Dựa trên việc phân tích nhiệm vụ, mục tiêu về nhận thứcluận của CN Mác - Lênin của môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCMthì người GV trong tiết dạy cần phải quán triệt các nguyên t
Trang 1NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH
TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG VẤN
ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC-LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH
Trang 2- Nguyên tắc sư phạm trong thuyết trình dạy học môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCM
Theo tiếng La Tinh: "Pricipium" - nguyên tắc, là các tưtưởng chỉ đạo, yêu cầu cơ bản, quy tắc cơ bản đối với hoạtđộng, được xây dựng trên nền tảng nghiên cứu quy luật, bảnchất của hoạt động đó
Nhằm đảm bảo cho quá trình dạy học môn Những vấn đề
cơ bản của CNMLN và TT HCMđạt được mục tiêuđó chính là
nguyên tắc dạy học; Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn cácnguyên tắc dạy học người GV mới có thể vận dụng linh hoạttrong việc dạy học Tuy nhiên, việc sắp xếp và lựa chọn cácnguyên tắc dạy học thành một hệ thống nhất định chung chocác môn học thì vẫn chưa có sự nhất trí
Hiện nay, với sự phát triển của nền khoa học 4.0 là sựnhận thức nhạy bén của con người, các nhà khoa học sư phạmvẫn đang tìm hiểu, nghiên cứu về các nguyên tắc dạy học;Điều này khẳng định, hệ thống các nguyên tắc dạy học đangdần được vận dụng và hoàn thiện
Trang 3Dựa trên việc phân tích nhiệm vụ, mục tiêu về nhận thức
luận của CN Mác - Lênin của môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCMthì người GV trong tiết dạy cần phải
quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu
Trước khi chuẩn bị buổi thuyết trình, cần xác định thật rõđâu là mục tiêu mà người giảng viên muốn hướng tới, việcxác định đúng mục tiêu sẽ giúp cho giảng viên hình thành nộidung và cách truyền đạt cho học viên một cách có hiệu quảnhất Điều này lại có mối quan hệ đến các yếu tố: nhữngnguồn tin mà người giảng viên muốn truyền đạt là gì, ngườinghe là ai và bầu không khí tại địa điểm thuyết trình như thếnào Thường hầu hết các bài thuyết trình thành công đề phảiđạt 3 yếu cầu chính yếu: chuyển tải được những thông tinmới, người nghe không chỉ “nghe” mà còn được “thưởngthức” bài thuyết trình và các vấn đề trong bài thuyết trình cầnđược trình bày rõ ràng, logic Để thực hiện hiệu quả 3 yêu cầunày giảng viên cần xác định cách diễn đạt phù hợp Khitruyền đạt thông tin, giảng viên cần trình bày theo một cấutrúc hợp lý, logic Khi muốn người nghe thư giãn, có thể nóinhững câu dí dỏm, hài hước, những câu chuyện vui Còn
Trang 4trong trường hợp mục tiêu bài thuyết trình muốn cổ vũ ngườinghe tham gia vào một số hoạt động nào đó thì bài thuyếttrình cần đem đến cho người nghe nội dung tích cực, đượctrình bày với giọng điệu hào hứng, phấn khích để kích thíchtinh thần và sự hưởng ứng của người nghe Điểm cần lưu ý ởđây là khả năng tập trung của người nghe chỉ giới hạn trongkhoảng 45 phút Trong khoảng thời gian đó, họ chỉ tiếp thukhoảng 1/3 những gì bạn trình bày Vì thế nội dung bài thuyếttrình cần được cụ thể thành 3-4 vấn đề quan trọng và nhấnmạnh những điểm này trong phần mở đầu, phần giữa và nhắclại chúng ở phần cuối Thông thường, các ý chính rơi vào cácvấn đề: - Tại sao “chủ đề thuyết trình” này lại cần thiết? - Nộidung của “chủ đề thuyết trình” gồm những gì? - Kết quảmong muốn sau buổi thuyết trình là gì? Ngoài ra cần tránhtrình bày các khái niệm liên quan đến chủ đề thuyết trình dướidạng lý thuyết vì chúng thường khó hiểu Ví dụ, với tiêu đề
"Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân", có thểmột số người nghe hình dung bạn sẽ trình bày khái niệm vềgiai cấp công nhân Nếu phần trình bày của bạn cứ sa đà vàocác khái niệm này sẽ làm cho người nghe chán Điều quantrọng ở đây, người nghe sẽ thích thú hơn nếu họ hiểu các khái
Trang 5niệm về "giai cấp công nhân" và chủ đề bài thuyết trình "Sứmệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân" thông quacách trình bày đơn giản Chẳng hạn thông qua một ví dụ nào
đó trong thực tiễn hay hình ảnh minh họa để họ hiểu về nhiệm
vụ của giai cấp công nhân trong lịch sử thay vì phải nghe cáckhái niệm này dưới dạng lý thuyết
- Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp (hay còn gọi là nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức)
Khi lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức và nội dungdạy học, đảm bảo tính vừa sức là điều kiện cần thiết để đemlại chất lượng của việc dạy và học
Những yêu cầu của nguyên tắc này:
+ Cần xác định khối lượng nội dung trong bài học Vớiviệc phát triển của khoa học, công nghệ và sự đổi mới trongviệc xây dựng để phát triển và bảo vệ đất nước, khối lượng tri
thức môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCM
không chỉ giảm, thay đổi mà còn tăng thêm
Trong dạy học, phần lớn giảng viên đã sử dụng quá nhiềuthông tin, tư liệu làm cho khả năng ghi nhớ bài học trở nên
Trang 6giảm, gây căng thẳng cho học viên Nhưng cũng có giảng viênlại quá đơn giản với nội dung trong sách giáo trình, gói gọnnội dung như một bản tóm tắt, hoặc có giảng viên lại quá tậptrung ở vài câu chuyện làm cho bài giảng không đạt yêucầu…
Vì vậy, việc xác định lượng kiến thức cần truyền đạt là rấtquan trọng nhằm tạo cho học viên tiếp nhận tri thức đạt kếtquả cao nhất Muốn vậy, ở khâu chuẩn bị và tiến hành dạyhọc, GV cần chuẩn bị kĩ và chọn lọc những kiến thức, nhữngnội dung cơ bản và cần cân nhắc kĩ khối lượng kiến thức vàcác câu hỏi đưa ra phải thật chính xác
+ Nắm rõ đối tượng dạy học, đặc điểm tâm lý, môi trường
xã hội mà học viên đang sống, những điều kiện sinh hoạt vàkhả năng học tập của học viên
Đối với lớp TCLL chính trị - hành chính thì đối tượng HVrất phong phú về độ tuổi từ 27- 50 tuổi và nhiều thành phầnnhư: giáo viên mầm non, GV trung học cơ sở, GV trung họcphổ thông và cán bộ, công chức cấp xã, cấp huyện… với cácđặc điểm trên có ảnh hưởng rất lớn đến việc lĩnh hội kiến thứccủa HV, nên cần căn cứ vào các yêu cầu này để nhận định
Trang 7mức độ tiếp thu của học viên để từ đó tìm ra những PPDHphù hợp
Khi nắm vững đối tượng thì giảng viên mới có thể chủđộng truyền thụ tri thức từ việc xác định tri thức, sử dụngngôn ngữ, cách thức diễn đạt… cho đến việc kiểm tra, đánhgiá kết quả nhận thức và lựa chọn PPDH; Như vậy, khi giảng
dạy môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCM cần
căn cứ vào đối tượng HV để nâng dần mức độ phức tạp, mởdần phạm vi của tri thức sao cho HV có thể từng bước thunhận tri thức, và cuối cùng nắm được thực chất vấn đề đã lĩnhhội
+ Để thực hiện tốt nguyên tắc này,đòi hỏi giảng viên cần
để ý đến đối tượng học viên “đặc biệt”; Đối tượng tham gialớp TCLL chính trị - hành chính thì học viên “đặc biệt” ở đây
là các anh, chị đồng bào dân tộc thiểu số Với các HV này cầnkiên trì từng bước giúp đỡ nhằm nâng cao trình độ; bên cạnh
đó cần khuyến khích năng lực tư duy sáng tạo và khả năngvận dụng nội dung bài học vào hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn; Có như vậy, thì vấn đề học tập sẽ trở nên dễdàng hơn và vừa sức đối với học viên này
Trang 8Cần lưu ý, việc thực hiện đúng nguyên tắc này trong dạy
học môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCM cần
linh hoạt nhằm đánh giá đúng khả năng học tập của HV, từ đóđưa ra những yêu cầu phù hợp với sự lĩnh hội tri thức của HVtrong quá trình học tập
- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Nguyên tắc này đóng vai trò quan trọng trong dạy học
các môn khoa học nói chung và môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCM nói riêng, bởi vì dù một yếu tố nào
cũng đòi hỏi học viên cũng phải biết đến một yếu tố tri thứckhác thì mới hiểu được, mặt khác nó lại là một cơ sở để hiểumột yếu tố tri thức khác nữa
Do vậy, người GV phải biết cách xác định kiến thức cótrước để làm tiền đề cho việc xây dựng tri thức mới, từ đó sẽgiúp cho HV xác định đúng mục đích bài học Nghiên cứutính tuần tự trong hệ thống kiến thức có tác dụng tăng cườngkhả năng liên tưởng của học viên
Việc vận dụng nguyên tắc này đóng vai trò quan trọng ởviệc phát huy năng lực trí tuệ chung, rèn luyện năng lực trí tuệ
cơ bản như: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích- tổng
Trang 9hợp; thúc đẩy tư duy linh hoạt, sáng tạo, độc lập… Nhữngviệc này thể hiện qua việc GV truyền đạt kiến thức cho HV,làm cho HV quen và sử dụng thành thạo các thao tác thôngqua trừu tượng hóa, khái quát hóa.
Mọi kiến thức có được đều cần có nguyên tắc và kinhnghiệm thông qua một quá trình học tập lâu dài; Ngoài ra, cóthể áp dụng nguyên tắc này trong các hoạt động học hướng tớiđộng cơ, mục đích, tạo tiền đề… sẽ rất có hiệu quả khi giảngviên làm cho học viên thấy được mối liên hệ giữa mục đíchđặt ra và tri thức mà học viên đã có
- Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
Có thể thấy, mọi hoạt động của con người đều xuất phát
từ thực tiễn, thông qua thực tiễn con người có thể đúc kết chomình nhiều kinh nghiệm, kỹ năng và các tri thức khoa học.Trong dạy học, người GV cần khái quát hóa các tri thức khoahọc để các HV có thể tiếp cận nội dung bài học một cáchnhanh chóng, hiệu quả, tránh sự mò mẫn không cần thiết; Cónhư vậy, HV có thể vừa nắm vững nội dung lý thuyết và vừabiết vận dụng, liên hệ bài học vào trong thực tiễn và đời sống
Trang 10Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy học môn Những vấn
đề cơ bản của CNMLN và TT HCMgắn liền giữa lý luận và
thực tiễn Trong dạy học, nếu GV chỉ giảng những nội dungxoay quanh như khái niệm, nguyên lí, quy luật, phạm trù…
mà không liên hệ, đưa những nội dung này vận dụng vào cuộcsống, thực tiễn của cá nhân, đơn vị thì bài giảng sẽ kém hấpdẫn, không thuyết phục và dễ gây nhàm chán cho người học;Thông qua nguyên tắc này sẽ giúp cho học viên nâng cao tưduy và khả năng liên hệ vào thực tiễn Bên cạnh việc liên hệvào thực tiễn sẽ làm cho những nội dung trong bài học trở nênphong phú mà còn giúp HV có thể hiểu bài một cách nhanhchóng, biết vận dụng những kiến thức đã học vào trong cuộcsống, trong công việc và bổ sung tri thức vào một số hoạtđộng khác Muốn đạt được kết quả như vậy, thì người GVphải có chuyên môn cao, nghiệp vụ sư phạm phải vững vàng
và trên hết là phải có kinh nghiệm thực tiễn; đối với học viênphải học tập nghiêm túc, nắm chắc tri thức môn học thì mới
có thể vận dụng chúng một cách chính xác, linh hoạt cả trongnhận thức và thực tiễn Muốn thực hiện được điều đó, cầnthực hiện một số nội dung sau:
Trang 11+ Thứ nhất, cần đảm bảo tính thực tiễn trong bài giảng;
dựa vào trình độ nhận thức, nội dung bài học và khả năng lĩnhhội tri thức của học viên, có thể thực hiện nguyên tắc này mộtcách linh hoạt Do vậy, trong bài giảng nếu giảng viên chỉ rađược những cơ sở thực tiễn của các luận điểm trong bài họcthì học viên sẽ nhanh chóng nắm bắt được tinh thần, nội dungbài học và nhận thấy được tầm quan trọng của những tri thức
đó rất cần cho hoạt động nhận thức và thực tiễn
+ Thứ hai, cần đảm bảo tính thực tiễn ở các hình thức
hoạt động khác của người dạy và người học; Mối quan hệgiữa lý luận và thực tiễn đóng vai trò chủ đạo trong nội dung
và PPDH; cho dù việc dạy và học có hình thức nào đi chăngnữa thì người GV cũng cần kết hợp thực tiễn và lí luận Đểthực hiện được điều này, tùy theo nội dung tri thức, khốilượng tri thức và đối tượng HV cùng thực hiện hoặc HV cóthể thực hiện độc lập dưới sự định hướng của GV, mức độthực hiện có thể tăng dần từ thấp đến cao, từ dễ đến khó Dovậy, GV cũng cần phải chọn lọc, định hướng cho HV, đưa ranội dung và kế hoạch chi tiết bên cạnh đó phải khơi dậy sựhiểu biết của học viên thì sẽ đem lại hiệu quả trong dạy học
- Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
Trang 12PPTT trong dạy học môn Những vấn đề cơ bản của Chủ
nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
- Thực hiện tốt các kỹ năng thuyết trình
-Về ngôn ngữ
Trong phương pháp thuyết trình, lời giảng của ngườigiảng viên giữ vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội tri thứccủa học viên Vì vậy:
+ Lời giảng phải chính xác, rõ ràng: trước tiên, muốn lờigiảng được chính xác, rõ ràng thì GV phải dùng từ ngữ (thuậtngữ) chính xác, sử dụng câu, từ đúng ngữ pháp, ngắn gọn,phát âm rõ ràng, không nói ngọng, nói lắp và phải cẩn thậnkhi dùng các từ, thuật ngữ Bác Hồ đã từng khuyên chúng tachớ sính dùng từ, những từ ngữ không hiểu rõ thì không nêndùng; Vì vậy, trong khi giảng, GV không nên dùng từ ngữkhông rõ nghĩa hoặc đa nghĩa, nên sử dụng ngôn ngữ khoahọc thay cho ngôn ngữ văn học, nhưng không nên hạn chếquá mức việc dùng từ ngữ làm cho bài giảng không truyền đạthết nội dung bài học, làm bài giảng trở nên khô khan, cứngnhắc
Trang 13+ Lời giảng phải gợi cảm: trong dạy học, một yếu tố rấtquan trọng mang lại sự thành công trong bài giảng là sự thểhiện cảm xúc của GV thông qua lời giảng vì nó có ảnh hưởngđến tình cảm, ý chí của học viên và định hướng cho HV nhậnthức một cách đúng đắn, hứng thú học tập; sức gợi cảm củalời giảng phụ thuộc vào tính hình tượng của lời giảng Như
vậy, trong dạy học môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và
TT HCMthì GV có thể sử dụng ngôn ngữ văn học và dùng
thành ngữ, ca dao, tục ngữ tuy nhiên, không nên sử dụngnhiều vì sẽ mang lại kết quả không tốt
Ngoài ra, lời giảng gợi cảm còn thể hiện qua ngữ điệu của
GV, có nhiều cách để GV diễn đạt vì vậy sẽ có nhiều ngữ điệukhác nhau và mang lại nhiều kết quả khác nhau; tuy nhiên,tùy vào đối tượng và khả năng nhận thức của HV mà ngữ điệucủa GV phải phù hợp, có đôi lúc chỉ cần GV thay đổi giọngnói thì HV sẽ tiếp thu tốt hơn, tích cực hơn giúp học viên nắmvững kiến thức, có hiểu biết sâu, rộng và có thể vận dụngtrong thực tiễn, đời sống và trong nhận thức
Vì vậy, trong khi dạy học giảng viên phải đảm bảo tốc độtruyền đạt để học viên nghe rõ và ghi chép đầy đủ nội dungbài học, tùy theo mục đích cần truyền đạt để học viên có thể
Trang 14lĩnh hội nội dung bài học, giảng viên có thể thay đổi tốc độ lờigiảng để học viên thu nhận lượng kiến thức chính xác.
-Về điệu bộ, cử chỉ
Điệu bộ, cử chỉ phải chừng mực, mẫu mực, không khoatay quá nhiều trước học viên Tư cách mẫu mực của GV dạy
môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCM có ảnh
hưởng đến khả năng học tập, tư duy và hành động của họcviên theo hướng đúng đắn Đứng trước học viên, GV cần mặctrang phục lịch sự, giản dị, gọn gàng phù hợp với địa phương
và phải thể hiện thái độ nghiêm túc, tự tin nhưng phải niềm
nở, nhiệt tình nhằm tạo quan hệ tốt đẹp giữa người dạy vàngười học
- Về sử dụng các phương pháp tư duy logic trong thuyết trình
+ Phân tích- tổng hợp: Giảng dạy tri thức khoa học bắtđầu từ sự phân tích chúng Nói đến phân tích trong thuyếttrình là nói đến sự phân chia (tách ra) những kiến thức kháiquát, phức tạp, trừu tượng thành những kiến thức đơn giảnhơn, dễ hơn, cụ thể hơn để giúp HV tiếp cận dễ dàng hơn, cóhiệu quả hơn… Giảng dạy nhằm cung cấp tri thức hoàn chỉnh,
Trang 15đầy đủ giúp học viên hiểu và nắm vững kiến thức cơ bản.Mục đích ấy đạt được bằng cách tổng hợp kiến thức
Tổng hợp là sự kết hợp, sự tái tạo các mối liên hệ tri thứcriêng lẽ trong tri thức chung và nắm lấy toàn bộ tri thức trong
sự thống nhất của chúng Không giảng các tri thức cơ bảnchung nhờ tổng hợp thì học viên không nhận thức đầy đủ vàsâu sắc tri thức riêng lẻ Đó cũng là lí do vì sao cần sử dụngkết hợp hữu cơ giữa phân tích và tổng hợp trong thuyết trình.Nhưng tùy vào tri thức của từng bài, khả năng nhận thức, tưduy và vốn kiến thức sẵn có của học viên để giáo viên xácđịnh mức độ sử dụng phân tích và tổng hợp trên cơ sở truyềnthụ tri thức đầy đủ, sâu sắc, toàn diện theo nội dung bài học
đã được quy định
+ Quy nạp - suy diễn: Trong dạy học, quy nạp được xemnhư phương pháp chuyển từ tri thức từ cái riêng về cái chung,khái quát các tri thức đó thành nguyên lý chung phản ánh quyluật hoặc mối liên hệ cơ bản và tất yếu khác Khi thuyết trìnhgiảng viên có thể sử dụng các phương pháp quy nạp khácnhau như: quy nạp phổ thông, quy nạp khoa học…
Trang 16Đối với môn Những vấn đề cơ bản của CNMLN và TT HCM, kiến thức trang bị cho học viên mang tính khái quát và
trừu tượng cao, giảng viên cần sử dụng nhiều phương phápquy nạp khoa học; Bởi vì, kiến thức truyền đạt cho học viên làvạch ra những dấu hiệu cơ bản, xác lập mối quan hệ bêntrong, tất yếu của các sự vật, hiện tượng Cho dù sử dụngphương pháp nào thì quy nạp không đủ luận cứ để chứngminh, rút ra kết luận chung Do đó, giáo viên cần dùngphương pháp suy diễn Suy diễn không chỉ là phương phápchuyển từ tri thức chung sang tri thức riêng, mà từ mỗi kếtluận đúng đắn trong số các chân lý đã biết rút ra từ nhữngchân lý mới nhờ các quy luật và các quy tắc của logic học Trong suy diễn, muốn rút ra được những kết luận chân
thực cần phải đáp ứng hai điều kiện: một là, các tiền đề phải chân thực; hai là, quy luật và quy tắc của logic học phải được
áp dụng đúng đắn; Quy nạp và suy diễn vận động ở hai hướngkhác nhau Sự đối lập đó thể hiện ở việc quy nạp là sự vậnđộng đi từ cái riêng đến cái chung, còn suy diễn là từ cáichung đến cái riêng Song, trong giảng dạy, chúng lại quan hệvới nhau, bổ sung lẫn cho nhau; Vì vậy, giảng viên cần kếthợp chúng mới đem lại kết quả cao
Trang 17+ Lịch sử - logic: khi truyền đạt kiến thức cho HV ở trênlớp việc chỉ ra quá trình vận động và phát triển của sự vật,hiện tượng xảy ra trong thế giới khách quan theo trình tự thờigian và không gian… cũng như việc bản chất và quy luật, cáichung, cái tất yếu, của quá trình phát triển lịch sử của sự vật
và hiện tượng là rất cần thiết Đồng thời, giảng viên phải táitạo lại logic sự vận động, phát triển của các sự vật trong logicnhận thức, tiếp thu tri thức về chúng Có thể nói, lịch sử làphong phú, là hiện tượng sinh động, còn logic là bản chất, sâusắc Hai thao tác bổ sung, hỗ trợ cho nhau giúp ta nhận thức
sự vật ngày càng đầy đủ hơn, chính xác hơn Tùy theo yêucầu, nội dung của từng bài mà GV kết hợp phương pháp logic
và lịch sử đạt kết quả tốt nhất
+ Trừu tượng - cụ thể: cái trừu tượng và cái cụ thể tồn tạitrong tư duy để phản ánh cái trừu tượng và cái cụ thể trongthực tế khách quan Cái cụ thể trong thực tại là điểm xuất phátcủa nhận thức chân lý; Cái trừu tượng trong tư duy tồn tại nhờ
sự trừu tượng hóa, khái quát hóa những mặt, những yếu tố vàphản ánh cái trừu tượng, cái cụ thể trong hiện thực, là nấcthang để nhận biết cái cụ thể trong hiện thực; Mỗi cái trừu
Trang 18tượng trong tư duy đều giúp cho ta có cách nhìn nhận sâu sắchơn giữa bản chất và hiện tượng của sự vật
Cái cụ thể trong tư duy là điểm kết thúc cuả nhận thứcchân lý, nó giúp chúng ta nhận thức đúng, đầy đủ, toàn diện,chính xác hơn các sự vật, hiện tượng; Vì vậy, nhận thức củacon người là quá trình bắt đầu từ cái cụ thể trong hiện thựcthông qua cái trừu tượng đến sự kết thúc bằng sự nhận thứccái cụ thể có trong tư duy đó Cho nên, trong thuyết trìnhngười dạy cần kết hợp chặt chẽ giữa chúng với nhau sao cho
sự lĩnh hội tri thức của học viên phải phù hợp với quá trìnhnhận thức khoa học chung của con người và trình độ nhậnthức của từng học viên
-Xây dựng kế hoạch dạy học sử dụng PPTT
Giảng viên cần xác định kiến thức cơ bản, có trọng tâm,trọng điểm, nêu rõ bản chất và mối liên hệ của hiện tượng, sựvật với nhau hoặc với các sự vật, hiện tượng khác và có thể lýgiải, vận dụng chúng vào thực tiễn Vì vậy khi dạy học, GVluôn giám sát kiến thức cơ bản của từng bài, không đi sâu vàonhững chi tiết quá nhỏ; giảng viên phải nắm vững chương
Trang 19trình, kiến thức cơ bản, vị trí, vai trò của từng bài ở từngchương trình, tìm ra mối quan hệ tất yếu giữa chúng…
Người giảng viên chọn lựa những kiến thức cơ bản vàthiết thực Trong mỗi bài giảng bao giờ cũng có trọng tâm vàtrọng điểm, cần thực hiện tuần tự các bước sau:
Phần mở bài: cần mở bài cuốn hút học viên, tạo sự chú ýcho học viên, GV có thể sử dụng một trong những cách sau:việc đầu tiên cần chào hỏi và sau đó giới thiệu chương trình,nội dung bài học trong tâm thế vui vẻ, thoải mái; có thể đưa ramột vài thông tin liên quan đến bài học; nêu vấn đề, định
Trang 20hướng hoặc trình bày sơ lược những vấn đề cần giảng; hoặcchiếu một đoạn phim tài liệu, đưa ra một vài câu hỏi, tìnhhuống liên quan đến bài học.
Phần thân bài: nên chia nội dung thuyết trình ra thànhnhiều tiểu mục nhỏ, sau đó sử dụng kiểu thuyết trình tươngtác với học viên theo các cách:
Cách 1: GV thuyết trình (kể chuyện, diễn giảng, giảithích) nội dung cần triển khai, liên hệ thực tiễn bằng cách nêu
ví dụ, đưa ra hình ảnh hoặc ra câu hỏi để học viên trả lờinhằm kiểm tra việc tiếp thu kiến thức của học viên
Cách 2: GV đưa ra một luận điểm yêu cầu học viên lấy ví
dụ thực tiễn để chứng minh sau đó GV sẽ giảng giải và kếtluận
Cách 3: qua quá trình dạy học, người thầy sẽ đưa ranhững luận chứng, luận cứ, những số liệu, tình huống liênquan đến nội dung cần được thuyết trình để học viên làm việctheo nhóm, đóng vai… để đánh giá học viên, sau đó thôngqua lời giảng, GV tóm tắt kết quả thu được và dưới sự hướngdẫn của mình thì học viên có thể tìm hiểu các vấn đề liênquan
Trang 21Phần kết luận: có nhiều cách để kết luận một bài học theophương pháp thuyết trình:
Cách 1: GV kết luận thông qua việc dùng lời nói để nhấnmạnh nội dung trọng tâm của bài học hoặc có thể đưa ra mộtvài câu hỏi về các nội dung bài học và sau đó giới thiệu bàihọc mới ở tiết sau
Cách 2: GV sử dụng PPDH khác như: nêu vấn đề, đàmthoại… để tóm tắt bài học; Cuối cùng, GV nhận xét và kếtluận hoặc đưa ra các câu hỏi để học viên suy nghĩ và trả lời ởbài học sau
- Kết hợp thuyết trình với các phương pháp dạy học khác
* PPTT kết hợp phương pháp đàm thoại:
Phương pháp đàm thoại là sự tương tác giữa GV và họcviên, được thể hiện thông qua nhiều câu hỏi, GV "hỏi" và họcviên "trả lời" sao cho câu trả lời của học viên phải tương ứng,phù hợp với câu hỏi mà GV đặt ra Dưới sự hướng dẫn của
GV thì học viên phải có tư duy linh hoạt, thể hiện được ý
Trang 22tưởng của mình, tăng cường sự khám phá và lĩnh hội kiếnthức Thông thường, đàm thoại có hai hình thức sau:
Đàm thoại có chủ đích: nghĩa là GV sử dụng các câu hỏiđược sắp xếp định hướng có hệ thống vào chủ đề, bao gồm:đàm thoại diễn giải là dùng lời nói để giảng giải, làm rõ cáckhái niệm, phạm trù; đàm thoại dẫn dắt nhằm giúp học viênnắm bắt từng chương, mục trong bài; đàm thoại tìm tòi làbuộc học sinh phải suy nghĩ, trả lời và rút ra kiến thức mới…Đàm thoại tự do (gợi mở): là phương pháp GV đưa ranhững câu hỏi lớn, sau đó thông báo cho học viên, tiếp đếnchia câu hỏi lớn ra thành nhiều câu hỏi nhỏ hơn mang tính hệthống để học viên có thể hình dung việc trả lời những câu hỏinhỏ sẽ dẫn đến thực hiện được câu hỏi lớn; Mục đích của đàmthoại gợi mở là để học viên giải đáp một vấn đề mới nào đó;câu hỏi buộc học viên tìm tòi, giải đáp để đi đến những trithức mới; Trong hệ thống câu hỏi đó, GV cần đưa thêm cáccâu hỏi phụ nhằm dẫn dắt, định hướng nếu học viên có sai sót,
đi chệch hướng trong cuộc đàm thoại
Phương pháp này có ý nghĩa tích cực trong việc kích thích
tư duy, tính tích cực, sự nỗ lực của học viên khi giải quyết vấn