Các tác giả cuốn sách này đã khẳng định: “Học tập ở đại học là một quá trình phát triển con người, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố …” và “việc hoàn thành có kết quả những nhiệm
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG
LỐI QUÂN SỰ CHO SINH VIÊN HIỆN NAY
Trang 2- Cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động tự học trong dạy học môn Đường lối quân sự
- Cơ sở lý luận về việc tổ chức hoạt động tự học
- Lịch sử nghiên cứu vấn đề
* Trên thế giới
Làm thế nào để nâng cao chất lượng tự học không phải
là vấn đề mới Đây là nội dung đã được các nhà giáo dục dụcnổi tiếng trên thế giới (Xôcơrat, Khổng Tử, Cômenxki,Đixtecvec….) quan tâm đến từ ngàn xưa trên nhiều góc độ vàvới những mức độ khác nhau: Phát huy tính tích cực, tính độclập tính tự giác, tính sáng tạo của người học
Trong tác phẩm Tự học như thế nào, nhà giáo
N.A.RuBaKin (1862 – 1946) đã phân tích rõ mối quan hệgiữa “Tự học và đặc tính riêng của từng người”, đồng thờiông cũng đã vạch ra các yếu tố giúp người học vượt qua khókhăn trong quá trình học tập; đó là phải có ý chí, có lòng đam
mê học tập và đặc biệt là phải có phương pháp tự học tốt
Trong cuốn Tổ chức công việc tự học của sinh viên đại học của A.A.Goroxepxki và Lubixuna – Trường đại học tổng
Trang 3hợp Lêningrat, các tác giả cũng tổng kết kinh nghiệm từ thực
tế công tác cá nhân của mình tại các trường đại học và đưa ramột số đề nghị về cách của SV Đại học, qua việc nhấn mạnhmột số cặp kỹ năng (đọc và ghi tài liệu; nghe và ghi bài giảng;chuẩn bị xêmina; làm bài tập nghiên cứu và luận văn tốtnghiệp;…) Đây là một trong những cách thức tự học đangđược áp dụng trong SV nhiều trường đại học ở nước ta hiệnnay
Vấn đề bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho
SV đại học mới được tuyển vào hệ tập trung của các trường
đại học cũng đã được đề cập đến trong cuốn sách Học tập hợp
lý của nước CHDC Đức (cũ) do giáo sư Réttxke chủ biên Các tác giả cuốn sách này đã khẳng định: “Học tập ở đại học là một quá trình phát triển con người, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố …” và “việc hoàn thành có kết quả những nhiệm vụ học tập đòi hỏi phải đấu tranh với với bản thân và tập thể một cách có phê phán và đầy sáng tạo trong quá trình học tập” Đồng thời, cuốn sách cũng gợi hướng giải quyết cho
SV từ các vấn đề còn vướng mắc trong tâm tư của mình đốivới nhiệm vụ học tập đến những điểm có tính chất quyết định
Trang 4đối với việc học tập ở đại học trên con đường dẫn đến thànhcông trong học tập.
Việc tự học được I.F.Kharamôv nghiên cứu dưới góc độ
đề ra những biện pháp nhằm phát huy phát huy năng lực tựhọc của người học thông qua làm việc độc lập với sách và tàiliệu tham khảo …
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm phát huy năng lựcnội tâm và sáng tạo của người học, các nước Tây Âu và Mỹ
đã quan tâm tới việc tìm ra phương pháp giáo dục mới dựa
trên cơ sở tiếp cận “Lấy học sinh làm trung tâm” J.Dewey
(1859 – 1925) – người đại diện cho tư tưởng tiến bộ đã đề
xướng “học sinh là mặt trời, xung quanh có quy tụ mọi phương tiện giáo dục” Theo tư tưởng này, một số phương
pháp dạy học tích cực đã được thực nghiệm Từ đó, vai tròcủa người thầy có bước thay đổi căn bản Họ trở thành ngườitrọng tài điều khiển, tổ chức hướng dẫn học sinh biết cáchhọc, đặc biệt là tự học
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, T.Makiguchi (1871 –1944) cho rằng: “Giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn
Trang 5tự học mà động lực của nó là: Kích thích người học sáng tạo
ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và cộng đồng”
Năm 1986, hai nhà giáo dục Ấn Độ S.D.Sharma vàShakti R.Almed đã khẳng định: HĐTH của SV là nội dungchính là quá trình điều khiển HĐTH của SV một cách giántiếp thông qua các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế để hoànthành mục đích, nhiệm vụ dạy học được xác định
Năm 1991 R.Roysinngh đã nghiên cứu vai trò của nănglực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốtđời, vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy cũng được đềcao trong hoạt động này
* Ở Việt Nam, không ít công trình nghiên cứu khoa học
đã quan tâm, nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng tựhọc trên nhiều góc độ
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: Học phải suốt đời
ngay cả khi đã đi làm việc với phương châm “Về cách học phải lấy tự học làm gốc”, “Về cách dạy phải tránh lối dạy nhồi sọ…Về học tập tránh lối học vẹt” Bác động viên toàn dân “Phải tự nguyện, tự giác, coi việc học tập là nhiệm vụ
Trang 6của người cách mạng phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, do
dó mà tích cực, tự hoàn thành kế hoạch học tập” [29, 54].
Theo Nguyễn Cảnh Toàn – Lê Khánh Bằng, thì tự học làmột hoạt động độc lập diễn ra không hoặc ít có sự điều khiểncủa thầy Đây là một hình thức hoạt động nhận thức của cánhân nhằm nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ dochính bản thân người học tiến hành ở nhiều không gian khácnhau (trên lớp hoặc ngoài lớp), theo hoặc không theo chươngtrình và SGK đã được ấn định Nó phụ thuộc vào hứng thú,nghề nghiệp; trình độ nhận thức, đặc điểm, thói quen làm việcriêng của từng người
Các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Vũ Hoạt,Nguyễn Ngọc Bảo, Trịnh Quang Từ , Nguyễn Thị Tính cũngđồng quan niệm coi tự học là hoạt động tự giác, tích cực, chủđộng của người học dưới vai trò chủ đạo của thầy
Phạm Hồng Quang coi tự học là một hình thức tổ chứcngoài giờ lên lớp, phối hợp với các hình thức dạy học khác
Ngoài ra, còn rất nhiều các công trình của các nhà giáodục nghiên cứu về tự học như: “Luận bàn về kinh nghiệm tựhọc” (Nguyễn Cảnh Toàn), “Tự học – một chìa khóa vàng của
Trang 7giáo dục” (Phan Trọng Luận), “Tự học một nhu cầu tất yếucủa thời đại” (Nguyễn Hiến Lê), “Vị trí của tự học, tự đào tạotrong quá trình dạy học, giáo dục và đào tạo” (Trần BáHoành), …
Bên cạnh đó, không ít luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ,khóa luận tốt nghiệp dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo,các nhà khoa thuộc trường ĐHSP Hà Nội và các nhà khoa họcthuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Có thể nói, trong lịch sử giáo dục, tự học là vấn đề đãđược chú ý đề cập từ rất lâu và được nghiên cứu trên nhiềugóc độ, cấp độ khác nhau cả trong nước và trên thế giới Bảnchất, ý nghĩa và vai trò đặc biệt quan trọng của việc tự học đốivới sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người đềuđược khẳng định, nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu.Đây là yếu tố cơ bản giúp người học có được tri thức, kỹnăng, kỹ xảo và hình thành thái độ mới, để có thể hoàn thànhnhiệm vụ học tập; nhờ đó chất lượng dạy học được nâng cao
Từ đó, làm thế nào để nâng cao chất lượng tự học, kỹ năng tựhọc và việc hình thành kỹ năng tự học cho học sinh, SV cũng
là điều được các tác giả quan tâm
Trang 8Song thực tế cho thấy việc tự học của học sinh, SV chưađáp ứng được yêu cầu và hiệu quả mong muốn
Hơn nữa chưa có tác giả nào nghiên cứu về việc tổ chứcHĐTH trong dạy học môn ĐLQSCĐ cho SV ĐHQGHN hiệnnay Vì vậy, nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp tổ chứcHĐTH cho SV trong các trường đại học là cần thiết
dẫn sơ bộ cách thức thực hiện” [19, 126]
Với Nguyễn Hiến Lê thì cho rằng: “Tự học là không aibắt buộc tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm Có thầy
Trang 9hay không có thầy ta không cần biết Người tự học hoàn toànlàm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào
cũng được, đó mới là điều quan trọng” [25, 66].
Còn Thái Duy Tuyên thì quan niệm: “Tự học là hoạtđộng độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo … và kinhnghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung của chính bản thânngười học” [44, 82]
Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não,suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phântích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi sử dụng dụng cụ) vàcác phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhânsinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chítiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say
mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuậnlợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhânloại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [40, 59 - 60]
Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức quan niệm “Tự học là mộthình thức tổ chức cơ bản ở đại học Đó là một hình thức hoạtđộng nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống trithức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên
Trang 10lớp hoặc ở ngoài lớp , hoặc không theo chương trình và sáchgiáo khoa đã được quy định” [18, 174].
Trịnh Quang Từ định nghĩa: “Tự học là quá trình độclập, nỗ lực tìm tòi, khám phá tri thức của sinh viên dưới sự tổchức và điều khiển gián tiếp của giáo viên nhằm củng cố, mởrộng, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội qua các hình thức lênlớp có giáo viên điều khiển trực tiếp…” [ 45, 23]
Theo Nguyễn Thị Tính: “Tự học là một quá trình, trong
đó dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, người học tự mìnhchiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua các hoạt độngtrí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, phán đoán…)
và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị
đồ dùng học tập) Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ýchí …của người học để vượt qua chướng ngại vật hay vật cảntrong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bản thân người học
từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến kinh nghiệm này thànhkinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học” [39, 17]
Từ đó, tác giả luận văn đi đến định nghĩa về tự học như
sau: Tự học (Seft – learning) là hoạt động dưới sự hướng dẫn,
tổ chức, điều khiển của người dạy; người học tự giác, tự lực,
Trang 11tích cực nghiên cứu, nhận thức thế giới quan, lĩnh hội nộidung bài học; để đạt mục đích nhất định Hoạt động này giúpngười học nắm vững, thông hiểu, mở rộng, đào sâu tri thức,hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng; đồng thời hình thành
tố, một khâu của quá trình giáo dục, là một quá trình gia công,chế biến và tự điều khiển theo đúng mục tiêu giáo dục quyđịnh Đây là một trong những yếu tố quyết định chất lượng vàhiệu quả của hoạt động học tập nói chung
HĐTH giúp người học từ chỗ chưa biết đến chỗ biết vàngày càng đầy đủ, sâu sắc, hoàn thiện hơn; từ chỗ nắm trithức đến chỗ hình thành vững kỹ năng, kỹ xảo ngày càng ởmức độ cao hơn; từ chỗ vận dụng những điều đã học vào tìnhhuống quen thuộc đến chỗ vận dụng dụng chúng vào những
Trang 12tình huống mới trên cơ sở đó ngày càng hoàn thiện các nănglực và phẩm chất đạo đức, trí tuệ, thế giới quan khoa học vàcác phẩm chất đạo đức khác.
Cơ sở có tính chất phương pháp luận của hoạt động tựhọc là quan điểm về bản chất hoạt động của con người Vìtheo tâm lí học hoạt động có vai trò quyết định trực tiếp đến
sự hình thành phát triển nhân cách Do đó, hoạt động tự họctất yếu đòi hỏi phải có sự nỗ lực tích cực và tự điều chỉnhhành vi của bản thân Hoạt động này sẽ đem lại hiệu quả cao,khi tính mục đích trở thành một phẩm chất độc lập của nhâncách gắn liền với việc xây dựng ý chí, niềm tin của quá trìnhhoạt động của người học
Nhờ hoạt động này, người học có nếp sống và làm việckhoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán,lòng say mê nghiên cứu khoa học; từng bước biến tri thứcnhân loại thành vốn hiểu biết, kinh nghiệm riêng của cá nhân
Từ đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập HĐTH có ýnghĩa lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi con người, tạo thói quenhọc tập suốt đời Vì vậy, có thể khẳng định HĐTH giữ một vịtrí, vai trò rất quan trọng trong hoạt động học tập của mỗingười
Trang 13Trong hoạt động này, người thầy có vai trò động viên,khuyến khích, hướng dẫn người học tự học một cách đúnghướng và hiệu quả.
Chủ thể có vai trò quyết định HĐTH chính là bản thânngười học, do đó kết quả phụ thuộc chủ yếu và phần lớn vàomức độ tích cực, độc lập sáng tạo trong hoạt động nhận thứccủa chính họ Bởi nếu người học không đầu tư thời gian, côngsức; không hứng thú, say mê; không có kế hoạch và cách tựhọc, không tự giác thì hiệu quả của nó không cao
* Hoạt động tự học của sinh viên
- Đặc điểm:
+ “HĐTH, tự nghiên cứu của SV bao hàm cả hai côngviệc: chuẩn bị cho các giờ lên lớp (lý thuyết, xemina, làm việcnhóm, thực hành…) và tự học có hướng dẫn (nghiên cứu, đọctài liệu, hoàn thành các nhiệm vụ học tập, làm bài tập tuần,nhóm tháng, bài tập cuối kì” [13, 112]
+ HĐTH của SV là quá trình nhận thức độc đáo, mangtính chất nghiên cứu Đó là quá trình SV tiếp thu, gia công,lưu giữ thông tin từ GV và nhiều nguồn tư liệu khác nhau để
Trang 14tự mình chế biến, chuyển hóa thành sản phẩm trí tuệ của bảnthân Đó là sự phản ánh khách quan thông qua chủ quan của
SV, trong đó mục đích, nhiệm vụ của quá trình dạy học đã trởthành mục đích, nhiệm vụ của quá trình tự học đối với ngườihọc
Động lực thúc đẩy HĐTH của SV là kết quả của việcgiải quyết các mâu thuẫn vốn có trong quá trình tự học củangười học: mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ nhận thức, rènluyện kỹ năng, kỹ xảo tự học được đề ra với trình độ, khảnăng hiện có của người học Trong quá trình tự học, mâuthuẫn này được giải quyết sẽ giúp cho người học phát triển vềmặt nhận thức nói riêng và nhân cách nói chung Có thể thấy,thực chất HĐTH của SVlà quá trình học tập - quá trình nhậnthức dưới sự tổ chức, hướng dẫn một cách gián tiếp của GV.Quá trình này gian nan hơn nhiều so với quá trình học tập có
sự lãnh đạo, điều khiển trực tiếp của người thầy Bởi khi đó,người học phải tự đặt ra cho mình mục đích, nhiệm vụ, phải
tự xây dựng cách học, phải sử dụng linh hoạt, hợp lý các hìnhthức, điều kiện và phương tiện học tập để đạt được kết quảcao nhất
Trang 15+ HĐTH của SV là hoạt động nhận thức mang tính tíchcực, độc lập và sáng tạo
Tính tích cực nhận thức là một phẩm chất của cá nhân, làthái độ của chủ thể (SV) đối với khách thể (hoạt động học tập)thông qua sự huy động ở mức độ cao chức năng tâm lý, đặc biệt
là chức năng tư duy; để giải quyết nhiệm vụ học tập Tính tíchcực nhận thức vừa là mục đích của hoạt động, vừa là phươngtiện, vừa là điều kiện để đạt mực đích, vừa là kết quả của hoạtđộng
Tính tích cực nhận thức tồn tại dưới 2 dạng: Bên trong
và bên ngoài
Bên trong: như là thái độ của chủ thể hoạt động, đó là sự
tự nguyện, tự giác, có nhu cầu, hứng thú đối với việc học tập,
có sự nỗ lực cố gắng, kiên trì, khắc phục khó khăn trong quátrình nắm tri thức, có khả năng định hướng đối với nhiệm vụnhận thức
Bên ngoài: đó là sự huy động cao nhất các chức năngtâm lý để chiếm lĩnh kiến thức, biểu hiện ra bên ngoài của
nó là những trạng thái hoạt động tích cực như: sự tập trungchú ý, sự căng thẳng trí tuệ, sự tận dụng thời gian để thực
Trang 16hiện kế hoạch học tập, kả năng giải quyết tình huống mộtcách sáng tạo Tùy theo mức độ huy động các chức năngtâm lý trong quá trình nhận thức mà có những mức độ khácnhau của tính tích cực, thể hiện từ thấp đến cao.
Mức độ thấp: thể hiện sự tái hiện, bắt chước
Mức độ thể hiện sự tìm tòi trong nhận thức
Mức độ thể hiện sự sáng tạo trong nhận thức
Tính độc lập trong nhận thức: Được thể hiện ở khả nănggiải quyết vấn đề một cách tự chủ, độc lập, luôn tìm phươngpháp mới để nắm tri thức Đó là khả năng vận dụng tri thức đãbiết vào những hoàn cảnh mới để nắm tri thức mới, củng cố
và mở rộng kiến thức đã học Tính độc lập trong quá trìnhnhận thức được biểu hiện ở trong suy nghĩ đó là khả năng tựnhận xét, phán đoán, suy luận trước những ý kiến của ngườikhác tự mình tiến hành các thao tác tư duy để lĩnh hội tri thứckhông phụ thuộc vào ý kiến của người khác, diễn đạt nhữngvấn đề lĩnh hội theo quan điểm của mình và được thể hiện cảtrong hành động
Trang 17Như vậy, tính tích cực, độc lập trong nhận thức của SV
là hoạt động có hệ thống trên lớp và ngoài lớp để tự mình tìmtòi tri thức, nêu ra vấn đề, giải quyết vấn đề và tự bản thânkiểm tra kết quả, hoàn thành một cách sáng tạo nhiệm vụnhận thức
Tính sáng tạo trong hoạt động nhận thức: Là mức độcao của tính tích cực và tính độc lập Đó là thái độ tích cựccải tạo của chủ thể đối với khách thể, là sự thống nhất củaquá trình hoạt động trí tuệ, ý chí và tình cảm của con ngườinhằm hoàn thiện và sáng tạo ra một hoạt động, một sản phẩmnào đó Tính sáng tạo được thể hiện ở nhu cầu khao khát tìmtòi, khám phá bản chất của sự vật, hiện tượng cần nghiêncứu, muốn vận dụng những phương pháp mới để khắc phụckhó khăn trong quá trình lĩnh hội tri thức, tìm ra những giảipháp mới, yếu tố mới trong quá trình hoàn thiện bài học, đảmbảo chất lượng tối ưu trong quá trình học tập Nó có liênquan mật thiết với năng lực tư duy sáng tạo trong quá trìnhnhận thức, đó là năng lực tìm thấy vấn đề mới, phát triển cáimới, tự di chuyển tình huống, sáng tạo ra phương thức giảiquyết mới
Trang 18+ HĐTH của SV là một quá trình tự điều khiển – quátrình tổ chức lĩnh hội tri thức.
Qua phân tích trên, có thể thấy HĐTH là hoạt động tíchcực, độc lập, sáng tạo của SV Nói như vậy, không có nghĩa làthầy giáo truyền thụ một cách máy móc những tri thức có sẵnđến người học mà đó là quá trình tổ chức, điều khiển hoạtđộng nhận thức của người học nhằm hình thành cho họ nănglực nhận thức, thái độ, phương pháp học tập, ý chí để họ tựmình giành lấy tri thức, nhằm biến nguồn tri thức nhân loại đãtiếp thu được thành sản phẩm trí tuệ riêng của bản thân để khicần có thể sử dụng nó như một công cụ lao động
Nếu trong quá trình dạy học, người thầy căn cứ vào mụcđích dạy học để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổchức dạy học để truyền đạt tri thức đến người học; người họctiếp thu tri thức và đạt được kết quả học tập tương ứng Còntrong quá trình tự học việc điều khiển nhân cách người họcđược chuyển hóa thành việc tự điều khiển sự phát triển củachính bản thân họ Như vậy, tự học là quá trình tự điều khiển,
là quá trình tự tác động nhằm hướng mọi hoạt động của chủthể vào một trình tự nhất định để đạt được kết quả tối ưu
Trang 19Theo quan điểm Xibecnetic (điều khiển học): Quá trình
tự học là một quá trình tự điều khiển quá trình tổ chức chiếmlĩnh tri thức, quá trình thu nhận, chế biến, xử lý, bảo quản vàtruyền đạt thông tin nhằm làm tăng sự hiểu biết của cá nhân,giúp cho người học nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trongquá trình học tập, đồng thời đó là quá trình chống lại nhữnghoạt động chủ định lệch tâm hoặc vô thức ngăn cản tiến trìnhcải tiến hoạt động học tập
HĐTH đòi hỏi SV ngoài việc sử dụng một hệ thống cácthao tác tư duy, còn phát huy ở mức độ cao quá trình tâm lý,các thuộc tính tâm lý của cá nhân từ cảm giác, tri giác…đến
xu hướng, tính cách, tình cảm và các yếu tố tâm lý khác Nóbắt đầu từ vệc lập kế hoạch học tập đến việc tổ chức thực hiện
kế hoạch (Sử dụng thời gian, phương pháp, các hình thức tựhọc cho phù hợp giữa nghe giảng, ghi chép, đọc sách…tựkiểm tra, đánh giá quá trình đó) SV nếu thực hiện tốt nhữngđiều kiện trên sẽ tận dụng triệt để thời gian, không ngừngnâng cao tri thức của bản thân, rèn luyện tác phong làm việcnghiêm túc, khoa học để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
xã hội
- Kĩ năng tự học của SV
Trang 20Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành độnghay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụngnhững tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phùhợp với những điều kiện thực hiện cho phép Kỹ năng biểuhiện trình độ các thao tác tư duy năng lực và mặt kỹ thuật củahoạt động Để có kỹ năng về hành động nào đó cần phải có trithức về hành động (bao gồm: mục đích của hành động, cácđiều kiện, các phương thức, cách thức hành động để đạt đượcmục đích); tiến hành hành động đúng với yêu cầu của nó; cóquá trình hình thành kỹ năng đúng, khoa học, có sự rèn luyện,tập dượt để đạt được mục đích.
Kỹ năng tự học của SV:
Để tự học tốt, SV phải nắm vững tri thức về hành động
tự học như: xác định mục đích, các điều kiện, phương tiện vàcách thức tiến hành hành động nhằm thu được kết quả phùhợp với mục đích tương ứng, tức là phải có kỹ năng tự họctương ứng Từ đó, có thể hiểu kỹ năng tự học là khả năng thựchiện có kết quả của một hay một nhóm hành động học tậpbằng cách vận dụng những kinh nghiệm đã có để hành độngvới những điều kiện cho phép nhằm giải quyết các nhiệm vụhọc tập
Trang 21Kỹ năng tự học bao gồm các đặc trưng sau: Kỹ năng tựhọc là tổ hợp các cách thức hành động tự học được người họcnắm vững, nó biểu hiện ở mặt kỹ thuật của hành động tự học
và mặt năng lực tự học của mỗi cá nhân Có kỹ năng tự học là
có năng lực tự học ở mức độ nào đó
Kỹ năng tự học có quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập,
nó là yếu tố mang tính mục đích của hành động tự học và có ýnghĩa quyết định đến kết quả tự học
Hệ thống các kỹ năng tự học:
Hoạt động tự học được thực hiện bởi một chuỗi các hànhđộng tự học Để tự học có kết quả, sinh viên cần phải cónhững kỹ năng tự học tương ứng với các hành động tự họcnhư: kỹ năng ghi chép, kỹ năng đọc sách, kỹ năng nghiên cứu
và hệ thống hóa bài học…
Các kỹ năng tự học có liên quan hữu cơ với nhau, bổsung cho nhau Để HĐTH đạt hiệu quả cao, SV trong quátrình tự học phải biết kết hợp vận dụng các kỹ năng với nhaumột cách hợp lý