1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ cổ đông thiểu số trong Công ty cổ phần

15 222 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 72,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hầu hết các CTCP ở Việt Nam đều có sự tham gia đa dạng của các nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt là đối với các CTCP đã niêm yết cổ phiếu trên Thị trường Chứng khoán (TTCK) .Vấn đề bảo vệ CĐTS hiện nay cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập, gây bức xúc, nhức nhối, làm nản lòng các nhà đầu tư; gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự lành mạnh của môi trường kinh doanh và hiệu quả của việc huy động nguồn vốn cho sự phát triển của nền kinh tế.

Trang 1

BỘ CÔNG NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

-Tiểu luận môn Luật kinh doanh

BẢO VỆ QUYỀN, NGHĨA VỤ VÀ LỢI ÍCH

CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

GV hướng dẫn: TSKH Đặng Công Tráng

HV t hực hiện: Hoàng Anh Tuấn – Lớp CH TCNH 6A

TP Hồ Chí Minh, Tháng 3 - 2017

Trang 2

MỞ ĐẦU

Công ty cổ phần (CTCP) là loại hình doanh nghiệp phát triển phổ biến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay Hầu hết các CTCP ở Việt Nam đều có sự tham gia

đa dạng của các nhà đầu tư là cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt là đối với các CTCP đã niêm yết cổ phiếu trên Thị trường Chứng khoán (TTCK) Bên cạnh

đó, TTCK cũng đang ngày càng phát triển và thu hút thêm nhiều nhà đầu tư mới, đặc biệt là những nhà đầu tư với số lượng vốn nhỏ.

Dưới cả góc độ thực tiễn và pháp lý, Cổ đông thiểu số (CĐTS) được hiểu là những cổ đông sở hữu một tỷ lệ nhỏ cổ phần và bị hạn chế về khả năng quản lý, cũng như kiểm soát các hoạt động trong CTCP Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, bắt đầu

từ Luật Công ty 1990, cho đến Luật Doanh nghiệp (LDN) 2005, rồi đến LDN 2014 và Luật Chứng khoán (LCK) 2006, mô hình CTCP ở Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, với một trong những nguyên tắc pháp lý quan trọng là hướng đến và duy trì việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là CĐTS Trong đó, sự công bằng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cổ đông là vấn đề được các nhà làm luật đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, trong ba khía cạnh quyền, nghĩa vụ và lợi ích được pháp luật doanh nghiệp điều chỉnh, có vẻ như chỉ có phần nghĩa vụ là duy trì được sự bình đẳng tương đối, trong khi hai khía cạnh còn lại thì hầu như chưa đạt được sự công bằng theo đúng nghĩa

Vấn đề bảo vệ CĐTS hiện nay cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập, gây bức xúc, nhức nhối, làm nản lòng các nhà đầu tư; gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự lành mạnh của môi trường kinh doanh và hiệu quả của việc huy động nguồn vốn cho sự phát triển của nền kinh tế.

Trang 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CTCP - QUYỀN, NGHĨA VỤ VÀ LỢI ÍCH CỦA

CỔ ĐÔNG - SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG

CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Khái niệm, đặc điểm, lịch sử hình thành CTCP

a. Lịch sử hình thành CTCP

CTCP là loại hình doanh nghiệp có lịch sử hình thành và phát triển tương đối lâu dài trên thế giới, CTCP đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India Company)

của Anh (1600-1874) Loại hình công ty này “đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn

giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia” Cho đến ngày nay,

CTCP đã trở thành một loại hình kinh doanh phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế

giới và “được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để

huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển”.

b Khái niệm, đặc điểm của CTCP

- Tư cách pháp nhân độc lập:

CTCP là một thực thể có tư cách pháp nhân độc lập, tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập CTCP tách bạch khỏi những người đã góp vốn thành lập nên nó, khi

cổ đông đã góp tài sản vào công ty, công ty trở thành chủ sở hữu đối với tài sản, cổ đông không còn quyền sở hữu đối với tài sản đó nữa

- Trách nhiệm hữu hạn của cổ đông

Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, những người góp vốn vào CTCP gọi là cổ đông và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp, đây là cách pháp luật khuyến khích người dân tham gia kinh doanh để phát triển kinh tế

- Tự do chuyển nhượng cổ phần

Trừ một số hạn chế luật định, cổ đông được tự do mua bán, chuyển nhượng cổ phần của mình cho bất kỳ ai vào bất kỳ lúc nào mà không phụ thuộc vào sự đồng ý của công ty

1.2 Khái niệm về cổ đông; quyền và nghĩa vụ của cổ đông; bảo vệ cổ đông thiểu số trong CTCP

a Khái niệm cổ đông

Cổ đông là người đã góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần của công

ty Khi đã đưa tài sản vào công ty, quyền sở hữu tài sản của cổ đông được chuyển sang cho công ty Đổi lại, họ trở thành các đồng sở hữu chủ của công ty Cổ đông có quyền lợi đối với công ty tương ứng với phần vốn góp của mình

Số lượng cổ đông trong CTCP tối thiểu là ba (03) và không hạn chế số lượng tối đa

Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân và phải sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty

Có nhiều cách phân loại cổ đông: Cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi; cổ đông đa

số, cổ đông thiểu số; Cổ đông tổ chức, cổ đông cá nhân

Trang 4

Cổ đông thiểu số (CĐTS) là cổ đông sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhỏ trong công ty cổ phần và không có khả năng chi phối, kiểm soát hoạt động của công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

b Quyền, nghĩa vụ và lợi của cổ đông

Quyền của cổ đông phổ thông được quy định cụ thể tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014 Ngoài ra luật doanh nghiệp còn quy định cụ thể các quyền khác như: Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông (Điều 129); Thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) (Điều 136); Quyền dự họp ĐHĐCĐ (Điều 140); Yêu cầu hủy

bỏ quyết định của ĐHĐCĐ (Điều 147); Công khai các lợi ích liên quan (Điều 159); Khởi kiện đối với HĐQT, Giám đốc, Tổng giám đốc (Điều 161)

a) Quyền chuyển nhượng cổ phần

Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần được xem xét ở hai khía cạnh là có quyền chuyển nhượng cho bất kỳ ai vào bất cứ lúc nào và không cần thủ tục phê chuẩn của công ty

b) Quyền tiếp cận thông tin

Quyền được nắm bắt những thông tin về công ty một cách đầy đủ là cơ sở để cổ đông thực hiện các quyền cơ bản khác như quyền biểu quyết tại cuộc họp của ĐHĐCĐ, quyền bầu và miễn nhiệm HĐQT và cả quyền chuyển nhượng cổ phần Luật Doanh nghiệp quy định cổ đông được xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác; xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ

c) Quyền dự họp và biểu quyết tại ĐHĐCĐ

ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần, bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết

d) Quyền bầu, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị

HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có quyền nhân danh công ty quyết định mọi vấn

đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ

Quyền đề cử thành viên HĐQT; quyền bầu thành viên HĐQT; quyền bãi nhiệm thành viên HĐQT

e) Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần

Điều 129 Luật Doanh nghiệp được đánh giá là một trong những điều khoản tiêu biểu nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số Theo điều này, cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình theo giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty

Có ý kiến cho rằng, quy định trên tạo ra nguy cơ là công ty phải dùng mọi khoản tiền hiện có để mua lại cổ phần, có thể dẫn đến phá sản nếu cổ đông đồng loạt phản đối công ty theo kiểu này Tuy nhiên, việc yêu cầu công ty mua lại cổ phần vẫn là một giải pháp an toàn cho các cổ đông khi muốn rút khỏi công ty

f) Quyền khởi kiện yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ,

Cổ đông trong công ty cổ phần Việt Nam chỉ có quyền khởi kiện Tòa án yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ trong hai trường hợp: (i) trình tự và thủ tục triệu tập cuộc họp không theo đúng quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty (Điều

Trang 5

147); (ii) trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc điều lệ công ty (Điều 161)

Luật doanh nghiệp quy định quyền lợi cho các cổ đông khá đầy đủ Tuy nhiên, khi những quyền này bị vi phạm thì chế tài bảo vệ cho các cổ đông lại chỉ được quy định sơ sài, cổ đông không thể kiện HĐQT hay Ban lãnh đạo công ty khi họ có hành vi vi phạm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các cổ đông

c Sự cần thiết của việc bảo vệ cổ đông thiểu số trong CTCP

Vấn đề bảo vệ CĐTS ở Việt Nam đã được đặt ra trong một thời gian dài trước đây, tuy nhiên chưa bao giờ vấn đề này lại trở nên cần thiết như bây giờ Điều đó xuất phát từ các nguyên nhân và mục tiêu chủ yếu là:

- Quan hệ bất bình đẳng giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số

Trong CTCP, về lý thuyết, quyền của các cổ đông là như nhau, do đó khi đặt ra vấn

đề bảo vệ cổ đông thì lẽ ra cần phải bảo vệ cả cổ đông lớn và CĐTS Tuy nhiên, sở dĩ chúng ta chỉ đặt ra vấn đề phải bảo vệ CĐTS mà không bao gồm cổ đông lớn là vì trong mối quan hệ giữa cổ đông lớn và CĐTS, chỉ có CĐTS mới cần được bảo vệ, cổ đông lớn với số lượng cổ phần mà họ sở hữu trong công ty đã được pháp luật bảo vệ rất nhiều Bằng khả năng chi phối công ty, cổ đông lớn không chỉ tự bảo vệ được quyền lợi của mình mà họ còn có đủ sức mạnh để chèn ép, xâm phạm quyền lợi của CĐTS

Việc cổ đông lớn xâm phạm đến quyền lợi của CĐTS có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, nhưng trong đó phổ biến là việc cổ đông lớn thông qua Hội đồng quản trị (HĐQT) để thực hiện các hành vi ngăn cản hoặc tước bỏ quyền cổ đông của CĐTS; sử dụng các thông tin của công ty hoặc không công khai các thông tin để thực hiện các giao dịch tư lợi, phát hành cổ phiếu thưởng, ưu tiên quyền mua cổ phần

ưu đãi hoặc thực hiện các dự án đầu tư để thâu tóm và chiếm đoạt tài sản của công ty…

- Khả năng tự bảo vệ của cổ đông thiểu số

CĐTS thường xuất phát từ nhiều thành phần xã hội khác nhau, có trình độ nhận thức khác nhau và đầu tư vốn chủ yếu với mục đích kiếm lời, không quan tâm đến những người quản lý của các doanh nghiệp mà họ mua cổ phần là ai, có năng lực như thế nào Họ chỉ quan tâm đến giá trị cổ phiếu hằng ngày có tăng hay không để họ kiếm lời mà không hiểu rằng, việc tăng giảm giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào năng lực điều hành cũng như sự cẩn trọng, mẫn cán của những người quản lý

mà họ không hề biết hoặc cũng chẳng muốn biết là ai

Cổ đông góp ít vốn thường độc lập, thiếu liên kết với các cổ đông khác nên họ thường có xu hướng tự ti và tâm lý thờ ơ với các vấn đề của công ty, cũng là thờ ơ với quyền lợi của chính mình Nhiều CĐTS dù có ý thức được quyền lợi của mình bị xâm phạm nhưng cũng đành cam chịu, vì với số vốn góp ít ỏi trong công ty, CĐTS không thể đưa ra những quyết định hoặc chi phối tới những quyết định của công ty để thay đổi

số phận của chính mình

Bên cạnh đó, mặc dù CĐTS thường chiếm đa số trong các CTCP, đặc biệt là các công ty đại chúng, nhưng họ lại thường không có mối quan hệ với nhau, vì vậy mà việc các cổ đông liên kết lại với nhau tạo thành nhóm để thực hiện một số quyền mà pháp luật cho phép trên thực tế là gần như không khả thi Trong khi đó, các cổ đông lớn mặc

dù không chiếm số đông so với các CĐTS nhưng họ lại quá hiểu về nhau và luôn liên kết, bắt tay với nhau để quyết định đường lối, chính sách phát triển của công ty và quyết

Trang 6

định luôn lợi ích cho chính mình, bỏ qua lợi ích, tiếng nói và chèn ép, xâm phạm quyền lợi của các CĐTS Như vậy, dù bằng cách thức nào đi nữa, các CĐTS cũng không có khả năng để tự bảo vệ quyền lợi của mình Điều này đã làm nản lòng thêm cho các nhà đầu tư và góp phần tạo ra tâm lý thờ ơ của các CĐTS đối với hoạt động của công ty Chẳng phải ngẫu nhiên mà năm nào cũng có không ít các CTCP phải hoãn cuộc họp ĐHĐCĐ vì sự vắng mặt của các CĐTS Sở dĩ những cổ đông này không đến dự họp là

vì họ hiểu rằng, nếu có đến dự họp thì họ cũng không thể đóng góp ý kiến để bảo vệ được quyền lợi của mình, tiếng nói của họ cũng chẳng có ý nghĩa hoặc bị làm ngơ trước các cổ đông lớn

- Sự lạm quyền của người quản lý công ty

Sự tách bạch giữa sở hữu và quản lý là một dấu hiệu đặc trưng của công ty cổ phần Tuy nhiên, không phải lúc nào người quản lý (bao gồm Hội đồng quản trị (HĐQT), ban giám đốc và các chức danh quản lý khác) cũng hành động vì mục tiêu tối đa hóa của cải cho các cổ đông Các xung đột về lợi ích giữa cổ đông và người quản lý luôn hiện hữu, xuất phát từ mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý

- Khuyến khích nhà đầu bỏ tiền ra kinh doanh, tăng nguồn vốn cho nền kinh tế

Mặc dù CĐTS luôn gắn liền với số vốn ít ỏi, số vốn mà dường như chẳng có ý nghĩa gì đối với nền kinh tế nếu như họ chỉ đầu tư một mình, nhưng đi liền với đó, CĐTS lại chiếm đại đa số trong các nhà đầu tư Chính số đông đã tạo ra vai trò quan trọng của các CĐTS trong việc tạo ra nguồn vốn cho nền kinh tế

- Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của CTCP và thị trường chứng khoán (TTCK)

TTCK là kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế, có vai trò như biểu đồ của nền kinh tế ở mỗi quốc gia, và hàng hóa trên TTCK là cổ phiếu của CTCP Vì vậy nhà nước muốn duy trì sự tồn tại và đảm bảo sự phát triển cho CTCP và TTCK, thì trước tiên và quan trọng hơn cả là phải bảo vệ được quyền lợi của các cổ đông mà trọng tâm

là các CĐTS, qua đó khuyến khích CĐTS bỏ tiền ra thành lập hoặc tham gia vào CTCP

và đây là điều kiện để duy trì sự tồn tại và đảm bảo sự phát triển của loại hình doanh nghiệp này cũng như của TTCK

- Xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh để thu hút đầu tư

Mức độ bảo vệ quyền lợi của CĐTS của mỗi quốc gia là một trong những tiêu chí quan trọng, không thể thiếu trong việc đánh giá sự lành mạnh, điểm số của môi trường kinh doanh, là điều kiện quan trọng và tiên quyết trong việc thu hút các nhà đầu tư đặc biệt là trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, đã trở thành một cuộc tranh đua gay gắt và quyết liệt giữa các quốc gia nhằm “giành giật” được các nhà đầu tư về phía mình

1.3 Thực trạng bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần

Thoạt nhìn, Luật Doanh nghiệp 2014 có những quy định khá tốt để phục vụ cho các

cổ đông nhỏ, ít vốn trong công ty cổ phần như quyền: cổ đông tự mình hoặc được gộp các cổ đông nhỏ lẻ thành nhóm cổ đông sở hữu số cổ phần cần thiết để thực hiện quyền

đề cử, bầu, bổ nhiệm, miễn Hội đồng quản trị, kiểm soát; quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông …(Điều Khoản 2, Khoản 3 Điều 114); hoặc như quy định phương thức bầu dồn phiếu tạo cơ hội cho cổ đông nhỏ lẻ trong việc bầu thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát (Khoản 3 Điều 144); cũng như quy định quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông (Điều 147); hoặc như cổ đông sở hữu ít

Trang 7

nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, hoặc Tổng Giám đốc (Điều 161)…

Tuy nhiên, khi đi sâu phân tích các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và khả năng thực hiện quyền thì việc để cổ đông nhỏ lẻ có thể thực hiện quyền của mình cũng phải phụ thuộc vào mức độ hợp tác, “xem xét” của các cổ đông lớn, nắm giữ quyền hạn quản lý, điều hành hoạt động của công ty; ngoài ra một số quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 đã vô ý làm giảm, hạn chế vai trò của cổ đông nhỏ, gây ảnh hưởng phần nào đến quyền hạn của các cổ đông này Cụ thể ở một số điểm như sau:

1.3.1 Tình trạng vi phạm nghĩa vụ của các cổ đông lớn

Luật Doanh nghiệp 2014, Điều 115 đã quy định các nghĩa vụ của cổ đông trong CTCP, nhưng trong thực tế tình trạng vi phạm nghĩa vụ của cổ đông lớn vẫn còn xảy ra,

cụ thể như:

- Nhiều trường hợp cổ đông lớn đóng tiền góp vốn trễ hơn so với các CĐTS trong các đợt phát hành cổ phần tăng vốn điều lệ Thực tế khi chốt danh sách cổ đông hiện hữu để thực hiện quyền mua cổ phần phát hành thêm để tăng vốn điều lệ, các CĐTS phải thực hiện đúng thời hạn nộp tiền trong khi các cổ đông lớn có thể được chậm nộp,

có thể thấy được điều này trên các BCTC ở khoản công nợ phải thu đối với cá nhân ông/bà ABC nào đó

- Một số trường hợp trong quá trình thực hiện cổ phần hóa DNNN, cổ đông nhà nước chưa góp đủ vốn điều lệ do các vướng mắc thủ tục quyết toán cổ phần hóa, ví dụ trường hợp Tổng công ty PETEC, cổ phần hóa từ năm T5/2011, nhưng đến nay cổ đông lớn là nhà nước vẫn nợ 111 tỷ đồng do một số vướng mắc về thủ tục quyết toán cổ phần hóa, trong khi các CĐTS đã góp đủ và với giá mua tại đợt IPO cao gấp đôi mệnh giá

1.3.2 Tình trạng vi phạm các quyền cơ bản của cổ đông đối với CĐTS

Về cơ bản, kế thừa quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có những cố gắng trong việc xây dựng một cơ chế để bảo vệ các CĐTS, vốn ít có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình trước các cổ đông lớn Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định này đã làm phát sinh nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu và tổng kết để hoàn thiện các quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho CĐTS bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Cụ thể:

- Việc thực thi các quyền trong nhóm quyền tài sản

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định cho các cổ đông có quyền nhận cổ tức, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình và quyền nhận một phần tài sản khi công

ty giải thể hoặc phá sản là như nhau Trên thực tế khi thực hiện, quyền CĐTS rất dễ bị xâm hại Chẳng hạn quyền ưu tiên mua cổ phần mới phát hành thêm, các công ty thường dành một tỷ lệ cổ phần nhất định để bán cho các cổ đông hiện có của công ty với giá ưu đãi Sẽ không có gì để nói nếu số cổ phần dành riêng bán cho cổ đông hiện hữu với cùng một mức giá, cùng điều kiện như nhau Nhưng các cổ đông lớn thường có những cách thức khác nhau nhằm quy định có lợi hơn cho mình, ví dụ như quy định cổ đông lớn sẽ mua với tỷ lệ khác và cổ đông nhỏ mua với tỷ lệ khác, hoặc quy định cả cổ đông lớn và cổ đông nhỏ cùng mua với tỷ lệ như nhau song cổ đông lớn lại được mua với giá thấp hơn so với cổ đông nhỏ

Trang 8

Các cổ đông lớn có thể làm được như vậy vì số biểu quyết lớn hơn, do đó khi họ liên thủ, thỏa hiệp lại với nhau thì hầu hết các quyết định dễ dàng được thông qua Một thực tế nữa là cổ đông lớn thường nằm trong Hội đồng quản trị (HĐQT) hoặc có đại diện của mình trong các cơ quan như HĐQT, Ban Kiểm soát (BKS), vì vậy họ dễ dàng thỏa hiệp với nhau Cổ đông nhỏ cho dù muốn phản đối vẫn không thay đổi được, mặt khác, do tâm lý phó mặc của cổ đông nhỏ và trong CTCP thiếu đoàn kết nên dẫn đến tình trạng này

- Quyền quyết định thông qua Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông

Nếu như trước đây, tại Điều 104 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định tỷ lệ tối thiểu tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp khi thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông ít nhất là 65% (không phải đối với tất cả các vấn đề được Đại hội đồng

cổ đông xem xét); với quy định như vậy, các cổ đông nắm giữ từ hơn 51% tổng số phiếu biểu quyết khó có thể kiểm soát Công ty, quyết định các vấn đề thuộc quyền hạn của xem xét của Đại hội đồng cổ đông

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014 thì quyền hạn của các cổ đông lớn trong việc kiểm soát, điều hành Công ty lại rất khó kiểm soát, họ có thể

“điều kiển” để đại hội đồng cổ đông thông qua các quyết định với tỷ lệ ít nhất là 51% tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp Luật Doanh nghiệp 2014 được “thòng thêm” quy định tỷ lệ biểu quyết này có thể cao hơn nếu Điều lệ Công ty quy định; tuy nhiên, về mặt thực tế các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư nhiều vốn hơn không phải lúc nào cũng đồng ý điều chỉnh tỷ lệ biểu quyết cao hơn mức tỷ lệ biểu quyết mà pháp luật quy định

Với quy định như trên, tuy Luật Doanh nghiệp 2014 đã được soạn thảo nội dung phù hợp với cam kết của Việt Nam với WTO[2]; phù hợp khía cạnh quyền quyết định thuộc về người người bỏ vốn nhiều hơn; tuy nhiên với việc giảm xuống tỷ lệ thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông nêu trên, Luật Doanh nghiệp 2014 đã phần nào hạn chế quyền của cổ đông nhỏ so với quy định của Luật Doanh nghiệp 2005

- Cổ đông lớn kiểm soát Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 144 Luật Doanh nghiệp 2014 thì pháp luật đã cho phép phương thức bầu dồn phiếu được thực hiện trong việc bầu thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát; tuy nhiên phương thức bầu dồn phiếu không được quy định bắt buộc thực hiện như Luật Doanh nghiệp 2005 (Điểm c Khoản 3 Điều 104) Trường hợp Điều lệ doanh nghiệp không quy định phương thức bầu khác trong Điều lệ thì phương thức bầu dồn phiếu sẽ được áp dụng trong việc bầu thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát

Thế nhưng, dù cho có lựa chọn phương thức bầu dồn phiếu hay không thì cổ đông nắm giữ số cố phần đa số sẽ vẫn có thể kiểm soát việc bầu thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát Thật vậy, Phương thức bầu dồn phiếu chỉ có thể phần nào phát huy tối đa hiệu quả khi mà Đại hội đồng cổ đông cùng lúc tiến hành bầu tất cả hoặc đa số các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát bởi khi đó các

cổ đông lớn sẽ phân tán số phiếu biểu quyết của mình cho các ứng viên; nhưng phương thức này sẽ không thể phát huy hiệu quả nếu chỉ bầu một, hoặc số ít thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, bởi khi đó các cổ đông lớn sẽ có thể sử dụng

Trang 9

tất cả số phiếu của mình cho ứng viên duy nhất của họ, cơ hội dành cho cổ đông nhỏ, thiểu số trong trường hợp này là gần như bằng không

Với quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 hiện nay, thì cho dù các cổ đông nhỏ, nhóm cổ đông nhỏ có thể đưa người của mình vào được Hội đồng quản trị, hoặc Ban Kiểm soát thì các cổ đông lớn vẫn có thể thay đổi điều này bằng cách miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát Đặc biệt, trong trường hợp bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát thì Luật doanh nghiệp quy định chỉ cần thông qua Nghị quyết của Đại Hội đồng cổ đông về việc miễn nhiệm, bãi nhiệm, mà không cần bất cứ lý do, hay điều kiện bãi nhiệm (Điều 156, Điều 169) là có thể thay đổi được thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát Quy định này đã vô tình vô hiệu hóa ý nghĩa của việc bầu dồn phiếu Đây chính là cách thức để nhóm cổ đông lớn hơn dần chiếm độc quyền điều hành công ty

Ngoài ra, tuy pháp luật quy định các quyền của các cổ đông rất rõ ràng, nhưng để các cổ đông thực hiện trên thực tế lại gặp rất nhiều khó khăn, điều đó có thể xuất phát

từ việc cản trở từ phía cổ đông lớn, nắm quyền kiểm soát công ty như việc làm khó cổ đông tiếp cận tài liệu hồ sơ doanh nghiệp, tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông ở nơi không thuận lợi cho cổ đông nhỏ…; cũng như từ cơ chế pháp lý để cổ đông thực hiện quyền lợi chưa được thuận lợi như việc cổ đông nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với người quản lý công ty, pháp luật cho phép cổ đông được tự mình hoặc nhân danh công ty để thực hiện việc khởi kiện (Điều 161) Tuy nhiên, thực tế việc nhân danh Công ty lại thường không được Tòa án chấp nhận bởi theo Tòa án thì người đại diện công ty chỉ có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Trên thực tế cổ đông bỏ nhiều vốn với mong muốn kiểm soát công ty, tìm cách gia tăng tối đa quyền hạn của mình gây ra các mâu thuẫn, tranh chấp quyền, lợi ích với các

cổ đông nhỏ, ít vốn; điều này càng rõ nét hơn sau quá trình công ty đem lại nhiều lợi nhuận; do đó khi hợp tác đầu tư thành lập doanh nghiệp, các bên, đặc biệt là đối với các

cổ đông ít vốn cần cân nhắc xem xét cẩn trọng quyền lợi của mình trong mối quan hệ hợp tác; thương lượng thỏa thuận rõ ràng các vấn đề liên quan đến đến việc quản lý, điều hành hoạt động doanh nghiệp trong Điều lệ doanh nghiệp để bảo vệ quyền lợi của mình được tốt hơn

- Quyền thông tin của cổ đông.

Về lý thuyết, CĐTS có quyền yêu cầu BKS kiểm tra các vấn đề liên quan đến quản

lý và điều hành hoạt động của công ty; được xem xét, trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của HĐQT, báo cáo tài chính giữa năm và hàng năm, và các báo cáo của BKS, quyền này gọi chung là quyền được thông tin, nhằm cung cấp cho các CĐTS có thể kiểm soát và theo dõi được tình hoạt động của công ty, quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trên thực tế, quy định của pháp luật Việt Nam về quyền này còn nhiều bất cập Một

là lượng thông tin bắt buộc phải cung cấp khi có yêu cầu là rất hạn chế; hai là, giới hạn chủ thể được yêu cầu cung cấp, chỉ có cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số

cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng mới có quyền này, nếu không thỏa mãn hai điều kiện trên thì không có quyền yêu cầu

Phần lớn các cổ đông không được tiếp cận các thông tin trọng yếu của công ty hoặc không đầy đủ, hoặc thiếu chính xác và trung thực Các cổ đông thiểu số hầu như không

Trang 10

nhận được thông báo về quyết định của ĐHĐCĐ, tóm tắt báo cáo tài chính, thông báo

về việc trả cổ tức

- Việc thực thi các quyền trong nhóm quyền phục hồi quyền lợi

Luật Doanh nghiệp năm 2104 đã trao cho cổ đông quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài xem xét, huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ trong các trường hợp trình tự, thủ tục triệu tập cuộc họp ĐHĐCĐ; trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định của ĐHĐCĐ vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty Với quyền năng này, cổ đông mà đặc biệt là CĐTS có thể chủ động lên tiếng, yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài can thiệp để bảo vệ quyền lợi của mình Điều này cũng hạn chế được sự thụ động trong việc cổ đông chỉ biết trông chờ vào sự giám sát của cơ quan nhà nước, bởi vì quyết định của ĐHĐCĐ là những vấn đề mang tính nội bộ của doanh nghiệp, hơn ai hết cổ đông sẽ là người tiếp cận và bị tác động nhanh nhất, do đó trao quyền năng này cho cổ đông để tự

họ chủ động bảo vệ mình là hoàn toàn hợp lý

Tuy nhiên, với vị trí và tính cách thụ động của mình, CĐTS rất ít khi sử dụng quyền năng này Hơn nữa, việc đưa yêu cầu tới Trọng tài và Toà án lại gặp phải khó khăn từ nhiều phía, bởi để được đưa yêu cầu giải quyết đến Trọng tài, đòi hỏi điều lệ công ty phải quy định nội dung này hoặc phải đạt được thoả thuận với HĐQT về việc này Một vấn đề khác là việc yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Trọng tài thương mại – khi tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại theo khoản 1 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 – là “Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại”, mà hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành

vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh Việc cổ đông yêu cầu Trọng tài hủy quyết định của ĐHĐCĐ có thuộc thẩm quyền của trọng tài hay không là vấn đề còn rất nhiều ý kiến khác nhau

Trong khi đó, nếu đưa yêu cầu tới Toà án, CĐTS cũng sẽ rất khó khăn để được Toà

án thụ lý do các vướng mắc từ cơ quan tài phán trong việc xác định loại vụ việc dân sự

để phân công thụ lý và giải quyết Có trường hợp Tòa án giải quyết ngay mà không gặp trở ngại gì; cũng có trường hợp Tòa án thụ lý nhưng khó xác định đây là việc dân sự hay vụ án dân sự

Các quyền của cổ đông theo quy định của pháp luật nhìn chung ở mức độ khác nhau đã được thực hiện trên thực tế Tuy nhiên, hiệu lực của việc thực hiện các quyền

cổ đông của CĐTS là khá hạn chế Hiện tượng vi phạm quyền của cổ đông đang trở nên phổ biến với nhiều hình thức đa dạng và khó nhận biết một cách trực tiếp

Ngày đăng: 01/05/2019, 00:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w