Trung tâm QLDA cần có những tổng kết từ các dự án đã thực hiện để có những giải pháp đồng bộ quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình, trong đó đặc biệt quan tâm đến chất
Trang 1iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 4
1.1 Khái niệm cơ bản về dự án đầu tư và quản lý dự án 4
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư 4
1.1.2 Chu trình của dự án đầu tư 6
1.1.3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 7
1.1.4 Quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư 10
1.2 Tổng quan về chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận 14
1.2.1 Chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn chuẩn bị đầu tư 14
1.2.2 Chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn thực hiện đầu tư 20
1.3 Tổng quan về công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn chuẩn bị đầu tư 23
1.4 Kết luận chương 1 26
CHƯƠNG 2 CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 27
2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình 27
2.2 Cở sở khoa học về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình 31
2.2.1 Những quy định chung về quản lý chất lượng công trình xây dựng 31
2.2.2 Nội dung về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình 34
2.3 Nội dung cơ bản công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 44
2.3.1 Quản lý chất lượng lập và phê duyệt nhiệm vụ, phương án kỹ thuật khảo sát và đề cương thiết kế tổng quát 44
2.3.2 Công tác quản lý chất lượng khảo sát xây dựng 46
2.3.3 Công tác quản lý chất lượng hồ sơ thiết kế cơ sở 48
Trang 2iv
2.3.4 Công tác quản lý tổng mức đầu tư xây dựng công trình 50
2.3.5 Công tác thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình 52
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lập dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn 53
2.4.1 Theo nhân tố chủ quan 54
2.4.2 Theo nhân tố khách quan 58
2.5 Những tiêu chí đánh giá chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn chuẩn bị đầu tư 60
2.6 Kết luận chương 2 61
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HỒ CHỨA NƯỚC KAPET GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ 63
3.1 Giới thiệu chung về dự án Hồ chứa nước KaPet, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận 63
3.1.1 Giới thiệu sơ lược dự án 63
3.1.2 Tình hình triển khai dự án trong thời gian qua 66
3.2 Chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của Trung tâm QLDA và TVXD công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận 67
3.2.1 Chức năng, nhiệm vụ 67
3.2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Trung tâm QLDA 68
3.3 Phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng giai đoạn chuẩn bị đầu tư tại Trung tâm QLDA 72
3.3.1 Chủ trương đầu tư 72
3.3.2 Quản lý chất lượng lập và phê duyệt nhiệm vụ, phương án khảo sát và đề cương thiết kế tổng quát 74
3.3.3 Công tác quản lý chất lượng khảo sát xây dựng 76
3.3.4 Công tác quản lý chất lượng hồ sơ thiết kế cơ sở 77
3.3.5 Công tác quản lý tổng mức đầu tư xây dựng công trình 79
3.3.6 Công tác thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình 80
3.4 Những bài học thực tiễn về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Trung tâm QLDA 82
3.4.1 Kết quả đạt được trong công tác quản lý dự án 82 3.4.2 Kết quả đạt được trong công tác quản lý dự án giai đoạn chuẩn bị đầu tư 83
Trang 3v
3.4.3 Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân trong công tác quản lý chất lượng dự
án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 83
3.5 Một số giải pháp nâng cao chất lượng dự án đầu tư xây dựng Hồ chứa nước KaPet, tỉnh Bình Thuận giai đoạn chuẩn bị đầu tư 88
3.5.1 Mô hình quản lý dự án 88
3.5.2 Giải pháp quản lý chất lượng lập và phê duyệt nhiệm vụ, phương án khảo sát và đề cương thiết kế tổng quát 91
3.5.3 Giải pháp quản lý chất lượng khảo sát xây dựng 93
3.5.4 Giải pháp quản lý chất lượng hồ sơ thiết kế cơ sở 96
3.5.5 Giải pháp quản lý tổng mức đầu tư xây dựng công trình 99
3.5.6 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình 103
3.6 Kết luận chương 3 106
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
Trang 4vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Chu trình tổng quát của dự án đầu tư 6
Hình 1.2 Chu trình chi tiết của dự án đầu tư 7
Hình 1.3 Sự cố vỡ đường ống thủy điện Sông Bung 2, ngày 13/9/2016 16
Hình 1.4 Sự cố sập hầm thủy điện Đa Dâng - Đa Chomo, ngày 16/12/2014 16
Hình 1.5 Sự cố sập cầu máng hồ chứa nước Sông Dinh 3, ngày 13/6/2016 16
Hình 1.6 Dự án hồ chứa nước Sông Dinh 3, tỉnh Bình Thuận 19
Hình 1.7 Dự án khu tái định cư đồng bào 2 xã Phan Lâm – Phan Sơn, tỉnh Bình Thuận 19
Hình 1.8 Dự án tưới Phan Rí – Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận 19
Hình 3.1 Bản đồ vị trí địa lý vùng tỉnh Bình Thuận 63
Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm QLDA 68
Hình 3.3 Đầu mối hồ chứa nước Sông Móng, tỉnh Bình Thuận 74
Hình 3.4 Đầu mối hồ chứa nước Sông Lòng Sông, tỉnh Bình Thuận 78
Hình 3.5 Tràn xả lũ hồ chứa nước Sông Dinh 3, tỉnh Bình Thuận 80
Hình 3.7 Dự án Kè bảo vệ bờ biển Đồi Dương, tỉnh Bình Thuận 85
Hình 3.8 Mô hình tổ chức các phòng, ban của Ban QLDA thành lập mới 88
Hình 3.9 Quy trình thực hiện giai đoạn chuẩn bị đầu tư hồ chứa nước KaPet 89
Trang 5vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tổng hợp hiện trạng công trình thủy lợi tại các địa phương trong tỉnh 17
Bảng 1.2 Bảng tổng hợp các dự án do Trung tâm QLDA quản lý 17
Bảng 1.3 Thống kê quá trình thực hiện đầu tư của Dự án tưới Phan Rí - Phan Thiết 21
Bảng 2.1 Các văn bản pháp luật về quản lý dự án và quản lý chất lượng công trình 27
Bảng 3.1 Các thông số cơ bản của dự án theo phương án chọn 64
Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn, cơ cấu nhân sự các bộ phận thuộc Trung tâm QLDA 69
Bảng 3.3 Các dự án hoàn thành không phát huy đúng năng lực thiết kế 78
Bảng 3.4 Các nguyên nhân chính làm điều chỉnh tổng mức đầu tư 79
Bảng 3.5 Trình độ chuyên môn, cơ cấu nhân sự Ban điều hành dự án 91
Bảng 3.6 Bảng tính dự phòng phí do yếu tố trượt giá 101
Bảng 3.7 Bảng tính so sánh chi phí dự phòng cho toàn bộ dự án hồ chứa nước KaPet 102
Trang 6viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhiều dự án đầu tư xây dựng
hạ tầng kỹ thuật được xây dựng và sau khi hoàn thành đã phát huy hiệu quả kinh tế -
xã hội tốt Bên cạnh những dự án có chất lượng, tiến độ nhanh, đáp ứng được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra và mang lại hiệu quả kinh tế, , còn có những dự án chậm tiến độ, chất lượng không cao, không thể đưa vào khai thác sử dụng, gây lãng phí lớn về tiền của, uy hiếp đến tính mạng và tài sản của nhân dân
Thời gian qua, công tác quản lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình đã có nhiều tiến bộ và dần đi vào nề nếp Tuy nhiên, quá trình thực hiện vẫn còn một số dự
án chưa thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn thực hiện đầu tư Vì vậy đã dẫn đến những sự cố đáng tiếc, gây mất an toàn đến tính mạng và tài sản, tiến độ thi công kéo dài, hiệu quả đầu tư kém,…Nguyên nhân chất lượng công trình kém thì có nhiều, song một trong những nguyên nhân quan trọng
là đội ngũ cán bộ tham gia và quy trình quản lý chất lượng dự án của các tổ chức và cá nhân liên quan chưa nghiêm túc, chưa tuân thủ nghiêm ngặt các luật, nghị định, quy trình, quy phạm thiết kế, thi công và nghiệm thu,…
Trong những năm gần đây, cùng với các địa phương trên cả nước, tỉnh Bình Thuận đã
có nhiều cố gắng trong quản lý và tổ chức thực hiện các dự án đầu tư có hiệu quả Để đạt được kết quả này, địa phương đã bám sát các văn bản pháp quy của Nhà nước, tổ chức thực hiện khá nghiêm túc Tuy nhiên vẫn còn một số dự án đầu tư chưa có hiệu quả, chất lượng hồ sơ giai đoạn chuẩn bị đầu tư chưa đạt yêu cầu, , nên khi triển khai giai đoạn thực hiện đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng không đáp ứng được mục tiêu nhiệm vụ đề ra, gây lãng phí, Có những dự án trong quá trình thực hiện đầu tư phải điều chỉnh và phê duyệt lại nhiều lần, có dự án khi đưa vào khai thác sử dụng mới thấy hết những hạn chế, bất cập của giai đoạn chuẩn bị đầu tư Điển hình như dự án Hệ thống Thủy lợi Tà Pao, phải điều chỉnh dự án đến ba lần, do điều chỉnh thời gian thực hiện, giải pháp thiết kế và tổng mức đầu tư (TMĐT) từ 2.128.663 triệu đồng lên 3.911.287 triệu đồng, tăng 1.782.624 triệu đồng so với TMĐT được duyệt; Dự án hồ
Trang 82
chứa nước Sông Dinh 3, phải điều chỉnh dự án đến 4 lần, do điều chỉnh thời gian thực hiện và TMĐT từ 929.224 triệu đồng lên 1.227.892 triệu đồng, tăng 298.668 triệu đồng so với TMĐT được duyệt; Dự án Kè bảo vệ bờ biển Đồi Dương, phải điều chỉnh
dự án đến ba lần, do thay đổi phương án thiết kế từ kè sử dụng vật liệu mềm túi vải GST thành kè có kết cấu mảng mềm gia cố bằng các cấu kiện bê tông lục lăng làm tăng kinh phí đầu tư từ 26.303 triệu đồng lên 62.475 triệu đồng; Dự án Hồ chứa nước Sông Móng, phải điều chỉnh dự án đến 4 lần, do điều chỉnh thời gian thực hiện, giải pháp thiết kế và TMĐT từ 109.000 triệu đồng lên 207.491 triệu đồng, tăng 98.491 triệu đồng so với TMĐT được duyệt và phải điều chỉnh, giảm, dãn thực hiện một số hạng mục công trình do chưa cân đối được nguồn vốn
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đã thành lập Trung tâm Quản lý dự án và Tư vấn
xây dựng công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (gọi tắt là Trung tâm QLDA) để trực tiếp thực hiện các dự án do Sở Nông nghiệp và PTNT Bình Thuận làm Chủ đầu tư như: Các dự án đầu tư bằng nguồn vốn Trung ương, nguồn vốn ODA thuộc ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn ủy quyền cho tỉnh Bình Thuận quản lý; các dự án đầu tư từ nguồn vốn Ngân sách của tỉnh thuộc lĩnh vực Nông nghiệp và
phát triển nông thôn do UBND tỉnh Bình Thuận giao
Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà UBND tỉnh giao cho Trung tâm QLDA cần có những tổng kết từ các dự án đã thực hiện để có những giải pháp đồng bộ quản
lý chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình, trong đó đặc biệt quan tâm đến chất lượng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, nhằm tránh việc điều chỉnh lại dự án trong quá trình thực hiện và khi đưa vào khai thác sử dụng sẽ sớm đạt được hiệu quả kinh tế
xã hội cao Từ các nhu cầu cấp thiết nêu trên, đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất
đầu tư” sẽ phần nào đáp ứng được yêu cầu thực t�ễn và có ý nghĩa khoa học sâu sắc
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được những tồn tại và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng dự án đầu
tư xây dựng công trình giai đoạn chuẩn bị đầu tư tại Trung tâm QLDA Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình hồ chứa nước Kapet giai đoạn chuẩn bị đầu tư
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 93
a Đối tượng nghiên cứu: là công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi do Trung tâm QLDA quản lý trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, xem xét một số tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình
b Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu tại các dự án do Trung tâm QLDA quản lý và áp dụng cho dự án Hồ chứa nước KaPet, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu từ trước đến nay về quản lý chất lượng dự
án đầu tư xây dựng công trình ở Việt Nam và tỉnh Bình Thuận
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê và phân tích từ các báo cáo của các dự án
đã thực hiện, các tài liệu hồ sơ về công tác quản lý chất lượng dự án do Trung tâm QLDA quản lý
- Dựa trên các cơ sở khoa học để phân tích các tài liệu, văn bản pháp luật của nhà nước
về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp mô hình
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
a Ý nghĩa khoa học của đề tà�: Đề tà� hệ thống hóa lý luận cơ bản về công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình trong g�a� đoạn chuẩn bị đầu tư, làm rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng dự án, góp phần hoàn th�ện hệ thống
lý luận, làm cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh g�á về công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dự án đầu
tư xây dựng công trình do Trung tâm QLDA quản lý
b Ý nghĩa thực t�ễn của đề tà�: Thông qua kết quả ngh�ên cứu, phân tích, đánh g�á và các g�ả� pháp đề xuất của đề tà� chỉ ra được những mặt đã làm được và những mặt còn tồn tạ�, hạn chế cần khắc phục trong công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng để áp dụng vào quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình hồ chứa nước Kapet giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Trang 104
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1 Khái niệm cơ bản về dự án đầu tư và quản lý dự án
1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư
- Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và
có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
- Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến và các chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm cụ thể để tạo mới, để mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
b Thành phần chính của dự án đầu tư:
- Mục tiêu của dự án: là những lợi ích tài chính và kinh tế xã hội dự kiến sẽ thu được nếu dự án được thực hiện
- Các kết quả: là những sản phẩm, dịch vụ được tạo ra nhằm thực hiện các mục tiêu của dự án
- Các hoạt động: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo
ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành động này, cùng với một tiến độ thực hiện và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận có liên quan, sẽ tạo thành kế hoạch hành động của dự án
- Các nguồn lực gồm: vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động Giá trị các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần thiết cho dự án
Trang 115
Trong đó các kết quả đạt được là cột mốc đánh dấu tiến độ của dự án Vì vậy cần thường xuyên theo dõi, đánh giá các kết quả đạt được trong quá trình thực hiện dự án Những hoạt động nào có liên quan trực tiếp đến việc tạo ra các kết quả, được coi là hoạt động chủ yếu và phải được đặc biệt quan tâm
c Đặc trưng chủ yếu của dự án đầu tư:
- Xác định được mục đích, mục tiêu cụ thể;
- Xác định được hình thức tổ chức thực hiện;
- Xác định được nguồn vốn tài chính để tiến hành thực hiện đầu tư;
- Xác định được khoảng thời gian để thực hiện mục tiêu dự án
d Công dụng của dự án đầu tư:
- Là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầu tư;
- Là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ cho vay vốn;
- Là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án;
- Là văn kiện cơ bản để các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư;
- Là căn cứ để theo dõi, đánh giá, điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác dự án
Ngoài ra, dự án đầu tư còn có các công dụng như:
+ Giải quyết những vấn đề phát sinh trong quan hệ giữa các bên có liên quan đến thực hiện dự án;
+ Là căn cứ để xem xét, xử lý hài hòa mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nước và là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên;
+ Là căn cứ để xây dựng hợp đồng liên doanh, soạn thảo điều luật của doanh nghiệp liên doanh
Để đảm bảo tính khả thi, một dự án đầu tư cần đáp ứng các yêu cầu:
Trang 126
- Tính khoa học và hệ thống: Phải nghiên cứu tỷ mỉ, kỹ càng, tính toán, cân nhắc cẩn
thận, chính xác từng nội dung cụ thể của dự án Đồng thời cần sự tư vấn của cơ quan chuyên môn về dịch vụ đầu tư giúp đỡ;
- Tính pháp lý: Phải có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước Do đó, quá trình soạn thảo dự án cần nghiên cứu kỹ chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước và các văn bản liên quan đến hoạt động đầu tư;
- Tính đồng nhất: Phải tuân thủ các quy định về hoạt động đầu tư kể cả các quy định
về thủ tục đầu tư Đối với dự án quốc tế còn phải tuân thủ những quy định chung mang tính quốc tế;
- Tính thực tiễn: Phải được nghiên cứu và xác định trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động đầu
tư Việc chuẩn bị kỹ càng, khoa học sẽ giúp thực hiện dự án có hiệu quả cao nhất và giảm tối thiểu các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu tư
1.1.2 Chu trình của dự án đầu tư
Chu trình của dự án đầu tư là bao gồm các bước hoặc giai đoạn kế tiếp nhau trong quá trình hình thành và vận hành dự án Cụ thể như hình 1.1 sau:
Hình 1.1 Chu trình tổng quát của dự án đầu tư Chu trình tổng quát của dự án đầu tư gồm 5 quá trình chính, đó là:
(1) Xác định dự án: gồm các công việc như xây dựng ý tưởng, thu thập tư liệu, phân tích tình hình, đề xuất phương án
(2) Lập dự án: gồm các công việc như nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi (3) Thẩm định dự án: gồm các công việc như xem xét, kiểm tra, đánh giá các khía cạnh chủ yếu, thông qua, phê duyệt
Trang 13Hình 1.2 Chu trình chi tiết của dự án đầu tư
1.1.3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Chuẩn bị đầu tư là giai đoạn tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại của các giai đoạn tiếp sau của dự án Ở giai đoạn này chưa xuất hiện các nhà thầu tư vấn giám sát, thi công,…, mà chủ yếu là các thủ tục pháp lý và dự án đầu tư được duyệt là
cơ sở để triển khai các bước tiếp theo Trong giai đoạn này vấn đề chất lượng, sự chính xác của các kết quả nghiên cứu, việc tính toán và lập dự toán là quan trọng nhất
a Khái niệm: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng, để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định [2]
Dự án đầu tư xây dựng bao gồm Báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế cơ sở Chu trình của dự án đầu tư xây dựng hoàn toàn giống chu trình của dự án đầu tư
b Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình là:
- Tính "duy nhất" của sản phẩm, mỗi dự án đầu tư xây dựng đều cho một sản phẩm cụ thể và duy nhất;
Trang 14d Xác định chủ đầu tư của dự án: [3][2]
Chủ đầu tư dự án (chủ đầu tư xây dựng công trình) là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình Tùy từng loại vốn
mà việc xác định chủ đầu tư xây dựng công trình khác nhau:
- Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là các cơ quan,
tổ chức, đơn vị do Thủ tướng Chính phủ giao
- Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định đầu tư, thì chủ đầu tư là Ban QLDA đầu tư xây dựng chuyên ngành hoặc Ban QLDA đầu tư xây dựng khu vực hoặc cơ quan, tổ chức đơn vị được giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình
- Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách cấp xã, chủ tịch UBND cấp xã là chủ đầu tư Riêng các dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh thì chủ đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định phù hợp với điều kiện cụ thể của mình
- Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách do tập đoàn kinh tế, tổng công
ty nhà nước quyết định đầu tư, thì chủ đầu tư do các doanh nghiệp này quyết định thành lập hoặc là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình
- Đối với dự án sử dụng vốn khác, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn hoặc vay vốn để đầu tư xây dựng Trường hợp dự án sử dụng vốn hỗn hợp, thì các bên góp vốn thỏa thuận về chủ đầu tư Đối với dự án PPP, chủ đầu tư là doanh nghiệp dự
án do nhà đầu tư thành lập theo quy định của pháp luật
Trang 159
Theo Luật Xây dựng 50/2014/QH13: Lập dự án đầu tư xây dựng là việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng (nếu có), Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác để chuẩn bị đầu tư xây dựng
a Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi: là tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu sơ bộ
về sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng, làm cơ sở xem xét, quyết định chủ trương đầu tư xây dựng
Đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, chủ đầu tư phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi để trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư xây dựng
Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư công, việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và quyết định chủ trương đầu tư thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công Đối với dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách, vốn khác chưa có trong quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng được duyệt, thì chủ đầu tư phải báo cáo cấp thẩm quyền để xem xét, chấp thuận bổ sung quy hoạch hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi
Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ chủ trì thẩm định có trách nhiệm lấy ý kiến chấp thuận chủ trương đầu tư xây dựng của Bộ quản lý ngành và các cơ quan có liên quan
để tổng hợp và trình người quyết định đầu tư xem xét, quyết định chủ trương đầu tư Thời gian có ý kiến chấp thuận không quá 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ
b Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng: là tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu về sự cần thiết, mức độ khả thi và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng theo phương án thiết kế cơ sở được lựa chọn, làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng gồm thiết kế cơ sở và các nội dung khác
Thiết kế cơ sở: Lập phải đạt được mục tiêu của dự án, phù hợp với công trình xây dựng thuộc dự án, đảm bảo sự đồng bộ giữa các công trình khi đưa vào khai thác, sử dụng, gồm thuyết minh và các bản vẽ thể hiện các nội dung sau:
- Vị trí xây dựng, hướng tuyến công trình, danh mục và quy mô, loại, cấp công trình thuộc tổng mặt bằng xây dựng;
Trang 1610
- Phương án công nghệ, kỹ thuật và thiết bị lựa chọn (nếu có);
- Giải pháp về kiến trúc, mặt bằng, mặt cắt, mặt đứng công trình, các kích thước, kết cấu chính của công trình xây dựng;
- Giải pháp về xây dựng, vật liệu chủ yếu được sử dụng, ước tính chi phí xây dựng cho từng công trình;
- Phương án kết nối hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài công trình, giải pháp phòng, chống cháy, nổ;
- Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng và kết quả khảo sát xây dựng để lập thiết kế cơ sở
Các nội dung khác của Báo cáo nghiên cứu khả thi bao gồm:
- Sự cần thiết và chủ trương đầu tư, mục tiêu đầu tư xây dựng, địa điểm xây dựng và diện tích sử dụng đất, quy mô công suất và hình thức đầu tư xây dựng;
- Khả năng bảo đảm các yếu tố để thực hiện dự án như sử dụng tài nguyên, lựa chọn công nghệ thiết bị, sử dụng lao động, hạ tầng kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, yêu cầu trong khai thác sử dụng, thời gian thực hiện, phương án giải phóng mặt bằng xây dựng, tái định cư (nếu có), giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án, vận hành, sử dụng công trình và bảo vệ môi trường;
- Đánh giá tác động của dự án liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư; bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, an toàn trong xây dựng, phòng, chống cháy, nổ và các nội dung cần thiết khác;
- Tổng mức đầu tư và huy động vốn, phân tích tài chính, rủi ro, chi phí khai thác sử dụng công trình, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; kiến nghị cơ chế phối hợp, chính sách ưu đãi, hỗ trợ thực hiện dự án và các nội dung khác có liên quan
1.1.4 Quản lý dự án đầu tư xây dựng trong giai đoạn thực hiện đầu tư
Những công việc chủ yếu của giai đoạn thực hiện đầu tư bao gồm: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây
Trang 1711
dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử
và thực hiện các công việc cần thiết khác [3]
1.1.4.1 Quản lý việc lập thiết kế xây dựng công trình
a Các bước thiết kế xây dựng công trình: Dự án đầu tư xây dựng gồm một hoặc nhiều loại công trình, mỗi loại công trình có một hoặc nhiều cấp công trình Tùy theo loại, cấp của công trình và hình thức thực hiện dự án, việc quy định số bước thiết kế xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định, cụ thể như sau: [2]
- Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình có yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng;
- Thiết kế hai bước gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng với công trình phải lập dự án đầu tư xây dựng;
- Thiết kế ba bước gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình phải lập dự án đầu tư, có quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật và điều kiện thi công phức tạp;
- Thiết kế theo các bước khác (nếu có) theo thông lệ quốc tế
Công trình thực hiện thiết kế xây dựng từ hai bước trở lên thì thiết kế bước sau phải
phù hợp với các nội dung, thông số chủ yếu của bước thiết kế trước Trường hợp thiết
kế ba bước, nếu nhà thầu thi công xây dựng có đủ năng lực theo quy định của pháp luật thì được phép thực hiện bước thiết kế bản vẽ thi công
b Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng công trình: [3]
- Đối với công trình thuộc dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
+ Đối với công trình cấp đặc biệt, cấp I, công trình do Thủ tướng Chính phủ giao và công trình thuộc dự án do mình quyết định đầu tư: thì cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế ba bước); thiết
kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế hai bước)
+ Đối với các công trình từ cấp II trở xuống trên địa bàn hành chính của tỉnh thì Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế ba bước); thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế hai bước)
Trang 1812
+ Người quyết định đầu tư phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán công trình trường hợp thiết kế ba bước; phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, dự toán công trình trường hợp thiết kế hai bước
+ Chủ đầu tư phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng trường hợp thiết kế
ba bước
- Đối với công trình thuộc dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách:
+ Đối với công trình cấp đặc biệt, cấp I, công trình từ cấp III trở lên của dự án thuộc chuyên ngành do tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thuộc phạm vi do mình quyết định đầu tư, công trình do Thủ tướng Chính phủ giao và công trình thuộc dự án
do mình quyết định đầu tư: thì cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Xây dựng,
Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế ba bước); thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế hai bước)
+ Đối với các công trình từ cấp III trở lên trên địa bàn hành chính của tỉnh thì Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế ba bước); thiết kế bản vẽ thi công, dự toán công trình (trường hợp thiết kế hai bước)
+ Người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế, dự toán phần công nghệ đối với
các công trình nêu trên và tổ chức thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng các công trình còn lại và công trình lưới điện trung áp
+ Người quyết định đầu tư phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán công trình trường hợp thiết kế ba bước;
+ Chủ đầu tư phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, dự toán công trình trường hợp thiết kế
ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán công trình trường hợp thiết kế hai bước
- Đối với công trình thuộc dự án sử dụng vốn khác:
+ Đối với công trình cấp đặc biệt, cấp I, công trình theo tuyến qua hai tỉnh trở lên và công trình do Thủ tướng Chính phủ giao: thì cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc
Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuật (trường hợp thiết kế ba bước); thiết kế bản vẽ thi công (trường hợp thiết kế hai bước)
Trang 1913
+ Đối với các công trình công cộng từ cấp III trở lên trên địa bàn hành chính của tỉnh, công trình xây dựng có ảnh hưởng lớn đến cảnh quan, môi trường và an toàn cộng động thì Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật (trường hợp thiết kế ba bước); thiết kế bản vẽ thi công (trường hợp thiết kế hai bước)
+ Người quyết định đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế xây dựng các công trình còn lại, phần công nghệ và dự toán xây dựng công trình
+ Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng công trình
Quản lý trong quá trình thi công xây dựng công trình bao gồm quản lý chất lượng xây dựng, quản lý tiến độ, quản lý khối lượng, quản lý chi phí đầu tư, quản lý hợp đồng và quản lý an toàn lao động, môi trường xây dựng đảm bảo các mục tiêu đã đề ra
a Yêu cầu về quản lý tiến độ thi công xây dựng
Trước khi triển khai thi công phải có tiến độ thi công xây dựng Tiến độ này do nhà thầu lập và phải phù hợp với tiến độ tổng thể của dự án được chủ đầu tư chấp thuận Chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn giám sát có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến
độ thi công xây dựng Trường hợp tiến độ thi công bị kéo dài thì được điều chỉnh nhưng không được làm ảnh hưởng đến tiến độ tổng thể của dự án Trường hợp xét thấy tiến độ tổng thể của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu
tư điều chỉnh tiến độ tổng thể của dự án
b Quy định về quản lý khối lượng thi công xây dựng
Việc thi công xây dựng phải thực hiện theo khối lượng của thiết kế được duyệt Khối lượng phải được tính toán, xác nhận giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán hợp đồng Khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán công trình được duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công phải xem xét để xử lý Các khối lượng phát sinh phải được chủ đầu tư hoặc người quyết định đầu tư chấp thuận, phê duyệt là cơ sở để thanh toán, quyết toán công trình Pháp luật nghiêm cấm việc khai khống, khai tăng khối lượng hoặc thông đồng giữa các bên tham gia dẫn đến làm sai khối lượng thanh toán
Trang 2014
c Quy định về quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng
Nhà thầu thi công phải lập các biện pháp an toàn cho người lao động, thiết bị, phương tiện thi công trước khi thi công xây dựng Trường hợp các biện pháp an toàn liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận Biện pháp và nội quy về an toàn phải được công khai trên công trường, những vị trí nguy hiểm phải bố trí người hướng dẫn, cảnh báo Phải thường xuyên kiểm tra giám sát công tác an toàn lao động trên công trường, khi xảy ra sự cố mất an toàn phải tạm dừng hoặc đình chỉ thi công để khắc phục xong mới tiếp tục thi công Nhà thầu thi công phải cung cấp đầy đủ trang thiết bị, bảo hộ cho người lao động và bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm làm công tác an toàn, vệ sinh lao động Theo quy định thì đối với công trường có số lao động trực tiếp dưới 50 người thì cán bộ kỹ thuật thi công có thể kiêm nhiệm làm công tác an toàn vệ sinh lao động; số lao động từ 50 người trở lên phải bố trí một cán bộ chuyên trách và số lao động từ 1.000 người trở lên phải thành lập phòng hoặc ban an toàn và
vệ sinh lao động hoặc bố trí tối thiểu hai người chuyên trách Người làm công tác chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định
d Quy định về quản lý môi trường xây dựng
Nhà thầu thi công phải thực hiện các biện pháp bảo đảm về môi trường cho người lao động trên công trường và bảo vệ môi trường xung quanh, bao gồm các biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và thu dọn hiện trường Đối với công trình thi công trong khu vực đô thị phải thực hiện các biện pháp bao che, thu dọn phế thải đưa đến đúng nơi quy định, quá trình vận chuyển phải che chắn bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường Các bên liên quan có trách nhiệm kiểm tra giám sát việc thực hiện và chịu
sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường
1.2 Tổng quan về chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình nông
nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận
1.2.1 Chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển
nông thôn giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Theo số liệu tổng hợp, hiện nay cả nước có gần 7.000 hồ chứa thủy lợi, thủy điện trong
đó trên 6.000 hồ chứa có quy mô nhỏ Về cơ bản các công trình này được nghiệm thu đưa vào sử dụng đang vận hành an toàn, phát huy hiệu quả Tuy nhiên, một loạt các sự
cố công trình gần đây như đổ tường chắn bê tông công trình thủy điện Đăk Rông 3 tỉnh
Trang 2115
Quảng trị; thủy điện Sê Rê Pôk 4A tỉnh Đăk Lăk cuốn trôi hàng chục ha lúa và hoa màu của người dân; sự cố nước lũ tràn vào hầm thủy điện La Hiêng 2 tỉnh Phú Yên khiến 03 thiệt mạng; sự cố sập hầm thủy điện Đa Dâng - Đa Chomo tỉnh Lâm Đồng làm 12 người mắc kẹt; sự cố rò rỉ nước đập thủy điện Sông Tranh 2 tỉnh Quảng Nam gây hoang mang cho người dân; sự cố lún nứt đường ở hai đầu vào hầm đường bộ Đèo Ngang hay sự cố vỡ đường ống Sông Đà Đây là chủ đề nóng về chất lượng công trình, tuy nhiên khi xảy ra sự cố thì mới nói đến chất lượng công trình, đây là một điều rất quan ngại Nguyên nhân các sự cố trên được cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra và đưa ra các tồn tại như: Nhiều trường hợp, chủ đầu tư có công trình để xảy ra sự cố là các doanh nghiệp tư nhân tự tổ chức quản lý đầu tư và thi công xây dựng khi kinh nghiệm không có Năng lực của một số nhà thầu tham gia xây dựng công trình như tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công không đảm bảo theo quy định của pháp luật, công tác quản lý chất lượng trong giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công không tuân thủ theo quy định, ,Không có nguyên nhân chất lượng của dự án đầu tư trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư kém gây ra
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT [4] thì hiện nay cả nước có khoảng 1.813 hồ chứa lớn nhỏ đang bị hư hỏng nặng, mất an toàn cần phải sửa chữa, nâng cấp trong giai đoạn năm 2016 đến 2020 Trong đó đã nâng cấp được 663 hồ còn 1.150 hồ tiếp tục phải được nâng cấp, sửa chữa Từ năm 2009 đến năm 2013 đã có 19 hồ xảy ra sự cố, như
sự cố vỡ đập hồ chứa nước Z20, hồ Đá Bạc tỉnh Hà Tĩnh; sự cố vỡ đập hồ Tây Nguyên tỉnh Nghệ An và trong năm 2014 sự cố vỡ đập phụ hồ chứa nước Đầm Hà Động, tỉnh Quảng Ninh Các nguyên nhân sự cố trên được Bộ xác định là:
(1) Do biến đổi khí hậu tập trung với cường xuất lớn, lũ xảy ra bất thường, trái với quy hoạch; (2) Vật liệu thi công sau thời gian dài khai thác bị mục, nứt; (3) Chất lượng công tác khảo sát, thiết kế theo tiêu chuẩn cũ, không còn phù hợp với thực tế hiện nay; (4) Công nghệ thi công còn hạn chế; chất lượng thi công xử lý nền, đất đắp tại các vị trí tiếp giáp (thân với nền, nền, các vai, mang tràn công trình ) không đảm bảo chất lượng, gây thấm qua thân, nền đập; (5) Phân cấp quá sâu cho các đơn vị quản lý hồ đập khi không có cán bộ chuyên ngành thủy lợi đủ năng lực Thiếu các thiết bị quan trắc đo, thăm dò dẫn đến không phát hiện và xử lý kịp thời các hư hỏng
Trang 2216
Không có nguyên nhân do chất lượng của dự án đầu tư xây dựng công trình trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư kém gây ra Dưới đây là một số hình ảnh về sự cố công trình
Hình 1.3 Sự cố vỡ đường ống thủy điện Sông Bung 2, ngày 13/9/2016
Hình 1.4 Sự cố sập hầm thủy điện Đa Dâng - Đa Chomo, ngày 16/12/2014
Hình 1.5 Sự cố sập cầu máng hồ chứa nước Sông Dinh 3, ngày 13/6/2016
Đối với tỉnh Bình Thuận, trong nhiều năm qua được sự quan tâm của Trung ương và
sự nổ lực của chính quyền địa phương, các công trình thủy lợi đã được đầu tư xây
Trang 2317
dựng và phát triển không ngừng Tính đến nay các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh
có tất cả 283 công trình, được tổng hợp tại bảng 1.1 sau:
Bảng 1.1 Tổng hợp hiện trạng công trình thủy lợi tại các địa phương trong tỉnh
T
T Loại Công trình Tuy
Phong
Bắc Bình
Tp Phan Thiết
Hàm Thuận Bắc
Hàm Thuận Nam
H Tân
- Lagi
Đức Linh
Tánh Linh
Tổng cộng
và hồ sông Lòng Sông, dung tích Vh= 37 triệu m3
Các hồ này đầu tư từ nguồn vốn Trung ương do Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý, hiện đang phát huy hiệu quả đầu tư cao Đối với 03 hồ đang xây dựng gồm Hồ Phan Dũng, dung tích
Vh = 10,4 triệu m3; hồ Sông Móng, dung tích Vh = 34 triệu m3
và hồ Sông Dinh 3, dung tích Vh= 45,5 triệu m3 cùng 15 hồ vừa và nhỏ có dung tích nhỏ hơn 10 triệu m3
Là các công trình do địa phương quản lý đầu tư và thực hiện dự án [5]
Theo báo cáo của UBND tỉnh Bình Thuận về công tác giám sát, đánh giá tổng thể đầu
tư, thì trong năm 2015 toàn tỉnh thực hiện đầu tư 410 dự án, kế hoạch vốn bố trí là 1.650 triệu đồng Trong đó có 45 dự án phải điều chỉnh dự án đầu tư, gồm 20 dự án điều chỉnh mục tiêu, quy mô đầu tư; 24 dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư; 01 dự án điều chỉnh tiến độ đầu tư và 06 dự án phải dừng thực hiện Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ thống kê các dự án phải điều chỉnh dự án đầu tư do Trung tâm quản lý
Bảng 1 2 Bảng tổng hợp các dự án do Trung tâm QLDA quản lý
Stt Tên dự án đầu tư (triệu Tổng mức
đồng)
Số lần điều chỉnh DAĐT Nội dung điều chỉnh DAĐT
Trang 242 Dự án Hồ chứa nước Sông Móng,
- Điều chỉnh TMĐT
- Điều chỉnh quy mô và phân kỳ đầu tư
3 Dự án Kè bảo vệ bờ biển Đồi
-Điều chỉnh TMĐT
-Điều chỉnh quy mô đầu tư và kết cấu công trình
4 Dự án khu tái định cư đồng bào 2
-Điều chỉnh chủ đầu tư
6 Dự án Kè bảo vệ bờ Sông Dinh,
- Điều chỉnh TMĐT
- Điều chỉnh quy mô và phân kỳ đầu tư
7 Dự án Kè bảo vệ bờ biển khu phố
-Điều chỉnh TMĐT
- Điều chỉnh quy mô và phân kỳ đầu tư
8
Dự án Phát triển Nông thôn tổng
hợp các tỉnh miền Trung vốn vay
Dự án Phát triển nông thôn các
tỉnh miền Trung-Khoản vay bổ
sung vốn vay ADB
- Điều chỉnh quy mô đầu tư và thời gian đầu tư
- Điều chỉnh TMĐT
Theo bảng thống kê trên cho thấy, mặc dù phải điều chỉnh dự án từ 3 đến 4 lần trong quá trình thực hiện, nhưng đến nay vẫn chưa có kết luận chính thức nào của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra, kiểm toán chỉ ra các bất cập và kém chất lượng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, mặc dù đã có rất nhiều đoàn thanh tra, kiểm toán Một số hình ảnh về các dự án đầu tư do Trung tâm QLDA quản lý
Trang 2519
Hình 1.6 Dự án hồ chứa nước Sông Dinh 3, tỉnh Bình Thuận
Hình 1.7 Dự án khu tái định cư đồng bào 2 xã Phan Lâm – Phan Sơn, tỉnh Bình Thuận
Hình 1.8 Dự án tưới Phan Rí – Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
Trang 2620
1.2.2 Chất lượng các dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển
nông thôn giai đoạn thực hiện đầu tư
Tính đến năm 2015, toàn Tỉnh có 78 hệ thống công trình thủy lợi đã đưa vào khai thác
sử dụng, tổng năng lực tưới theo thiết kế là 70.360 ha; tổng năng lực tưới thực tế là 48.706ha; tổng dung tích trữ nước là 324,14 triệu m3 Bao gồm các loại công trình: Hồ chứa nước 21 công trình; Đập dâng 35 công trình; Trạm bơm 18 công trình và kênh nối mạng 04 công trình [5]
Về mức độ hoàn thiện, thì trong 78 hệ thống công trình có 73 hệ thống được đầu tư xây dựng từ đầu mối đến hệ thống nội đồng, tổng năng lực tưới thiết kế là 49.047ha;
05 hệ thống công trình đầu tư sau năm 2010, chưa hoàn chỉnh hệ thống tưới, tổng năng lực thiết kế 21.313ha
Về hiệu quả tưới, thì đối với 78 hệ thống công trình đầu tư xây dựng từ đầu mối đến hệ thống kênh nội đồng có 33 hệ thống đã phát huy hiệu quả tưới vượt năng lực thiết kế;
16 hệ thống phát huy hiệu quả tưới đạt từ 70÷100% năng lực thiết kế, còn lại 24 hệ thống hiệu quả tưới đạt dưới 70% năng lực thiết kế; 05 hệ thống công trình đầu mối đầu tư xây dựng sau năm 2010 đến nay chưa phát huy hiệu quả tưới theo năng lực thiết
kế Như Hồ chứa nước Phan Dũng tưới 50ha/490ha; dự án tưới Phan Rí – Phan Thiết tưới 1.500ha/10.500ha và cấp nước bổ sung cho 5.000ha; kênh chuyển nước 812 – Châu Tá tưới 1.045ha/6.125ha; hồ chứa nước Sông Móng do chưa có vốn để thực hiện
hệ thống kênh tưới nên chỉ tiếp nước về hồ Ba Bàu và cấp nước cho tuyến kênh chuyển nước hồ Sông Móng-hồ Đu Đủ-hồ Tân Lập phục vụ cho sinh hoạt các xã trung tâm huyện Hàm Thuận Nam và phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trên dọc tuyến kênh; hồ chứa nước Sông Dinh 3 hiện nay chỉ cấp nước phục vụ sinh hoạt cho nhân dân trong vùng hưởng lợi từ công trình, chưa cấp nước tưới sản xuất nông nghiệp
Về chất lượng công trình, có 26 hệ thống công trình thủy lợi đã đầu tư nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới hoàn thành sau năm 2010 gồm: Hồ Sông Lòng Sông, hồ Phan Dũng, hồ Cà Giây, Dự án tưới Phan Rí-Phan Thiết, hồ Sông Khán, hồ Sông Móng, hồ Núi Đất, hồ Sông Dinh 3 và 18 trạm bơm thuộc khu vực đồng bằng ven sông La Ngà, hoạt động bình thường Còn lại 52 hệ thống công trình đầu tư xây dựng hoàn thành trước năm 1990, trong điều kiện nguồn vốn, kỹ thuật thi công, năng lực thiết kế, tài liệu phục vụ tính toán còn nhiều hạn chế, hiện trạng bị hư hỏng, xuống cấp Đến nay,
Trang 2721
chưa bố trí được nguồn kinh phí để đầu tư nâng cấp, tu sửa; trong đó có 10 hệ thống công trình bị hư hỏng, xuống cấp nghiêm trọng, đe dọa đến sự ổn định của công trình gồm Đập Tuy Tịnh thuộc hệ thống hồ chứa nước Sông Lòng Sông, hồ Đá Bạc, đập Ma Giăng thuộc hệ thống hồ chứa nước Cà Giây, hồ chứa nước Sông Quao, hồ chứa nước Cẩm Hang, hồ chứa nước Hộ Tám, hồ chứa nước Tà Mon, hồ chứa nước Tân Lập, đập Sông Gao thuộc hệ thống hồ chứa nước Núi Đất và hồ chứa nước Trà Tân
Nguyên nhân chủ yếu của việc chưa đạt được hiệu quả đầu tư về năng lực tưới theo thiết kế và chất lượng công trình được UBND tỉnh Bình Thuận báo cáo Thường trực Tỉnh ủy tại Công văn số 4063/UBND-ĐTQH ngày 09/11/2015 là do khó khăn về nguồn vốn nên chưa đầu tư xây dựng hệ thống kênh cấp dưới, kênh nội đồng và khai hoang cải tạo đồng ruộng và do kỹ thuật thi công, năng lực thiết kế, tài liệu phục vụ tính toán còn hạn chế
Thực tế các công trình này khi phê duyệt dự án đầu tư thì các hạng mục trên đều có và được tính toán đầy đủ trong TMĐT Nhưng trong quá trình thực hiện phải bổ sung, phát sinh một số công trình, hạng mục công trình làm tăng vốn đầu tư vượt qua cả chi phí dự phòng, do đó phải phân kỳ đầu tư, điều chỉnh giảm, dãn thời gian và từng bước hoàn thành dự án khi cân đối được nguồn vốn
Theo thống kê các công trình trong khuôn khổ các dự án do Trung tâm QLDA quản lý, thì không có một công trình, gói thầu nào tính từ lúc đấu thầu đến khi thi công hoàn thành mà không có phát sinh, xử lý kỹ thuật trong quá trình thi công Nhiều công trình phát sinh, bổ sung trong quá trình thi công lên đến 12 lần Điển hình như quá trình thực hiện đầu tư của Dự án tưới Phan Rí-Phan Thiết, nguồn vốn ODA do JICA tài trợ, hợp phần do Trung tâm QLDA quản lý được thống kê theo bảng 1.3 sau:
Bảng 1.3 Thống kê quá trình thực hiện đầu tư của Dự án tưới Phan Rí - Phan Thiết
Stt Hạng mục
công trình
Giá Hợp đồng ban đầu (1000 đồng)
Giá Quyết toán (1000 đồng)
Số lần điều
Trang 29Đối với dự án tính hiệu quả thể hiện ở nhiều tiêu chí như: Thời gian vận hành an toàn đúng với thời gian hoàn vốn của công trình không gây mâu thuẫn trong sự nghiệp phát triển kinh tế trong vùng; Chi phí cho duy tu bảo dưỡng không vượt quá chi phí dự trù;
Có giá thành rẽ, hiệu quả kinh tế cao và chất lượng công trình đảm bảo đúng yêu cầu của thiết kế Trong các tiêu chí trên, thì tiêu chí chất lượng công trình có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của dự án Theo tổng kết công tác quản lý chất lượng công trình của
Bộ Xây dựng năm 2006, thì chất lượng công trình không đảm bảo không chỉ xãy ra ở giai đoạn thi công mà còn xãy ra trong cả giai đoạn lập dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật, trong số 18 công trình xây dựng bị sự cố hoặc có chất lượng không đảm bảo thì nguyên nhân do khảo sát và thiết kế chiếm tỷ trọng trên 60%, còn 40% là do thi công Chất lượng của một dự án đầu tư trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư không tốt, thể hiện ở chỗ không chọn được phương án tối ưu về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế, nguyên nhân dẫn đến việc này thường có những lý do sau:
Ví dụ: Trong dự án đầu tư phải lập nhiều phương án để so chọn và tìm ra một phương
án tối ưu về kinh tế và kỹ thuật, rồi phải lập thiết kế cơ sở cho phương án chọn đó Hồ
sơ dự án đầu tư phải giải quyết nhiều vấn đề, phải có ít nhất từ 2 đến 3 phương án được tính toán khối lượng và giá thành để so chọn, các giải pháp kỹ thuật của các
Trang 3024
phương án phải có tính toán khả thi, khách quan để chủ đầu tư so chọn Còn khi thiết
kế kỹ thuật chỉ cần căn cứ vào thiết kế cơ sở được duyệt, tính toán và lập bản vẽ thiết
kế kỹ thuật đối với công trình có thiết kế 3 bước hoặc lập thiết kế bản vẽ thi công đối với công trình thiết kế 2 bước Nhưng về chi phí thì chi phí cho tư vấn lập dự án đầu tư chỉ bằng 13,5% chi phí cho tư vấn lập thiết kế kỹ thuật đối với công trình thiết kế 3 bước và bằng 10% đối với công trình thiết kế 2 bước Mặt khác, giai đoạn này tư vấn lập dự án xong không được tham gia đấu thầu ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật
b Về chủ đầu tư: Đối với công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, chủ đầu tư thường là nhà nước, mà một cá nhân nào đó được nhà nước cử ra làm ông chủ nên cũng muốn
dự án được duyệt để nhà nước cấp tiền cho giai đoạn tiếp theo, hoặc khởi công để lấy thành tích chào mừng nhân dịp một ngày gì đó
Có công trình trong giai đoạn lập dự án đầu tư còn nhiều tồn tại nhưng chủ đầu tư cùng tư vấn thiết kế dùng đủ mọi cách bào chữa để cho phép sang giai đoạn sau giải quyết, mà giai đoạn sau theo quy định hiện nay cho phép tư vấn lập dự án đầu tư được lập thiết kế các bước tiếp theo, nhưng trước kia thì không cho phép, mà phải chọn một
tư vấn khác thông qua đấu thầu để thực hiện Do đó, khi các tồn tại trong giai đoạn lập
dự án đầu tư được chuyển sang giai đoạn sau, thì nhà nước phải bỏ ra một khoảng chi phí cho công tác khảo sát, thiết kế bổ sung để hoàn thiện các tồn tại trước đó
Có dự án ra đời một cách gượng ép khi chưa đủ điều kiện để thực hiện, rồi thực hiện nửa chừng phải điều chỉnh dự án, hoặc lựa chọn công nghệ không phù hợp, nên sản phẩm làm ra thiếu tính cạnh tranh, chất lượng không cao gây lãng phí, thất thoát
Có dự án khi lập và trình phê duyệt chủ đầu tư cố tình nâng cao TMĐT, khi triển khai thấy dư nguồn vốn thì cố gắng tận dụng, do đó đã phát sinh nhiều hạng mục công trình ngoài dự án nhưng chất lượng không cao, không mang lại hiệu quả Ngược lại, có dự
án do không lường hết các yếu tố nên TMĐT được duyệt thấp, lúc triển khai thiết kế,
dự toán thì vượt TMĐT, do đó chủ đầu tư tìm mọi cách để ép dưới trần TMĐT Việc này ngay từ đầu đã ngầm báo hiệu chất lượng công trình không đảm bảo, vì mục tiêu
dự án thì không thể giảm, tiền ít thì không thể có công trình chất lượng
Do tâm lý đi xin dự án, nên một số chủ đầu tư cố tình lập thấp TMĐT nhằm hạ nhóm công trình từ B xuống C hoặc nguy hiểm hơn là từ A xuống B để giảm nhẹ hàng rào pháp lý, thực hiện mục tiêu trước mắt là được chấp thuận đầu tư Để rồi, khi dự án
Trang 3125
được đầu tư thì hoặc là chất lượng từ thiết kế đến thi công không đảm bảo, dự án không đồng bộ, đưa vào vận hành trục trặc hoặc thực hiện nửa chừng phải dừng lại để điều chỉnh dự án, phê duyệt lại từ đầu mất thời gian, dự án chậm tiến độ, hậu quả là gây lãng phí, công trình nhanh xuống cấp
c Về đơn vị tư vấn:
Thiếu tư vấn chất lượng cao để đề xuất chủ trương đầu tư, quy hoạch, lập dự án, giải pháp kỹ thuật công nghệ hợp lý, khả thi Nhiều tổ chức tư vấn ra đời, xuất hiện tràn lan nhưng không có định hướng, chiến lược phát triển, còn có hiện tượng thực hiện dịch
vụ tư vấn theo kiểu môi giới hoặc thuê mượn, cạnh tranh không lành mạnh
Khi đưa ra quy mô dự án, Tư vấn còn lệ thuộc quá nhiều vào ý chí của cơ quan quản lý nhất là các dự án đi qua các địa phương, tư vấn đều lập theo đề nghị của địa phương về quy mô, hướng tuyến, mà không chủ động theo đề xuất của mình, dẫn đến khi lập thiết kế kỹ thuật phải điều chỉnh lại thiết kế cơ sở
Công tác điều tra khảo sát địa chất, thủy văn không chính xác vì hầu hết không được nghiệm thu tại hiện trường mà chỉ nghiệm thu trên hồ sơ Giải pháp thiết kế không phù hợp do yếu về năng lực chuyên môn, không đầu tư nghiên cứu mà chủ yếu là coppy từ các công trình tương tự, điển hình, tác giả là những kỹ sư mới ra trường, chưa có kinh nghiệm , vì vậy các công trình đang thi công phải thay đổi giải pháp kỹ thuật hoặc tạm dừng để điều chỉnh thiết kế hoặc thiết kế bổ sung
Khi lập dự án đầu tư, tư vấn thường làm đủ mọi cách để dự án được phê duyệt vì được duyệt thì mới được thanh toán 100% tiền tư vấn theo hợp đồng, còn nếu không được duyệt thì tư vấn chỉ được thanh toán tối đa là 70% giá trị hợp đồng
Muốn công trình xây dựng có chất lượng tốt thì trước hết thiết kế phải tốt Muốn thiết
kế đạt chất lượng tốt thì khảo sát phải đúng, khảo sát sai sẽ dẫn đến thiết kế sai, nếu phát hiện kịp thời thì chỉnh sữa thiết kế, thay đổi biện pháp thi công, làm kéo dài thời gian, phát sinh chi phí Nhưng nếu không phát hiện kịp thời thì hậu quả còn lớn hơn, thậm chí dẫn đến các thảm họa không thể lường trước Nhiều công trình chất lượng không tốt là do khảo sát sai hoặc thiết kế có vấn đề, mà công trình có vấn đề thường bị kéo dài thời gian xây dựng và cuối cùng là phát sinh chi phí Nhiều trường hợp chi phí phát sinh lớn và thậm chí là bỏ luôn toàn bộ công trình do ý tưởng đầu tư ban đầu sai
Trang 321.4 Kết luận chương 1
Quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình là một yêu cầu rất quan trọng trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư, giúp nâng cao hiệu quả đầu tư, cả trên phương diện kỹ thuật tài chính cũng như hiệu quả kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải quản lý tốt quá trình đầu tư bao gồm tất cả các giai đoạn từ nghiên cứu cơ hội đầu tư đến giai đoạn khai thác vận hành Công tác quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình đóng vai trò quan trọng và góp phần mang đến thành công cho dự án, đặc biệt là ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Trang 3327
CHẤT LƯỢNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình
a Các văn bản pháp lý: Hiện nay, nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật có liên quan đến công tác quản lý dự án và quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình được thống kê theo bảng 2.1 sau:
Bảng 2.1 Các văn bản pháp luật về quản lý dự án và quản lý chất lượng công trình
Stt Loại, ký hiệu văn bản Cơ quan
độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quy định chi tiết một số nội dung thi hành Luật Xây dựng năm 2014 về quản lý dự án đầu tư xây dựng, gồm: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án; thực hiện dự án; kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào
Trang 3428
khai thác sử dụng; hình thức và nội dung quản lý dự
án đầu tư xây dựng
Hướng dẫn Luật Xây dựng về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong công tác khảo sát, thiết
kế, thi công xây dựng; về bảo trì công trình xây dựng và giải quyết sự cố công trình xây dựng
Quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng gồm TMĐT, dự toán xây dựng, dự toán gói thầu, định mức, giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng; chi phí QLDA và tư vấn đầu tư xây dựng; thanh toán và quyết toán hợp đồng, vốn đầu tư; quyền và nghĩa vụ của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng và nhà thầu tư vấn trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng
1 Thông tư
03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016
Bộ Xây dựng 15/5/2016
Quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng
Hướng dẫn một số nội dung về hợp đồng tư vấn xây dựng
Hướng dẫn xác định đơn giá nhân công trong quản
lý chi phí đầu tư xây dựng
Quy định về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng
Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ
Hướng dẫn một số nội dung về thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình
Trang 35b Những tồn tại, bất cập:
Nhìn chung, những năm gần đây công tác quản lý nhà nước về dự án đầu tư xây dựng
đã có nhiều cải thiện Song để các công trình đảm bảo về chất lượng, tiến độ và đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao, thì trong quản lý vẫn còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục Một trong những nguyên nhân chính là do hệ thống văn bản pháp luật ban hành trong thời gian qua chưa kịp thời, chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện và còn nhiều bất cập
- Ví dụ như về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng, Luật Xây dựng 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, đến một năm sau Chính phủ mới ban hành Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 và phải mất hai năm sau Bộ Xây dựng mới ban hành Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/06/2016 và Thông tư số 18/2016/TT-BXD ngày 30/06/2016 hướng dẫn thực hiện Việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn này làm cho các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực xây dựng lúng túng, áp dụng không thống nhất, không đồng bộ, gây tranh cãi, không phục giữa các chủ thể trong việc chấp hành kết luận của các Đoàn Thanh tra, Kiểm toán
- Đối với công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015, nhưng đến nay đã hơn một năm, Bộ Xây dựng vẫn chưa ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện về giám sát thi công xây dựng công trình và kiểm tra công tác nghiệm thu công trình theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP Việc chậm trể này đã gây nhiều khó khăn cho công tác nghiệm thu công trình hoàn thành, bàn giao đưa vào khai thác sử dụng để quyết toán công trình và phát huy hiệu quả đầu tư, chủ yếu chậm ở khâu kiểm tra công tác nghiệm thu của các cơ quan chuyên môn về xây dựng
- Một số văn bản ban hành chưa phù hợp với tình hình thực tế tại các địa phương Ví
dụ như quy định bắt buộc sử dụng vật liệu xây dựng không nung đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước được Bộ Xây dựng ban hành theo Thông tư số 09/2012/TT-BXD ngày 28/04/2012 Vì chỉ quy định cứng cho công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, còn các công trình sử dụng nguồn vốn đầu tư khác thì chưa bắt buộc, trong khi đó loại vật liệu này chủ yếu dùng cho các công trình xây dựng dân dụng, mà tỷ trọng vốn hàng năm thuộc nguồn ngân sách nhà nước phân bổ cho
Trang 3630
loại công trình này không lớn bằng nhu cầu xây dựng trong khối tư nhân và nguồn vốn khác Mặc khác, việc thẩm định, phê duyệt thiết kế dự toán, đấu thầu không cho phép chỉ định cụ thể loại sản phẩm, nên khả năng cạnh tranh để cung cấp sản phẩm vật liệu không nung cho các công trình tại địa phương không cao, vì vậy việc khuyến khích các doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sang sản xuất vật liệu không nung vẫn ì ạch không theo được lộ trình Do bắt buộc sử dụng vật liệu xây dựng không nung cho các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước trong thời gian qua đã
làm tăng giá thành công trình xây dựng rất lớn, vì địa phương không có doanh nghiệp sản xuất loại sản phẩm này mà phải mua ở ngoài tỉnh Việc đưa ra lộ trình bất hợp lý này, đã gây khó khăn trong việc thực hiện, làm thất thoát, lãng phí
- Một số văn bản ban hành không đồng bộ, chồng chéo giữa các cơ quan thực hiện Ví
dụ như đối với việc lựa chọn chủ đầu tư dự án đầu tư phát triển đô thị được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 13 Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 của Chính phủ, thì cơ quan quản lý khu vực phát triển đô thị là Sở Xây dựng phải lập kế hoạch lựa chọn chủ đầu tư dự án đầu tư phát triển đô thị trình UBND tỉnh quyết định Tuy nhiên, theo Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công thì Sở Kế hoạch và Đầu tư cũng là cơ quan tham mưu UBND tỉnh lựa chọn chủ đầu tư cho các dự án đầu tư Nếu thực hiện theo Nghị định số 11/2013/NĐ-CP (từ Điều 20 đến Điều 32) thì chủ đầu tư phải lập hồ
sơ đề xuất chấp thuận đầu tư gửi Sở Xây dựng thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt, nhưng lúc này chủ đầu tư đã có Quyết định chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư Đây là vấn đề bất cập mà hai cơ quan tại địa phương là Sở Xây dựng và Sở Kế hoạch và Đầu
tư gặp khó khăn trong quá trình thực hiện
Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng còn chưa đầy
đủ, chưa đồng bộ, khập khiễng giữa các Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Ngân sách nhà nước, ,việc ban hành các Nghị định hướng dẫn Luật, Thông tư hướng dẫn các Nghị định còn chậm, chưa kịp thời, tính ổn định thấp, phải bổ sung, thay đổi thường xuyên Còn có sự mâu thuẫn giữa các văn bản Luật, giữa văn bản Luật với các Nghị định, giữa Nghị định với Thông tư hướng dẫn Bên cạnh đó, cơ chế quản
lý các dự án ngoài ngân sách (như dự án PPP, BOT, BT…) hiện nay rất thiếu và nhiều bất cập Trách nhiệm, quyền hạn giao cho các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhưng chức năng, nhiệm vụ không rõ ràng, chi phí quản lý thấp, hoàn toàn không tương xứng Thực tế trên đòi hỏi cần nhanh chóng bổ sung, hoàn chỉnh các văn bản pháp luật
Trang 3731
để phát huy các lợi thế cũng như khắc phục tồn tại nhằm thực hiện tốt hơn và đạt hiệu quả hơn trong công tác quản lý dự án, quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng
2.2 Cở sở khoa học về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình
2.2.1 Những quy định chung về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 thì Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm
đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình
- Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu
tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lận cận
- Hạng mục công trình, công trình hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng, yêu cầu của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan
- Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật
- Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế; kiểm tra công tác nghiệm thu, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị
và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình theo quy định của pháp luật
Trang 3832
- Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng phải chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện
gia hoạt động đầu tư xây dựng
a Trường hợp chủ đầu tư thành lập ban quản lý dự án:
- Chủ đầu tư được ủy quyền cho ban quản lý dự án thực hiện một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm của chủ đầu tư trong quản lý chất lượng công trình Chủ đầu tư phải chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về các công việc đã ủy quyền cho ban quản lý dự án thực hiện
- Ban quản lý dự án chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật theo nhiệm vụ và quyền hạn được chủ đầu tư ủy quyền
b Trường hợp chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án, giám sát thi công xây dựng:
- Chủ đầu tư được quyền giao cho nhà thầu này thực hiện một hoặc một số trách nhiệm của chủ đầu tư trong quản lý chất lượng công trình xây dựng thông qua hợp đồng xây dựng Chủ đầu tư có trách nhiệm giám sát thực hiện hợp đồng xây dựng, xử lý các vấn
đề liên quan giữa nhà thầu tư vấn quản lý dự án, nhà thầu giám sát với các nhà thầu khác và với chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện dự án
- Các nhà thầu tư vấn quản lý dự án, nhà thầu giám sát chịu trách nhiệm trước chủ đầu
tư và pháp luật về trách nhiệm được giao
tư xây dựng
Hoạt động đầu tư xây dựng phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; đối với tiêu chuẩn được áp dụng theo nguyên tắc tự nguyện, trừ các tiêu chuẩn được viện dẫn trong quy chuẩn kỹ thuật hoặc văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; tiêu chuẩn áp dụng phải được người quyết định đầu tư xem xét, chấp thuận khi quyết định đầu tư; việc áp dụng tiêu chuẩn phải đảm bảo các yêu cầu:
- Phù hợp với yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định của pháp luật có liên quan;
- Bảo đảm tính đồng bộ, tính khả thi của hệ thống tiêu chuẩn được áp dụng;
Trang 3933
- Khi áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài, phải có bản thuyết minh về sự cần thiết phải áp dụng, phải có toàn văn tiêu chuẩn dưới dạng tệp tin hoặc bản in và phải có bản dịch tiếng Việt hoặc tiếng Anh cho phần nội dung sử dụng;
- Đối với các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, vật liệu mới chủ yếu của công trình lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam, phải đáp ứng yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật và quy định của pháp luật có liên quan Nhà thầu đề xuất áp dụng có trách nhiệm cung cấp các căn cứ, tài liệu chứng minh về điều kiện đảm bảo an toàn, hiệu quả và khả thi khi áp dụng để cơ quan có thẩm quyền thẩm định trong quá trình thẩm định thiết kế xây dựng công trình theo quy định của pháp luật về xây dựng
2.2.1.5 Phân loại công trình xây dựng
Căn cứ theo công năng sử dụng, công trình xây dựng được phân thành 06 loại: Công trình dân dụng; Công trình công nghiệp; Công trình giao thông; Công trình nông nghiệp và PTNT; Công trình hạ tầng kỹ thuật và Công trình quốc phòng, an ninh [3]
2.2.1.6 Phân cấp công trình xây dựng
Hiện nay, việc phân cấp công trình thực hiện theo Nghị định 46/2015/NĐ-CP và Thông tư 03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016, thay thế cho Điều 7, Phụ lục 1 Thông tư 10/2013/TT-BXD và Khoản 4; 6 Điều 1 Thông tư 09/2014/TT-BXD của Bộ Xây dựng, gồm có 05 cấp công trình là công trình cấp đặc biệt, công trình cấp I, cấp II, cấp III và cấp IV Công trình, hạng mục công trình được phân cấp căn cứ trên quy mô, loại kết cấu, tầm quan trọng để áp dụng trong quản lý các hoạt động đầu tư xây dựng như:
- Quản lý phân hạng năng lực của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng và công bố thông tin năng lực của các tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng công trình;
- Yêu cầu về cấp công trình phải lập chỉ dẫn kỹ thuật và xác định số bước thiết kế xây dựng công trình;
- Phân định trách nhiệm thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu trong quá trình thi công và khi hoàn thành công trình của cơ quan chuyên môn về xây dựng;
- Quản lý chi phí đầu tư xây dựng và hợp đồng xây dựng;
- Phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng;
- Quy định về thời gian bảo hành công trình xây dựng; quản lý công tác bảo trì công trình xây dựng;
Trang 402.2.2 Nội dung về quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình
Một dự án đầu tư xây dựng công trình được thực hiện qua ba giai đoạn là giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng Song song với ba giai đoạn trên thì về quản lý chất lượng công trình
xây dựng, Luật Xây dựng, Nghị định và các văn bản hướng dẫn tập trung giải quyết ba công tác chủ yếu là quản lý chất lượng cho công tác khảo sát, công tác thiết kế và công tác thi công xây dựng công trình Mặc dù công tác quản lý chi phí, quản lý đấu thầu và quản lý hợp đồng được quy định riêng bằng các Nghị định và Thông tư hướng dẫn, nhưng các công tác trên là một trong những điều kiện để góp phần cho công trình, dự
án đảm bảo chất lượng, đáp ứng yêu cầu về hiệu quả đầu tư, nhiệm vụ ban đầu của dự
án đề ra nếu ta quản lý tốt
2.2.2.1 Quản lý chất lượng công tác khảo sát xây dựng
a Các loại hình khảo sát xây dựng: Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 thì có 05 loại hình khảo sát xây dựng là Khảo sát địa hình; khảo sát địa chất công trình; khảo sát địa chất thủy văn; khảo sát hiện trạng công trình và công tác khảo sát khác phục vụ hoạt động đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư quyết định
b Các yêu cầu về công tác khảo sát xây dựng:
- Nhiệm vụ khảo sát, phương án kỹ thuật khảo sát phải phù hợp với loại, cấp công trình, loại hình khảo sát, bước thiết kế và yêu cầu của việc lập thiết kế;
- Phương án kỹ thuật khảo sát phải đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ khảo sát và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về khảo sát xây dựng được áp dụng;
- Công tác khảo sát phải tuân thủ phương án kỹ thuật khảo sát, bảo đảm an toàn, bảo
vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ khảo sát được duyệt và phải được kiểm tra, giám sát, nghiệm thu theo quy định;
- Kết quả khảo sát xây dựng phải được lập thành báo cáo, bảo đảm tính trung thực, khách quan, phản ánh đúng thực tế và phải được phê duyệt;