1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN và THỰC TIỄN của PP HDTH TRONG dạy học môn ĐLCM của ĐCSVN ở TRƯỜNG CĐCT

50 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 72,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Cơ sở lý luận của PP HDTH trong dạy học môn ĐLCM của ĐCSVN -Một số Khái niệm cơ bản - Khái niệm về tự học Tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướngdẫn của thầy, nhưng cũng

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PP HOẠT ĐÔNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG

LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐCSVN

Trang 2

- Cơ sở lý luận của PP HDTH trong dạy học môn ĐLCM của ĐCSVN

-Một số Khái niệm cơ bản

- Khái niệm về tự học

Tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướngdẫn của thầy, nhưng cũng có thể không có sự hướng dẫn củathầy, nhưng đòi hỏi người học phải nỗ lực tối đa, tích cực, chủđộng và sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức

Tự học là một quá trình: từ việc người học tự tìm ravấn đề, tự thu thập thông tin về vấn đề đó, xử lí thông tin đểđưa ra các giải pháp, cách giải quyết, cách thử nghiệm

Việc tự thể hiện những tìm tòi, nghiên cứu của mình bằngvăn bản (ghi chép), bằng lời nói hoặc thông qua trao đổi, đốithoại với thầy, với bạn Cuối cùng là tự kiểm tra đánh giá nhữngsản phẩm mà bản thân thu được, để xem xét điều chỉnh, tự rútkinh nghiệm cho bản thân về cách giải quyết vấn đề, cách xử lítình huống

Vậy cốt lõi của việc học là tự học, hễ có học là có tựhọc, vì không ai có thể học hộ được người khác Cùng một

Trang 3

thầy dạy, nhưng kỹ năng tự học khác nhau thì hiệu quả cũngkhác nhau Nếu người học rèn luyện được những kỹ năng tựhọc thì có thể học suốt đời.

Trong dạy học ở các trường CĐ, khối lượng kiến thứccủa các ngành khoa học vô cùng lớn và ngày càng tăng lên,nếu SV chỉ trông chờ vào lượng kiến thức người thầy cungcấp sẵn thì sẽ rất nghèo nàn, khó có thể đáp ứng nhu cầu của

xã hội, vì vậy tự học để ngày càng làm giàu thêm tri thức chobản thân là mục đích cao nhất của đổi mới PPDH ĐH

Chu trình tự học của SV bao gồm bốn giai đoạn: Tựnghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh Tự nghiêncứu là khái niệm nhỏ nằm trong khái niệm tự học, hoạt độnghọc tập nghiên cứu của SV là một quá trình nằm trong chutrình tự học của SV

Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra cácđịnh nghĩa khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa

cơ bản:

- “Nhà tâm lý học N.ARubakin coi”: “Tự tìm lấy kiếnthức – có nghĩa là tự học Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức,kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân

Trang 4

bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm banđầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại,biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm,

kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể”[26, tr 67]

- “Theo tác giả Lê Khánh Bằng”: “Tự học là tự mình suynghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý đểchiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định”.[7, tr.48]

- “Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đứctrong cuốn” “Lý luận dạy học đại học” thì “tự học là một hìnhthức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thứcnhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và

kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ởngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáokhoa đã được qui định”[21, tr.34]

- “Tác giả Nguyễn Văn Đạo”: “Tự học phải là công việc

tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyếtđịnh của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chấtlượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”.[10, tr.11]

- “Theo Nguyễn Hiến Lê”, trong quyển "Tự học, một

Trang 5

nhu cầu thời đại" ông lại cho rằng khái niệm "Tự học" nếuđược hiểu là "không ai bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi

để hiểu biết thêm", ông cũng trích dẫn để làm rõ hơn về kháiniệm và tầm quan trọng của tự học "mỗi người đều nhận haithứ giáo dục: Một thứ, do người khác truyền cho, một thứquan trọng hơn nhiều, do mình tự kiếm lấy"[23, tr.39]

- Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình độngnão, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ(quan sát, so sánh,phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụngcông cụ), cùng các phẩm chất của mình; rồi cả động cơ, tìnhcảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, kháchquan có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫnnại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khănthành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một vực hiểu biết nào đó củanhân loại, biến hiểu biết đó thành của mình”[27,tr.621] Nhưvậy, vấn đề cốt lõi của việc học là việc tự học, để có thể đạtđược kết quả tốt trong học tập thì vấn đề chủ yếu phải là tựhọc

- Tác giả Phạm Viết Vượng thì "Tự học là hình thức họcngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tậpchung và không có mặt trực tiếp của giáo viên"[31,tr.33]

Trang 6

- Tác giả Nguyễn Đức Trí thì "Tự học" là "Hoạt độngđộc lập, chủ yếu mang tính chất cá nhân của SV trong quátrình nhận thức học tập để cải biến nhân cách, nó vừa làphương tiện, vừa là mục tiêu của quá trình đào tạo nói chung

ở nhà trường Có hai loại tự học là tự học trong giờ lên lớp và

tự học ngoài giờ"[6, tr.49]

Như vậy có rất nhiều quan điểm về tự học nêu trên,

chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như sau:”Tự học là quá

trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định ”

Khi tự học bước đầu SV sẽ có những khó khăn nhấtđịnh, nhưng chính những khó khăn đó sẽ thúc đẩy SV nhiềuhơn để vượt qua những khó khăn đó, để làm rõ những thắcmắc của mình và đi đến việc giải quyết được những vấn đềcủa mình

Tóm lại, tự học là quá trình bản thân người học tích cực,

tự giác bằng những kỹ năng, kỹ xảo và PP phù hợp để có thểchiếm lĩnh được những tri thức mới Tự học là hoạt động học

Trang 7

tập có thể diễn ra một cách độc lập nếu SV có thể sắp xếp chomình thời gian cũng như chương trình học tập phù hợp haydiễn ra với sự tham gia của GV cũng như những bạn họckhác, cũng có thể trao đổi với những người cùng nghiên cứuliên quan đến cùng vấn đề.

- Khái niệm về PP HDTH

Tự học là quá trình nhận thức của cá nhân người họcnhằm chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó của nhân loại,thực chất đây là quá trình cá nhân tự tư duy trên cơ sở pháthuy mọi năng lực, phẩm chất vốn có của mình để đạt đượcmục tiêu nào đó trong học tập, nghiên cứu Để đạt được mụctiêu này người học phải lựa chọn cho mình một PP phù hợpvới điều kiện, khả năng của mình cũng như đối tượng mônhọc và nhiệm vụ học tập đã đặt ra – đó chính là PP HDTH

PP HDTH của SV là tổng hợp những cách thức, conđường, phương tiện mà SV tự chọn cho mình trong quá trìnhhọc tập, nghiên cứu khoa học để hoàn thành tốt nhất nhữngnhiệm vụ học tập và nghiên cứu khoa học đã đề ra

PP HDTH có nhiều cách thức, biện pháp khác nhau, căn

cứ vào đối tượng, nội dung môn học để xác định cách thức và

Trang 8

biện pháp hợp lý, có thể hướng dẫn trực tiếp hoặc hướng dẫngián tiếp những chỉ dẫn của những người đi trước Đó là hoạtđộng sư phạm của người dạy và người học, trong đó bao hàm

sự chỉ dẫn, định hướng về con đường, về cách thức, biện pháp

và sử dụng phương tiện tự học cho người học nhằm giúpngười học chủ động tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, phát huynăng lực, ý chí tự học, hình thành thói quen tự giác học tậpmột cách thường xuyên, trên cơ sở đó nâng cao kết quả họctập cá nhân, thực hiện hoàn thành mục tiêu học tập và nghiêncứu Từ những sự phân tích trên tác giả quan niệm :

Như vậy: PP HDTH là dạy cho người học cách tự học, dạy cách hiểu nội dung tri thức, nhằm giúp họ không ngừng nâng cao chất lượng học tập và nghiên cứu khoa học.

Trang 9

“Hình thức này gọi là hình thức tự nghiên cứu (của cácnhà khoa học) Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ đi đến sựsáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây làhình thức thể hiện đỉnh cao của HĐTH Dạng tự học này phảiđược dựa trên nền tảng của sự say mê khám phá tri thức mới

và đồng thời phải có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu.”

* Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có GV bêncạnh

Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:

Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫncủa thầy

Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm cáckiến thức trong sách qua đó sẽ phát triển về tư duy, tự họchoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt đến đểxây dựng một xã hội học tập suốt đời

Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn

Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổithông tin giữa thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông

Trang 10

tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và giải đáp cácthắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh giá,

* Hình thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt một sốtiết trong ngày, sau đó SV về nhà tự học dưới sự hướng dẫngián tiếp của GV

Ở hình thức này người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ,chất xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh trithức Với vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: Trò sẽ tựgiác, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình học tập Mốiquan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa nội lực vàngoại lực

Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giápmặt với thầy, nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy Tựhọc của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp vớiyêu cầu của GV, được GV định hướng về nội dung, PPTH đểngười học thực hiện Như vậy ở hình thức tự học thứ ba nàyquá trình tự học của SV có liên quan chặt chẽ với quá trìnhdạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tốhướng dẫn PPTH của GV và quá trình tự học của SV

- Vai trò và ý nghĩa của tự học

Trang 11

SV đạt được để thích ứng với những yêu cầu chung ngày càngcao của giáo dục nhà trường.

Trong thực tế giáo dục, trong quá trình học tập thì cácđiều kiện chủ quan giữ vai trò trực tiếp đến hiệu quả học tập.Mặc dù nội dung chương trình, điều kiện học tập và PP giảngdạy dù có tốt đến đâu nhưng nếu thiếu yếu tố chủ quan, thiếuđộng cơ học, không có PP học tập hợp lý, không tự học và rènluyện thì không thể có kết quả học tập cao được Việc học là

do tự bản thân của người học thực hiện “Tự học là một nghệthuật Là nghệ thuật thì không thể truyền được” [24,tr14] Do

đó, tự học giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất

Trang 12

lượng giáo dục nói chung và chất lượng học tập nói riêng Tựhọc có vai trò đối với sự phát triển cá nhân, cụ thể:

- Tự học, tự đào tạo quyết định trực tiếp đến chất lượng

và hiệu quả giáo dục

Tự học trước hết giúp cho người học chuyển hóa kinhnghiệm xã hội thành cái của bản thân Quá trình chuyển hóa

đó phải do chính người học thực hiện Dạy học ngày nay chỉ

có thể đảm bảo chất lượng khi dựa trên cơ sở kích thích tínhtích cực chủ động cũng như khả năng tự đào tạo của ngườihọc

- Tự học giúp người học tự nắm vững kiến thức, kỹ năngnghề nghiệp

Trong quá trình tự học, người học tự tìm kiếm, thu thập,

xử lý và sử dụng thông tin; người học có thể sàng lọc nhữngtri thức phù hợp, có dịp so sánh, đánh giá những tri thức đãtiếp thu, nhờ đó nắm vững những điều đã học được sâu sắchơn, vững chắc hơn, tạo cơ sở cho việc vận dụng tình huốngthực tiễn thuận lợi Tâm lý học hoạt động đã chứng minhnhân cách phát triển thông qua hoạt động của mỗi người làmnên nhân cách của chính mình Vì vậy, muốn nắm vững tri

Trang 13

thức thì người học phải tự vận động cả về hành động bêntrong lẫn hành động bên ngoài.Muốn tìm vàng thì phải đi sâuvào trong lòng đất, trong quá trình học tập, muốn tìm tri thứcphải đi sâu vào lý thuyết và đi sâu vào thực hành Có thế thìtri thức tiếp thu được mới vững chắc, cái gì mình tự khám phá

sẽ nhớ lâu và vững chắc hơn

- Tự học giúp người học mở rộng và đào sâu tri thức

Tự học nhằm làm cho những tri thức tiếp thu được nhờ

sự hướng dẫn của GV thêm sắc bén hơn, tạo cơ sở quan trọngcho việc thực hành và sử dụng thông tin nên tri thức nhânloại, gồm nhiều loại lĩnh vực khoa học khác nhau và tất nhiênmỗi cá nhân không thể am hiểu tất cả những tri thức đó, vàmỗi người chỉ có thể nắm được những kiến thức chuyên môn.Tuy nhiên, để hiểu về chuyên môn thì cần phải có vốn vănhóa chung về nhiều lĩnh vực ngoài chuyên môn, đáp ứngnhững yêu cầu đầy biến động của xã hội thông tin

- Tự học giúp người học hình thành thói quen tư duykhoa học và PPTH

Trong quá trình tự học, người học thường xuyên sử dụngcác thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, đánh giá, trừu

Trang 14

tượng hóa, khái quát hóa tạo nên tư duy khoa học và hìnhthành khả năng tự học.

- Tự học giúp người học có khả năng học tập suốt đời.Học không dừng lại ở lứa tuổi thiếu niên, thanh niên màhọc ngày nay đã trở thành nhu cầu liên tục và suốt đời để đápứng được thực tiễn cuộc sống đặt ra “Học, học nữa, học mãi”

Tóm lại, tự học giữ vai trò rất quan trọng trong quá trìnhhọc tập, lao động sáng tạo Con đường hoàn thiện nhân cách

là tự học Theo quy luật tự nhiên, loài sinh vật nào có khảnăng thích nghi được với môi trường tự nhiên sẽ có khả năngtồn tại Theo quy luật xã hội, ai có khả năng thích ứng nhanhvới xã hội thông tin, người đó có cơ hội thành công, nghĩa làphải biết thu thập, xử lý thông tin và biết vận dụng có hiệuquả

- Ý nghĩa của tự học

Ở bất kỳ cấp học nào, đặc biệt ở những cấp học CĐ, ĐH

tự học giữ một vai trò to lớn và có ý nghĩa thiết thực SV sẽthể hiện được sự chủ động sáng tạo, độc lập của mình trong

Trang 15

việc chiếm lĩnh các tri thức và vận dụng các kiến thức cơ bản

đó vào thực tiễn và những tình huống cụ thể

Như vậy nhờ có tự học và chỉ bằng con đường tự học,người học mới nắm vững, thông hiểu tri thức, bổ sung, hoànthiện tri thức cũng như hình thành kỹ năng và kỹ xảo tươngứng Việc tự học của SV không những chỉ nâng cao năng lựcnhận thức, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo, vận dụng tri thức củabản thân vào cuộc sống mà còn giáo dục tình cảm và nhữngphẩm chất đạo đức của bản thân Vì trên cơ sở những tri thức,

họ tiếp thu được ý nghĩa sâu sắc đến việc giáo dục tư tưởnglối sống, niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cá nhâncũng như phẩm chất ý chí cần thiết cho việc tổ chức lao độnghọc tập cho mỗi SV Bên cạnh đó, tự học còn rèn luyện chongười học cách suy nghĩ, tính tự giác, độc lập trong học tậpcũng như rèn luyện thói quen trong hoạt động khác Nói cáchkhác, việc tự học hướng vào rèn luyện và phát triển toàn diệnnhân cách SV Mặt khác, việc tự học không những là yêu cầucấp bách và thiết yếu của SV đang ngồi trên ghé nhà trường

mà nó còn có ý nghĩa lâu dài trong mỗi cuộc đời của mỗingười, đó là thói quen học tập suốt đời của mỗi người.Vàngười SV cần phải học tập nhiều hơn khi đã rời ghế nhà

Trang 16

trường và sự học tập ở giai đoạn thứ hai này còn quan trọnghơn gấp bội lần sự học tập ở giai đoạn thứ nhất và kết quả của

nó ảnh hưởng đến nhân cách và đến xã hội

- Cơ sở thực tiễn của PP HDTH trong dạy học môn ĐLCM của ĐCSVN ở Trường CĐCT

- Khái quát về Trường CĐCT

Được thành lập từ năm 1976, tọa lạc tại trung tâm thànhphố Cần Thơ, với diện tích hơn 60.000 m2 Trường có 80phòng học, hệ thống giảng đường, phòng thí nghiệm thựchành; nhà tập đa năng, sân chơi, khu ký túc xá SV… hiện có

và đang được xây dựng thêm sẽ góp phần đáp ứng như cầuhọc tập, sinh hoạt và rèn luyện sức khỏe của HSSV vì ngàymai “lập thân, lập nghiệp”

Với hai hệ đào tạo chính qui và hệ vừa làm vừa học, trườnghiện có trên hơn 10.000 HSSV và HV các hệ đang theo học; đàotạo và liên kết đào tạo theo hình thức liên thông từ Trung cấp lên

CĐ và lên ĐH Trường hiện đào tạo 20 mã ngành CĐ và 11ngành trung cấp chuyên nghiệp Ngoài ra, trường còn có trungtâm Ngoại ngữ - Tin học đào tạo cấp chứng chỉ A, B quốc gia vàhai trường Mầm non và Tiểu học Thực hành trực thuộc là điều

Trang 17

kiện tốt để SV nhà trường tham gia kiến tập sư phạm và thực tậptốt nghiệp”

“Các tổ chức Đoàn, Hội trong trường là lực lượng nòngcốt đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp với nhàtrường chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần cho cán bộ GVnhân viên và SV Đoàn thể đóng vai trò tích cực trong các hoạtđộng phong trào, hoạt động tập thể trong sinh họat câu lạc bộ,meeting, hội thi, hội thao, hội diễn tạo bầu không khí đầm

ấm, vui tươi, bổ ích thật sự là chổ dựa tinh thần vững chắccho anh chị em trong cơ quan”

“Nhà trường luôn coi trọng việc giảng dạy gắn với giáodục chính trị, đạo đức, lối sống cho SV, phương châm của nhàtrường là đào tạo ra những con người “vừa hồng, vừachuyên”, uy tín - chất lượng giáo dục là những tiêu chí hàngđầu Mục tiêu của trường là phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng GV

có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực sư phạm và cung cấpnguồn nhân lực thật hiệu quả phục vụ cho sự nghiệp CNH,HĐH đất nước 35 năm phấn đấu và phát triển, trường vinh dựđược Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng II Đây

là thành quả thật sự khích lệ và thật tự hào cho sự nỗ lực của

Trang 18

tập thể thầy và trò trường CĐCT trong công tác xây dựng vàphát triển nhà trường”

Năm học 2017- 2018, Khoa Chính trị Pháp luật – Thểchất Quốc Phòng có 34 GV, gồm 20 thạc sĩ, 03 đang làmNCS, 02 GV đang chuẩn bị bảo vệ luận văn thạc sĩ, 09 ĐH.Hiện nay, đội ngũ GV trẻ chiếm đa số, có 19 người có tuổiđời dưới 35, họ là những người trẻ, năng động và yêu nghề,

có ý chí vượt khó vươn lên Chi bộ gồm 16 đảng viên và có

01 đoàn viên ưu tú đang được đề nghị kết nạp đảng

Khoa Chính trị Pháp luật – Thể chất Quốc Phòng luônnhận được sự quan tâm chỉ đạo, toàn diện của lãnh đạo về tổchức, về chuyên môn Đội ngũ GV cũng nhận thức rõ ràng, lànhững thầy cô giảng dạy môn Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐLCM củaĐCSVN, trước hết tập thể GV xác định lập trường chính trịvững vàng, với tinh thần đoàn kết, kỷ cương, tình thương,trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy và các côngtác phong trào một cách xuất sắc

- Thực trạng tự học môn ĐLCM của ĐCSVN ở trường CĐCT

Trang 19

Để tìm hiểu thực trạng học tập của SV qua môn họcĐLCM của ĐCSVN tác giả đãtiến hành khảo sát ngẫu nhiên

150 SV về nội dung cơ bản là: nhận thức về vai trò của mônhọc và nhận thức của SV về vấn đề tự học, hứng thú học tập củamôn học, tác dụng của việc tự học, động cơ học tập, hình thức,PPTH, kỹ năng tự học, những nguyên nhân ảnh hưởng đến chấtlượng tự học của SV với kết quả như sau:

Kết quả thống kê đạt như sau:

- Nhận thức của SV về tầm quan trọng của môn ĐLCM của ĐCSVN.

- Vai trò của môn ĐLCM của ĐCSVN ở trường CĐCT

Trang 20

Nhìn vào bảng số liệu trên, chúng ta thấy rằng có23.33% số SV được hỏi cho rằng môn ĐLCM của ĐCSVN làmột môn học rất quan trọng; 39.34% SVcho rằng môn họcnày có vai trò quan trọng; 35.34% SV đánh giá đây là mônhọc có vai trò bình thường và 2% SV chọn mức độ khôngquan trọng.

Chúng ta luôn cho rằng học mônĐLCM của ĐCSVNlàmột môn học có vai trò quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễntrong việc đào tạo SV Tuy nhiên, qua số liệu điều tra thu được,

ta thấy một điều rất rõ là SVtrường CĐCT chưa thực sự nhậnthức hết vai trò, ý nghĩa của mônĐLCM của ĐCSVNđốivới bảnthân.Với 35.33% SVđánh giá đây là môn học có vai trò bìnhthường và 2% SVchọn mức độ không quan trọng là quá cao sovới tầm quan trọng thực sự của môn học trong chương trình đàotạo

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cậpđến vấn đề nhận thức của người học về môn ĐLCM củaĐCSVN Từ nhận thức đi đến hành động đúng đắn là mộtchuỗi logic, khi bản thân mỗi SVchưa thực sự hiểu rõ đượcvai trò của môn ĐLCM của ĐCSVNđối với bản thân mình thìlàm sao họ có thể miệt mài, say sưa tự tìm tòi khám phá

Trang 21

những tri thức phong phú bổ ích của môn ĐLCM củaĐCSVNnhưng rất trừu tượng và không dễ để nắm bắt đượcthực chất và ý nghĩa của nó, hơn nữa là có thể vận dụngnhững tri thức đó vào ngành học và thực tiễn cuộc sống củamình.

Vậy SV trường CĐCT đã nhận thức như thế nào về tầmquan trọng của việc tự học môn ĐLCM của ĐCSVN

- Nhận thức về tầm quan trọng của việc tự học môn ĐLCM của ĐCSVN

Tác giả tìm hiểu vấn đề này qua phiếu điều tra và kếtquả thu được thể hiện ở bảng sau:

- Vai trò của tự học môn ĐLCM của ĐCSVN

Trang 22

4 Không quan trọng 4 2.67Nhìn vào bảng số liệu chúng ta nhận thấy nhận thức của

SV về vấn đề tự học môn ĐLCM của ĐCSVN, cho là bìnhthường được các em chọn nhiều nhất (38.67%); thứ hai là tiêuchí quan trọng (37.67%); thứ ba là rất quan trọng (21,33%);

SV lựa chọn tiêu chí không quan trọng là cuối cùng (2.67%)

Số liệu trên cho thấy phần lớn SV trường CĐCT vẫn thụ độngtrong việc lĩnh hội kiến thức môn ĐLCM của ĐCSVN

- Thực trạng hứng thú tự học, tự nghiên cứu môn ĐLCM

của ĐCSVN của SV trường CĐCT

Để tìm hiểu hứng thú của SVđối với môn học, tác giảtiến hành khảo sát vấn đề này, kết quả thu được là:

- Hứng thú tự học môn ĐLCM của ĐCSVN

ST

T

Hứng thú tự học môn ĐLCM của ĐCSVN

Số lượng SV

Tỷ lệ

%

Trang 23

và mệt mỏi, còn lại là rất hứng thú và hứng thú Nhìn vào kếtquả thu được chúng ta thấy một thực tế rằng SV trườngCĐCT chưa thực sự có hứng thú học tập môn ĐLCM củaĐCSVN Số SV lựa chọn mức độ hứng thú và rất hứng thú làkhông nhiều, tệ hơn là vẫn có 8% SVđược hỏi cảm thấy chán

và mệt mỏi khi tự học môn ĐLCM của ĐCSVN Điều này lýgiải vì sao SV chỉ chú tâm học môn này khi đến kỳ thi - thựcchất các em chỉ học mang tính đối phó

- Tác dụng của việc tự học môn ĐLCM của ĐCSVN

Trang 24

Khi nghiên cứu tác dụng của việc tự học môn ĐLCMcủa ĐCSVN tác giả thu được kết quả.

- Tác dụng của việc tự học môn ĐLCM của ĐCSVN

ST

T

Tác dụng của việc tự học môn ĐLCM của ĐCSVN

Số lượn g

Tỷ lệ

Trang 25

có nghĩa là không chiếm tỷ lệ cao SV coi việc học môn ĐLCMcủa ĐCSVN chỉ là chống đối và do bắt buộc đủ điều kiện để thikết thúc hết môn Có 38.0% SV cho rằng tự học giúp SV vậndụng tri thức vào giải quyết nhiệm vụ học tập, và có đến 42.7%

SV đều cho rằng việc tự học môn ĐLCM của ĐCSVN giúp SV

tự đánh giá bản thân, đây cũng là điều rất đáng khích lệ…

Như vậy, số SV nhận thức được tác dụng quan trọng củaviệc tự học chiếm tỷ lệ trung bình Và chiếm một tỷ lệ khá cao

đó là 88/150 SV (58.7%) SV khẳng định tự học giúp SV mởrộng kiến thức Đây cũng là một tác dụng quan trọng bởi nógiúp người học không chỉ nắm bắt được kiến thức một cách

Ngày đăng: 30/04/2019, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w