1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

CỦNG CỐ VỐN TỪ VỰNG CHO HỌC SINH KHỐI 10, 11, 12 QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI NHẰM GIÚP CÁC EM HỨNG

21 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 490,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phương pháp giúp học sinh học và củng cố vốn từ vựng hiệu quả thông qua một số trò chơi kích thích khả năng học hỏi, học nhóm của học sinh, qua đó học sinh nắm bắt được từ vựng nhanh hơn, nhớ lâu hơn.

Trang 1

TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CỦNG CỐ VỐN TỪ VỰNG CHO HỌC SINH KHỐI 10, 11, 12 QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI NHẰM GIÚP CÁC EM HỨNG THÚ HỌC MÔN

TIẾNG ANH HƠN.

1 Cơ sở thực tiễn:

Là một giáo viên đã trải nghiệm trên 12 năm trực tiếp giảng dạy môn tiếng Anh

ở các khối lớp 10; 11; 12 Tôi nhận thấy một điểm trung ở học sinh cả 3 khối đó là:phần lớn các em còn thiếu và yếu về vốn từ vựng, điều này gây cản trở cho việchọc và hứng thú học môn ngoại ngữ nói chung và môn Anh văn nói riêng Học sinhyếu vốn từ vựng nên trong các giờ dạy tôi thấy các em thường rất bí từ khi muốndiễn tả ý tưởng của mình Bên cạnh đó thì kiến thức nền tảng về các lĩnh vực tựnhiên, xã hội liên quan tới chủ đề bài học của các em cũng rất hạn chế Kết quả làviệc dạy của giáo viên chưa đạt kết quả thật sự tốt, việc học của học sinh không đạt

Trang 2

hiệu quả cao như mong đợi Chính những lý do xuất phát từ thực tế của việc: Dạy

và Học môn tiếng Anh đã là nguồn cảm hứng giúp tôi nảy sinh ra ý định muốn tìmhiểu và nghiên cứu về đề tài: “ CỦNG CỐ VỐN TỪ VỰNG CHO HỌC SINH KHỐI 10, 11, 12 QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI NHẰM GIÚP CÁC EM HỨNG THÚ HỌC MÔN TIẾNG ANH HƠN.” Với hy vọng giúp học sinh hứng thú hơn

khi học tiếng Anh nhờ có vốn từ vựng đa dạng và phong phú

2 Cơ sở lý luận:

Có nhiều quan điểm khác nhau cho rằng người học tập trung thì sẽ đạt kết quảtốt hơn những người học không tập trung nhưng quan điểm này chưa hoàn toànđúng vì học không chủ ý cũng mang lại kết quả khá tốt, tức là người học tiếp thumôt cách không định thông qua các hoạt động hàng ngày hay các trò chơi Phươngpháp này không đòi hỏi người học lúc nào cũng phải tập trung ghi nhớ, nhưng lạilưu giữ thông tin khá lâu, không bị mệt mỏi căng thẳng Điều này cũng rất đồngthuận với quan điểm và tinh thần chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà nội vềphương pháp dạy và học đó là: “ Học mà chơi; chơi mà học” hay với học sinh thì: “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui” Dựa vào những quan điểm lí luận trên màtôi nhận thấy rằng: Dù học nội ngữ hay ngoại ngữ thì việc có được vốn từ vựng đadạng, phong phú sẽ giúp cho người học có hứng thú hơn nhiều với môn học và đặcbiệt là môn tiếng Anh, khi học sinh hứng thú sẽ chăm chỉ hơn, dành nhiều thời gianhơn cho việc học và yêu quý môn học hơn Học sinh không còn tình trạng bí từvựng khi muốn giao tiếp cũng như khi làm bài đọc hiểu, nghe hiểu trong các giờhọc Anh văn nữa Qua một thời gian thực hiện phương pháp gây hứng thú học quacác hoạt động trò chơi đã mang lại cho các giờ học Anh văn một luồng gió mới.Giờ học đạt kết quả cao hơn, học sinh thích thú với môn học hơn, khi học sinh đãthích học thì giáo viên cũng hăng say với việc giảng dạy hơn Phương pháp tổ chứccác hoạt động thông qua các trò chơi ít nhiều đã mang lại niềm đam mê cho họcsinh mà trước đó không nhiều học sinh quan tâm đến môn học này

a Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Qua nhiều năm giảng dạy môn Tiếng Anh tôi nhận thấy phần lớn học sinh đềurất yếu và thiếu vốn từ vựng Chính điều này làm giảm hứng thú học bộ môn này

Số học sinh tự học để bổ sung vốn từ vựng là không nhiều Vốn từ mà các em cóđược chủ yếu là nhờ thầy, cô cung cấp trên lớp nên số lượng từ rất hạn chế Ngoài

ra, vốn từ vựng nghèo còn gây khó khăn khi các em làm bài tập ngữ pháp, bài đọchiểu, nghe hiểu và đặc biệt khi giao tiếp Tôi cho rằng cần tiến hành đề tài nghiêncứu càng sớm càng tốt Do đó, đề tài mang tính cấp thiết cao

Trang 3

b Năng lực nghiên cứu của tác giả:

Không thể phủ nhận một điều rằng: nghiên cứu khoa học là vô cùng khó khăn

và vất vả nhưng với niềm đam mê, hứng thú công việc giảng dạy và nghiên cứu tôi

đã quyết đinh lựa chọn đề tài trên để nghiên cứu cùng với thời gian trên 10 nămtrực tiếp giảng dạy ở các khối lớp 10, 11, 12, và đã tham gia viết sáng kiến kinhnghiệm và 02 lần được Sở Giáo dục và Đào tạo Hà tây cũ xếp loại C vào các nămhọc 2003 - 2004 và 2007- 2008, thì tôi khẳng định rằng mình có thể thực hiện tốt

đề tài cũng như việc xử lý số liệu trong qúa trình thực hiện

3 Đối tượng nghiên cứu:

a Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:

Ban đầu người nghiên cứu chỉ chủ ý nghiên cứu học sinh khối 10, nhưng trongquá trình tiến hành, tác giả nhận thấy cần mở rộng đối tượng nghiên cứu là khối 11

và 12 vì cần tôi cần biết xem khối lượng từ vựng các em học ở lớp 10 sau một đếnhai năm còn duy trì được nhiều không? Hơn nữa, cần phải có đối tượng so sánh mởrộng giữa các nhóm, khối học sinh 10A5, 10 A6, 11A6, 12A2, 12A5 để làm rõ vấn

đề : liệu rằng nghèo vốn từ vựng có làm giảm hứng thú học môn Ngoại ngữ của các

em hay không ?

b Chọn phương pháp nghiên cứu:

Mỗi đề tài yêu cầu người nghiên cứu phải lựa chọn đúng phương pháp nghiêncứu để đạt được kết quả khách quan, trung thực và đảm bảo tính khoa học Sau khitìm hiểu các phương pháp và cách thức thu thập số liệu, tôi đã quyết định lựa chọnphương pháp: Thu thập số liệu, phân tích, đánh giá bằng cách: Phát phiếu trả lờicâu hỏi, thực nghiệm quan sát, thu thập số liệu và dựa vào phiếu trả lời để phântích, đánh giá, sau cùng là đưa ra kết luận

c Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:

Nghiên cứu này chỉ tập trung vào một nhóm đối tượng học sinh các khối lớp

10, 11, và 12 để đi sâu phân tích, đánh giá Phạm vi nghiên cứu không mở rộngtoàn bộ học sinh các lớp vì điều kiện và thời gian chưa cho phép Thời gian tiếnhành khảo sát và thu thập số liệu, phân tích đánh giá, rút ra kết luận bắt đầu từ:tháng 09 năm học 2013 đến tháng 04 năm học 2014

B- Nội dung SKKN:

1 Các bước tiến hành:

Người nghiên cứu tiến hành phát phiếu khảo sát khi tiến hành đề tài với cácnhóm học sinh khối 10, 11, 12 ở các thời điểm khác nhau Dưới đây là phiếu khảosát đầu năm học 2013 - 2014:

Phiếu khảo sát về hứng thú học môn tiếng Anh dành cho 20 học sinh khối 10trước khi tiến hành đề tài:

( Học sinh đánh dấu x vào các trường hợp tương ứng với các mức độ trong phiếu) Phiếu khảo sát số: 01

Trang 4

Bảng tổng hợp kết quả khảo sát trước khi tiến hành đề tài nhóm học sinh khối 10:

Các mức độ Số lượng học sinh Tỷ lệ phần trăm (%)

lệ thấp, nhiều em còn chưa coi trọng việc học tiếng Anh

Phiếu khảo sát về hứng thú học môn tiếng Anh dành cho 20 học sinh khối

11 trước khi tiến hành đề tài:

( Học sinh đánh dấu x vào các trường hợp tương ứng với các mức độ trong phiếu) Phiếu khảo sát số: 02

Số tt Họ và tên đệm H/S Không thích học Thích học Rất thích học

Trang 5

19 Nguyễn Văn Vương X

20 Trần Quang Vượng X

Tổng số: 20 3 h/s 7 h/s 10 h/sBảng tổng hợp kết quả khảo sát trước khi tiến hành đề tài nhóm học sinh khối 11:

Các mức độ Số lượng học sinh Tỷ lệ phần trăm (%)

Phiếu khảo sát về hứng thú học môn tiếng Anh dành cho 20 học sinh khối 12trước khi tiến hành đề tài:

( Học sinh đánh dấu x vào các trường hợp tương ứng với các mức độ trong phiếu) Phiếu khảo sát số: 03

Số tt Họ và tên đệm H/S Không thích học Thích học Rất thích học

Trang 6

3 Nguyễn Quỳnh Hoa x

Bảng tổng hợp kết quả khảo sát trước khi tiến hành đề tài nhóm học sinh khối 12:

Các mức độ Số lượng học sinh Tỷ lệ phần trăm (%)

tỷ lệ 30% Còn số học sinh không thích học tiếng Anh là 5/20 chiếm 25%

Như vậy, thực trạng của vấn đề không như chúng ta mong muốn vì khi nhìn vàotổng thể cả 3 khối thì tôi thấy rằng: học sinh càng lên lớp cao thì càng tỷ lệ thuậnvới hứng thú học hơn Cụ thể ở lớp 10 thì không có học sinh nào không thích họcnhưng lên đến lớp 12 thì đã có 5 trong số 20 học sinh không ưa thích môn tiếngAnh Qua tìm hiểu tôi thấy hầu hết các em đều không có hứng thú học môn nàylắm, không muốn tìm hiểu về một nền văn hoá mới bởi rào cản về từ vựng và kiếnthức nền có liên quan đến môn học Lý do khác nữa là do các quên nhiều kiến thức

cơ bản Trước những khó khăn trên đã khiến tôi phải đặt ra rất nhiều câu hỏi để giảiquyết vấn đề như: Làm thế nào và bằng cách nào để giúp các em có hứng thú, đam

mê với môn học này khi đa số các em đều cho rằng tiếng Anh là môn học rất khó ?

Trang 7

Sau khi thực hiện cuộc khảo sát có số liệu trong tay, tôi bắt đầu hiện thực hoá ýtưởng của mình với suy nghĩ: Học sinh thiếu và yếu về vốn từ vựng thì tìm cáchgiúp các em củng cố vốn từ, nếu thiếu hứng thú học thì truyền cảm hứng học chocác em Tuy nhiên, với thời lượng trên lớp thì khó có thể giúp các em mở rộng, traurồi và rèn luyện kỹ từ vựng được chỉ có thể tiến hành đầu giờ hay cuối các tiết họcthay vì kiểm tra đầu giờ Điều này sẽ giảm căng thẳng, áp lực phải học thuộc lòng ,ghi nhớ máy móc nhiều từ mới Trong quá trình giảng dạy tôi đã nảy sinh ra ýtưởng làm cách nào đó để giúp học sinh vừa học, vừa chơi thông qua một số hoạtđộng và trò chơi vào đầu giờ lên lớp để bổ sung vốn từ vựng còn đang rất nghèocủa học sinh Thay vì kiểm tra bài cũ như thông thường, tôi giới thiệu chủ đề bàihọc, hầu hết học sinh đều tỏ ra rất hứng thú học, không có em nào tỏ ra mệt mỏi,căng thẳng, bị áp lực như khi phải đứng lên để trả lời vấn đáp.Trò chơi chỉ kéo dài

5 đến 7 phút thôi nhưng hiệu quả mà nó mang lại thì ngoài sự mong đợi của tôi bởi

vì các em rất hào hứng tham gia học tập

2 Các phương thức tổ chức trò chơi cho học sinh tham gia:

2.1 Trò chơi Family words:

Phương pháp này theo tôi đánh giá là rất hiệu quả bởi vì nó giúp học sinh có đượcnhiều từ mới với cùng một chủ đề bài học, nó cũng giúp học sinh rễ học, rễ nhớ, rễràng trao đổi, học hỏi lẫn nhau, tạo cơ hội cho học sinh nhút nhát tham gia làm việctheo nhóm Dựa vào chủ đề các bài học trong chương trình mà giáo viên có thể đưa

ra các chủ đề từ khác nhau cho thích hợp như: Family members, Body parts, schoolactivities, daily activities, computer devices, means of transportations, Body parts Với các mỗi chủ đề trên trong các tiết học yêu cầu học sinh phải tập trung suy nghĩđộc lập trước, viết ra các từ có liên quan đến chủ điểm mà giáo viên đưa ra, giáoviên ấn định thời gian là 5 đến 7 phút Các thành viên trong nhóm tập trung trao đổi

số lượng từ mà mình vừa viết ra Đại diện của các nhóm sẽ lên bảng viết ra các từvừa tìm được, các thành viên dưới lớp cổ vũ, động viên cho nhóm trưởng của nhómmình, nhóm nào viết được nhiều nhất thì thắng cuộc Trong trường hợp các nhómbằng số lượng từ như nhau thì có thể phân biệt bằng cách tìm ngữ nghĩa của từ đó,cách đọc phát âm chuẩn để tìm ra đội thắng, phần thưởng là những tràng pháo taygiòn giã hoặc những món quà nhỏ như thước kẻ, bút… Không khí tiết học ngoạingữ trở nên vô cùng sôi nổi Bằng cách này thì thành viên của các nhóm cũng códịp để học hỏi lẫn nhau Giờ đây thì giáo viên giống như một trọng tài đưa ranhững nhận xét, đánh giá Tuy nhiên, đòi hỏi người giáo phải chuẩn bị giáo án mộtcách thật cẩn thận với rất nhiều phương án dự phòng vì sẽ có khá nhiều từ mới màcác em đưa ra ở mỗi tiết học Với cách này thì việc xây dựng vốn từ vựng cho các

em theo từng chủ điểm trở nên nhẹ nhàng hơn Các em hứng thú học thì càng hứngthú hơn, các em trước đây không thích học thì giờ đây thích học vì có cơ hội đểnhập cuộc cùng các bạn và thầy, cô giáo Giáo viên cần thận trọng và lưu ý là chủ

đề đưa ra phải sát và gắn với chủ đề bài học để giúp các em học tiết học rễ rànghơn Ví dụ: khi học Unit 1- Homelife - English 12 có thể đưa ra chủ đề như: Family

Trang 8

members để các em có thể thảo luận và tìm ra các từ như: Great-grandparents,grandparents, parents, Uncles, aunts, brothers, sisters, younger-brothers or younger-sisters, nephew, nieces, children, grandchildren Còn với chủ đề từ về Body partsthì các em có thể tập làm hoạ sỹ, vẽ ra một người nào đó mà em thích rồi mô tảbằng tiếng Anh: face, head, forehead, eyes, eyeslashes , mouth, ears, nose, teeth,chin, neck, hair, shoulder, arms, hands, fingers, thumb, leg, toe, knee… hay ở chủđề: Daily activities thì học sinh có thể tìm ra hàng loạt các động từ chỉ hoạt độngtrong ngày như: Wake up, get up, review lessons, wash face, have breakfast, go towork or school, return, take a snap, play sports, study, prepare meals, go to market,

go to bed… Unit 5- Technology and you có thể đua ra chủ đề: Computer deviceshay Unit 11-Natural resources có thể đưa ra chủ đề về: sources of energy Điềuquan trọng nhất là học sinh rễ ràng nhớ được nhiều từ và có thể sử dụng hiệu quảtrong các giờ học kỹ năng tiếng tiếp theo như: Đọc hiểu, nghe hiểu, viết và ngữpháp

Dưới đây là một vài chủ đề mà giáo viên đã đưa ra và tổ chức cho học sinh thamgia: Trong chương trình tiếng Anh 10

- Unit 1- A day in the life of… giáo viên cho học sinh tìm hiểu về: Daily activities

- Unit 5- Technology and you Cho học sinh tìm hiểu về: Computer devices

- Unit 6- An excursion Học sinh tìm hiểu về chủ đề từ: Things for a trip

- Unit 10- Endangered Species Học sinh Viết chủ đề từ về: Endangered Species

- Unit 12- Music Học sinh tìm hiểu về chủ đề từ: Kinds of Music

- Unit 13- Films and Cinema Giáo viên cho học sinh mở rộng vốn từ về: Kinds offilms

- Unit 16- Historical places Các em có dịp làm quen với chủ đề từ: Name thehistorical places in Vietnam Học sinh sẽ có dịp đi du lịch qua sách vở với các địadanh nổi tiếng ở cả 3 miền: Bắc-Trung-Nam…

Ví dụ: Unit 6- An excursion

Trong thời gian khoảng 5 phút học sinh tìm ra được các từ liên quan:

Sleeping-bags; blankets, mosquitor-nets, lighters, tents, pure water, food, bread,raincoats, medicines, clothes, cameras, films, cell-phones, hats, umbrellas

Sau khi tìm ra các từ giáo viên chọn lọc ra những từ nào gần với chủ đề thì cho họcsinh nắm bắt ngay trên lớp Từ nào không nằm trong chủ đề thì bị loại Đội thắngcuộc là đội tìm được nhiều từ đúng với chủ đề

-Unit 10- Endangered Species, học tìm ra các từ có liên quan như:

Pandas, tortoises, tigers, Rhinoceros, Elephants, Leopards, Parrots

-Unit 13- Films and Cinema, học sinh tìm từ liên quan đến chủ đề nàynhư:Detective films, science fiction films, Love story films, Cartoon films,Documentary films, War films, Thrillers, Action films, Romantic Films

Trong chương trình tiếng Anh 11 có thể cho học sinh tìm hiểu về các chủ đề từnhư: Unit 8- Celebrations các có dịp để tìm hiểu về chủ đề từ là: popularcelebrations in a year: Chrismas, Halloween, Thanksgiving, Easter, Valentine’Day,Mother Day, May Day, Graduation , Birthday, Tet holiday Festival, Independence

Trang 9

Day, wedding…Trong các từ mà học sinh tìm ra ở trên có một số từ cần phải loại ra

vì nó không hợp với chủ đề như: Birthday, graduation, hay wedding chỉ mang tính

cá nhân, không liên quan đến ngày nghỉ lớn trong năm ở Việt Nam cũng như trênthế giới

Unit 11- Sources of energy, các em có dịp tìm hiểu từ liên quan đến chủ đề:Sources of energy and alternative sources:

Fossil fuels(Coals, natural gases, petrol), Tide energy, wave energy ,Hydro-electricity, Solar energy , Nueclear energy , wind energy , Ethermal energy Trong chương trình tiếng Anh 12, các em được tìm hiểu về chủ đề:

- Unit 6- Future Jobs với chủ đề: Kinds of jobs: Teachers, Engineers, Drivers,Doctors, nurses, farmers, Workers, taxi-drivers, waiters, Actors, Singers, PaintersPilots,ballet-dancers,Computer-programmers,Chefs,Police,tour-guide,

entrepreneurs, air-hostess, cashiers, accoutants, artists, Musicians, guardians…

- Unit 12- Water sports, học sinh có dịp tìm hiểu về chủ đề từ:

Swimming, water polo, windsurfing, scuba-diving, rowing, swimming…

synchronized Unit 13synchronized The 22 second SEA Games, chủ đề của các em là: Name the sports:Shooting, tennis, football, badminton, wresting, body-building, basketball,Volleyball, wushu, Karatedo, boxing, swimming, high jumping

- Unit 14 - International organizations, giáo viên cho học sinh tìm hiểu về chủ đềtừ: tên viết tắt của các tổ chức trong nước và quốc tế phổ biến bắt đầu bằng các chữcái: WTO, WHO, WWF, UNICEF, IOC, AFF, VFF, FAO, UN, ILO, IMF, NGO

Để không nhàm chán giáo viên cũng có thể cho các em chơi các chủ đề khácnhư: Means of transportation: Buses, Trains, air-planes, bicycles, motorbikes, carts,coaches, Ships, Canoes, Undergrounds, Vans, Boats, cars, shire-horses, Cyclos,Radios, television, newspapers Trong các từ trên thì có 3 từ không hợp với chủ đềlà: Radios, television, newspapers, những từ này thuộc về chủ đề truyền thông.Cũng có từ ít xuất hiện như: shire-horses, carts Do vậy, khi tổ chức các chủ đề nhưthế này yêu cầu người giáo viên phải chuẩn bị bài giảng thật tốt, làm chủ tiết dạy,

có nhiều phương án dự phòng vì có những từ mới phát sinh mà các em tìm ra Giáoviên có thể tổ chức cho học sinh chơi ở phần warm-up activities của mỗi tiết học đểcác em tìm hiểu, khám phá, mở rộng từ vựng mới liên quan đến bài học hoặc cuộcsống, cũng có thể cho các em chơi ở phần cuối tiết học để củng cố vốn từ Ngoài ra,giáo viên có thể giới thiệu chủ đề tìm từ để học sinh có thể tiến hành ở nhà phục vụcho tiết học tiếp theo hoặc trong các giờ ngoại khoá

2.2 - Matching: đây là trò chơi rất phổ biến, giáo viên có thể in các phiếu và

phát cho học sinh để các em tham gia

- Match the words to the pictues:

Trang 10

- Match Vegetable Words and Pictures:

Với chủ đề về Time, giáo viên có thể cho các em kết nối như sau:

Ngày đăng: 01/05/2019, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w