1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác giám sát chất lượng thi công công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh ninh thuận

101 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa truyền thống của cha ông, từ sau năm 1954 khi miền Bắc được giải phóng; Đảng, Nhà nước ta đã khôi phục nhanh chóng các hệ thống thủy lợi bị chiến tranh tàn phá, đẩy mạnh xây dựng

Trang 1

ii

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH ……… .v

DANH MỤC BẢNG BIỂU ……… vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… vii

MỞ ĐẦU……… …….1

1 Tính cấp thiết của đề tài……… …… 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu……… ………….2

5 Nội dung luận văn……… ………… 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH Ở NƯỚC TA VÀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN……… 4

1.1 Tổng quan về quản lý chất lượng ở nước ta và trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận… … 4

1.1.1 Tình hình quản lý chất lượng ở nước ta ……… … 4

1.1.2 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận… … 8

1.1 3 Những yếu tố khó khăn, thách thức đối với các dự án thủy lợi tại tỉnh……… …10

1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở Việt Nam… 13

1.2.1 Vai trò của ngành thủy lợi trong quá trình phát triển của đất nước………… ….13

1.2.2 Tình hình chất lượng xây dựng công trình thủy lợi hiện nay ở nước ta……… …15

1.3 Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng xây dựng công trình thủy lợi ở nước ta……… … 17

1.4 Những bất cập về vấn đề chất lượng xây dựng công trình thủy lợi ……… …….18

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình Thủy lợi………… .21

1.5.1 Nhóm nhân tố khách quan ………22

1.5.2 Nhóm nhân tố chủ quan ………23

Trang 2

iii

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG

TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI ……… …… 24

2.1 Khái niệm quản lý về chất lượng công trình ……… 25

2.1.1 Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình………24

2.1.2 Giám sát thi công công trình xây dựng……… 28

2.2 Các cơ sở pháp lý trong giám sát chất lượng xây dựng……… 33

2.2.1 Cơ sở pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn trong giám sát thi công………… ……… 33

2.2.2 Các mô hình giám sát chất lượng công trình……… ………….35

2.3 Một số phương pháp giám sát chất lượng công trình……… ………….40

2.3 1 Phương pháp quan sát…… ……… ………… 40

2.3 2 Phương pháp thực nghiệm ……… 41

2.3 3 Phương pháp kiểm tra bằng thí nghiệm ……… 42

2.4 Công tác giám sát chất lượng công trình ở một số quốc gia trên thế giới… …… 42

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI NINH THUẬN……… ……… 47

3.1 Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH MTV khai thác CTTL Ninh Thuận……47

3.1.1 Giới thiệu về Công ty 47

3.1.2 Chức năng của Công ty 49

3.1.3 Nhiệm vụ Công ty 49

3.1.4 Quyền hạn của Công ty 50

3.2 Thực trạng công tác giám sát các dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công và bộ máy giám sát tại Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình Thủy lợi Ninh Thuận .……… 52

3.2.1 Thực trạng công tác giám sát công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công……52

Trang 3

iv

3.2.2 Công tác lập kế hoạch của Công ty 55

3.2.3 Công tác triển khai thực hiện 57

3.2.3.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư 57

3.2.3.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư 58

3.2.3.3 Giai đoạn kết thức đầu tư 63

3.3 Đánh giá thực trạng về công tác giám sát chất lượng các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH một thành viên khai thác công trình Thủy Lợi Ninh Thuận ……… ……… 63

3.3.1 Những kết quả đạt được ……… ………63

3.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân…… ……… ……… 64

3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình trong giai đoạn thi công tại công ty TNHH MTV khai thác công trình Thủy lợi Ninh Thuận… ……… ……….67

3.4.1 Giải pháp về nhân lực:…….……… ……… 68

3.4.2 Giải pháp trang bị năng lực máy móc thiết bị và công nghệ… ……… 73

3.4.3 Xây dựng quy trình giám sát……… ………… 75

3.4.4 Giải pháp nâng cao chất lượng trong công tác lập kế hoạch 83

3.4.5 Giải pháp nâng cao công tác quản lý chất lượng trong quá trình thiết kế 83

3.4.6 Giải pháp nâng cao chất lượng trong công tác đấu thầu 84

3.4.7 Giải pháp nâng cao chất lượng trong công tác thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng 85

3.4.8 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác giám sát, nghiệm thu trong quá trình thực hiện dự án 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận ……… 90

2 Kiến nghị ……… 91

Trang 4

v

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Nạo vét Kênh Nam – Suối Gió, Hệ thống thủy lợi hồ Sông Sắt, huyện Bác

Ái, tỉnh Ninh Thuận……… ……… 9 Hình 3.2 Kiểm tra công trình, lập danh mục SCTX định kỳ hàng năm 55

Trang 5

vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các nhân tố tác động đến chất lượng công trình 21 Bảng 2.1 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng công trình………25 Bảng 3.1 Sơ đồ tổ chức của Công ty TNHH Một thành viên khai thác công trình Thủy Lợi Ninh Thuận……….48

Bảng 3.2 Hệ thống CTTL đang vận hành, khai thác tại Ninh Thuận……… 50

Bảng 3.3.Phân tích nguyên nhân của các hạn chế trong giai đoạn thi công………… 67

Bảng 3.4 Sơ đồ quy trình giám sát thi công………76

Trang 6

HTTCCL Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng KT-XH Kinh tế xã hội

NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, các công trình thủy lợi ngày càng được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Nhiều công trình lớn đòi hỏi kỹ thuật cao về thiết kế, đòi hỏi công nghệ thi công mới đã được sử dụng mà không cần sự trợ giúp từ nước ngoài Các công trình thủy lợi như hồ đập, kênh mương được xây dựng mới đã thấy rõ sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong vấn đề phục vụ nông nghiệp

Bên cạnh những kết quả to lớn đó, một vấn đề được tất cả các cấp, ngành quan tâm đó

là chất lượng thi công các công trình, đặc biệt là công tác giám sát chất lượng trong quá trình thi công xây dựng Công tác khảo sát, thiết kế kỹ thuật ngày nay đã được ứng dụng các phần mềm tính toán rất nhiều, có nhiều chương trình tính toán vừa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vừa mang tính thẩm mỹ cao Nhưng trong giai đoạn thi công, máy móc chỉ giải phóng được một phần công việc nặng nhọc, còn những công việc liên quan mật thiết đến chất lượng công trình, yếu tố con người vẫn đóng vai trò chủ chốt Giám sát thi công xây dựng là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng, công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng sẽ có nguy hại đến đời sống xã hội của mọi người, không ít công trình do không đảm bảo chất lượng đã sụt lún, vỡ đập gây nguy hiểm đến tính mạng con người, nhiều công trình có chất lượng không đảm bảo cũng gây mất mỹ quan giảm độ bền vững của công trình, gây lãng phí, tốn kém

Tăng cường công tác giám sát chất lượng thi công xây dựng đã và đang được Đảng và nhà nước quan tâm trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành Luật Xây dựng, chính phủ đã ban hành các Nghị định, các ban ngành đã có các thông tư hướng dẫn công tác giám sát chất lượng công trình xây dựng

Chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các đặc tính kỹ thuật của công trình xây dựng được xác định thông qua kiểm tra, đo đạc, thí nghiệm, kiểm định thỏa mãn các yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật, mỹ thuật của công trình và phù hợp với thiết

kế, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng, hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan

Trang 8

2

Trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cần thực hiện ở nhiều giai đoạn khác nhau: giai đoạn lập dự án đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc đầu tư Trong đó, quản lý chất lượng quá trình thi công công trình giữ một vị trí đặc biệt quan trong Công tác quản lý chất lượng công trình trong quá trình thi công liên quan đến nhiều chủ thể và cá nhân tham gia thực hiện dự án Một trong những chủ thể đó là trách nhiệm, năng lực của đơn vị tư vấn giám sát và TV giám sát trưởng Với mục đích tìm ra giải pháp để nâng cao công tác giám sát chất lượng các công trình trong giai đoạn thi công, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác giám sát chất lượng thi công công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận” sẽ phần nào làm

sáng tỏ thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và giải pháp của tư vấn giám sát nhằm góp phần nâng cao chất lượng công trình tại địa phương

2 Mục đích nghiên cứu

Từ thực trạng và dựa trên cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng thi công các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước của chủ đầu tư tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong thời gian vừa qua

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác giám sát chất lượng thi công công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước và những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của công tác này

b Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn được tập trung vào các hoạt động giám sát chất lượng thi công dự án, công tác tổ chức giám sát chất lượng thi công các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước của chủ đầu tư tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong thời gian vừa qua

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương pháp khảo sát; phương pháp thống kê, kinh nghiệm; phương

Trang 9

b Phân tích thực trạng công tác giám sát chất lượng thi công công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong thời gian vừa qua, đánh giá những kết quả đạt được cần phát huy, những vấn đề bất cập, tồn tại cần khắc phục, hoàn thiện;

c Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn công tác giám sát chất lượng thi công xây dựng, tuân thủ theo những quy định của hệ thống văn bản luật định hiện hành nhằm nâng cao công tác giám sát chất lượng thi công xây dựng cơ bản tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận

5 Nội dung luận văn

Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị gồm 3 chương như sau:

- Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý chất lượng công trình ở nước ta và trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

- Chương 2: Cơ sở khoa học và pháp lý trong công tác giám sát chất lượng thi công các công trình thủy lợi

Chương 3: Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH MTV khai thác công trình Thủy lợi Ninh Thuận

Trang 10

1.1.1.Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam

Nằm ở vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có lượng mưa và dòng chảy khá phong phú Lượng mưa bình quân hằng năm của

cả nước đạt gần 2000 mm Việt Nam có mật độ sông ngòi cao, có 2360 sông với chiều dài từ 10 km trở lên và hầu hết sông ngòi đều chảy ra biển Đông Tổng lượng dòng chảy bình quân vào khoảng 830 tỷ m3/năm, trong đó có 62% là từ lãnh thổ bên ngoài Phân bố mưa và dòng chảy trong năm không đều, 75% lượng mưa và dòng chảy tập trung vào 3 - 4 tháng mùa mưa Mùa mưa lại trùng với mùa bão nên luôn phải đối mặt với nhiều thiên tai về nước, đặc biệt là lũ lụt Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia có nền nông nghiệp lúa nước, dân số đông Tổng diện tích đất nông nghiệp luôn được khai phá mở mang thêm nhưng đến năm 2007 mới chỉ đạt 8,5 triệu ha trong khi dân số là 85,1triệu người, mức bình quân đầu người chỉ đạt 0,4ha Nếu tính riêng diện tích trồng lúa cả nước có 4 triệu ha thì bình quân một nông dân ở nhiều vùng chỉ có 300-400m2/người Đây là mức thấp nhất trong khu vực, đồng thời cũng là mức thấp nhất thế giới Để đảm bảo lương thực cho đất nước có số dân đông trong điều kiện thiên tai

ác liệt, từ xa xưa, tổ tiên người Việt đã phải sớm xây dựng các công trình khai thác, điều tiết nguồn nước, dẫn nước, sử dụng nước từ nhỏ, thô sơ, tạm bợ, thời vụ cho đến các công trình có quy mô lớn Kế thừa truyền thống của cha ông, từ sau năm 1954 khi miền Bắc được giải phóng; Đảng, Nhà nước ta đã khôi phục nhanh chóng các hệ thống thủy lợi bị chiến tranh tàn phá, đẩy mạnh xây dựng các công trình thủy lợi từ nhỏ đến lớn như hồ Cấm Sơn, Núi Cốc, hệ thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải, các hệ thống trạm bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định, Thái Bình… Năm 1975, sau khi nước nhà thống nhất với sự tăng cường của lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật miền Bắc, công việc quy hoạch và xây dựng các hệ thống thủy lợi đã nhanh chóng được triển khai mạnh mẽ

ở miền Trung và miền Nam, tạo ra bước đột phát về phát triển thủy lợi trong phạm vi

cả nước

Trang 11

5

Ở đồng bằng sông Cửu Long do có chủ trương kỹ thuật và bước đi thích hợp để cải tạo các vùng bị ngập lũ, chua phèn và xâm nhập mặn bằng các hệ thống kênh trục, kênh ngang, cống, đập, bờ bao… Nên đã tạo ra khả năng để chuyển vụ lúa mùa nổi năng suất thấp sang 2 vụ lúa đông xuân, hè thu có năng suất cao trên một vùng rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu….Ở miền Đông Nam Bộ, miền Trung, Tây Nguyên ngoài phát triển các hệ thống thủy lợi vừa và nhỏ đã xây dựng nhiều công trình hồ đập lớn như Dầu Tiếng, Kẻ Gỗ, Phú Ninh, Thạch Nham Đá Bàn, Sông Quao, Yaun, Krông Buk…Ở miền Bắc tiếp tục nâng cấp và làm mới các công trình tưới, tiêu úng và nâng cấp hệ thống đê điều

Thành quả chung của công tác thủy lợi đã đưa lại cho đất nước là rất to lớn và đã góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp và phòng chống thiên tai có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, và cải tạo môi trường Dưới đây là một số kết quả cụ thể:

Năm 1945 không kể ở đồng bằng sông Cửu Long, cả nước có 13 hệ thống thủy nông tập trung ở các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ, khu Bốn Cũ, duyên hải miền Trung, đập Thác Huống trên sông Cầu, đập Bái Thượng trên sông Chu, đập Đô Lương trên sông Cả, đập Đồng Cam trên sông Ba…Tổng năng lực tưới của các công trình đập lớn cùng với 13 hệ thống thủy nông nói trên đã đảm bảo tưới cho 324.900 ha, tiêu cho 77.000 ha Từ năm 1956 đến năm 2009, cả nước đã xây dựng được trên 500 hồ đập thủy nông loại lớn và vừa, trong đó có những đập cao như: Cấm Sơn cao 40,5 m chứa

338 triệu m3, Kẻ Gỗ cao 40 m chứa 425 triệu m3, Phú Ninh cao 38 m chứa 425 m3, Cửa Đạt cao 118 m chứa 1,5 tỷ m3, Dầu Tiếng cao 30 m chứa 1,45 tỷ m3 Tính đến cuối năm 2009, các hồ đập cùng các biện pháp công trình thủy lợi khác như trạm bơm, cống, kênh đã đảm bảo cho trên 7 triệu ha đất lúa được tưới, trong đó: vụ đông xuân 2,94 triệu ha, hè thu 2,3 triệu ha, vụ mùa 2,51 triệu ha Các công trình thuỷ lợi cũng đã tạo nguồn nước tưới cho 1,15 triệu ha; tiêu úng cho 1,8 triệu ha (trong đó 1,45 triệu ha đất ruộng trũng); ngăn mặn cho trên 800 nghìn ha ở ĐBSCL; cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha Thành quả trên đã góp phần tăng sản lượng lúa từ 16 triệu tấn năm 1986 lên 19,2 triệu tấn năm 1990; 24,9 triệu tấn năm 1995; 32,5 triệu tấn năm 2000 và 38,7 triệu tấn năm 2008, để đến năm 2009 khối lượng xuất khẩu gạo của nước ta đã đạt 5,8 triệu tấn Cùng với lúa, sản xuất ngô, các loại hoa mầu cây công nghiệp cũng phát triển

Trang 12

đê khu 4 cũ cũng luôn trong tình trạng không an toàn Từ 1956 đến nay, hệ thống đê sông luôn được củng cố Cùng với các giải pháp điều tiết hồ chứa khi có mùa lũ và chỉ đạo phòng chống lụt bão kịp thời, đã góp phần bảo vệ dân cư, mùa màng, hạn chế được nhiều thiệt hại bởi thiên tai Ở đồng bằng sông Cửu Long nơi thường xuyên bị ngập từ 1,2 - 1,6 triệu ha về mùa lũ và có đến 700 nghìn ha bị mặn xâm nhập Từ sau năm 1975 đã đắp hệ thống bờ bao ngăn lũ sớm, hạn chế xâm nhập mặn và nhiều công trình thoát lũ, hệ thống đê biển cũng từng bước được xây dựng ở nhiều địa phương, nhờ vậy đã bảo vệ được hầu hết diện tích gieo trồng lúa hè thu ở vùng lũ và lúa đông xuân ở vùng trũng không bị lũ sớm đe dọa và nước biển xâm nhập

Về cấp nước sinh hoạt, nước công nghiệp và nuôi trồng thủy sản: Các hệ thống thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm liên tục được phân bổ rộng khắp trên mọi vùng của đất nước đã góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư xung quanh công trình, nhiều hồ còn cấp nước sinh hoạt cho các điểm công nghiệp và đô thị như hồ Song Ray (Bà Rịa - Vũng Tàu), hồ Mỹ Tân (Ninh Thuận), Hòa Sơn (Khánh Hòa), cụm hồ Thủy Yên - Thủy Cam (Thừa Thiên Huế), Ngàn Trươi - Cẩm Trang (Hà Tĩnh), Bản Mòng (Sơn La), Ia Keo - Nà Cáy (Lạng Sơn) Nổi bật nhất là đã xây dựng được các công trình cấp nước cho 30 vạn đồng bào vùng cao đặc biệt là những vùng núi đá vôi như Trà Lĩnh, Hà Quảng, Lục Khu (Cao Bằng) Yên Ninh, Quảng Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang)… nhiều huyện vùng cao ở Lào Cai, Lai Châu, Sơn La Thuỷ lợi cũng cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, hàng vạn ha mặt nước của các ao hồ nuôi thủy sản đều dựa chủ yếu vào nguồn nước ngọt từ các hệ thống thủy lợi; đối với các vùng ven biển, phần lớn các công trình thủy lợi đều ít nhiều đóng góp vào việc tạo ra môi trường nước

lợ, nước mặn để nuôi tôm và một số loài thủy sản quý hiếm, tạo điều kiện cho việc

Trang 13

đi chân, 6 tháng đi tay” của người dân địa phương, đẩy lùi được căn bệnh đau mắt hột, bệnh chân voi của người dân nơi đây Về tác động của thủy lợi đối với môi trường: Trong những năm qua, thủy lợi đã góp phần quan trọng vào mở mang tài nguyên đất

và cải tạo môi trường đất Điều này có thể thấy rất rõ khi nghiên cứu về lịch sử phát triển của các đồng bằng đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long Tại đây, đã cho thấy thủy lợi đã có những đóng góp quan trọng để mở mang tài nguyên đất đai và cải tạo môi trường đất: Từ một cánh đồng phù sa lớn còn hoang sơ cách đây hơn 200 năm, sau khi nhà Nguyễn cho đào các kênh Rạch Rá - Hà Tiên, kênh Vĩnh Tế… đã có 520.000

ha đất hoang được khai phá, đưa vào trồng trọt, sau đó đưa tàu cuốc vào đào kênh thì diện tích đất đã được tăng lên nhanh chóng và đạt đến 1.170.000 ha (1890); 1.530.000

ha (1910), 1.930.000 ha (1920), 2.200.000 ha (1935) Các kênh khi mở ra đã là các điểm tựa làm nhà chống lũ, phân bổ lại dân cư để tiến sâu vào khai phá những vùng đất mới còn hoang hóa, tạo ra mạng lưới giao thông thủy thuận tiện cho phát triển kinh

tế, mở rộng giao lưu đời sống xã hội ở nông thôn nối các đô thị trong vùng Với đặc điểm địa hình trũng thấp, chế độ lũ, triều phức tạp ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm cho 1,6 triệu ha bị chua phèn, trên 80 vạn ha bị nhiễm mặn nhưng với các giải pháp làm kênh dẫn nước ngọt từ sông Tiền, sông Hậu vào để ém phèn rồi lại xổ phèn qua hệ thống kênh cống, đập đã cải tạo dần được vùng đất phèn rộng lớn ở Đồng Tháp Mười,

Tứ giác Long Xuyên… và với nhiều con đập và cống lớn nhỏ được xây dựng ở các

Trang 14

8

cửa sông để giữ ngọt, ngăn mặn xâm nhập và rửa mặn trên đồng ruộng đã cải tạo dần được hàng trăm ngàn ha đất bị nhiễm mặn, chua phèn Thủy lợi đã và đang cải tạo những vùng đất “chiêm khê mùa thối” chấm dứt được cảnh “sống ngâm da, chết ngâm xương” và các bệnh đau mắt hột ở các vùng chiêm trũng, tiêu thoát nước thải bẩn, nước gây ngập úng khi mưa và triều dâng cho nhiều đô thị

1.1.2 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

Ninh Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, phía bắc giáp Khánh Hoà, phía tây giáp Lâm Đồng, phía nam giáp Bình Thuận và phía đông giáp biển Đông Xung quanh được bao bọc 3 mặt là núi: phía Bắc và phía Nam tỉnh là 2 dãy núi cao nhô ra sát biển, phía Đông là vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng Địa hình có 3 dạng: miền núi, đồng bằng, vùng ven biển Tỉnh có 2 hệ thống sông chính: hệ thống sông Cái, bao gồm các sông nhánh như sông Sắt, sông Ông, sông La, sông Quao và hệ thống các sông suối nhỏ phân bố ở phía bắc và nam tỉnh như sông Trâu, sông Bà Râu

Ninh Thuận nằm trong khu vực có vùng khô hạn nhất nước, khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều và bốc hơi mạnh, không có mùa đông Nhiệt

độ trung bình năm 27ºC, lượng mưa trung bình 705mm và tăng dần theo độ cao lên đến 1.100mm ở vùng miền núi Một năm ở đây có 2 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Hệ thống CTTL ở Ninh Thuận gồm 20 hồ chứa; 03 đập dâng; hơn 300 km kênh chính cấp 1 và kênh cấp 2 Đảm bảo phục vụ tưới cho gần 70 ngàn héc ta lúa và hoa màu (03 vụ/năm) Đồng thời cấp nước cho nhu cầu dân sinh kinh tế trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Những năm qua, các CTTL trên địa bàn tỉnh được đầu tư, duy tu, sửa chữa Bước đầu đáp ứng được được yêu cầu phục vụ nước tưới cho ngành nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh kinh tế Tuy nhiên vẫn còn đó nhiều tồn tại, bất cập đó là

- Kinh phí đầu tư cho công tác duy tu, bảo dưỡng, SCTX hàng năm các CTTL thấp hơn nhiều so với mức xuống cấp của công trình Mặt khác các công trình thủy lợi đã đầu tư lâu năm, lại chịu tác động của thiên tai, thời tiết trong khi nguồn vốn duy tu, bảo dưỡng hàng năm còn hạn chế nên chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra;

Trang 15

9

Hình 1.1 Nạo vét Kênh Nam – Suối Gió, Hệ thống thủy lợi hồ Sông Sắt,

huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận

- Các hệ thống xử lý, vận hành CTTL còn thủ công, chưa được áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật do thiếu kinh phí Trong khi đó, việc đầu tư xây dựng các CTTL trên địa bàn tỉnh còn ít so với nhu cầu nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước chứ chưa có cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực xã hội đầu tư xây dựng CTTL;

- Tập quán canh tác nông nghiệp của người dân còn manh mún, nhỏ lẻ, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số của tỉnh Nên việc sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp còn lãng phí

- Định hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 của UBND tỉnh Ninh Thuận đã

cụ thể hóa nhiệm vụ ngành nông nghiệp đó là đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật

và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, nâng cao giá trị sử dụng đất; tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân 6-7%/năm; ổn định diện tích trồng lúa 17.000 – 18.000 ha, sản lượng hàng năm đạt 200.000 – 220.000 tấn; nâng cao chất lượng đàn

Trang 16

Tà Nôi, hồ Đa Mây (xã Phước Bình, huyện Bác Ái) Đầu tư xây dựng đập 19/5 mở rộng (Lâm Sơn), đập hạ lưu sông Dinh để ngăn mặn, giữ nguồn nước ngọt, làm thay đổi môi trường sinh thái và khai thác lợi thế khu vực hai bên bờ sông Dinh; đầu tư kiên cố hệ thống kênh mương, trong đó tập trung đầu tư kênh cấp I thuộc các hệ thống Nha Trinh - Lâm Cấm, Tân Giang và hệ thống kênh mương cấp II, III để phát huy hiệu quả các hồ chứa nước đã đầu tư (Nguồn http://www.ninhthuan.gov.vn)

- Hệ thống thủy lợi Tân Mỹ dung tích 219 triệu m3, hồ Sông Than, hồ Ô Căm, hồ Kiền Kiền; triển khai đầu tư hồ Tân giang II, hồ Tà Nôi, hồ Đa Mây (Phước Bình - Bác Ái),

hệ thống thủy lợi Tân Mỹ công suất 219 triệu m3đang triển khai thi công và 4 hồ chứa nước khác có dung tích gần 60 triệu m3

đã hoàn thành, tăng diện tích tưới cho 4.200

ha đất nông nghiệp Những năm qua, mặc dù đã được quan tâm đầu tư song hệ thống công trình thủy lợi vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại về chất lượng công trình, ảnh hưởng tới sản xuất như: hệ số tưới, tiêu thấp, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất Nhiều công trình thủy lợi cải tạo, nâng cấp và xây mới song số lượng công trình thủy lợi không khai thác được hết công suất thiết kế do chất lượng cũng không được bảo theo yêu cầu Công trình thủy lợi xây dựng phải đáp ứng tốt trong điều kiện như mưa bão

và nước dâng Tuy nhiên sau những mưa bão thì kè cống bị hư hỏng gây úng lụt cục

bộ cho sản xuất nông nghiệp và ngân sách Nhà nước phải bỏ ra sửa chữa, cải tạo lại

Có một thực trạng đối với công thủy lợi là cứ hết thời gian bảo hành công trình là công trình thủy lợi xuống cấp nhanh chóng và thậm chí phải xây dựng lại mới hoàn toàn Nhưng thực tế lại không có cơ quan quản lý Nhà nước đi điều tra và kiểm tra lại những sự cố đó do nguyên nhân nào gây ra Khi lập báo cáo cũng chỉ nói chung chung không cụ thể và chi tiết và nguyên nhân đưa ra hầu đưa ra là do điều kiện tư nhiên bất khả kháng

1.1.3 Những yếu tố khó khăn, thách thức đối với công tác thủy lợi tại tỉnh

Trang 17

11

- Yếu tố khách quan:

Diễn biến thời tiết khí tượng thủy văn có xu hướng ngày càng bất lợi, thiên tai, hạn hán xảy ra ngày càng khắc nghiệt, dẫn đến việc phá huỷ hệ thống, thay đổi yêu cầu phục vụ tưới tiêu của các công trình thuỷ lợi

Sự phát triển kinh tế xã hội đã làm cho các hệ thống công trình thủy lợi bị xâm hại, vùng tưới bị xâm chiếm, nhiều hệ thống thuỷ lợi bị thay đổi mục tiêu nhiệm vụ và

giảm sự chi phối Đồng thời, quá trình phát triển kinh tế xã hội địa phương cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước trong các hệ thống công trình thuỷ lợi

Các công trình thuỷ lợi phục vụ cho nền sản xuất nhỏ, ruộng đất manh mún, các cây trồng đa dạng, phân tán nên khó đáp ứng được yêu cầu tưới tiêu, cấp nước chủ động cho các loại cây trồng

Đầu tư ban đầu còn nhiều bất cập, nhiều công trình thuỷ lợi được xây dựng trong điều kiện nền kinh tế còn khó khăn, nguồn vốn hạn hẹp, suất đầu tư thấp, còn dàn trải, nên thường áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế ứng với tần suất đảm bảo của hệ thống công trình thủy lợi thấp Nhiều hệ thống được đầu tư chưa đồng bộ, chủ yếu tập trung xây dựng phần đầu mối, chưa chú trọng đầu tư hoàn chỉnh, khép kín hệ thống kênh mương dẫn nước và hệ thống thuỷ lợi nội đồng

Chưa có quy hoạch tổng thể hệ thống đê toàn tỉnh để làm cơ sở thực hiện hàng năm

- Yếu tố chủ quan:

Nhận thức: tại địa phương chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của công tác thuỷ lợi, chủ yếu quan tâm về xây dựng, ít quan tâm về công tác quản lý, coi nhẹ sự tham gia của người dân, dẫn đến tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi và cả người dân Yêu cầu sử dụng nước tiết kiệm chưa quan tâm đúng mức trong quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi

Cơ chế chính sách: Thiếu chính sách tạo động lực khuyến khích các tổ chức, cá nhân

sử dụng nước tiết kiệm, bảo vệ, tu bổ công trình thuỷ lợi, trò của người dân trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi chưa được quan tâm đúng mức

Trang 18

12

Nguồn vốn yêu cầu để đầu tư xây dựng đê rất lớn, nhất là đê và kè biển, hiện nay có một số vùng bị xói lở lớn như vùng đê Sông Dinh và kè biển Đông Hải uy hiếp đến đời sống dân cư nhưng thiếu nguồn vốn để thực hiện Quyền và trách nhiệm của các

tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi đối với đất đai thuộc phạm vi công trình thuỷ lợi do tổ chức đó quản lý chưa được quy định rõ ràng

Hướng dẫn quản lý tài chính cho các tổ chức hợp tác dùng nước chưa cụ thể nên việc giải ngân kinh phí của các tổ chức này còn nhiều khó khăn Điều này đã làm cho địa phương đặc biệt lúng túng trong hướng dẫn chế độ quản lý tài chính đối với kinh phí miễn thuỷ lợi phí cho các tổ chức hợp tác dùng nước, có nơi đã phát thuỷ lợi phí trực

tiếp cho nông dân

Về tổ chức quản lý: Mô hình tổ chức quản lý có nhiều biến động, chưa đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương (kể cả quản lý nhà nước và khai thác, vận hành công trình thuỷ lợi) Bộ máy tổ chức còn mỏng, đặc biệt là cán bộ quản lý nhà nước cấp huyện, năng lực chưa đáp ứng để làm tốt các nhiệm vụ theo quy định

Một số hệ thống thuỷ lợi chưa có tổ chức quản lý, khai thác phù hợp Phát huy hiệu quả của các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi chưa hết tiềm năng, trong khi

đó vai trò của người hưởng lợi chưa được đề cao Nhiều huyện chưa quan tâm, hoặc thiếu nhân lực để hướng dẫn, củng cố kiện toàn tổ chức thuỷ nông cơ sở

Các tuyến đê chưa có cơ chế tổ chức quản lý chuyên trách nên không được theo dõi, cập nhật diễn biến hư hỏng và không được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên, vì vậy công trình xây dựng mau xuống cấp

Khoa học công nghệ: việc nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành công trình thuỷ lợi chưa được quan tâm đúng mức Đầu tư trang thiết bị khoa học công nghệ trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi còn thấp, và hầu như không đáng kể Nhiều hệ thống đóng mở, vận hành cống còn chủ yếu bằng thủ công

Một bộ phận người dân còn chưa hiểu hết chính sách miễn thuỷ lợi phí và thiếu ý thức trong việc sử dụng tiết kiệm nước

Trang 19

Mặt khác, một số chủ đầu tư khi thẩm định dự án thường chỉ quan tâm đến dự toán công trình, tổng mức đầu tư mà chưa tham gia nhiều về mặt kỹ thuật của dự án dẫn tới chất lượng hồ sơ được duyệt không cao Còn trong qua trình thi công tồn tại những điểm nổi bật như: chủ đầu tư bị động về mặt bằng do không chuẩn bị toàn bộ mặt bằng trước khi thi công, tư vấn thiết kế khi gặp trường hợp cần xử lý kỹ thuật thường không kịp thời, lập hồ sơ xử lý kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ Và mặc dù tư vấn giám sát là khâu quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng công trình nhưng nhiều tư vấn giám sát không có chuyên môn phù hợp nên khó kiểm soát được chất lượng thi công của nhà thầu hay thiếu kiên quyết xử lý những vi phạm về chất lượng trong quá trình thực hiện dự án

Trong thời gian vừa qua vẫn còn một số nhà thầu chưa quan tâm đến biện pháp thi công, hệ thống quản lý chất lượng nội bộ, không bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, thậm chí khoán trắng cho đội thi công và tư vấn giám sát; cùng với việc cố tình giảm chất lượng công trình để tăng lợi nhuận, do đấu thầu hạ giá và lấy việc giảm chất lượng bù đắp chi phí là nguyên nhân dẫn đến chất lượng công trình không cao Bên cạnh đó, kinh phí bảo trì không đáp ứng được nhu cầu cũng làm cho công trình xuống cấp nhanh

1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở Việt Nam

1.2.1 Vai trò của ngành thủy lợi trong quá trình phát triển của đất nước

a, Những ảnh hưởng tích cực:

Nền kinh tế của đất nước ta là nền kinh tế nông nghiệp, độc canh lúa nước, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt

Trang 20

14

như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân

ta đặc biệt đối với sự phát triển của cây lúa, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước ta như:

Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất

Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng

vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2-2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4-2,7 lần Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ Trước đây do hệ thống thuỷ lợi ở nước ta chưa phát triển thì lúa chỉ có hai vụ trong một năm Do hệ thống thuỷ lợi phát triển hơn trước nên thu hoạch trên 1 ha đã đạt tới 60-80 triệu đồng, trong khi nếu trồng lúa 2 vụ chỉ đạt trên dưới 10 triệu đồng Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành thuỷ lợi có sự phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng tạo ra một lượng lúa xuất khẩu lớn và hiện nay nước ta đang đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo…Ngoài ra, nhờ có hệ thống thuỷ lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hoá

Tăng năng xuất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực

Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới

Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du lịch

Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết nhiều vấn

đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp Từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế và chính trị trong cả nước

Trang 21

15

- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất

Tóm lại thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh

tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc CNH-HĐH đất nước

Làm thay đổi điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn gây ảnh hưởng tới thượng, hạ lưu hệ thống, hoặc có thể gây bất lợi đối với môi trường đất, nước trong khu vực

Trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi cảnh quan khu vực, ảnh hưởng tới lịch sử văn hoá trong vùng

1.2.2 Tình hình chất lượng xây dựng công trình thủy lợi hiện nay

Công trình xây dựng là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, của doanh nghiệp của người dân dành cho xây dựng là rất lớn, chiếm từ 25 – 30% GDP

Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người Trong thời gian qua, cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thủy lợi… góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được

Trang 22

16

yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong dộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Thời gian qua, hàng loạt các công trình thủy điện tại Việt Nam gặp phải sự cố vỡ đập Như công trình thủy điện Đakrông

3 thuộc xã Tà Long, huyện Đak Rông, tỉnh Quảng Trị bị vỡ chỉ sau vỏn vẹn 15 ngày nghiệm thu Khi ấy người ta mới hay bên trong công trình hàng tỷ đồng lại chỉ toàn bê tông trộn đất và gỗ mục Đập thủy điện Sông tranh 2 xuất hiện một số dòng thấm chảy

về phía hạ lưu Công trình thủy điện Cửa Đạt bị vỡ đập ngay trong quá trình xây dựng Đập thủy điện Ia Krel 2 tại làng Bi, xã Ia Dom, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai cũng vỡ tung khi mới đưa vào sử dụng được hơn 1 tháng Con đập “kiên cố” của thủy điện Đăk Mek 3 với hơn 700m3 bê tông đổ sập chỉ sau một vụ va chạm với xe ben Theo Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, năm 2011 có trên 50.000 CTXD được triển khai trên cả nước, nhưng những bất cập trong phân cấp quản lý khiến các cơ quan chức năng chỉ có thể kiểm tra chất lượng được khoảng 10% số CTXD hàng năm Điều này có nghĩa rằng còn tới 90% CTXD trong số tổng số hơn 50.000 công trình triển khai chưa được “sờ” tới vấn đề chất lượng Theo các chuyên gia xây dựng, kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, vấn đề đảm bảo chất lượng xây dựng phải luôn gắn liền với đảm bảo an toàn thi công xây dựng Nhưng ở nước ta hiện nay, chưa có sự quản lý thống nhất trong lĩnh vực này Do đó, khi công trình xảy ra sự cố liên quan đến an toàn trong thi công, chất lượng có vấn đề thì việc phân định trách nhiệm xử lý vụ việc đối với các bên liên quan không rõ ràng Bản thân Luật Xây dựng cũng có khá nhiều điểm thiếu rõ ràng Đơn cử như khâu lựa chọn nhà thầu, cơ quan chủ quản không đủ thông tin để đánh giá năng lực, kinh nghiệm nhà thầu khi tham gia xây dựng các công trình Phương thức lựa chọn nhà thầu chưa phù hợp, nhất là quy định việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu căn cứ vào giá

dự thầu thấp nhất mà chưa coi trọng đến năng lực quản lý CLCTXD của Nhà thầu Lực lượng quản lý xây 14 dựng nói chung và quản lý CLCTXD nói riêng ở địa phương còn mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu Còn có sự chồng chéo và thiếu sự phối hợp trong thực hiện quản lý CLCTXD giữa tổ chức thanh tra và cơ quan quản lý nhà

Trang 23

17

nước Bên cạnh đó, năng lực của chủ đầu tư cũng bị xem nhẹ Quy định về chủ đầu tư cũng vậy, dù không đảm bảo năng lực vẫn được giao làm chủ đầu tư CTXD, tất sẽ dẫn đến công tác quản lý dự án, quản lý chất lượng không đảm bảo Muốn công tác kiểm tra, giám sát CLCTXD có hiệu lực, hiệu quả phải phân giao trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng cho các đơn vị chức năng ở các cấp Bên cạnh đó, chế tài chưa đủ mạnh, chưa mang tính răn đe, phòng ngừa cao và chưa xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm

về CLCTXD nên chưa đảm bảo tính khả thi trong việc tuân thủ và đưa các quy định về quản lý CLCTXD vào nề nếp Đó chính là những vấn đề mà Luật Xây dựng và các văn bản, nghị định ban hành kèm theo quy định chưa cụ thể hoặc chưa đáp ứng được Một mặt khác cũng đáng bàn, với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của Nhà nước, và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, giám sát, thiết kế tăng rất nhanh lên đến hàng nghìn đơn vị Bên cạnh một số đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống, lâu năm, có đủ năng lực, trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát, thiết kế năng lực còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ

1.3 Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng xây dựng công trình thủy lợi ở nước ta

Công tác nâng cao chất lượng xây dựng các công trình thủy lợi ở nước ta rất được chú

trọng, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, các đơn vị quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đã tích cực tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật đến các chủ thể tham gia đầu tư xây dựng công trình; hướng dẫn quy trình quản lý chất lượng lập dự án, khảo sát, thiết kế cho các chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các tổ chức cá nhân liên quan tham khảo áp dụng Các đơn vị tư vấn chỉ thực hiện các công việc phù hợp với điều kiện năng lực của cấp có thẩm quyền cho phép, chỉ giao việc chủ trì khảo sát, thiết kế cho cá nhân có chứng chỉ hành nghề và năng lực phù hợp với công việc theo quy định của pháp luật; kiện toàn

bộ máy, tăng cường, bổ sung cán bộ chuyên môn, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm tư vấn và đặc biệt là giáo dục ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác tư vấn giám sát Cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành nhiều Quy chuẩn, tiêu chuẩn, yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng các bên tham gia vào

Trang 24

Về phía chủ đầu tư, Ban quản lý dự án thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện quản lý dự án đầu tư xây dựng Tổ chức quản lý dự án đầu

tư xây dựng đảm bảo yêu cầu về tiến độ, chất lượng, chi phí, an toàn và bảo vệ môi trường trong xây dựng Nêu cao vai trò trách nhiệm, quản lý chặt chẽ ngay từ khâu lập

dự án, khảo sát thiết kế, cho đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng Lựa chọn nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây lắp có đủ năng lực theo quy định (thiết bị, máy móc, nhân sự, số năm kinh nghiệm, sản phẩm cùng loại đã thực hiện) ngoài ra phải có kinh nghiệm, uy tín, có trách nhiệm Chỉ được khởi công khi có đủ điều kiện theo quy định Luật Xây dựng Các đơn vị quản lý công trình xây dựng chuyên nghành luôn nâng cao năng lực của các phòng, ban chuyên môn có chức năng quản lý hoạt động xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng Hàng năm xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra chất lượng công trình trong lĩnh vực mình quản lý Ngoài ra trình độ của các kỹ sư trẻ ngày càng được nâng cao, ý thức về chất lượng công trình được xem xét nghiêm túc, công nghệ thi công ngày càng hiện đại, ứng dụng những công nghệ mới trên thế giới để thi công, nâng cao hiệu quả chất lượng các công trình

1.4 Những bất cập về vấn đề chất lượng xây dựng công trình thủy lợi

Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và

mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế Bên

Trang 25

cơ bản trong đó là:

- Chất lượng công trình xây dựng chưa được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng

về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, chất lượng khảo sát, chất lượng thiết kế

- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình Tuy nhiên, do nhiều yếu tố về giá cả, tiến độ, trách nhiệm, ý thức thức của các nhà thầu, của cán bộ giám sát mà chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện đưa vào công trình xây dựng còn có nhiều sai phạm

- Các tiêu chuẩn kỹ thuật thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị, quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công Tuy nhiên việc thí nghiệm, kiểm định chưa thật sự nghiêm túc và còn có yếu tố tác động dẫn đến các kết quả thí nghiệm, kiểm định không chính xác

- Về tiến độ xây dựng các công trình hiện nay, do nhiều yếu tố khách quan như biến động về giá cả nguyên vật liệu, các cơ chế chính sách thay đổi, hoặc các yếu tố chủ quan như yếu kém về khâu khảo sát thiết kế, yếu về khả năng thi công mà vẫn còn tồn tại nhiều công trình chưa hoàn thành đúng tiến độ đề ra, hoặc do bị ép tiến độ mà nhiều công trình không đảm bảo về chất lượng

Trang 26

20

- Một số công trình sau khi thi công xong, bàn giao sử dụng cho đơn vị quản lý, sau một thời gian ngắn đưa vào sử dụng, công trình đã xuống cấp, sụt lún, nứt nẻ…không đảm bảo an toàn nếu tiếp tục khai thác sử dụng Điều này vừa gây thiệt hại lớn về kinh

tế, vừa nguy hiểm cho đơn vị quản lý cũng như nhân dân gần khu vực có dự án

- Trang thiết bị hầu hết đã cũ, chắp vá không thể sản xuất được những sản phẩm yêu cầu độ chính xác cao, không thể đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước Có đến 70% thiết bị máy móc thuộc thế hệ những năm 60- 70, trong đó có hơn 60% đã hết khấu hao, gần 50% máy móc cũ được tân trang lại để dùng, việc thay thế chỉ đơn lẻ từng bộ phận, chắp vá thiếu đồng bộ Tình trạng máy móc có tuổi thọ trung bình trên 20 năm chiếm khoảng 38% và dưới 5 năm chỉ chiếm

có 27% Do đầu tư thiếu đồng bộ nên nhiều doanh nghiệp tham gia dự án gặp rất nhiều khó khăn về phụ tùng thay thế, suất tiêu hao vật liệu, nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm còn quá lớn, nhiều tiêu chuẩn định mức đã lỗi thời không còn phù hợp nhưng chưa sửa đổi Máy móc thiết bị cũ làm cho số giờ máy chết cao…Những điều này chính là nguyên nhân làm cho chất lượng nhiều công trình chưa cao

Trang 27

21

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình Thủy lợi

Cũng như các lĩnh vực khác của sản xuất kinh doanh và dịch vụ, chất lượng và công tác quản lý CLCTXD ngành Thủy lợi nói riêng có nhiều nhân tố ảnh hưởng Có thể phân loại các nhân tố đó theo nhiều tiêu chí khác nhau Nhưng trong nội dung của luận văn này chỉ đề cập tới việc phân loại các yếu tố ảnh hưởng theo tiêu chí chủ quan và khách quan

Bảng 1.1 Các nhân tố tác động đến chất lượng công trình

Trang 28

22

1.5.1 Nhóm nhân t ố khách quan

Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ: chất lượng của sản phẩm xây dựng không thể vượt qua giới hạn khả năng của trình độ tiến bộ khoa học – công nghệ của một giai đoạn lịch sử nhất định Chất lượng sản phẩm xây dựng trước hết phụ thuộc vào trình

độ kỹ thuật và công nghệ để tạo ra nó Đây là giới hạn cao nhất mà chất lượng sản

phẩm xây dựng có thể đạt được Tiến bộ khoa học – Công nghệ cao tạo ra khái niệm không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng Tác động của tiến bộ khoa học công nghệ

là không có giới hạn, nhờ đó mà sản phẩm xây dựng ngày càng hoàn thiện và nâng cao hơn Tiến bộ khoa học – công nghệ tạo phương tiện điều tra, nghiên cứu khoa học chính xác hơn, trang bị những phương tiện đo lường, dự báo, thí nghiệm, thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn Công nghệ, thiết bị mới ứng dụng trong thiết kế và thi công giúp nâng cao các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của CTXD Nhờ tiến bộ khoa học – công nghệ làm xuất hiện các nguồn nguyên liệu mới tốt hơn, rẻ hơn nguồn nguyên liệu sẵn có Khoa học quả lý phát triển hình thành những phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn các rủi ro về chất lượng công trình, giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng

- Cơ chế chính sách quản lý của nhà nước: Chính sách của nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thúc đẩy cải tiến, nâng cao chất lượng của công trình xây

dựng Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh

nhất định, trong đó môi trường pháp lý với những chính sách và cơ chế quản lý có tác động trực tiếp và to lớn đến việc tạo ra và nâng cao chất lượng công trình xây dựng, pháp chế hoá quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia đầu tư xây dựng công trình

Nó cũng tạo ra sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng công trình thông qua các cơ chế khuyến khích cạnh tranh, bắt buộc các doanh nghiệp phải nâng cao tính tự chủ sáng tạo trong cải tiến chất lượng

Trang 29

23

- Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều như Việt Nam Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét…ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thi công xây dựng, các nguyên vật liệu dự trữ tại các kho bãi Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả

vận hành các thiết bị, máy móc, đặc biệt đối với các thiết bị, máy móc hoạt động ngoài

trời Yếu tố địa chất công trình: nếu như địa chất phức tạp, ảnh hưởng tới công tác

khảo sát dẫn đến nhà thầu, chủ đầu tư, thiết kế phải bàn bạc lại, mất thời gian do thay đổi, xử lý các phương án nền móng công trình > ảnh hưởng đến tiến độ chung của công trình Đối với các công trình yêu cầu tiến độ thì đây là một điều bất lợi Bởi lẽ công việc xử lý nền móng phải tốn một thời gian dài

- Tình hình thị trường: Nói đến thị trường là đề cập tới các yếu tố: Cung, cầu, giá cả, quy mô thị trường, cạnh tranh…Chất lượng sản phẩm xây dựng cũng gắn liền với sự

vận động và biến đổi của thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường, tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược đầu tư xây

dựng để có thể đưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu thụ ở những thời điểm nhất định Thông thường, khi mức

sống xã hội còn thấp, người ta quan tâm nhiều đến giá thành sản phẩm Nhưng khi đời

sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăng theo Đôi khi họ chấp nhận mua sản phẩm với giá cao tới rất cao để có thể thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình

1.5.2 Nhóm nhân t ố chủ quan

Là nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên trong các doanh nghiệp tham gia hoạt động xây dựng, mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được Nó gắn liền với điều kiện của doanh nghiệp như: lao động, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, trình độ quản lý…Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp

Trang 30

sắc toàn diện đến hình thành chất lượng sản phẩm tạo ra Chất lượng không chỉ thoả mãn nhu cầu của khách hàng bên ngoài mà còn phải thoả mãn nhu cầu của khách hàng bên trong doanh nghiệp Hình thành và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu về thực hiện mục tiêu chất lượng là một trong những nội dung cơ bản của

quản lý chất lượng trong giai đoạn hiện nay

- Trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp: Các yếu tố sản xuất như nguyên vật

liệu, máy móc thiết bị, lao động…, dù có ở trình độ cao song không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có thể

tạo ra những sản phẩm có chất lượng Không những thế, nhiều khi nó còn gây thất thoát lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu…, của doanh nghiệp

Do đó, công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạt động có hiệu quả thì cần phải có năng lực quản lý Điều này gắn liền với trình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý về chất lượng, chính sách chất lượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhằm xác định được mục tiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện cải tiến

Kết luận chương 1

Trong chương 1 này, học viên nêu lên tình hình phát triển của ngành Thủy lợi của Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Thuận nói riêng Trong đó nói rõ vai trò của ngành thủy lợi, chất lượng các công trình thủy lợi hiện nay ở nước ta, đồng thời, nêu ra những yếu

tố có ảnh hưởng đến chất lượng công trình thủy lợi Những vấn đề này là tổng quan tình hình công trình thủy lợi hiện nay ở Việt Nam, để từ đó nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các công trình Thủy lợi hiện nay

Trang 31

25

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ TRONG CÔNG TÁC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRÊN TỈNH NINH THUẬN

2.1 Khái niệm quản lý chất lượng công trình

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu, các

tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình xây dựng

Theo Nghị định 46/2015 NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng xuyên suốt các giai đoạn từ khảo sát, thiết kế đến thi công và khai thác công trình

Hoạt động xây dựng Hoạt động quản lý chất lượng

-Giám sát của Chủ đầu tư

-Tiêu chuẩn xây dựng

-Thẩm tra thiết kế

-Giám sát Chủ đầu tư

-Giám sát tác giả TVTK

-Giám sát cộng đồng

- Bảo trì công trình Bảng 2.1 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng công trình

Trang 32

26

Hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát của Chủ đầu tư và các chủ thể khác Nội dung công tác giám và tự giám sát của các chủ thể thay đổi tuỳ theo nội dung của hoạt động xây dựng mà nó phục vụ Có thể tóm tắt về nội dung và chủ thể giám sát theo các giai đoạn của dự án xây dựng là:

Trong giai đoạn khảo sát ngoài sự giám sát của Chủ đầu tư, nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát;

Trong giai đoạn thiết kế, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng thiết kế xây dựng công trình Chủ đầu tư nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình có các hoạt động quản lý chất lượng và

tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công xây dựng công trình và nghiệm thu công trình xây dựng của Chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình;

Trong giai đoạn bảo hành Chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình

có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa chữa, thay thế; giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa đó

Ngoài ra còn có giám sát cuả nhân dân về chất lượng công trình xây dựng Có thể thấy rất rõ là quản lý chất lượng rất được coi trọng trong giai đoạn thi công xây dựng công trình

2.1.1 Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng

Chất lượng công trình là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó để quản lý được chất lượng công trình thì phải kiểm soát, quản lý được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình, bao gồm: con người, vật tư, biện pháp kỹ thuật và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến Bên cạnh đó quản lý chất lượng còn gắn liền với từng giai đoạn của hoạt động xây dựng và mỗi giai đoạn lại có những biện pháp riêng, đặc thù nhằm nâng cao chất lượng công trình xây dựng Trong phạm vi nghiện cứu của đề tài học viên chỉ đưa ra các biện pháp kiểm soát, quản lý nhằm nâng cao chất lượng giám sát công trình

trong giai đoạn thi công công trình xây dựng Cụ thể các yếu tố như sau:

V ề con người: Để quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công tốt thì nhân

tố con người là hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình Cán

Trang 33

27

bộ phải là những kiến trúc sư, kỹ sư chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm trong công tác, có phẩm chất, đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm cao Phải là những người có tay nghề cao, có chuyên ngành, có sức khỏe tốt và có ý thức trách nhiệm cao, đều là kiến trúc sư, kỹ sư được đào tạo cơ bản qua các trường lớp Nếu kiểm soát tốt chất lượng đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư thì sẽ kiểm soát được chất lượng thi công công trình Nội dung về quản lý nguồn nhân lực gồm có:

- Nguồn nhân lực phải có năng lực dựa trên cơ sở được giáo dục, đào tạo, có kỹ năng

- Lưu giữ hồ sơ thích hợp về trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn, hiệu quả làm việc của mỗi người lao động Sau này sẽ dựa vào đó để xem xét lựa chọn người được

cử đi học chuyên tu nâng cao chuyên môn, tay nghề

- Cơ quan cần có chính sách đãi ngộ hợp lý cho các bộ cán bộ, nhân viên để có thể khuyến khích họ làm việc hăng say và có trách nhiệm trong công việc Việc khuyến khích phải tuân theo nguyên tắc: + Gắn quyền lợi với chất lượng công việc Lấy chất lượng làm tiêu chuẩn đánh giá trong việc trả lương, thưởng và các quyền lợi khác + Kết hợp giữa khuyến khích vật chất và khuyến khích tinh thần Thiên lệch về một phía thì sẽ dễ gây ra tác động ngược lại

- Ngoài ra, cơ quan cần lập kế hoạch cụ thể cho việc tuyển dụng lao động để đảm bảo

về số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động để tránh tình trạng thừa lao động nhưng lại thiếu lao động có chuyên môn cao Kế hoạch tuyển dụng có thể tiến hành hàng năm hoặc 5 năm 1 lần, tùy theo nhu cầu của cơ quan, và tính chất công việc Việc tuyển dụng cần được thực hiện như sau:

Trang 34

28

+ Lập hồ sơ chức năng: nêu rõ những yêu cầu, tính chất công việc cần tuyển dụng + Dự kiến trước nội dung thi và cách thức tổ chức, đánh giá và tuyển chọn

V ề phương pháp: Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng

là một trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy mạnh tốc độ cải tiến, hoàn thiện chất lượng công trình Một doanh nghiệp là hệ thống trong đó có sự phối hợp đồng bộ thống nhất giữa các bộ phận chức năng Chất lượng đạt được dựa trên cơ sở giảm chi phí, nó phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức quản lý của mỗi doanh nghiệp Chất lượng từ hoạt động quản lý phản ánh chất lượng hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy hoàn thiện chất lượng quản lý là nâng cao chất lượng của sản phẩm cả về chỉ tiêu kinh

tế lẫn kỹ thuật

V ề máy móc, thiết bị và công nghệ: Trước khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh

doanh thì doanh nghiệp cần phải có đầy đủ máy móc, thiết bị và công nghệ phù hợp với lĩnh vực kinh doanh của mình Trình độ hiện đại của công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm Cơ cấu công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp và khả năng bố trí phối hợp máy móc thiết bị, phương tiện sản xuất ảnh hưởng lớn đến chất lượng các hoạt động, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, trình độ và cơ cấu công nghệ quyết định đến chất lượng sản phẩm tạo ra Công nghệ lạc hậu khó có thể tạo ra sản phẩm chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu của khách hàng cả về mặt kinh tế và các chỉ tiêu kỹ thuật Quản lý máy móc thiết bị tốt, xác định đúng phương hướng đầu tư phát triển về lĩnh vực hoạt động hoặc cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm trên cơ sở tận dụng công nghệ hiện có với đầu tư đổi mới là biện pháp quan trọng nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Khả năng đổi mới công nghệ lại phụ thuộc vào tình hình máy móc, thiết bị hiện có, khả năng tài chính và huy động vốn của các doanh nghiệp Sử dụng tiết kiệm hiệu quả thiết bị hiện

có, kết hợp giữa công nghệ hiện có với đổi mới công nghệ, bổ sung máy móc thiết bị mới là một trong những hướng quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm

2.1.2 G iám sát thi công xây dựng công trình

Công tác giám sát thi công xây dựng công trình là một hoạt động nằm trong một chuỗi các hoạt động khác của quá trình thực hiện dự án xây dựng công trình như: lập qui

Trang 35

29

hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lí dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu và các hoạt động khác để bảo đảm công trình được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng như trong hợp đồng và bản vẽ thiết kế giữa nhà thầu và chủ đầu tư

- Tổ chức hoặc cá nhân hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình cũng được qui định thành chức danh có các chức năng, nhiệm vụ với các tiêu chuẩn như trình độ học vấn, thâm niên công việc, kinh nghiệm nghề nghiệp, chứng chỉ hành nghề theo quy định

- Mục đích của hoạt động giám sát thi công nhằm xác nhận cho công trình bảo đảm đúng thiết kế, theo qui chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, chất lượng để đưa vào nghiệm thu Như vậy mọi công trình xây dựng trong quá trình thi công phải được thực hiện chế độ giám sát

- Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết với đất, được xây dựng theo thiết kế Với đặc thù trên thì việc thi công công trình xây dựng không chỉ phụ thuộc điều kiện tự nhiên mà còn tuỳ thuộc vào trình độ và sức lao động của con người, vào đặc điểm các loại vật liệu, các loại thiết bị xây dựng Điều này đòi hỏi người giám sát thi công không chỉ nắm vững kĩ thuật xây dựng mà còn cần có kinh nghiệm về giám sát thi công, có nghiệp vụ và sức khoẻ mới có thể theo kịp mọi diễn biến trong qúa trình thi công

a Nội dung cơ bản của hoạt động giám sát chất lượng thi công xây dựng

Chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các đặc tính kỹ thuật của công trình xây dựng được xác định thông qua kiểm tra, đo đạc, thí nghiệm, kiểm định thỏa mãn các yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật, mỹ thuật của công trình và phù hợp với thiết

kế, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng, hợp đồng xây dựng và quy định của pháp luật có liên quan

Trang 36

30

Trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cần thực hiện ở nhiều giai đoạn khác nhau: giai đoạn lập dự án đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn kết thúc đầu tư Trong đó, quản lý chất lượng quá trình thi công công trình giữ một vị trí đặc biệt quan trong Công tác quản lý chất lượng công trình trong quá trình thi công liên quan đến nhiều chủ thể và cá nhân tham gia thực hiện dự án Một trong những chủ thể đó là trách nhiệm, năng lực của đơn vị tư vấn giám sát và TV giám sát trưởng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả chỉ đưa ra các biện pháp kiểm soát, quản lý nhằm nâng cao giám sát chất lượng thi công xây dựng Nội dung cụ thể như sau:

- Giám sát chính lập kế hoạch công việc và phân công nhiệm vụ cho từng giám sát viên

- Giám sát thi công cùng Chủ đầu tư và các nhà thầu thống nhất:

Biện pháp thi công; Tiến độ thi công; Vật liệu đầu vào và các điều kiện để thực hiện từng công việc cụ thể

- Các cán bộ Giám sát tiến hành công việc giám sát theo kế hoạch: Kiểm tra các điều kiện khởi công công trình xây dựng theo quy định tại Điều 107 của Luật Xây dựng;

- Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình với hồ sơ

dự thầu và hợp đồng xây dựng, bao gồm:

Kiểm tra về nhân lực, thiết bị thi công của nhà thầu thi công xây dựng công trình đưa vào công trường;

Kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng công trình; Kiểm tra giấy phép sử dụng các máy móc, thiết bị, vật tư có yêu cầu an toàn phục vụ thi công xây dựng công trình;

Kiểm tra phòng thí nghiệm và các cơ sở sản xuất vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng phục vụ thi công xây dựng của nhà thầu thi công xây dựng công trình

- Kiểm tra và giám sát chất lượng vật tư, vật liệu và thiết bị lắp đặt vào công trình do nhà thầu thi công xây dựng công trình cung cấp theo yêu cầu của thiết kế, bao gồm: Kiểm tra giấy chứng nhận chất lượng của nhà sản xuất, kết quả thí nghiệm của các phòng thí nghiệm hợp chuẩn và kết quả kiểm định chất lượng thiết bị của các tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận đối với vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình trước khi đưa vào xây dựng công trình;

Trang 37

31

Khi nghi ngờ các kết quả kiểm tra chất lượng vật liệu, thiết bị lắp đặt vào công trình do nhà thầu thi công xây dựng cung cấp thì Chủ đầu tư thực hiện kiểm tra trực tiếp vật tư, vật liệu và thiết bị lắp đặt vào công trình xây dựng

- Kiểm tra và giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình, bao gồm:

Kiểm tra biện pháp thi công của nhà thầu thi công xây dựng công trình;

Kiểm tra và giám sát thường xuyên có hệ thống quá trình nhà thầu thi công xây dựng công trình triển khai các công việc tại hiện trường Kết quả kiểm tra đều phải ghi nhật

ký giám sát của Chủ đầu tư hoặc biên bản kiểm tra theo quy định;

Xác nhận bản vẽ hoàn công;

Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng theo quy định

Tập hợp, kiểm tra tài liệu phục vụ nghiệm thu công việc xây dựng, bộ phận công trình, giai đoạn thi công xây dựng, nghiệm thu thiết bị, nghiệm thu hoàn thành từng hạng mục công trình xây dựng và hoàn thành công trình xây dựng;

Phát hiện sai sót, bất hợp lý về thiết kế để điều chỉnh hoặc yêu cầu nhà thầu thiết kế điều chỉnh;

Tổ chức kiểm định lại chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công trình và công trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng;

Chủ trì, phối hợp với các bên liên quan giải quyết những vướng mắc, phát sinh trong thi công xây dựng công trình

- Chủ đầu tư, Nhà thầu thi công, giám sát và các thành phần khác tiến hành nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng theo Biên bản bàn giao đưa công trình vào sử dụng

b Nhiệm vụ của giám sát bảo đảm chất lượng công trình xây dựng

Công tác giám sát thi công phải chấp hành các qui định của thiết kế công trình đã được phê duyệt, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các cam kết về chất lượng theo hợp đồng giao nhận Nếu các cơ quan tư vấn và thiết kế làm tốt khâu hồ sơ mời thầu thì các điều kiện

kỹ thuật trong hồ sơ mời thầu là cơ sở để giám sát kỹ thuật

Trong giai đoạn chuẩn bị thi công: cán bộ giám sát phải kiểm tra vật tư, vật liệu đem

về công trường Mọi vật tư, vật liệu không đúng tính năng sử dụng, phải đưa ra khỏi phạm vị công trường và không được phép lưu giữ trên công trường Những thiết bị không phù hợp với công nghệ và chưa qua kiểm định không được đưa vào sử dụng hay

Trang 38

Quan hệ giữa các bên trong công trường: Giám sát bảo đảm chất lượng trong công tác hoàn thiện và an toàn cho công trình nằm trong nhiệm vụ chung của giám sát bảo đảm chất lượng công trình là nhiệm vụ của bên Chủ đầu tư Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chủ nhiệm dự án đại diện cho Chủ đầu tư có các cán bộ giám sát chất lượng công trình Những người này giúp Chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ này Thông thường chỉ có người chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng xây lắp nói chung

Phối hợp tiến độ là nhiệm vụ trước hết của chủ nhiệm dự án mà người đề xuất chính là giám sát bảo đảm chất lượng Trước hết bắt đầu tiền hành các công tác xây lắp cần lập tổng tiến độ Tổng tiến độ chỉ cần vạch ra những việc thuộc tổng tiến độ cho biết vào thời gian nào công tác nào phải bắt đầu để các thành viên tham gia xây lắp và cung ứng lập ra bảng tiến độ thi công cho đơn vị mình trong đó hết sức chú ý đến sự phối hợp đồng bộ tạo diện thi công cho đơn vị bạn

Chủ trì thông qua biện pháp thi công và biện pháp đảm bảo chất lượng: Trước khi khởi công, Chủ nhiệm dự án và tư vấn giám sát chất lượng cần thông qua biện pháp xây dựng tổng thể của công trình như phương pháp đào đất nói chúng, phương pháp xây dựng phần thân nói chung, giải pháp chung về vận chuyển theo phương đứng, giải pháp an toàn lao động chung, biện pháp thi công các công tác hoàn thiện, công tác lắp

Trang 39

Trong giai đoạn hoàn thành xây dựng công trình: Tổ chức giám sát của Chủ đầu tư phải kiểm tra, tập hợp toàn bộ hồ sơ pháp lý và tài liệu về quản lý chất lượng Lập danh mục hồ sơ, tài liệu hoàn thành công trình xây dựng Khi kiểm tra thấy công trình đảm bảo chất lượng, phù hợp yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn về nghiệm thu công trình, Chủ đầu tư tổ chức tổng nghiệm thu lập thành biên bản Biên bản tổng nghiệm thu là

cơ sở pháp lý để bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng và là cơ sở để quyết toán công trình

2.2 Các cơ sở pháp lý trong giám sát chất lượng xây dựng

2.2.1 Cơ sở pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn trong giám sát thi công:

- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 01 tháng 7 năm 2014:

Luật Xây dựng 2014, quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức,

cá nhân; về quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam

đã được siết chặt hơn, quy định rõ ràng, cụ thể hơn Qua các nội dung mới của Luật Xây dựng cũng thể hiện quan điểm của Quốc hội trong việc quản lý chặt chẽ hơn nữa đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, khắc phục lãng phí thất thoát, nâng cao chất lượng công trình

- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng:

Nghị định này hướng dẫn Luật Xây dựng về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng; bảo trì công trình xây dựng và giải quyết sự cố công trình xây dựng Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm: người

Trang 40

34

quyết định đầu tư, chủ đầu tư, chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng công trình, nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài, các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến công tác quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng

- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về Quản lý dự án đầu tư xây dựng Chính phủ:

Nghị định quy định cụ thể về phân loại dự án đầu tư Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình, gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự

án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật

về đầu tư công Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế

- kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm: Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất) Ngoài ra Nghị định cũng nêu rõ thiết kế xây dựng gồm các bước như thiết kế sơ bộ, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và các bước thiết kế khác theo thông lệ quốc tế do người quyết định đầu tư quyết định khi quyết định dầu tư dự án

- Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về hình thức tổ chức quản

lý dự án đầu tư xây dựng

- Hồ sơ thiết kế;

- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4118: 2012 Công trình Thuỷ lợi – Hệ thống tưới tiêu – Yêu cầu thiết kế;

- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8305: 2009 Công trình Thuỷ lợi – Kênh đất –Yêu cầu

kỹ thuật trong thi công và nghiệm thu;

- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 04-05: 2012/BNNPTNT Công trình thuỷ lợi – Các qui định chủ yếu về thiết kế;

- Các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, thi công khác

+ Quy định về lựa chọn và áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật trong khảo sát, thiết

kế và thi công xây dựng công trình;

Ngày đăng: 30/04/2019, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[20]. Số liệu thống kê, bảng biểu được trích từ nguồn: http://www.vawr.org.vn; http://www.vncold.vn; http://www.ninhthuan.gov.vn; http://tapchitaichinh.vn Link
[1]. Thông tư số 06 /1998/TT-BNN- TCCB, ngày 03/9/1998 của Bộ NN & PTNT về việc hướng dẫn tổ chức và hoạt động của công ty khai thác CTTL Khác
[2]. Pháp lệnh số 32/2001/PL - UBTVQH10 ngày 04/04/2001 của UBTV Quốc hội về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi Khác
[3]. Nghị định số 143/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Khác
[4]. Nghị định số 154/2007/NĐ - CP ngày 15/10/2007 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Khác
[5]. Nghị định số 115/2008/NĐ -CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ -CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ CTTL Khác
[6]. Nghị định số 67/2012/NĐ - CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ CTTL Khác
[10]. Th ông tư số 06/2016/TT - BXD về hướ n g dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng Khác
[11]. Thông tư số 09/2016/TT - BTC về quy định quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước Khác
[12]. Quyết định số 45/2014/QĐ - UBND ngày 12/6/2014 về Quy định một số nội dung về quản lý dự án đầu tư XDCT trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Khác
[13]. Quyết định số 05/2015/QĐ - UBND ngày 20/01/2015 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định một số nội dung về quản lý dự án đầu tư XDCT trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận ban hành kèm theo Quyết định số 45/2014/QĐ -UBND ngày 12/6/2014 của UBND tỉnh Ninh Thuận Khác
[14]. Quyết định số 357/2007/QĐ -UBND ngày 27/12/ 2007 về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác các CTTL của Công ty Khai thác CTTL Ninh Thuận Khác
[15]. Quyết định số 4545/QĐ - UBND ngày 03/12/2009 về việc ban hành bổ sung định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác các CTTL của Công ty Khai thác CTTL Ninh Thuận Khác
[16]. Quyết định số 2024/QĐ - UBND ngày 12/9/2011 về việc ban hành bổ sung định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác các CTTL của Công ty Khai thác CTTL Ninh Thuận Khác
[17]. Nguyễn Bá Uân (2013), Quản lý dự án xây dựng nâng cao, bài giảng cao học đại học thủy lợi Khác
[18]. Nguyễn Xuân Phú (2010), Quản lý chi phí nâng cao, bài giảng cao học đại học thủy lợi Khác
[19]. Quyết định số 211/1998/QĐ -BNN- QLN ngày 19/12/1998 của Bộ NN & PTNT về việc ban hành quy định về chế độ sử dụng chi phí cho sửa chữa thường xuyên tài sản cố định của doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w