài
e) Hoàn thiện báo cáo đánh giá ngoài
4) Công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục và cấp giấy chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục
Cơ sở giáo dục được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục là
cơ sở giáo dục đạt các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đã được banhành của BGD&ĐT về bậc học đó Các cơ sở giáo dục được công nhận đạt
Trang 31tiêu chuẩn chất lượng giáo dục theo cấp độ mà cơ sở đó đạt được các yêu cầu
về tiêu chí của cấp độ đó
1.3 Tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục
1.3.1 Những nhận thức cơ bản về tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục
TĐG có thể được xác định theo những khuôn khổ khác nhau tùy thuộcvào mục đích đánh giá TĐG có thể chỉ nhằm phục vụ thẩm định bên ngoài vàcũng có thể là một mắt xích của quá trình nâng cao chất lượng
Theo nghĩa thứ nhất, TĐG nên được định nghĩa như “sự mô tả, phântích, được cán bộ trong cơ sở giáo dục tiến hành trước khi có sự đánh giángoài về những điều kiện, mục tiêu, quá trình và kết quả đã đạt được; chủ yếu
để chuẩn bị một báo cáo cho đoàn thẩm định hay đánh giá đồng nghiệp”(Kells, 1995:28).[19]
Theo nghĩa thứ hai, TĐG được coi là một mắt xích của quá trình bảođảm chất lượng Để quá trình TĐG có thể trở thành một mắt xích của quátrình rộng lớn hơn trong quá trình đảm bảo chất lượng, nó phải được tiến hànhtheo mục tiêu rộng hơn TĐG lúc này sẽ được coi là một bước tiến tới đổi mớicác hoạt động của cơ sở giáo dục bằng việc nâng cao chất lượng, hiệu quảhoạt động đào tạo, nghiên cứu, phục vụ của từng đơn vị và toàn bộ tổ chức.Lúc đó, xây dựng một báo cáo cho đoàn thẩm định hay đánh giá đồng nghiệp
sẽ chỉ còn là mục tiêu thứ hai
Một điều rõ ràng là, nếu càng mong muốn cải tiến bao nhiêu, chúng tacàng cần phải điều chỉnh các quá trình, hoạt động của tổ chức sát hơn với tìnhhình bên trong và bên ngoài tổ chức bấy nhiêu, và do vậy, cần phải chuẩn bịcác tiền đề và điều kiện một cách phù hợp để các quá trình chúng ta dự kiến
có thể diễn ra thành công Quá trình TĐG, do vậy phải được thiết kế để có thể
Trang 32chẩn đoán các điều kiện và nhu cầu của cả tổ chức cũng như các đơn vị trong
tổ chức giúp ích cho các bước thiết kế hoạt động ở giai đoạn sau
Do vậy, TĐG là quá trình trường tự xem xét, nghiên cứu trên cơ sởcác tiêu chuẩn đánh giá chất lượng do Bộ GD&ĐT ban hành để đánh giá vềhiện trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học,nhân lực, cơ sở vật chất cũng như các vấn đề liên quan khác, từ đó tiến hànhđiều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện, nhằm đáp ứng các tiêuchuẩn chất lượng
1.3.2 Mục đích của tự đánh giá
Tự đánh giá có những mục đích sau:
- Làm rõ thực trạng quy mô, chất lượng và hiệu quả các hoạt động đàotạo, nghiên cứu và dịch vụ xã hội theo chức năng, nhiệm vụ của nhà cơ sởgiáo dục;
- Xác định và so sánh theo các tiêu chuẩn kiểm định Nhà nước hoặcHiệp hội đã công bố xem đạt được đến mức nào (cụ thể là đánh giá thực trạngcác hoạt động tổ chức quản lý và các điều kiện bảo đảm chất lượng cho đàotạo, nghiên cứu và dịch vụ của nhà cơ sở giáo dục: từ cơ sở vật chất, trangthiết bị, đội ngũ CBQL và GV, chương trình, giáo trình đào tạo… đến cácnguồn kinh phí và dịch vụ học viên,… xem đạt đến mức nào của tiêu chuẩnđòi hỏi);
- Xác định rõ tầm nhìn, các điểm mạnh Điểm yếu, thời cơ, thách thứccủa cơ sở giáo dục đào tạo và đề xuất ra các chiến lượng, kế hoạch, biện phápnhằm từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụcủa cơ sở đào tạo liên tục phát triển Kiến nghị với các cơ quan có tráchnhiệm và thẩm quyền như Bộ chủ quản hay lãnh đạo địa phương chỉ đạo vàcung cấp các biện pháp hỗ trợ cho nhà cơ sở giáo dục không ngừng mở rộngqui mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của mình
Trang 331.3.3 Vai trò, ý nghĩa của tự đánh giá đối với cơ sở giáo dục đào tạo
TĐG trong KĐCL có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc nâng caochất lượng giáo dục trong nhà trường đó là:
- TĐG còn là một khâu đầu tiên trong tổng thể các hoạt động KĐCLđào tạo của các cơ sở giáo dục Trước hết TĐG thể hiện tính tự chủ và tự chịutrách nhiệm của nhà cơ sở giáo dục trong toàn bộ các hoạt động đào tạo,nghiên cứu và dịch vụ xã hội theo chức năng nhiệm vụ được giao của cơ sởgiáo dục và phù hợp với tôn chỉ mục đích và sứ mạng của nhà cơ sở giáo dục,tạo cơ sở cho bước tiếp theo là đánh giá ngoài;
- Nâng cao chất lượng học tập của người học, làm tăng khát vọng, tạođộng lực và sự nỗ lực học tập với năng lực và sở thích khác nhau;
- Tạo dựng môi trường dạy học hiệu quả;
- Tăng cường sự bình đẳng trong hưởng lợi từ giáo dục Công tác TĐG
có thể mang lại lợi ích đến cho người học có năng lực và nguyện vọng khácnhau;
- Phối hợp các hoạt động giáo dục để khẳng định sự tôn trọng, thựchiện nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân Công tác TĐG liên quan đến quyềncông dân các mối liên kết kéo theo các quan hệ đối tác chặt chẽ giữa nhàtrường, cha mẹ học sinh và cộng đồng
Công bố báo cáo TĐG
Trang 34Cụ thể như sau:
Bước 1 Thành lập Hội đồng TĐG
a) Hiệu trưởng nhà trường hoặc Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp
- hướng nghiệp (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) ra quyết định thành lậpHội đồng TĐG nhà trường
b) Hội đồng TĐG có ít nhất 07 thành viên gồm:
- Chủ tịch HĐ TĐG là Hiệu trưởng nhà trường;
- Phó Chủ tịch HĐ TĐG là Phó Hiệu trưởng nhà trường;
- Thư ký HĐ TĐG là thư ký Hội đồng trường hoặc GV có uy tín củanhà trường;
- Các thành viên khác gồm: đại diện Hội đồng trường đối với trườngcông lạp (Hội đồng quản trị đối với trường tư thục), các tổ chuyên môn, GV
có uy tín, tổ trưởng tổ văn phòng, đại diện các tổ chức đoàn thể, đại diện một
số phòng, ban, tổ Giáo vụ và Quản lý học sinh, tổ Quản lý nội trú (nếu có)
c) Để triển khai hoạt động TĐG, Chủ tịch Hội đồng thành lập nhóm thư
d) Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng TĐG:
- Phổ biến quy trình TĐG và yêu cầu các bộ phận, cá nhân của nhàtrường phối hợp thực hiện; xây dựng kế hoạch TĐG; thu thập thông tin, minhchứng; rà soát các hoạt động giáo dục, đối chiếu, so sánh kết quả TĐG vớicác tiêu chuẩn đánh día chất lượng giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành tiêuchí; viết báo cáo TĐG; tổ chức thực hiện việc duy trì cơ sở dữ liệu về chất
Trang 35lượng giáo dục gồm các thông tin chung Kết quả điều tra thực trạng và cácvấn đề khác nhằm hỗ trợ việc duy trì, nâng cao chất lượng nhà trường;
- Yêu cầu lãnh đạo, GV, NV và học sinh của nhà trường thực hiện kếhoạch cải tiến chất lượng đề ra trong báo cáo TĐG;
- Đề nghị lãnh đạo nhà trường thuê chuyên gia tư vấn hỗ trợ việc triểnkhai hoạt động TĐG (nếu cần thiết)
e) Hội đồng TĐG làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ và thảoluận để đi đến thống nhất; mọi quyết định chỉ có giá trị khi ít nhất 2/3 thànhviên trong Hội đồng nhất trí
Bước 2 Xây dựng kế hoạch TĐG
Kế hoạch TĐG do Chủ tịch Hội đồng TĐG phe duyệt bao gồm các nộidung:
a) Mục đích và phạm vi TĐG;
b) Phân công nhiệm vụ cho từng thành viên;
c) Dự kiến các nguồn lực và thời điểm cần huy động;
d) Xác định công cụ đánh giá;
e) Dự kiến các thông tin và minh chứng cần thu thập cho từng tiêu chí;f) Xác định thời gian biểu cho từng hoạt động (bao gồm thời gian cầnthiết đê triển khai TĐG và lịch trình thực hiện các hoạt động cụ thể)
Bước 3 Thu thập, xử lý và phân tích các thông tin, minh chứng
a) Căn cứ các tiêu chí của tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục doBGD&ĐT ban hành, nhà trường tiến hành thu thập thông tin và minh chứng
- Thông tin là những tư liệu được sử dụng để hỗ trợ và minh họa chocác phân tích, giải thích, nhận định, kết luận trong báo cáo TĐG;
- Minh chứng là những thông tin gắn với các tiêu chí để xác định từngchỉ số đạt hay không đạt Các minh chứng được sử dụng làm căn cứ để đưa racác phân tích, giải thích, nhận định, kết luận trong báo cáo TĐG;
Trang 36- Trong báo cáo TĐG, các thông tin, minh chứng được mã hóa theomột quy tắc nhất định.
b) Thông tin và minh chứng phải có nguồn gốc rõ ràng và bảo đảm tínhchính xác, được thu thập ở hồ sơ lưu trữ của nhà trường, các cơ quan có liênquan, hoặc bằng khảo sát, điều tra phỏng vấn, quan sát các hoạt động giáo dụctrong nhà trường
c Các thông tin và minh chứng được xử lý, phân tích trước khi dùnglàm căn cứ, minh họa cho các nhận định trong báo cáo TĐG
d) Trong trường hợp không thể tìm được thông tin, minh chứng chomột tiêu chí nào đó, Hội đồng TĐG phải làm rõ lý do trong báo cáo
Bước 4 Đánh giá mức độ đạt được tiêu chí
Việc đánh giá mức độ đạt được của tiêu chí được thực hiện thông qua
Phiếu đánh giá tiêu chí Phiếu đánh giá tiêu chí là tài liệu ghi nhận kết quả
làm việc của cá nhân hoặc nhóm công tác theo từng tiêu chí và là cơ sở đểtổng hợp thành báo cáo TĐG
Tiêu chí được xác định là đạt khi tất cả các chỉ số của tiêu chí đều đạt.Chỉ số được đánh giá là đạt khi đạt tất cả các yêu cầu của chỉ số
Bước 5 Viết báo cáo TĐG
a) Kết quả TĐG được trình bày dưới dạng một bản báo cáo theo cấutrúc và hình thức thống nhất quy định Báo cáo TĐG là một văn bản ghi nhớquan trọng để nhà trường cam kết thực hiện các hoạt động cải tiến và nângcao CLGD;
b) Báo cáo cần mô tả ngắn gọn, rõ ràng, chính xác và đầy đủ các hoạtđộng giáo dục liên quan đến toàn bộ các tiêu chí, trong đó chỉ ra những điểmmạnh, điểm yếu và các biện pháp cải tiến chất lượng, kế hoạch thực hiện, thờihạn hoàn thành
Trang 37c) Kết quả TĐG được trình bày lần lượt theo các tiêu chuẩn Đối vớimỗi tiêu chí cần có đầy đủ các phần: mô tả hiện trạng; điểm mạnh; điểm yếu;
kế hoạch cải tiến chất lượng; TĐG theo từng tiêu chí (đạt hay không đạt)
d) Kết quả đánh giá từng tiêu chí được tổng hợp vào Bảng tổng hợp kết quả TĐG.
Tùy theo kế hoạch phát triển và chiến lược ưu tiên của mỗi nhà trường
mà xác định trọng tâm cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trườngcho từng giai đoạn Về tổng thể, nhà trường phải có kế hoạch phát huy nhữngđiểm mạnh và khắc phục tất cả những tồn tại của mình
Bước 6 Công bố báo cáo TĐG
a) Dự thảo báo cáo TĐG được công bố công khai trong thời gian 15ngày làm việc tại nhà trường để lấy ý kiến góp ý Hội đồng TĐG tiến hànhthu thập, xử lý các ý kiến thu được để hoàn thiện báo cáo
b) Nhà trường công bố, công khai rộng rãi báo cáo TĐG sau khi đãhoàn thiện Báo cáo TĐG và các thông tin và minh chứng được lưu trữ đầy đủtrong ít nhất là một chu kỳ KĐCLGD
1.3.5 Các nhân tố tác động đến hoạt động tự đánh giá của nhà trường
1.3.5.1 Nhận thức
TĐG trong KĐCLGD hiện nay là một hoạt động hoàn toàn mới mẻ đốivới nhà trường Do đó, hoạt động TĐG chỉ có thể thực hiện tốt khi Ban giámhiệu nhà trường quán triệt cho các thành viên trong nhà trường thấu hiểu đượcvai trò và ý nghĩa của KĐCL
- Khi có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về hoạt động TĐG Ban Giámhiệu tại các cơ sở giáo dục mới hiểu được rằng KĐCLGD không những manglại cho cộng đồng bằng chứng về chất lượng đào tạo của nhà trường mà cònmang lại cơ hội và động cơ để nâng cao chất lượng của chính nhà trườngmình qua việc tự phân tích, đánh giá để từ đó có những cải tiến chất lượng
Trang 38làm cơ sở để chứng minh sự đảm bảo chắc chắn về việc đáp ứng các yêu cầu
và tiêu chí đã đề ra Từ đó thực sự quan tâm đầu tư công sức, chỉ đạo sát sao
để hoạt động TĐG của trường thực hiện đúng quy trình đạt hiệu quả
- Đối với GV và NV trong cơ sở giáo dục mới có thể hiểu được hoạt
động KĐCLGD được tiến hành như thế nào, bao gồm những bước gì và đặcbiệt là hoạt động TĐG được thực hiện để làm gì sẽ giúp họ có ý thức tráchnhiệm đối với hoạt động này Bởi hiện nay phần lớn GV, NV còn chưa thấyhết được tầm quan trọng của công tác KĐCL, họ thực hiện là do sự ép buộc
Chính vì vậy, chỉ khi nào nhận thức về TĐG đúng đắn và đầy đủ mớitạo cho mọi người một thói quen tiếp nhận và tổ chức tốt công tác KĐCL,công tác kiểm định chính là cú hích của chất lượng đào tạo giáo dục và bướcđầu xây dựng văn hóa chất lượng tại các cơ sở giáo dục
1.3.5.2 Vai trò, trách nhiệm của các thành viên trong cơ sở giáo dục
Con người có vai trò quyết định sự tác động của hoạt động Đối vớicông tác TĐG yêu cầu số lượng thành viên tham gia lớn Mỗi thành viêntrong nhà trường cần biết mình phải làm gì, phải làm như thế nào và tráchnhiệm đến đâu khi đã có những hiểu biết đầy đủ về TĐG trong KĐCLGD Từviệc thu thập minh chứng, phân tích, xử lý số liệu thống kê cũng như viết báocáo đều rất cần thiết và hiệu quả của hoạt động này sẽ quyết định sự thànhcông của TĐG trong KĐCLGD
Bên cạnh đó, nếu quá trình TĐG được thiết kế và tổ chức tốt sẽ tạo ra
“chất keo tâm lý” cho sự phát triển của tổ chức Khi tham gia phát hiện vấn
đề, đưa ra giải pháp và biểu quyết xếp ưu tiên,… các thành viên tổ chức camkết thực hiện những công việc đã chọn Vì vậy, mỗi cá nhân khi được giaothực hiện các nhiệm vụ trên phải thấy được vai trò trách nhiệm của mình đốivới sự thành công của công tác này Bởi công việc dù có quan trọng đến đâu
Trang 39nhưng ý thức trách nhiệm của người thực hiện không cao thì cũng sẽ khôngmang lại hiệu quả.
1.3.5.3 Kế hoạch hoạt động giáo dục
Kế hoạch hoạt động luôn là định hướng quan trọng cho công việc củamột năm, một giai đoạn hay cả một thời kỳ của nhà trường Mỗi hoạt độngkhi được lên kế hoạch đều phải có lộ trình thực hiện rõ ràng và quy củ Đốivới công tác TĐG trong KĐCLGD, khi được xác định trong kế hoạch nămhọc của nhà trường sẽ là một trong những điều kiện quan trọng để hoạt độngnày đảm bảo sự thành công Bởi tiến hành TĐG cần huy động nhiều nguồnlực từ con người, cơ sở vật chất, trang thiết bị; trong khi đây là một trongnhững hoạt động còn mới mẻ với giáo dục Việt Nam nói chung và GDMNnói riêng Vậy nên xác định rõ ràng yêu cầu của hoạt động trong kế hoạchhoạt động giáo dục của nhà trường là điều kiện quan trọng ảnh hưởng đếnhiệu quả công tác TĐG trong KĐCLGD hiện nay
cơ sở cho đánh giá ngoài mà còn là điều kiện để cơ sở giáo dục cải tiến chấtlượng Do vậy, có thể xem KĐCLGD là sự thể chế hóa được phát triển đầy đủ
Trang 40nhất về tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục đối với chất lượngcủa mình và đối với công luận KĐCLGD không những mang lại cho cộngđồng bằng chứng về chất lượng đào tạo mà còn mang lại cơ hội và động cơ đểnâng cao chất lượng cho các trường đã qua kiểm định.
KĐCLGD là một công cụ nhằm mục đích xác định mức độ đáp ứngmục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của cơ sở giáo dục, thông qua sự đánhgiá tổng thể về tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng Kết quả kiểm định
là thước đo cơ sở giáo dục đạt chuẩn chất lượng, đạt được những gì, còn thiếunhững gì để điều chỉnh, bổ sung các điều kiện và tổ chức giáo dục, nhằm đạtchuẩn chất lượng Kết quả kiểm định sẽ được công khai với cơ quan chứcnăng quản lý và xã hội Điều đó một mặt là sự thể chế hóa được phát triển đầy
đủ nhất về tính chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục đối với công luận, mặtkhác sẽ thúc đẩy tích cực các cơ sở giáo dục phải tìm nhiều giải pháp, giải bàitoán đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị mình Do vậy, để
có thể thực hiện được KĐCLGD không thể phủ nhận tầm quan trọng của hoạtđộng TĐG, chỉ khi nào thực hiện được hoạt động TĐG tốt mới có cơ sở đểtiến hành KĐCLGD