Với đặc thù công trình truyền tải điện có mạng rộng lưới khắp cả nước, xây dựng trên nhiều địa hình phức tạp cả đồng bằng lẫn miền núi, cho nên ngay từ những khâu đầu tiên của dự án, côn
Trang 1M ỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH M ỤC CÁC VIẾT TẮT vii
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH TRUYỀN TẢI ĐIỆN 4
1.1 Công tác quản lý chất lượng thiết kế 4
1.1.1 Đặc điểm chung ngành xây dựng 4
1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng 5
1.1.3 Chất lượng thiết kế công trình 9
1.1.4 Quản lý chất lượng thiết kế công trình 10
1.2 Kỹ thuật, công nghệ áp dụng thiết kế công trình truyền tải điện [8], [9], [10] 11 1.2.1 Đặc điểm thiết kế nền đường dây tải điện 11
1.2.2 Các chỉ dẫn chung về trang bị điện 11
1.2.3 Công tác thiết kế và lắp đặt trang bị nối đất của các thiết bị điện 15
1.2.4 Đường dây tải điện trên không (ĐDK) đối với điện áp 1kV đến 500kV 19
1.2.5 Trang bị phân phối (TBPP) và trạm biến áp (TBA) điện áp trên 1kv 20
1.3 Đánh giá thực trạng QLCL thiết kế công trình truyền tải điện hiện nay 22
1.3.1 Thực trạng công tác QLCL các công trình xây dựng ở Việt Nam 22
1.3.2 Thực trạng công tác QLCL CTXD ở một số nước trên thế giới 26
1.3.3 Một số sự cố liên quan đến QLCL các công trình truyền tải điện 29
Kết luận Chương 1 32
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HỒ SƠ THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH TRUYỀN TẢI ĐIỆN 33
2.1 Hệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm hiện hành quy định về chất lượng thiết kế công trình truyền tải điện 33
2.2 Giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng 33
Trang 22.2.1 Đối với công tác khảo sát giai đoạn lập dự án đầu tư 33
2.2.2 Nội dung công tác thiết kế trong giai đoạn lập dự án đầu tư 35
2.3 Giai đoạn thiết kế kỹ thuật 38
2.3.1 Đối với công tác khảo sát giai đoạn thiết kế kỹ thuật 38
2.3.2 Nội dung công tác thiết kế trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật 39
2.4 Giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công 41
2.4.1 Đối với công tác khảo sát giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công 42
2.4.2 Nội dung công tác thiết giai đoạn thiết kế bản vẽ thi công 43
2.5 Những vấn đề xảy ra làm ảnh hưởng đến chất lượng thiết kế và nguyên nhân gây nên 44
2.5.1 Giai đoạn lập dự án đầu tư 44
2.5.2 Giai đoạn thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công 45
Kết luận chương 2 47
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH TRẠM 500KV TÂY HÀ NỘI 49
3.1 Các mô hình tổ chức, quản lý chất lượng thiết kế và yêu cầu chất lượng trong thiết kế công trình truyền tải điện 49
3.1.1 Cơ cấu tổ chức của Viện Năng Lượng [1] 49
3.1.2 Chức năng nhiệm vụ chịu trách nhiệm trong một dự án của Viện Năng Lượng 50
3.1.3 Mô hình hoạt động của một dự án của viện năng lượng 52
3.2 Giới thiệu chung về công trình trạm biến áp 500kV Tây Hà Nội 53
3.2.1 Vị trí công trình 53
3.2.2 Phần điện nhất thứ: 54
3.2.3 Phần điện nhị thứ 55
3.2.4 Phần xây dựng 57
3.2.5 Quy mô phần hệ thống thông tin viễn thông 58
Trang 33.2.6 Tổng dự toán và tiến độ thực hiện dự án 59
3.3 Đánh giá thực trạng về công tác TKCT truyền tải điện tại TTTV& CGCN thuộc Viện Năng Lượng 59
3.3.1 Giai đoạn lập dự án đầu tư 60
3.3.2 Giai đoạn thiết kế kỹ thuật và bản vẽ thi công 60
3.4 Một số biện pháp nâng cao chất lượng TKCT truyền tải điện tại TTTV& CGCN thuộc Viện Năng Lượng 61
3.4.1 Giải pháp về hồ sơ chất lượng các nội dung thiết kế 61
3.4.2 Công tác nâng cao chất lượng nhân lực, hiện đại hóa thiết bị 62
3.4.3 Giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế theo tiêu chuẩn iso 9001:2015 62
Kết luận chương 3 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1 Những kết quả đạt được 76
2 Những tồn tại trong quá trình thực hiện luận văn 77
3 Những kiến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo 77
3.1 Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước: 77
3.2 Đối với TTTV&CGCN thuộc Viện Năng Lượng 77
Trang 4DANH M ỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Sự cố đổ cột đường dây 500 kV Quảng Ninh - Hiệp Hòa 30 Hình 1.2 Sự cố đổ cột đường dây 220 kV Hải Phòng – Đình Vũ 30 Hình 1.3 Trụ móng làm bằng bê tông trộn đất 31
Trang 5DANH M ỤC CÁC VIẾT TẮT
CNDA Chủ nhiệm dự án
CTXD Công trình xây dựng
DAĐTXD Lập dự án đầu tư xây dựng
ĐDK Đường dây truyền tải điện trên không
TKBVTC Thiết kế bản vẽ thi công
TKCCN thiết kế chính chuyên ngành
TKKT-TDT Thiết kế kỹ thuật - Tổng dự toán
TVNL&CGCN Tư vấn năng lượng và Chuyển giao Công nghệ
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới ngành xây dựng luôn được coi là ngành kinh tế quan trọng, là bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân Ở nhiều nước trên thế giới, trong bảng xếp
loại các ngành tạo nguồn thu hút chủ yếu và sử dụng nhiều lao động của nền kinh tế luôn có tên ngành xây dựng
Cùng với sự phát triển toàn cầu hóa, ngành xây dựng ở Việt Nam được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn, thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế khác, nên ngày càng được trú trọng đầu tư với mục tiêu hướng tới không chỉ là số lượng mà cả chất lượng ngày càng được quan tâm hơn
Chất lượng công trình được quyết định chủ yếu trong giai đoạn thi công nhưng để
phục vụ tốt được trong giai đoạn này thì vai trò thiết kế đóng vai trò vô cùng quan
trọng, đảm bảo chất lượng, an toàn trong thi công
Công trình truyền tải điện là ngành thuộc nhóm kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội luôn được Nhà nước hết sức quan tâm, chú trọng và nó có vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước và nâng cao đời sống của nhân dân Các công trình truyền tải điện, hệ thống truyền tải điện mỗi năm đều được xây mới, cải tạo để đáp ứng cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau
Với đặc thù công trình truyền tải điện có mạng rộng lưới khắp cả nước, xây dựng trên nhiều địa hình phức tạp cả đồng bằng lẫn miền núi, cho nên ngay từ những khâu đầu tiên của dự án, công tác khảo sát, thiết kế cần phải kiểm soát tốt, có như vậy, trong quá trình thi công công trình sẽ hạn chế được những rủi ro
Trung tâm Tư vấn năng lượng và chuyển giao công nghệ thuộc Viện Năng lượng được thành lập ngày 18/04/1989 theo quyết định số 232/TCCB-LĐ Bộ Năng lượng (nay là
Bộ Công Thương) với tên gọi ban đầu là Trung tâm dịch vụ khoa học kỹ thuật Sau khi
Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) thành lập 01/01/1995, Trung tâm được đổi tên thành Trung tâm Tư vấn năng lượng và chuyển giao công nghệ theo quyết định số 860- ĐVN/TCCB-LĐ ngày 28/09/1995 và hoạt động cho đến nay Từ 1/1/2010 Trung
Trang 8tâm thuộc Viện Năng lượng về trực thuộc Bộ Công Thương theo Quyết định số 5999/QĐ-BCT ngày 27/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Công Thương Từ khi thành lập đến nay Trung tâm TVNL & CGCN hoạt động chính trong lĩnh vực truyền tải điện,
chịu sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ trong ngành Cạnh tranh tất yếu sẽ làm giảm giá dịch vụ nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng để giữ vững uy tín với khách hàng Ý
thức được yếu tố sống còn đến sự tồn tại và phát triển, Trung tâm TVNL & CGCN thuộc Viện Năng lượng đã không ngừng nâng cao chất lượng hồ sơ thiết kế công trình truyền tải điện nhằm nâng cao sức cạnh tranh hơn nữa trong môi trường xây dựng
khốc liệt hiện nay
Xuất phát từ các vấn đề cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài: Nâng cao chất lượng thiết kế công trìnhTr ạm biến áp 500kV Tây Hà Nội của Viện Năng Lượng
2 Mục tiêu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế công trình truyền tải điện tại
Viện Năng lượng áp dụng đối với thiết kế trạm biến áp 500kV Tây Hà Nội
3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tổng thể tình hình thiết kế các công trình truyền tải điện của viện năng lượng
- Áp dụng các hệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm hiện hành quy định về chất lượng thiết kế công trình Truyền tải điện để đưa ra được 1 số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thiết kế áp dụng đối với thiết kế trạm biến áp 500kV Tây Hà Nội
4 Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu
- Vận dụng các tiêu chuẩn thiết kế, quy phạm của Nhà nước quy định để nghiên cứu đề tài
- Điều tra, thu thập kết quả chất lượng thiết kế các công trình truyền tải điện đã thực hiện
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu thiết kế các công trình truyền tải điện
- Đối tượng nghiên cứu công trình TBA 500kV Tây Hà Nội
Trang 96 Kết quả đạt được:
Thông qua việc phân tích, xem xét, đánh giá thực trạng trong công tác thiết kế công trình truyền tải điện đã hoàn thiện của Viện Năng Lượng, trên cơ sở vận dụng những
lý luận và thực tiễn về công tác thiết kế công trình truyền tải điện của một số công ty
tư vấn, để đề ra các giải pháp giúp hoàn thiện và nâng cao chất lượng thiết kế công trình truyền tải điện
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHẤT LƯỢNG THIẾT
K Ế CÔNG TRÌNH TRUYỀN TẢI ĐIỆN
1.1 Công tác qu ản lý chất lượng thiết kế
1.1.1 Đặc điểm chung ngành xây dựng
1.1.1.1 Công trình xây d ựng và công trình truyền tải điện
Công trình xây dựng (CTXD) là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất,
có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên
mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân
dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác [4]
Công trình truyền tải điện là công trình được xây dựng để truyền tải điện năng khắp các vùng trong cả nước Nhiệm vụ chủ yếu của cá công trình truyền tải là truyền tải điện năng từ các trạm thủy điện, các nhà máy nhiệt điện, từ nguồn cung cấp nước ngoài cung cấp điện cho các vùng trong cả nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất
của người dân, nhà máy, các khu công nghiệp …
1.1.1.2 Đặc điểm chung ngành xây dựng [12]
Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản
cố định cho nền kinh tế quốc dân Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước Hơn thế nữa, đầu tư XDCB gắn liền với việc ứng
dụng các công nghệ hiện đại do đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật đối với các ngành sản xuất vật chất Nó có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích luỹ nói riêng với vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực XDCB
So với các ngành sản xuất khác, XDCB có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của ngành
Trang 11Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dài, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ xã
hội để tránh bị lạc hậu Phong cách kiến trúc và kiểu dáng mỗi sản phẩm cần phải phù
hợp với văn hoá dân tộc vùng miền, quốc gia Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình vmà còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử dụng
Sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về mặt kinh tế, chính trị, kế toán, nghệ thuật Nó rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Những đặc điểm này có tác động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng
Sản phẩm xây dựng là sản phẩm đơn chiếc và được tiêu thụ theo cách riêng Các sản
phẩm được coi như tiêu thụ trước khi được xây dựng theo giá trị dự toán hay giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ bởi vì sản phẩm xây lắp là hàng hoá đặc biệt
Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử
dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp thuật của từng loại công trình Không những thế quá trình thi công được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường, đòi hỏi các nhà xây dựng
phải giám sát chặt chẽ những biến động của thiên nhiên để hạn chế những ảnh hưởng
xấu của nó đến mức thấp nhất
1.1.2 Ch ất lượng công trình xây dựng
1.1.2.1 Các quan ni ệm về chất lượng
Trong cuộc sống con người, khái niệm chất lượng sản phẩm đã có từ lâu, đây là một
phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã
hội Trong chiến lược phát triển của mỗi ngành nghề, của các công ty dựa vào nhu cầu
của thị trường đều có những quan niệm về chất lượng riêng cho mình
Trang 12Theo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chất nào đó của sự vật, hiện tượng, tính chất mà nó khẳng định nó chính là cái đó chứ không phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thể khác Chất lượng của khách thể không quy về những tính chất riêng biệt của nó mà gắn chặt với khách thể như một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách thể Theo quan điểm này thì chất lượng đã mang trong nó một ý nghĩa hết sức trừu tượng, nó không phù hợp với thực tế đang đòi hỏi
Một quan điểm khác về chất lượng cũng mang một tính chất trừu tượng là chất lượng theo quan điểm này được định nghĩa như là sự đạt một mức độ hoàn hảo mang tính
chất tuyệt đối Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi người mỗi khi nghe thấy đều nghĩ ngay đến một sự hoàn mỹ tốt nhất, cao nhất Như vậy, theo nghĩa này thì chất lượng vẫn chưa thoát khỏi sự trừu tượng của nó Đây là một khái niệm còn mang nặng tính chất chủ quan, cục bộ và quan trọng hơn, khái niệm này về chất lượng vẫn chưa cho phép ta có thể định lượng được chất lượng Vì vậy, nó chỉ mang một ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết mà không có khả năng áp dụng trong kinh doanh
Một quan điểm thứ 3 về chất lượng theo định nghĩa của W.A.Shemart, một nhà quản
lý người mỹ, là người khởi xướng và đạo diễn cho quan điểm này đối với vấn đề về
chất lượng và quản lý chất lượng Shemart cho rằng “chất lượng sản phẩm trong sản
xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó”
So với những khái niệm trước đó về chất lượng thì ở khái niệm này, Shemart đã coi
chất lượng như là một vấn đề cụ thể và có thể định lượng được Theo quan điểm này thì chất lượng sản phẩm sẽ là một yếu tố nào đó tồn tại trong các đặc tính của sản
phẩm và vì tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm cho nên chất lượng sản phẩm cao cũng đồng nghĩa với việc phải xác lập cho các sản phẩm những đặc tính tốt hơn phản ánh một giá trị cao hơn cho sản phẩm và như vậy chi phí sản xuất sản phẩm cũng cao hơn làm cho giá bán của sản phẩm ở một chừng mực nào đó khó được người tiêu dùng
và xã hội chấp nhận Do vậy, quan điểm về chất lượng này của Shewart ở một mặt nào
đó có một ý nghĩa nhất định nhưng nhìn chung đây là một quan điểm đã tách rời chất
Trang 13lượng với người tiêu dùng và các nhu cầu của họ Nó không thể thoả mãn được các điều kiện về kinh doanh và cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay.[6]
Quan điểm thứ 4 về chất lượng xuất phát từ phía người sản xuất Theo họ quan điểm này, chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật đã được đặt ra từ trước trong khâu thiết kế sản phẩm Theo quan điểm này, chất lượng gắn liền với vấn đề công nghệ và đề cao vai trò của công nghệ trong việc tạo ra sản phẩm với chất lượng cao Quan điểm này cho rằng
“chất lượng là một trình độ cao nhất mà một sản phẩm có được khi sản xuất”
Do xuất phát từ phía người sản xuất nên khái niệm về chất lượng theo quan điểm này còn có nhiều bất cập mang tính chất bản chất và khái niệm này luôn đặt ra cho các nhà
sản xuất những câu hỏi không dễ gì giải đáp được Thứ nhất, do đề cao yếu tố công nghệ trong vấn đề sản xuất mà quên đi rằng vấn đề sản phẩm có đạt được chất lượng cao hay không chính là do người tiêu dùng nhận xét chứ không phải do các nhà sản
xuất nhận xét dựa trên một số cơ sở không đầy đủ và thiếu tính thuyết phục, đó là công nghệ sản xuất của họ, thứ hai, câu hỏi đặt ra cho các nhà sản xuất là họ lấy gì để đảm
bảo rằng quá trình sản xuất được thực hiện trên công nghệ của họ không gặp một chở
ngại hay rắc rối nào trong suốt quá trình sản xuất và một điều nữa, liệu công nghệ của
họ có còn thích hợp với nhu cầu về các loại sản phẩm cả sản phẩm cùng loại và sản
phẩm thay thế trên thị trường hay không
Như vậy, theo khái niệm về chất lượng này các nhà sản xuất không tính đến những tác động luôn luôn thay đổi và thay đổi một cách liên tục của môi trường kinh doanh và hệ
quả tất yếu của nó, trong khi họ đang say xưa với những sản phẩm chất lượng cao của
họ thì cũng là lúc nhu cầu của người tiêu dùng đã chuyển sang một hướng khác, một
cấp độ cao hơn
Để khắc phục những hạn chế tồn tại và những khuyết tật trong khái niệm trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đưa ra một khái niệm bao quát hơn, hoàn chỉnh hơn về chất lượng sản phẩm, khái niệm này một mặt phải đảm bảo được tính khách quan, mặt khác phải phản ánh được vấn đề hiệu quả của sản
xuất kinh doanh mà chất lượng của sản phẩm chất lượng cao sẽ mang lại cho doanh
Trang 14nghiệp, cho tổ chức Cụ thể hơn, khái niệm về chất lượng sản phẩm này phải thực sự
xuất phát từ hướng người tiêu dùng Theo quan điểm này thì “chất lượng là sự phù hợp
một cách tốt nhất với các yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng”, với khái niệm trên về chất lượng thì bước đầu tiên của quá trình sản xuất kinh doanh phải là việc nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng về các loại sản phẩm hàng hoá
hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp định cung cấp trên thị trường Các nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng luôn luôn thay đổi đòi hỏi các tổ chức, các doanh nghiệp tham gia sản xuất kinh doanh phải liên tục đổi mới cải tiến chất lượng, đáp ứng kịp
thời những thay đổi của nhu cầu cũng như của các hoàn cảnh các điều kiện sản xuất kinh doanh Đây là những đòi hỏi rất cơ bản mang tính chất đặc trưng của nền kinh tế
thị trường và nó đã trở thành nguyên tắc chủ yếu nhất trong sản xuất kinh doanh hiện đại ngày nay Mặc dù vậy, quan điểm trên đây về chất lượng sản phẩm vẫn còn những nhược điểm của nó Đó là sự thiếu chủ động trong các quyết định sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp Sự phụ thuộc quá nhiều và phức tạp của doanh nghiệp vào khách hàng, người tiêu dùng có thể sẽ làm cho vấn đề quản lý trở nên phức tạp và khó khăn hơn Tuy vậy, nó là một đòi hỏi tất yếu mang tính chất thời đại và lịch sử
Ngoài các khái niệm đã nêu ở trên, còn một số khái niệm khác về chất lượng sản phẩm cũng được đưa ra nhằm bổ sung cho các khái niệm đã được nêu ra trước đó Cụ thể theo các chuyên gia về chất lượng thì chất lượng là:
Trang 15Như vậy, chất lượng sản phẩm dù được hiểu theo nhiều cách khác nhau dựa trên
những cách tiếp cận khác nhau đều có một điểm chung nhất Đó là sự phù hợp với yêu
cầu Yêu cầu này bao gồm cả các yêu cầu của khách hàng mong muốn thoả mãn
những nhu cầu của mình và cả các yêu cầu mang tính kỹ thuật, kinh tế và các tính chất pháp lý khác Với nhiều các khái niệm dựa trên các quan điểm khác nhau như trên, do
vậy cần phải xem chất lượng sản phẩm trong một thể thống nhất Các khái niệm trên
mặc dù có phần khác nhau nhưng không loại trừ mà bổ sung cho nhau Cần phải hiểu khái niệm về chất lượng một cách có hệ thống mới đảm bảo hiểu được một cách đầy
đủ nhất và hoàn thiện nhất về chất lượng
Từ đó có thể hình thành khái niệm chất lượng tổng hợp là sự thoả mãn yêu cầu trên tất
cả các phương diện sau:
- Tính năng của sản phẩm và dịch vụ đi kèm;
- Giá cả phù hợp;
- Thời gian;
- Tính an toàn và độ tin cậy
1.1.3 Ch ất lượng thiết kế công trình
Chất lượng CTXD là những yêu cầu về an toàn, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn
bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế
Công tác thiết kế xây dựng là việc đưa ra các phương án công trình về kết cấu, tuyến công trình, kiến trúc, kỹ thuật, dự toán chi phí xây dựng phù hợp với từng bước thiết
kế và lựa chọn được phương án thiết kế tối ưu nhất nhằm đảm bảo chất lượng tốt nhất cho công trình
Theo luật xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, thiết kế xây dựng công trình bao gồm: [11]
+ Phương án kiến trúc
+ Phương án công nghệ (nếu có)
Trang 16+ Công năng sử dụng
+ Thời hạn sử dụng, quy trình vận hành và bảo trì công trình
+ Phương án kết cấu, loại vật liệu chủ yếu
+ Chỉ dẫn kỹ thuật
+ Phương án phòng, chống cháy, nổ
+ Phương án sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
+ Giải pháp bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu
+ Dự toán xây dựng phù hợp với bước thiết kế xây dựng
1.1.4 Qu ản lý chất lượng thiết kế công trình
Để tạo ra một sản phẩm xây dựng chất lượng thì các chủ đầu tư cần quan tâm đến một
số vấn đề cơ bản liên quan đến chất lượng công trình là:
+ Chất lượng CTXD cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng xây dựng công trình Từ khâu quy hoạch, lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công đến giai đoạn vận hành khai thác và kết thúc vòng đời của dự án Chất lượng CTXD thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng dự án, chất lượng khảo sát, chất lượng bản vẽ thiết kế… Các yếu tố chất lượng trên phụ thuộc rất lớn về tư duy của của mỗi con người liên quan đến công việc trên;
+ Chất lượng CTXD cũng phụ thuộc vào chất lượng vật liệu, sự tuân thủ các tiêu chuẩn thi công, chất lượng của đội ngũ công nhân, kỹ sư, thiết bị tham gia thi công công trình…;
Trong các yếu tố trên thì chất lượng sản phẩm tư vấn thiết kế công trình mang ý nghĩa
rất lớn Một công trình mang lại hiệu quả tốt thì sản phẩm thiết kế phải có chất lượng
tốt thể hiện ở các yếu tố:
+ Chất lượng hồ sơ thiết kế công trình xây dựng là hồ sơ được thiết kế theo đúng quy chuẩn xây dựng, tuân thủ đúng các quy định về kiến trúc, quy hoạch xây dựng hiện hành;
Trang 17+ Các bước thiết kế sau phải phù hợp với các bước thiết kế trước đã được phê duyệt
Sự phù hợp của việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ (nếu có);
Đảm bảo sự phù hợp giữa khối lượng thiết kế và khối lượng dự toán Tính đúng đắn
của việc áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí, đơn giá Việc vận
dụng định mức, đơn giá, các chế độ chính sách có liên quan và các khoản mục chi phí trong dự toán theo quy định
1.2 K ỹ thuật, công nghệ áp dụng thiết kế công trình truyền tải điện [8], [9], [10]
1.2.1 Đặc điểm thiết kế nền đường dây tải điện
Các yêu cầu dưới đây áp dụng cho thiết kế nền đường dây tải điện trên không và nền các trạm phân phối điện có điện thế từ 1 kV trở lên
Các trụ điện sản xuất hàng loạt và móng có kết cấu phổ thông dùng ở các đường dây
tải điện trên không và ở các trạm phân phối điện được gọi là trụ bình thường Theo đặc tính chịu tải mà trụ điện được chia ra trụ trung gian, trụ neo và trụ góc Trụ điện và các móng có kết cấu như trong các chỗ vượt đặc biệt được gọi là trụ chuyên dùng Phải phân biệt các chế độ làm việc sau đây của đường dây tải điện: bình thường, sự cố và
Việc tính nền trụ điện theo biến dạng và theo sức chịu tải cần tiến hành đối với mỗi
chế độ làm việc của trụ Khi đó tác động động lực của gió lên kết cấu trụ điện chỉ được
kể đến khi tính nền trụ điện theo sức chịu tải
1.2.2 Các ch ỉ dẫn chung về trang bị điện
Một số từ được dùng với nghĩa như sau:
Trang 18- Phải: bắt buộc thực hiện
- Cần: cần thiết, cần có nhưng không bắt buộc
- Nên: không bắt buộc nhưng thực hiện thì tốt hơn
- Thường hoặc thông thường: có tính phổ biến, được sử dụng rộng rãi
- Cho phép hoặc được phép: được thực hiện, như vậy là thoả đáng và cần thiết
- Không nhỏ hơn hoặc ít nhất là: là nhỏ nhất
- Không lớn hơn hoặc nhiều nhất là: là lớn nhất
- Từ đến : kể cả trị số đầu và trị số cuối
- Khoảng cách: từ điểm nọ đến điểm kia
- Khoảng trống: từ mép nọ đến mép kia trong không khí
Kết cấu, công dụng, phương pháp lắp đặt, cấp cách điện của vật liệu và thiết bị điện
phải phù hợp với điện áp danh định của lưới điện hoặc thiết bị điện, với điều kiện môi trường và với những yêu cầu nêu trong quy phạm 11-TCN-18-2006
Thiết bị điện dùng trong công trình điện phải có đặc tính kỹ thuật phù hợp với điều
kiện làm việc của công trình
Thiết bị đóng cắt điện trong không khí dùng ở vùng cao trên 1.000m so với mực nước
biển phải được kiểm tra theo điều kiện đóng cắt điện ở áp suất khí quyển tương ứng
Thiết bị điện và kết cấu liên quan phải được bảo vệ chống gỉ và ăn mòn bằng lớp mạ, sơn v.v để chịu được tác động của môi trường
Màu sắc sơn phải phù hợp với màu sắc chung của gian nhà, kết cấu xây dựng và thiết
bị công nghệ, nếu ở ngoài trời nên dùng màu sơn phản xạ tốt
Việc lựa chọn thiết bị, khí cụ điện và kết cấu liên quan, ngoài các tiêu chuẩn về chức năng còn phải đảm bảo các tiêu chuẩn về độ ẩm, sương muối, tốc độ gió, nhiệt độ môi trường xung quanh, mức động đất v.v
Trang 19Việc thiết kế và chọn các phương án cho công trình điện phải dựa trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, áp dụng các sơ đồ đơn giản và tin cậy, trình độ và kinh nghiệm khai thác, ứng dụng kỹ thuật mới, lựa chọn tối ưu nguyên vật liệu
Trong công trình điện, cần có biện pháp để dễ phân biệt các phần tử trong cùng bộ
phận như có sơ đồ, lược đồ bố trí thiết bị, kẻ chữ, đánh số hiệu, sơn màu khác nhau v.v
Để công trình điện không gây ảnh hưởng nhiễu và nguy hiểm cho công trình thông tin liên lạc, phải tuân theo các tiêu chuẩn, quy phạm hiện hành có liên quan Phải có biện pháp chống nhiễu dòng điện công nghiệp cho các hệ thống thông tin và viễn thông Trong công trình điện phải có các biện pháp đảm bảo an toàn sau:
- Dùng loại cách điện thích hợp Trường hợp cá biệt phải dùng cách điện tăng cường
- Bố trí cự ly thích hợp đến phần dẫn điện hoặc bọc kín phần dẫn điện
- Làm rào chắn
- Dùng khoá liên động cho khí cụ điện và cho rào chắn để ngăn ngừa thao tác nhầm
- Cắt tự động tin cậy và nhanh chóng cách ly những phần thiết bị điện bị chạm chập và
những khu vực lưới điện bị hư hỏng
- Nối đất vỏ thiết bị điện và mọi phần tử của công trình điện có thể bị chạm điện
- San bằng thế điện, dùng máy biến áp cách ly hoặc dùng điện áp 42V trở xuống
- Dùng hệ thống báo tín hiệu, biển báo và bảng cấm
- Dùng trang bị phòng hộ
Đối với lưới điện đến 1kV, ở những nơi do điều kiện an toàn không thể đấu trực tiếp các thiết bị tiêu thụ điện vào lưới thì phải dùng máy biến áp cách ly hoặc dùng máy
biến áp giảm áp có điện áp thứ cấp 42V trở xuống Khi dùng các loại máy biến áp trên,
phải tuân theo các chỉ dẫn dưới đây:
Trang 20- Máy biến áp cách ly phải có kết cấu an toàn và chịu được điện áp thử nghiệm cao hơn bình thường
- Mỗi máy biến áp cách ly chỉ được cấp điện cho một thiết bị và được bảo vệ bằng cầu
chảy hoặc áptômát có dòng điện chỉnh định không quá 15A ở phía sơ cấp Điện áp sơ
cấp của máy biến áp cách ly không được quá 380V
- Cấm nối đất cuộn dây thứ cấp của máy biến áp cách ly và thiết bị tiêu thụ điện của
nó Vỏ của máy biến áp này phải được nối đất
- Máy biến áp giảm áp có điện áp thứ cấp 42V trở xuống có thể dùng làm máy biến áp cách ly nếu chúng thoả mãn các điểm nêu trên
Máy biến áp giảm áp không phải là máy biến áp cách ly thì phải nối đất các bộ phận sau: vỏ máy, một trong những đầu ra hoặc điểm giữa cuộn dây thứ cấp
Trong nhà ở, nhà công cộng, cửa hàng v.v vỏ hoặc tấm che phần mang điện không được có lỗ Trong gian sản xuất và gian điện được phép dùng vỏ hoặc tấm che có lỗ
hoặc kiểu lưới
Rào ngăn và tấm che phải có kết cấu sao cho chỉ tháo hoặc mở bằng cờ lê hoặc dụng
cụ riêng
Rào ngăn và tấm che phải có đủ độ bền cơ học Đối với thiết bị trên 1kV, chiều dày
của tấm che bằng kim loại không được nhỏ hơn 1mm Vỏ che dây dẫn nên đưa sâu vào trong máy, thiết bị và dụng cụ điện
Để tránh tai nạn cho người do dòng điện và hồ quang gây ra, mọi trang bị điện phải có trang bị phòng hộ phù hợp với quy phạm sử dụng, thử nghiệm và quy phạm an toàn điện
Việc phòng cháy và chữa cháy cho trang bị điện có thiết bị chứa dầu, ngâm trong dầu
hoặc tẩm dầu, sơn cách điện v.v phải thực hiện theo các yêu cầu nêu trong các phần tương ứng của QTĐ và quy định của cơ quan phòng cháy địa phương
Ngoài ra khi đưa trang bị điện nói trên vào sản xuất, phải trang bị đầy đủ phương tiện
chữa cháy theo quy định của quy phạm phòng cháy và chữa cháy
Trang 211.2.3 Công tác thi ết kế và lắp đặt trang bị nối đất của các thiết bị điện
1.2.3.1 M ột số định nghĩa
Hiện tượng chạm đất là hiện tượng tiếp xúc giữa bộ phận mang điện của thiết bị điện
với kết cấu không cách điện với đất, hoặc trực tiếp với đất
Hiện tượng chạm vỏ là hiện tượng chạm điện xảy ra trong các máy móc, thiết bị giữa các bộ phận mang điện với vỏ thiết bị đã được nối đất
Trang bị nối đất là tập hợp những điện cực nối đất và dây nối đất
Điện cực nối đất là các vật dẫn điện hay nhóm các vật dẫn điện được liên kết với nhau, chôn dưới đất và tiếp xúc trực tiếp với đất
Dây nối đất là dây hoặc thanh dẫn bằng kim loại để nối các bộ phận cần nối đất của thiết bị điện với điện cực nối đất
Nối đất cho bộ phận nào đó của thiết bị điện là nối bộ phận đó với trang bị nối đất Điện áp với đất khi chạm vỏ là điện áp giữa vỏ với vùng đất có điện thế bằng không Điện áp trên trang bị nối đất là điện áp giữa điểm dòng điện đi vào cực nối đất và vùng điện thế "không" khi có dòng điện từ điện cực nối đất tản vào đất
Vùng điện thế "không" là vùng đất ở ngoài phạm vi của vùng tản của dòng điện chạm đất
Điện trở của trang bị nối đất (điện trở nối đất) là tổng điện trở của các điện cực nối đất, dây nối đất và điện trở tiếp xúc giữa chúng
Dòng điện chạm đất là dòng điện truyền xuống đất qua điểm chạm đất
Trung tính nối đất trực tiếp là điểm trung tính của máy biến áp hoặc của máy phát điện được nối trực tiếp với trang bị nối đất hoặc được nối với đất qua một điện trở nhỏ (thí
dụ như máy biến dòng v.v.)
Trung tính cách ly là điểm trung tính của máy biến áp hoặc của máy phát điện không được nối với trang bị nối đất hoặc được nối với trang bị nối đất qua các thiết bị tín
Trang 22hiệu, đo lường, bảo vệ, cuộn dập hồ quang đã được nối đất hoặc thiết bị tương tự khác
có điện trở lớn
Trung tính nối đất hiệu quả là trung tính của mạng điện ba pha điện áp lớn hơn 1kV có
hệ số quá điện áp khi ngắn mạch chạm đất không lớn hơn 1,4
Dây trung tính là dây dẫn của mạch điện nối trực tiếp với điểm trung tính của máy
biến áp hoặc của máy phát điện
Cắt bảo vệ là cắt tự động bằng hệ thống bảo vệ tất cả các pha hoặc các cực khi có sự
cố xảy ra tại một bộ phận trong lưới điện với thời gian cắt không quá 0,2 giây tính từ
thời điểm phát sinh dòng chạm đất một pha
Cách điện kép là sự phối hợp giữa cách điện làm việc (chính) và cách điện bảo vệ (phụ) Việc phối hợp này phải đảm bảo sao cho khi có hư hỏng ở một trong hai lớp cách điện thì cũng không gây nguy hiểm khi tiếp xúc
1.2.3.2 Yêu c ầu chung
Thiết bị điện có điện áp đến 1kV và cao hơn phải có một trong các biện pháp bảo vệ sau đây: nối đất, nối trung tính, cắt bảo vệ, máy biến áp cách ly, dùng điện áp thấp, cách điện kép, đẳng áp nhằm mục đích đảm bảo an toàn cho người trong các chế độ làm việc của lưới điện, bảo vệ chống sét cho thiết bị điện, bảo vệ quá điện áp nội bộ
Để nối đất cho thiết bị điện, ưu tiên sử dụng nối đất tự nhiên, như các kết cấu kim loại,
cốt thép của kết cấu bêtông, các ống dẫn bằng kim loại đặt dưới đất trong trường hợp quy phạm cho phép, trừ ống dẫn chất lỏng dễ cháy, khí và hỗn hợp chất cháy nổ v.v
Nếu sử dụng các kết cấu kim loại này có điện trở nối đất đáp ứng được yêu cầu theo qui định về nối đất thì không cần đặt trang bị nối đất riêng
Nên sử dụng một trang bị nối đất chung cho các thiết bị điện có chức năng khác nhau
và điện áp khác nhau Ngoại trừ một số trường hợp chỉ được phép khi đáp ứng những yêu cầu riêng đã quy định của quy phạm này
Điện trở của trang bị nối đất chung phải thoả mãn các yêu cầu của thiết bị và bắt buộc
phải nhỏ hơn hoặc bằng điện trở nhỏ nhất của một trong các thiết bị đó
Trang 23Khi thực hiện nối đất hoặc cắt bảo vệ theo yêu cầu của quy phạm này gặp khó khăn về
kỹ thuật hoặc khó thực hiện được, cho phép sử dụng các thiết bị điện có sàn cách điện
Cấu tạo của sàn cách điện phải đảm bảo là chỉ khi đứng trên sàn cách điện mới có thể
tiếp xúc được với bộ phận không nối đất Ngoài ra phải loại trừ khả năng tiếp xúc đồng
thời giữa các phần không nối đất của thiết bị này với phần có nối đất của thiết bị khác
hoặc với các phần kết cấu của toà nhà
Đối với lưới điện đến 1kV có trung tính nối đất trực tiếp phải đảm bảo khả năng tự động cắt điện chắc chắn, với thời gian cắt ngắn nhất nhằm cách ly phần tử bị hư hỏng
ra khỏi lưới điện khi có hiện tượng chạm điện trên các bộ phận được nối đất Để đảm
bảo yêu cầu trên, điểm trung tính của máy biến áp phía hạ áp đến 1kV phải được nối
với cực nối đất bằng dây nối đất; với lưới điện một chiều ba dây thì dây giữa phải được nối đất trực tiếp Vỏ của các thiết bị này phải được nối với dây trung tính nối đất Khi vỏ của thiết bị không nối với dây trung tính nối đất thì không được phép nối đất
- Các thiết bị này phải đặt thiết bị bảo vệ kết hợp với kiểm tra cách điện của lưới điện,
có thể sử dụng áptômát hoặc cầu chảy để bảo vệ
- Có thể phát hiện nhanh và sửa chữa kịp thời khi có chạm đất hoặc có thiết bị tự động
cắt bộ phận chạm đất
Trang 24Trong lưới điện xoay chiều 3 pha 4 dây hoặc lưới điện một chiều 3 dây, bắt buộc phải
nối đất trực tiếp điểm trung tính
Đối với thiết bị điện 3 pha điện áp danh định 500V hoặc 660V phải cách ly điểm trung tính
Lưới điện 3 pha hoặc 1 pha điện áp đến 1kV trung tính cách ly có liên hệ với lưới điện
có điện áp cao hơn 1kV qua máy biến áp, phải đặt thiết bị bảo vệ đánh thủng cách điện
tại điểm trung tính hoặc tại dây pha điện áp thấp của máy biến áp để đề phòng nguy
hiểm khi bị hư hỏng cách điện giữa cuộn dây cao áp và cuộn dây hạ áp
Trong những trường hợp sau đây phải có biện pháp bảo vệ đặc biệt để tự động cắt các thiết bị khi xảy ra hiện tượng chạm vỏ:
- Lưới điện có điểm trung tính cách ly và có yêu cầu cao về an toàn điện (trong khai thác hầm mỏ v.v.)
- Lưới điện có trung tính nối đất trực tiếp và có điện áp đến 1kV Để thay thế cho việc
nối vỏ thiết bị với trung tính nối đất, cần phải đặt trang bị nối đất thoả mãn yêu cầu như đối với mạng có trung tính cách ly
- Đối với thiết bị di động nếu việc nối đất không có khả năng thoả mãn yêu cầu của quy phạm này
Kích thước các điện cực của trang bị nối đất nhân tạo (ống, thanh v.v.) phải đảm bảo
khả năng phân bố đều điện áp đối với đất trên diện tích đặt thiết bị điện Với thiết bị điện có dòng chạm đất lớn, bắt buộc phải đặt mạch vòng nối đất xung quanh thiết bị (trừ các thiết bị điện ở trạm cột 35kV trở xuống)
Để đảm bảo an toàn, các thiết bị điện có dòng điện chạm đất lớn phải thực hiện lưới san bằng điện áp (trừ các thiết bị điện ở trạm cột 35kV trở xuống)
Để đảm bảo trị số điện trở nối đất theo qui định trong suốt năm, khi thiết kế nối đất
phải tính trước sự thay đổi điện trở suất của đất (thay đổi theo thời tiết)
Để đảm bảo yêu cầu trên, trong tính toán phải đưa vào hệ số hiệu chỉnh tuỳ theo trạng thái điện trở suất của đất tại thời điểm tiến hành đo
Trang 251.2.4 Đường dây tải điện trên không (ĐDK) đối với điện áp 1kV đến 500kV
ĐDK là công trình để truyền tải và phân phối điện năng, bố trí ngoài trời, mắc trên vật cách điện và phụ kiện, đặt trên cột hoặc trên kết cấu của công trình khác (cầu, đập v.v.) ĐDK được tính từ điểm mắc dây của ĐDK lên xà cột cổng hoặc kết cấu khác
của trạm điện
Trong tính toán cơ lý:
- Chế độ bình thường của ĐDK là chế độ làm việc khi dây dẫn hoặc dây chống sét không bị đứt
- Chế độ sự cố của ĐDK là chế độ làm việc khi một hoặc một số dây dẫn hoặc dây
Cột và móng ĐDK tính theo phương pháp trạng thái giới hạn
Phải đảo pha dây dẫn ĐDK để hạn chế sự không đối xứng của dòng điện và điện áp ĐDK điện áp 110 - 500kV dài trên 100km phải đảo pha một chu kỳ trọn vẹn sao cho chiều dài của mỗi bước trong một chu kỳ đảo pha phải gần bằng nhau
Sơ đồ đảo pha ĐDK hai mạch cùng điện áp đi chung cột phải giống nhau Trong lưới điện 110 - 500kV, bao gồm nhiều đoạn ĐDK chiều dài dưới 100km thì việc đảo pha
có thể thực hiện trực tiếp tại các trạm điện (ở thanh cái, ở các khoảng cột cuối đường dây vào cột cổng trạm v.v.), trong đó việc đảo pha phải thực hiện sao cho chiều dài
của mỗi bước trong 1 chu kỳ đảo pha phải gần bằng nhau
Việc đảo pha các ĐDK nhằm mục đích chống ảnh hưởng của ĐDK đối với đường dây thông tin cần có tính toán riêng
Trang 26Để quản lý vận hành ĐDK 500kV phải có đường với chiều rộng nhỏ nhất là 2,5m và cách tuyến không được lớn hơn 1km, đảm bảo cho xe cơ giới tiếp cận đi được gần đến tuyến ĐDK Ở những nơi xe cơ giới không thể đi được (đầm lầy và ruộng lầy, các vườn cây quý v.v.) phải làm đường đi bộ, cầu nhỏ đến chân cột Đường đi bộ đắp rộng không nhỏ hơn 0,4m Trừ những chỗ đặc biệt khó khăn, đường phải bảo đảm đi được trong mùa mưa lũ
Cột ĐDK nên đặt cách bờ sông bị xói lở mạnh càng xa càng tốt có xét đến sự biến đổi
của lòng sông và tác hại của lũ lụt Khi bố trí cột tại các tuyến đi qua vùng ven sông, ven hồ, qua núi đồi và vùng đất bazan, đặc biệt là rừng nguyên sinh phải điều tra, đánh giá cẩn thận tình trạng sụt lở, xói mòn Tần suất mức nước lũ đối với ĐDK 500kV,
chọn 1% (100 năm lặp lại một lần)
Cột kim loại, các phần kim loại của cột bêtông cốt thép hở ra ngoài và tất cả các chi
tiết bằng kim loại của cột bêtông cốt thép đều phải được mạ hoặc sơn chống gỉ theo tiêu chuẩn hiện hành Các chân cột kim loại ở vùng thường xuyên ngập lụt cần có biện pháp thích hợp chống ăn mòn
Khi đặt cột vào móng bêtông cốt thép hoặc móng bêtông đúc liền khối, bulông neo cột
phải có đai ốc hãm, đoạn ren răng bulông phải có chiều dài nhô ra khỏi đai ốc hãm 5mm trở lên
Khi ĐDK đi qua những khu vực gió mạnh, đất bị sụt lở, đầm lầy, khu vực đá xô v.v
phải tính đến phương án ĐDK đi vòng, tránh những khu vực bất lợi đó trên cơ sở so sánh kinh tế kỹ thuật
1.2.5 Trang b ị phân phối (TBPP) và trạm biến áp (TBA) điện áp trên 1kv
TBPP là trang bị điện dùng để thu nhận và phân phối điện năng, gồm các thiết bị đóng
cắt, điều khiển, bảo vệ, đo lường, thanh dẫn, cách điện, kết cấu kiến trúc liên quan và thiết bị phụ (nén khí, ắcquy v.v.) TBPP ngoài trời là TBPP mà toàn bộ thiết bị hoặc các thiết bị chủ yếu của nó được đặt ngoài trời TBPP trong nhà là TBPP được đặt trong nhà
Trang 27TBPP trọn bộ là trang bị điện lắp ráp sẵn hoặc đã được chuẩn bị từng phần để lắp ráp, liên kết thành khối, gồm toàn bộ hoặc một phần các tủ hoặc các khối đã lắp sẵn thiết bị điện, thiết bị điều khiển, bảo vệ, đo lường và các thiết bị phụ
TBA là trạm có các máy biến áp lực kết nối hai hoặc nhiều lưới điện có điện áp khác nhau Ngoài ra, TBA còn có các TBPP, các thiết bị điều khiển, bảo vệ, đo lường và các thiết bị phụ
Thiết bị điện, các phần dẫn điện, cách điện, phụ kiện kẹp giữ, rào chắn, các kết cấu
chịu lực, khoảng cách cách điện và các khoảng cách khác phải được lựa chọn và lắp đặt sao cho:
- Trong điều kiện làm việc bình thường, các lực tĩnh và động, phát nóng, hồ quang điện và các hiện tượng khác (đánh lửa, sinh khí v.v.) không gây hư hỏng thiết bị, kết
cấu kiến trúc và gây ngắn mạch giữa các pha hoặc giữa pha với đất và không gây nguy
hiểm cho người
- Trong điều kiện làm việc không bình thường phải có khả năng hạn chế những hư
hỏng do hiện tượng ngắn mạch gây ra
- Khi cắt điện một mạch điện bất kỳ, các thiết bị điện, phần dẫn điện và kết cấu thuộc
mạch ấy, có thể kiểm tra, thay thế và sửa chữa một cách an toàn mà không làm ảnh hưởng đến chế độ làm việc bình thường của các mạch điện lân cận
- Đảm bảo khả năng vận chuyển dễ dàng và an toàn các thiết bị
Khi sử dụng dao cách ly kiểu lưỡi hở để đóng cắt dòng điện không tải MBA, dòng điện nạp hoặc dòng điện cân bằng của đường dây tải điện, thì khoảng cách giữa các
phần dẫn điện và giữa các phần dẫn điện với đất phải thoả mãn yêu cầu được nêu trong chương này và của các hướng dẫn kỹ thuật tương ứng
Khi bố trí TBPP và TBA ở nơi mà không khí có chất gây tác hại cho thiết bị và thanh
dẫn hoặc làm giảm mức cách điện thì phải có biện pháp đảm bảo thiết bị làm việc tin
cậy và an toàn như:
- Dùng cách điện tăng cường
Trang 28- Dùng thanh dẫn bằng vật liệu chịu được ảnh hưởng của môi trường hoặc dùng sơn
bảo vệ
- Bố trí tránh hướng gió gây tác hại
- Dùng sơ đồ đơn giản
- Dùng TBPP và TBA kiểu kín hoặc trạm GIS
- Chống bụi, các chất khí có hại và hơi nước lọt vào phòng đặt TBPP
Khi đặt TBPP và TBA ngoài trời ở gần bờ biển dưới 5km, xí nghiệp hoá chất v.v ở
những nơi mà kinh nghiệm vận hành lâu năm cho thấy nhôm bị ăn mòn thì phải dùng
loại dây hoặc thanh dẫn nhôm hoặc hợp kim nhôm có bảo vệ chống ăn mòn, hoặc dùng dây hoặc thanh dẫn đồng
TBPP và TBA điện áp trên 1kV nên dùng dao nối đất cố định để đảm bảo an toàn cho
việc nối đất thiết bị và thanh dẫn, thông thường không dùng nối đất di động Lưỡi nối đất phải sơn màu đen, tay truyền động lưỡi nối đất phải sơn màu đỏ, còn các tay truyền động khác sơn theo màu của thiết bị ở những nơi không thể dùng dao nối đất cố định thì trên thanh dẫn và thanh nối đất phải có sẵn vị trí để đấu dây nối đất di động Nên bố trí dao nối đất thanh cái kết hợp với dao cách ly (nếu có) của máy biến điện áp thanh cái hoặc dao cách ly của máy cắt liên lạc
1.3 Đánh giá thực trạng QLCL thiết kế công trình truyền tải điện hiện nay
1.3.1 Th ực trạng công tác QLCL các công trình xây dựng ở Việt Nam
1.3.1.1 V ề cơ chế, chính sách pháp luật
Các luật, các văn bản dưới luật về QLCL CTXD đến nay đã cơ bản được hoàn thiện Đây là các công cụ để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình Trong các luật, các văn bản dưới luật về QLCL CTXD đã quy định đầy đủ để tổ
chức quản lý, kiểm soát xây dựng, phân định rõ trách nhiệm về việc đảm bảo chất lượng CTXD giữa cơ quan QLNN ở các cấp, CĐT và các nhà thầu tham gia Điều kiện năng lực của các chủ thể tham gia hợp đồng xây dựng đã được quy định rõ, nội dung, trình tự trong công tác QLCL cũng được quy định cụ thể, làm cơ sở cho công tác kiểm
Trang 29tra của cơ quan QLNN các cấp, tạo hành lang pháp lý tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN về chất lượng CTXD
Các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật cũng được hoàn thiện, tuy chưa thật hoàn
chỉnh nhưng đã tạo nên khung pháp lý về QLCL, giúp các chủ thể tham gia thực hiện công việc một cách khoa học và thống nhất góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng CTXD
1.3.1.2 Trách nhi ệm cơ quan QLNN về chất lượng CTXD [2]
Bộ Xây dựng thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng CTXD trong phạm vi cả nước và QLCL các công trình xây dựng chuyên ngành, bao gồm: Công trình dân dụng, công trình công nghiệp vật liệu xây dựng và công trình hạ tầng kỹ thuật
Các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành:
− Bộ Giao thông vận tải QLCL công trình giao thông;
− Bộ NN&PTNT QLCL công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn;
− Bộ Công Thương QLCL công trình hầm mỏ, dầu khí, nhà máy điện, đường dây tải điện, trạm biến áp và các công trình công nghiệp chuyên ngành;
− Bộ Quốc phòng, Bộ Công an QLCL các công trình xây dựng thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh
UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về chất lượng CTXD trên địa bàn Sở Xây dựng và các Sở quản lý CTXD chuyên ngành giúp UBND cấp tỉnh QLCL công trình chuyên ngành như sau:
− Sở Xây dựng quản lý các công trình dân dụng, công trình công nghiệp vật liệu xây
dựng và công trình hạ tầng kỹ thuật;
− Sở Giao thông vận tải QLCL công trình giao thông;
− Sở NN&PTNT QLCL công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn;
− Sở Công thương QLCL công trình hầm mỏ dầu khí, nhà máy điện, đường dây tải
Trang 30điện, trạm biến áp và các công trình công nghiệp chuyên ngành
1.3.1.3 Trách nhi ệm QLNN về chất lượng CTXD của UBND cấp tỉnh
Phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng CTXD cho các Sở
quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, UBND cấp huyện
Hướng dẫn triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về QLCL CTXD trên địa bàn
Kiểm tra việc tuân thủ các quy định của Nghị định này đối với các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình trên địa bàn
Tổ chức giám định nguyên nhân sự cố theo quy định tại Điều 49 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP
Phối hợp với Bộ Xây dựng tổ chức giải thưởng về chất lượng CTXD theo quy định tại Điều 9 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP
1.3.1.4 Trách nhi ệm của các cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về chất lượng CTXD
Sở Xây dựng là cơ quan đầu mối giúp UBND cấp tỉnh thống nhất quản lý nhà nước về
chất lượng CTXD trên địa bàn, thực hiện các việc sau:
− Trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai các văn
bản quy phạm pháp luật về QLCL CTXD trên địa bàn;
− Hướng dẫn UBND cấp huyện, các tổ chức và cá nhân tham gia xây dựng công trình
thực hiện các quy định của pháp luật về QLCL CTXD;
− Kiểm tra thường xuyên, định kỳ theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất công tác QLCL
của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình và chất lượng các CTXD trên địa bàn;
− Phối hợp với Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành kiểm tra việc tuân thủ quy định về QLCL CTXD chuyên ngành;
− Thẩm định hồ sơ thiết kế xây dựng công trình chuyên ngành do Sở quản lý theo quy
Trang 31định tại Điều 22 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP;
− Giúp UBND cấp tỉnh tổ chức giám định chất lượng CTXD khi được yêu cầu và tổ
chức giám định nguyên nhân sự cố theo quy định tại Điều 49 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP; theo dõi, tổng hợp, báo cáo UBND cấp tỉnh về tình hình sự cố trên địa bàn;
− Kiểm tra công tác nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng theo quy định tại Điều 32 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP đối với công trình chuyên ngành do Sở quản lý;
− Báo cáo UBND cấp tỉnh định kỳ, đột xuất về việc tuân thủ quy định về QLCL CTXD và tình hình chất lượng CTXD trên địa bàn;
− Giúp UBND tỉnh tổng hợp và báo cáo Bộ Xây dựng về tình hình chất lượng CTXD trên địa bàn định kỳ hằng năm và đột xuất; báo cáo danh sách các nhà thầu vi phạm quy định về QLCL công trình khi tham gia các hoạt động xây dựng trên địa bàn;
Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành có trách nhiệm:
Chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng kiểm tra thường xuyên, định kỳ theo kế hoạch và
kiểm tra đột xuất công tác QLCL của tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình chuyên ngành và chất lượng các công trình xây dựng chuyên ngành trên địa bàn;
Giúp UBND cấp tỉnh thẩm định thiết kế xây dựng công trình chuyên ngành theo quy định tại Điều 22 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP;
Chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng kiểm tra công tác nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng theo quy định tại Điều 32 của Nghị định này đối với công trình chuyên ngành;
Phối hợp với Sở Xây dựng tổ chức giám định chất lượng CTXD chuyên ngành khi được yêu cầu và tổ chức giám định nguyên nhân sự cố đối với công trình xây dựng chuyên ngành; tổng hợp, báo cáo UBND cấp tỉnh, Sở Xây dựng về tình hình chất lượng CTXD chuyên ngành trên địa bàn định kỳ hằng năm và đột xuất
Trang 32UBND cấp huyện có trách nhiệm:
− Hướng dẫn UBND cấp xã, các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về QLCL CTXD;
− Kiểm tra định kỳ, đột xuất việc tuân thủ quy định về QLCL CTXD đối với các công trình xây dựng được ủy quyền quyết định đầu tư và cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn;
− Phối hợp với Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành kiểm tra công trình xây dựng trên địa bàn khi được yêu cầu;
− Báo cáo sự cố và giải quyết sự cố theo quy định tại Điều 47, Điều 48 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP;
− Tổng hợp và báo cáo UBND và Sở Xây dựng định kỳ hằng năm, đột xuất việc tuân
thủ quy định về quản lý CTXD và tình hình chất lượng CTXD trên địa bàn
1.3.2 Th ực trạng công tác QLCL CTXD ở một số nước trên thế giới
QLCL xây dựng ở các nước thông thường là nhà nước và tư nhân cùng song hành Ở các nước khác, lực lượng ngoài nhà nước tham gia rất mạnh mẽ trong kiểm soát chất lượng xây dựng, đơn cử như ở Singapore, Australia và Mỹ:
− Singapore: Đối với QLCL công trình, ngoài cơ quan của nhà nước là Cơ quan Quản
lý Xây dựng & Nhà ở (Building and Construction Authority – BCA), từ năm 1989, Singapore áp dụng hệ thống kiểm tra độc lập do các cá nhân hay tổ chức không thuộc BCA đảm nhiệm, gọi là Kiểm tra viên được ủy quyền (Accredited Checker – AC) AC
có thể là một tổ chức hay cá nhân đạt các điều kiện về năng lực, kinh nghiệm chuyên môn (ví dụ đối với cá nhân phải có trên 10 năm kinh nghiệm hoạt động xây dựng tại Singapore, đã đăng ký hành nghề theo Luật Kỹ sư Chuyên nghiệp (Professional Engineers Act); đối với tổ chức phải có ít nhất 02 kỹ sư có đăng ký, có chứng chỉ ISO 9001 ), có mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định tối thiểu 500.000 SGD đối với cá nhân và 2 triệu SGD đối với tổ chức Các Kiểm tra viên này được BCA cấp giấy chứng nhận để thay cơ quan QLNN thực hiện kiểm tra thiết kế kết cấu (trước khi cấp phép xây dựng) và các kiểm tra trong quá trình thi công Luật của
Trang 33Singapore quy định chủ công trình phải thuê một Kiểm tra viên từ giai đoạn thiết kế; khi nộp hồ sơ để được cấp phép xây dựng, phải có báo cáo đánh giá của Kiểm tra viên đối với chất lượng thiết kế
Nguyên tắc QLCL xây dựng của chính quyền Singapore là chủ đầu tư phải chứng minh và đạt sự chấp thuận của chính quyền đối với sự tuân thủ pháp luật trong quá trình xây dựng thông qua các hình thức: chấp thuận thiết kế kết cấu khi cấp phép xây
dựng, chấp thuận cho thi công tiếp tại các điểm chuyển giai đoạn quan trọng của công trình, chấp thuận công trình hoàn thành đưa vào sử dụng
Theo số liệu mới nhất (tháng 2 năm 2013), hiện ở Singapore có 25 cá nhân và 45 tổ
chức thực hiện vai trò Kiểm tra viên Các Kiểm tra viên hoạt động với tư cách cá nhân
chỉ được kiểm tra công trình có giá trị dưới 15 triệu SGD, công trình có giá trị xây lắp
lớn hơn phải do các AC là tổ chức thực hiện kiểm tra Hệ thống AC đã phát huy vai trò quan trọng trong việc giúp cơ quan QLNN kiểm soát chất lượng từ khâu thiết kế đến thi công công trình
− Australia: Việc quản lý xây dựng tại Australia do các bang tự đảm nhiệm, không có
sự can thiệp của chính quyền trung ương Tại các bang, công tác quản lý xây dựng cũng giao cho chính quyền địa phương (Hội đồng địa phương cấp khu vực hoặc thành
phố - Local council, hiện Australia có khoảng 700 hội đồng địa phương)
Lực lượng quản lý xây dựng tại các địa phương gồm Giám sát viên của nhà nước (gọi
là Municipal Building Surveyor) do các hội đồng địa phương tuyển dụng và Giám sát viên tư nhân (Private Building Surveyors) Cả hai loại Giám sát viên này đều thực hiện
việc quản lý xây dựng công trình qua các hình thức: ban hành giấy phép xây dựng (áp
dụng từ năm 1993 đối với Giám sát viên tư nhân), kiểm tra quá trình thi công, ban hành giấy phép sử dụng (khi công trình hoàn thành)
Để trở thành Giám sát viên xây dựng (cả tư nhân và nhà nước) đều phải đạt các yêu
cầu theo quy định (có năng lực, đạo đức, bảo hiểm trách nhiệm) và được cấp đăng ký
tại cơ quan quản lý hành nghề xây dựng của bang (Building Practitioners Board) Tùy theo năng lực, kinh nghiệm, Giám sát viên được phân thành 2 loại là Giám sát viên bậc
1 và bậc 2; giám sát viên bậc 1 được kiểm tra tất cả công trình xây dựng, không phân
Trang 34biệt loại và quy mô; giám sát viên bậc 2 chỉ được kiểm tra các công trình từ 3 tầng trở
xuống, có tổng diện tích sàn dưới 2000m2
Ngay từ khi xin phép xây dựng, chủ đầu tư phải chọn một Giám sát viên xây dựng (có
thể của nhà nước hoặc tư nhân) để tiến hành công tác kiểm tra trong suốt quá trình thi công tại những bước chuyển giai đoạn quan trọng (được xác định ngay trong giấy phép xây dựng) Chủ đầu tư phải trả phí cho công tác kiểm tra này như một dịch vụ bắt buộc
để xác nhận việc xây dựng của mình tuân thủ các quy định về QLCL công trình
− Mỹ: việc QLXD tại Mỹ do các bang tự đảm nhiệm, chính quyền trung ương không tham gia Tại các bang, việc quản lý xây dựng cũng giao cho chính quyền cấp quận,
hạt (county) hoặc thành phố (city/borough) thực hiện
Cũng tương tự như ở Singapore và Australia, nguyên tắc QLCL xây dựng ở Mỹ là chủ công trình phải có trách nhiệm đảm bảo sự tuân thủ các quy định của địa phương trong toàn bộ quá trình xây dựng và việc tuân thủ này phải được chứng thực thông qua kiểm tra và xác nhận bởi người có thẩm quyền
Người có thẩm quyền kiểm tra và xác nhận công trình tuân thủ quy định về QLCL xây
dựng trong quá trình thi công gọi là Giám định viên (Inspector), thuộc một trong 3 thành phần sau: Cơ quan quản lý nhà nước (Local Enforcing Agency); Các tổ chức tư nhân, gọi là Tổ chức độc lập được công nhận (Certified Third Party Agencies); Các cá nhân được nhà nước công nhận (Certified Code Officials)
Về nguyên tắc, chủ công trình được chủ động chọn Giám định viên (Inspector) thuộc
một trong 3 thành phần trên để thực hiện kiểm tra công trình
Giám định viên thuộc thành phần 2 và 3 ở trên được gọi chung là Giám định viên tư nhân (Private inspector) có chức năng kiểm tra công trình như giám định viên nhà nước nhưng phải báo cáo kết quả kiểm tra của mình cho cơ quan QLNN địa phương
Nếu phát hiện vi phạm, chỉ có cơ quan QLNN mới có quyền áp dụng các biện pháp
chế tài
Để trở thành Giám định viên, cá nhân phải đạt một số điều kiện về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, có bảo hiểm trách nhiệm và được chính quyền địa phương công
Trang 35nhận (cấp giấy chứng nhận, giấy phép) Tuy nhiên, tùy theo địa phương mà thủ tục công nhận khác nhau, một số bang yêu cầu ứng viên phải qua một kỳ thi hay phỏng
vấn, các bang khác chỉ yêu cầu ứng viên có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ do một số
hiệp hội nghề nghiệp phát hành (như các hiệp hội International Code Council, International Association of Plumbing, Mechanical Officials, National Fire Protection Association…)
Theo số liệu năm 2010, ở Mỹ có khoảng 102.400 giám định viên (Inspector), trong đó 44% làm việc cho cơ quan QLNN của chính quyền địa phương; 27% làm việc trong các tổ chức độc lập (Certified Third Party Agencies), 8% là giám định viên cá nhân,
chủ yếu là Giám định viên nhà ở (Home Inspector), số còn lại làm việc cho chính quyền các bang
Như trên cho thấy ở các nước Singapore, Australia, Mỹ, đều có sự tham gia tích cực
của thành phần tư nhân trong quá trình QLCL công trình Ở các nước này, lực lượng
tư nhân mặc dù có tên gọi khác nhau (ở Singapore là Kiểm tra viên được ủy quyền – Accredited Checker, ở Australia là Giám sát viên tư nhân - Private Building Surveyors
vàở Mỹ là Giám định viên tư nhân – Private Inspector); nhưng có tính chất giống nhau
là lực lượng hỗ trợ cơ quan nhà nước trong kiểm soát chất lượng xây dựng
1.3.3 M ột số sự cố liên quan đến QLCL các công trình truyền tải điện
1.3.3.1 T ổng quan về sự cố
Định nghĩa sự cố: Sự cố công trình là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép làm cho công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần, toàn bộ công trình
hoặc công trình không sử dụng được theo thiết kế
Theo định nghĩa này, sự cố có thể được phân chi tiết thành các loại sau:
Sự cố sập đổ: bộ phận công trình hoặc toàn bộ công trình bị sập đổ phải dỡ bỏ để làm
lại;
Sự cố về biến dạng: Nền, móng bị lún; kết cấu bị nghiêng, vặn, võng…làm cho công trình có nguy cơ sập đổ hoặc không thể sử dụng được bình thường phải sửa chữa mới dùng được;
Trang 36− Sự cố sai lệch vị trí: Móng, cọc móng sai lệch vị trí, hướng; sai lệch vị trí quá lớn
của kết cấu hoặc chi tiết đặt sẵn… có thể dẫn tới nguy cơ sập đổ hoặc không sử dụng được bình thường phải sửa chữa hoặc thay thế;
− Sự cố về công năng: công năng không phù hợp theo yêu cầu; chức năng chống thấm, cách âm, cách nhiệt không đạt yêu cầu; thẩm mỹ phản cảm…phải sửa chữa, thay thế
để đáp ứng công năng của công trình
1.1.1.2 M ột số sự cố liên quan đến công tác QLCL trong công trình truyền tải Điện
a Sự cố đổ cột đường dây 500 kV Quảng Ninh - Hiệp Hòa tại vị trí 199 và 200 (ngày 22/4/2016)
- Nguyên nhân: Chủ đầu tư, các nhà thầu tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, nhà thầu xây
lắp, đơn vị chủ quản lý đã chủ quan trong quá trình đầu tư xây dựng từ khâu giám sát thi công, thi công xây dựng công trình và QLCL, quản lý sử dụng công trình
Hình 1.1: Sự cố đổ cột đường dây 500 kV Quảng Ninh - Hiệp Hòa
Hậu quả: Sự cố đổ cột xẩy ra tại vị trí 199 và 200 nằm giữa cánh đồng, không gây thiệt
hại về người, cũng như công trình dân dụng Tuy nhiên sự cố gây thiệt hại về tiền của
của nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ của dự án và uy tín của nhà thầu xây
lắp, nhà thầu tư vấn giám sát cũng như công tác quản lý chất lượng trực tiếp của chủ đầu tư
b Cột điện cao thế đường dây 220KV bị đổ nghiêng
Trang 37Hình 1.2: Sự cố đổ cột đường dây 220 kV Hải Phòng – Đình Vũ
Nguyên nhân: Chủ đầu tư, đơn vị thi công, đơn vị tư vấn giám sát chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý đầu tư xây dựng và QLCL công trình
Hậu quả: Sự cố khiến nhiều doanh nghiệp tại khu công nghiệp Đình Vũ mất điện, phải
tạm ngừng sản xuất
c Đường dây 220KV Trực Ninh-Nam Định
Nguyên nhân: Chủ đầu tư, đơn vị thi công, đơn vị tư vấn giám sát chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý đầu tư xây dựng và QLCL công trình
Hậu quả:Sự cố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ của dự án và uy tín của nhà thầu xây
lắp, nhà thầu tư vấn giám sát cũng như công tác quản lý chất lượng trực tiếp của chủ đầu tư Nhà thầu xây lắp đã chấp nhận bỏ tiền để làm mới các móng gặp sự cố
Trang 38Hình 1.3: Trụ móng làm bằng bê tông trộn đất
K ết luận Chương 1
Qua chương 1 tác giả nghiên cứu một số vấn đề về chất lượng: Chất lượng và hệ thống đảm bảo chất lượng cũng như những quan điểm về quản lý chất lượng công trình; Các
chức năng cơ bản của quản lý chất lượng, yêu cầu và mục đích của quản lý chất lượng
của công trình xây dựng nói chung và công trình truyền tải điện; Các kỹ thuật công nghệ áp dụng thiết kế công trình truyền tải điện
Từ đó giúp nắm rõ những khái niệm, yêu cầu cơ bản về chất lượng và quản lý chất lượng sẽ là tiền đề định hướng cho nội dung nghiên cứu tiếp theo của tác giả
Trang 39CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG HỒ SƠ THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH TRUY ỀN TẢI ĐIỆN
2.1 H ệ thống các tiêu chuẩn, quy phạm hiện hành quy định về chất lượng thiết kế công trình truy ền tải điện
Công tác quản lý chất lượng thiết kế các công trình truyền tải điện hiện nay đều áp
dụng Nghị định 46 (Ban hành ngày 12/05/2015 theo số 46/2015/NĐ-CP của Chính
Phủ) Nghị định 46 là văn bản pháp quy mới nhất về QLCL công trình, quy định rất rõ
về các đối tượng và trách nhiệm của từng đối tượng trong công tác QLCL công trình Sau đó Bộ Xây dựng cũng ban hành thông tư 26/2016/TT-BXD quy định chi tiết thêm
một số nội dung về QLCL công trình xây dựng để làm rõ thêm một số điều của Nghị định 46 Khác với các quy định cũ khi chủ đầu tư tự thẩm định, phê duyệt thiết kế bất
kể nguồn vốn xây dựng công trình thì trong nghị định 46 quy định các công trình, chủ
yếu là cấp III trở lên, thiết kế xây dựng phải được cơ quan quản lý nhà nước thẩm tra trước khi chủ đầu tư phê duyệt Như vậy, bằng công tác thẩm tra, cơ quan quản lý nhà nước tham gia trực tiếp vào quá trình QLCL thiết kế, góp phần tạo ra chất lượng của
sản phẩm thiết kế Quy định này ngoài khắc phục những hạn chế về năng lực chuyên môn của một số chủ đầu tư, còn có tác dụng ngăn chặn tình trạng thẩm tra thiết kế mang tính hình thức, dễ dãi Đồng thời còn mang tính chất như một hình thức sát hạch
để hồ sơ thiết kế, sản phẩm của công tác thiết kế xây dựng đạt yêu cầu cao nhất khi đưa ra sử dụng trong quá trình thi công và vận hành công trình
2.2 Giai đoạn lập dự án đầu tư xây dựng
2.2.1 Đối với công tác khảo sát giai đoạn lập dự án đầu tư
Mục đích của công tác khảo sát đối với giai đoạn khảo sát và lập thiết kế cơ sở phục
vụ cho việc lập dự án đầu tư xây dựng công trình: là thu thập những tài liệu để xác định sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn hình thức đầu tư, xác định
vị trí cụ thể, quy mô công trình, lựa chọn phương án công trình tôi ưu, đề xuất các giải pháp thiết kế hợp lý, tính tổng mức đầu tư và đánh giá hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế -
xã hội của dự án
ảo sát địa chất [2]
Trang 40Khảo sát địa chất công trình phải được thực hiện dựa trên tất cả các phương án đề
xuất, trong đó cần tập trung vào phương án kiến nghị khả thi nhất
Khối lượng của công tác khảo sát phụ thuộc vào mức độ và quy mô của công trình
2.2.1.2 Kh ảo sát địa hình [2]
Chọn được vùng bố trí các hạng mục công trình đầu mối và khu hưởng lợi
Xác định được quy mô của dự án, kích thước của các hạng mục công trình theo cấp công trình phục vụ cho việc lập Thiết kế cơ sở Tùy theo yêu cầu của việc thiết kế cơ
sở, cần phải đáp ứng nội dung, thành phần khảo sát địa hình phù hợp với các bản vẽ
cần làm rõ kết cấu và tính toán độ ổn định của các hạng mục công trình
Xác định được chính xác nhiệm vụ của dự án
Xác định được khối lượng tổng mức đầu tư
2.2.1.3 Kh ảo sát thủy văn [2]
Nghiên cứu các hồ sơ thủy văn, địa hình, địa chất dọc tuyến đã thu thập được, đánh giá
mức độ chính xác và mức độ tỉ mỉ của các số liệu, tài liệu để so sánh trong bước lập
dự án đầu tư để lập kế hoạch khảo sát bổ sung hoàn chỉnh các tài liệu thủy văn cần thiết Một mặt làm việc với các địa phương và các cơ quan hữu quan để kiểm tra chuẩn hóa lại các số liệu, tài liệu đã được thu thập Mặt khác các số liệu còn thiếu theo nhiệm
vụ và nội dung được đặt ra trong bước lập dự án đầu tư
2.2.1.4 Kh ảo sát điều kiện kinh tế xã hội
Đánh giá về đặc điểm của khu vực nghiên cứu (tùy theo quy mô của dự án) Trong đó
cần lưu ý các ngành kinh tế chủ yếu như công nghiệp, nông nghiệp , xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài Điều tra số liệu kinh tế để:
- Dự báo về nhu cầu dung điện;
- Đánh giá tính khả thi của dự án;
- Lựa chọn quy mô, kết cấu và các tiêu chuẩn kỹ thuật chủ yếu để thiết kế;
- Trình tự xây dựng và phân kỳ đầu tư;