1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN và THỰC TIỄN của VIỆC sử DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT vấn đề TRONG dạy học CHUYÊN đề tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH ở TRUNG tâm bồi DƯỠNG CHÍNH TRỊ HUYỆN PHÚ hòa

43 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 45,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học giải quyết vấn đề là giảng viên đặt ranhững tình huống có vấn đề, đưa người học tự tìm ra kiến thức đểgiải đáp cho vấn đề được đặt ra, kích thích cho học viên tự học,rèn luyện ch

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬDỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC

CHUYÊN ĐỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Cơ sở lý luận của phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học chuyên đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Khái niệm Phương pháp giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề còn được gọi là dạy học nêu vấn

đề, dạy học giải quyết tình huống có vấn đề, dạy học phát hiện vàgiải quyết vấn đề Dạy học giải quyết vấn đề là giảng viên đặt ranhững tình huống có vấn đề, đưa người học tự tìm ra kiến thức đểgiải đáp cho vấn đề được đặt ra, kích thích cho học viên tự học,rèn luyện cho bản thân có sự độc lập trong học tập vả khả năngnhận thức và phản biện, và làm cho người học tự nâng cao đượctrình độ lý luận và tư duy của bản thân

Có nhiều quan niệm về dạy học giải quyết vấn đề như:

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo: “Dạy học giải quyết vấn

đề là hình thức dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội trithức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, bao gồm sự kếthợp các phương pháp dạy và học có những nét cơ bản của sự tìmtòi khoa học Nhờ vậy, nó đảm bảo cho học sinh lĩnh hội vữngchắc những cơ sở khoa học, phát triển tính tích cực và năng lựcsáng tạo và hình thành cơ sở thế giới quan cho họ” [1, tr41]

Trang 3

I.Ia Lecne nhận định: “Dạy học giải quyết vấn đề là phươngpháp dạy học trong đó học sinh tham gia một cách hệ thống vàoquá trình giải quyết các vấn đề và các bài toán có vấn đề được xâydựng theo nội dung tài liệu học trong chương trình” [20, tr.5 - 6]

V.Ôkôn nhà giáo dục người Ba Lan cho rằng: “Dạy họcgiải quyết vấn đề là toàn bộ các hoạt động như tổ chức tìnhhuống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú ý giúp đỡ học sinhnhững điều cần thiết để giải quyết vấn đề kiểm tra cách giảiquyết đó cuối cùng là quá trình hệ thống hóa và củng cố cáckiến thức tiếp thu được” [28, 103]

Dạy học bằng phương pháp giải quyết vấn đề đặt ngườihọc trước những khó khăn, những mâu thuẫn đòi hỏi các họcviên phải tìm cách thức để giải quyết những khó khăn, nhữngmâu thuẫn đó bằng khả năng tri thức của mình dưới sự tổ chức,hướng dẫn của giảng viên Qua việc học tập tự tìm lời giải chobài toán nhận thức, làm thay đổi tư duy và nâng cao vốn kiếnthức của người học khoa học và tốt hơn

Khi tiến hành dạy học nêu vấn đề việc đưa ra bài toán nhậnthức và tiến hành cho học viên giải quyết bài toán nhận thức,phù hợp với việc thay đổi cách dạy và học tính đến thời điểmnày Từ đó, cho thấy phương pháp giảng dạy này làm thay đổi

Trang 4

một cách toàn diện về khả năng nhận thức và năng lực tư duyhọc hành của người học, đưa người học từ người bị động thànhngười chủ động trong học tập.

Đặc trưng của Phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học

Đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học giải quyếtvấn đề là trình bày tính có vấn đề, sử dụng khi học viên gặp cáccâu hỏi khó, không tự giải quyết được Giảng viên trình bàytheo kiểu nêu vấn đề không chỉ nhắc lại các luận điểm, nguyên

lý, mà còn vạch lôgíc của quá trình đi tới những kết luận nào đó.Nêu rõ những mâu thuẫn, lệch lạc trên đường đi tới kết luận, vạch

rõ nguồn gốc phát sinh mâu thuẫn lệch lạc, giảng viên còn cần giải

thích những quan niệm mới vấn đề đó Từ đó, học viênthấy được khả năng tư duy và tìm tòi kiến thức mới một cáchchủ động và phát huy những kiến thức sẵn có của họ

+ Lưu ý: Giảng viên trình bày nêu một vấn đề cần phải thực

sự xúc tích và dễ hiểu để học viên hứng khởi tham gia học tập.Khi trình bày nêu vấn đề cần kết hợp các phương pháp thuyếttrình, thảo luận nhóm, đàm thoại, đồ dùng dạy học trực quan, tạo cho người học chú ý vào bài toán nhận thức có tính vấn đề để

từ đó người học thật sự tích thú khi tham gia học tập

Trang 5

Đặc trưng thứ hai là đàm thoại nêu vấn đề, bao gồm các câuhỏi giúp người học tập trung tư duy của bản thân để tìm tòi nhữngtri thức mới để trả lời cho vấn đề được giảng viên nêu ra.

+ Khi giảng viên đưa ra câu hỏi bao gồm hai phần, câu hỏitái hiện và câu hỏi nêu vấn đề, trong đó câu hỏi nêu vấn đề làthành tố chính

Câu hỏi tái hiện sẽ làm cho người học tự tìm tòi ra kiến thức

để trả lời cho nội dung của vấn đề

Giảng viên đưa ra câu hỏi có vấn đề, nhằm tạo cho ngườihọc thấy được mâu thuẫn và từ đó người học tìm kiếm kiến thức

để giải đáp cho vấn đề được đặt ra của nội dung môn học

+ Để thực hiện phương pháp đàm thoại nêu vấn đề, giảngviên sử dụng các câu hỏi tái hiện và câu hỏi có vấn đề phải thậtsuông sẻ, để từ đó câu hỏi tái hiện sẽ tác động tích cực đến ngườihọc viên tự nghiên cứu tìm lời giải cho các câu hỏi có vấn đề

+ Khi giảng viên tổ chức đàm thoại cho người học, cần phảiđặt ra các câu hỏi theo trình tự, tạo cho người học tự tư duy theohướng tích cực Giảng viên nêu câu hỏi trước lớp học và yêu cầungười học tìm ra lời giải theo từng câu hỏi nêu ra Trong kiểu tổchức đàm thoại này sẽ làm cho cả lớp học cùng nhau suy nghĩ, tìm

Trang 6

lời giải trước cùng một câu hỏi và từ đó làm cho người học kết nốivới nhau qua việc cùng nhau thảo luận theo nhóm tại lớp Lúc đóngười học tự nhận biết các tri thức mới của nội dung môn học khigiải quyết các vấn đề của môn học.

+ Việc cho lớp học đàm thoại nêu vấn đề sẽ tạo cho ngườihọc có khả năng chiếm lĩnh được nội dung của môn học Và khi

đó giảng viên sẽ nhận biết được năng lực nhận thức của ngườihọc

Đặc trưng thứ ba là phương pháp tự tìm tòi và nghiên cứu,giảng viên ra các bài tập nêu vấn đề dưới hình thức các đề tàinghiên cứu như: báo cáo, chuyên luận Giảng viên hướng dẫn,kiểm tra kết quả

Ưu điểm, hạn chế của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

- Ưu điểm của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là một trong nhữngphương pháp dạy học hiện đại theo hướng tích cực Quan điểm

“Dạy học lấy người học làm trung tâm”, có những ưu điểm như:

Một là, phương pháp này đặt người học vào vị trí chủ độngkhi học tập, làm cho bản thận tự giác tìm tòi những kiến thức mới

Trang 7

để giải đáp các vấn đề đã nêu và phát huy năng lực phản biện.Phương pháp này tạo người học thận thức được những vấn đềđúng hoặc sai của vấn đề được nêu ra.

Hai là, phương pháp này tạo cho người học thấy được khảnăng của bản thân khi xem xét, phát hiện và tự trả lời cho vấn đềcần giải quyết, người học sẽ thể hiện hết được vốn tri thức của bảnnhân, để đóng góp cho nhóm của mình tìm ra lời giải đáp cho câuhỏi có vấn đề mà giảng viên nêu ra Sự trao đổi lẫn nhau trongnhóm giúp người học tiếp thu được kiến thức của nhóm từ đó tựrèn luyện bãn lĩnh tự tin thuyết trình trước lớp học

Ba là, phương pháp dạy học nêu vấn đề tạo ra không khí hứngkhởi và người học tự tìm tòi những tri thức mới Người học từ chỗchỉ biết ghi nhớ kiến thức thụ động trở thành người học tự tìm kiếm

Năm là, phương pháp này giúp cho người dạy linh hoạt trongcách thức dạy học khi đứng lớp, người giảng viên giống như là

Trang 8

một nhà tổ chức định hướng cho người học chủ động tìm kiếnthức và tìm ra lời giải cho nội dung của môn học Từ chỗ là ngườitruyền tải các kiến thức của nội dung môn học trở thành người cótác động thúc đẩy người học chủ động tìm ra lời giải cho câu hỏi

có vấn đề của nội dung môn học

- Hạn chế của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

Thứ nhất, việc nêu vấn đề cho mỗi lần tổ chức dạy học cần

có thời gian đầu tư tương đối khó khăn, trình độ của người họccòn nhiều chênh lệch, không có tiêu chí để phân nhóm, nhiềungười học có tâm lý ngại học đối với phương pháp này

Thứ hai, người thầy cần có khả năng tổ chức, tư vấn,truyền đạt thông tin đến tất cả các học viên Các học viên trongnhóm phải thống nhất cùng nhau tập trung nghiên cứu và tìm ratri thức để giải đáp cho vấn đề cần giải quyết

Thứ ba, dạy học nêu vấn đề cần phải đầu tư thời gian, tìmkiếm nhiều sách tham khảo Người dạy phải tạo ra được tìnhhuống, hướng dẫn học viên học tập chủ động thì mới đạt kết quảnhư mong muốn

Thứ tư, phải có đưa ra những cách thức nhận xét thật phùhợp, cách thức kiểm tra phải linh hoạt và thay đổi cách đánh giá

Trang 9

để giúp người học tự nâng cao kiến thức cho bản thân, nếu không

sẽ làm cho người học chủ quan, lơ là trong học tập

Từ những phân tích ở trên cho thấy dạy học vấn đề làm chocông tác giảng dạy và học tập đạt hiệu quả như mong muốn, tạokhông khí hứng khởi học tập cho người học Dạy học giải quyếtvấn đề sẽ rèn luyện và nâng cao khả năng tư duy cho người học.Dạy học giải quyết vấn đề cần có quá trình chuẩn bị rất công phu:xác định tính có vấn đề của môn học, nội dung học tập của bài,nắm bắt trình độ học viên, chọn phương án đưa ra tình huống cóvấn đề Trong dạy học nêu vấn đề làm cho học viên học tập chủđộng và giảng viên cũng phải linh hoạt cách dạy, với những vấn

đề mà giảng viên đã có đáp án nhưng khi nghe người học giảiquyết vấn đề, giảng viên vẫn giữ vai trò của trọng tài khoa học.Giảng viên cần phải biên soạn “kịch bản” dạy học, cần kết cấu bàigiảng sao cho tính thông tin và tính nêu vấn đề được kết hợp mộtcách hợp lý Mặt khác, dạy học theo phương pháp giải quyết vấn

đề không thể tiến hành một cách tự phát Nó đòi hỏi việc đổi mớigiáo trình, tài liệu hướng dẫn và hàng loạt biện pháp tổ chức, khoahọc và sư phạm nữa

- Nguyên tắc và quy trình thực hiện phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học chuyên đề “Tư Tưởng Hồ Chí

Trang 10

ưu tú Tính khoa học của nội dung bài giảng là cơ sở để giáo dục,thuyết phục tư tưởng người học, đồng thời trang bị cho họ tri thức

lý luận khoa học để tự giáo dục, tự vận dụng để thay đổi nhữngnhận thức sai lầm, sửa đổi những tư duy lạc hậu tồn tại lâu nay

Nguyên tắc này đòi hỏi giảng viên phải luôn kiên định mụctiêu dạy học, kiên định các vấn đề đặt cho người học là tạo ra cácphẩm chất, bản lĩnh học tập cho họ Để đảm bảo nguyên tắc nàycần phải:

Bảo đảm tính hiện đại của nội dung dạy học, phải thườngxuyên cập nhật những vấn đề mới nhất của sự phát triển lý luận vàthực tiễn

Tăng cường hướng dẫn phê phán các nhận thức sai trái, các

Trang 11

phương pháp nhận thức siêu hình, phiến diện, xơ cứng để địnhhướng phát triển chính trị đúng đắng cho học viên.

Giúp cho học viên làm chủ những tri thức khoa học một cáchchính xác, bằng cách trình bày ngắn gọn, rõ ràng, có sức thuyếtphục, kết hợp giảng giải với hướng dẫn cho họ tập trung học tập

Thứ hai: Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và

thực tiễn

Theo triết học Mác – Lênin: “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm tạo tự nhiên, xã hội”.

Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

là một khối thống nhất không thể tách rời khi người giảng viêntrong công việc giảng dạy, tạo cho người học tự tiếp thu tri thứccho bản thân Lý luận với kinh nghiệm thực tiễn và sự kiện thựctiễn trong đời sống xã hội là các nội dung không tách rời nhautrong từng bài giảng, từng nội dung giảng dạy

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong buổi khai mạc lớp Lý LuậnChính Trị khóa I ngày 09/09/1957 đã nhận định: “Thực tiễn là vấn

đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật; đối với bất kỳvấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao”, đều phải suy nghĩ kĩ càng

Trang 12

xem nó có phù hợp với thực tế hay không?” Nếu chỉ tuân theosách vở một chiều là thiếu tính thực tiễn vì tri thức sách vở màtách rời hoạt động thực tiễn thì chỉ là tri thức phiến diện, khônghoàn chỉnh Đồng thời thực tiễn sẽ xác minh hay phủ nhận sựđúng đắn của những quan điểm lí thuyết “Thực tiễn không có lýluận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng, lý luận mà không có thựctiễn là lý luận suông”.

Việc áp dụng nguyên tắc này trong quá trình dạy họcchuyên đề “tư tưởng Hồ Chí Minh”, góp phần cho người họctiếp thu những kiến thức của người dạy truyền đạt nội dung kiếnthức sao cho đảm bảo việc học tập đạt hiệu quả cao, việc dạyhọc chuyên đề “tư tưởng Hồ Chí Minh” mang tính thực tiễn rấtcao Người giảng viên phải kết hợp giữa lý luận và thực tiễn ápdụng vào bài giảng một cách sinh động, dưới sự điều khiển củagiảng viên, học viên chủ động học tập Học viên có được nhậnthức mới cho bản thân, năng lực diễn đạt tư tưởng, nhận thức, lýgiải các vấn đề để trau dồi trình độ lý luận cho bản thân và khảnăng tiến hành công tác tư tưởng khi học tập các chuyên đề

Thứ ba: Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

Để thực hiện dạy học vấn đề cần phải biên soạn “kịch bản”dạy học, kết cấu bài giảng sao cho tính thông tin và tính nêu vấn

Trang 13

đề được kết hợp sao cho thật phù hợp, từ đó người giảng viên phải

tự trau dồi trình độ và khả năng sư phạm, phù hợp với mục tiêudạy học hiện nay

Tuy nhiên không thể sử dụng phương pháp nêu vấn đề theo ýmuốn, mà cần phải đổi mới cho môn học khi giảng dạy, bài giảng

và tài liệu hướng dẫn, hướng cho học viên học tập sao cho phùhợp trong việc giảng dạy chuyên đề “tư tưởng Hồ Chí Minh” vàcác chuyên đề khác

Thứ tư: Nguyên tắc phát huy tính tự giác, tích cực của

người học

Nguyên tắc phát huy tính tự giác, tích cực của người họcxuất phát từ quy luật của nhận thức Con người nhận thức thếgiới khách quan trong quá trình tác động tích cực đối với thiênnhiên, trên cơ sở thực tiễn sản xuất xã hội

Chủ động trong học tập, có hiểu biết, có mục đích học tập rõràng, sáng tạo và tạo ra các hoạt động hứng khởi trong học tập,nắm bắt vững chắc kiến thức vận dụng chúng vào trong học tập

Khi giảng viên giảng dạy phải tạo ra không khí học tập tíchcực mà còn góp phần cho học viên nắm bắt được kiến thức tíchcực hơn Người thầy đóng vai trò quan trọng để tạo ra buổi học

Trang 14

thật tích cực, đặt người học vào vị trí trung tâm của buổi học, mụctiêu học tập phải cụ thể, khuyến khích cho học viên tự học vàkiểm tra, theo dõi và đánh giá mức độ học viên tự học tập Sửdụng các bước dạy học dưới đây:

Giảng dạy theo phương thức đặt câu hỏi cho học viên để họchủ động học tập

Giảng viên đặt ra câu hỏi có mức độ khó gây người học chú

ý học tập, nếu đặt ra câu hỏi đơn giản sẽ làm cho chất lượng họctập không cao

Ra các bài tập yêu cầu có tư duy sáng tạo

Học viên phải thật chủ động trong học tập, tìm kiếm kiếnthức để đáp ứng cho việc học tập của mình

Học viên biết cập nhật những thông tin kiến thức liên quanđến môn học mà bản thân học viên đang học

Biết vạch ra kế hoạch học tập cho cá nhân

Biết chuẩn bị những tài liệu học tập phù hợp với nhu cầu,hoàn cảnh cá nhân

Học viên phải có khả năng nhận định về tri thức môn học

Dạy học nêu vấn đề đối với chuyên đề “tư tưởng Hồ Chí

Trang 15

Minh”, người dạy cần tạo ra tình huống dạy học điều khiển họcviên phát hiện tính có vấn đề, hướng dẫn học viên tự học tập,mạnh dạng tranh luận và tham gia tìm kiếm tri thức mới, tìm ra lờigiải đáp cho tình huống có vấn đề của môn học, năng nổ học tậptích cực, nhận biết được rõ bản chất của vấn đề, liên hệ thực tế đểgiải đáp vấn đề, trên cơ sở đó sẽ khuyến khích người học nghiêmtúc học tập, chủ động liên hệ thực tiễn, phát huy sáng kiến, tìmkiếm kiến thức, để giải quyết bài toán của vấn đề được đặt ratrong nội dung môn học Dành thời gian nhất định cho thảo luậntập thể ở tổ, nhóm, lớp.

Thứ năm: Nguyên tắc bảo đảm tính vừa sức

Nguyên tắc bảo đảm tính vừa sức có nghĩa là khi dạy học đặt

ra những yêu cầu, nhiệm vụ học tập được phải vừa sức với đốitượng, sao cho người học hoàn thành khóa học bằng khả năngnhận thức và thể lực của họ Muốn vậy phải đảm bảo tính vừa sứcđồng thời sử dụng có hiệu quả những giáo cụ trực quan, dụng cụ

hỗ trợ dạy học

Tính vừa sức trong dạy học có giúp cho người học nhận ranăng lực khi học tập của họ Tuy nhiên việc giảng dạy đặt ranhững vấn đề không có sự đổi mới hoặc mơ hồ, không rõ ràng sẽlàm mất đi sự chú tâm của người học khi học tập

Trang 16

Tính vừa sức trong dạy học nêu vấn đề đối với chuyên đề

“Tư tưởng Hồ Chí Minh” cho thấy, đảm bảo tính vừa sức đối vớingười học góp phần phát triển khả năng tiếp cận thông tin củamôn học Giảng viên cần biết rõ năng lực học tập của từng họcviên về: tiếp nhận thông tin, học tập tự giác, thích thú học tập, khảnăng ghi chép và trình bày chính kiến của họ

Khi giảng dạy, người dạy truyền tải kiến thức cho người học

từ vấn đề có mức độ dễ đến vấn đề có mức độ khó, vấn đề từ mức

độ đơn giản đến vấn đề có mức độ phức tạp Khi ở trên lớp giảngviên phải luôn theo dõi hoạt động và khả năng nắm bắt tri thứccủa học viên, linh hoạt điều chỉnh việc học tập của học viên

Khi giảng viên đứng lớp phải nhận biết những phản hồi từphía học viên thông qua ánh mắt, thái độ của họ khi học tập, quaviệc tổ chức đàm thoại, thảo luận và cả kiểm tra đánh giá để nắmbắt được khả năng lĩnh hội kiến thức, mục đích của học viên để từ

đó giảng viên kịp thời điều chỉnh cách thức dạy học của mình

- Quy trình thực hiện phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học chuyên đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh”

Giai đoạn 1: Đặt vấn đề

Trang 17

Quy trình thiết kế

Giảng viên giao nhiệm vụ nhận thức thông qua việc đặt tìnhhuống có vấn đề, diễn giải tình huống đó với mục đích là giúpngười học hiểu được vấn đề, để tìm lời giải đáp cho vấn đề đượcnêu ra

Yêu cầu đối với giảng viên:

+ Giảng viên đặt ra vấn đề phải rõ ràng, dễ hiểu, không gây

sự nhầm lẫn ở người học, khiến người học khó tiếp cận tình huống

+ Vấn đề nêu ra nên chứa đựng các gợi ý giải đáp vấn đề dẫnđến xuất hiện giả thuyết và đưa ra câu trả lời đúng cho vấn đề đó

+ Giảng viên cần nói chậm, chỉ ra các ý trọng tâm, các chỗ

Trang 18

nghi vấn để tạo cho học viên ghi nhớ thông tin theo lôgíc.

+ Giảng viên đưa ra vấn đề phải thích ứng với trình độ họcviên

Trình tự thực hiện của giảng viên

+ Giảng viên nêu ra tình huống có vấn đề, hướng cho họcviên nhận biết được tình huống đó

+ Giảng viên sẽ hệ thống các câu hỏi dẫn dắt ra để giúp đỡcho học viên giải quyết cho tình huống đưa ra

+ Đặt ra câu hỏi nghi vấn, câu hỏi mở để tạo sự chú ý củangười học, từ đó làm cho học viên thấy được đó là việc học củahọ

+ Làm cho người học biết đó là vấn đề mà việc giải quyếthết sức cần thiết với chính họ

Nhiệm vụ của học viên:

Học viên phải hiểu biết được vấn đề mà người dạy đặt ra,biết được nội dung của môn học và tự họ rèn luyện để có khảnăng giải quyết vấn đề

Quy trình thực hiện trên lớp

Trang 19

Nghiên cứu trước các vấn đề đặt ra, diễn đạt sao cho thậtngắn gọn, xúc tích để trình bày vấn đề cho học viên dễ nắm bắtnhất.

Giảng viên nêu ra vấn đề từ đơn giản đến phức tạp, vấn đề

đó phải dễ hiểu và phù hợp với trình độ của học viên, từ đó họcviên tự tìm ra lời giải đáp cho vấn đề đó

Giảng viên cần nhấn mạnh ở câu hỏi có tính định hướng vàcâu hỏi có tính trọng tâm tạo học viên chú ý đến bài học

Giảng viên nên kết hợp cử chỉ, hành động, sơ đồ, tranh ảnh sao cho lớp học thật sự hứng khởi

Cuối tình huống, giảng viên không diễn giải, không đưa rachỉ dẫn nhằm để học viên tự tìm lời giải cho vấn đề đặt ra

Giai đoạn 2: Nghiên cứu và giải quyết vấn đề

Quy trình thiết kế

Giảng viên làm cho học viên biết được vấn đề vừa nêu ratrong khả năng nhận thức của họ những kiến thức đã có, nhữngkiến thức chưa có, phải suy nghĩ để tìm ra lời giải đáp cho vấn đềđược nêu ra

Yêu cầu đối với giảng viên

Trang 20

+ Giảng viên đưa ra vấn đề phải xúc tích, ngắn gọn và vấn

đề đó phải ở dưới dạng nghi vấn

+ Định hướng cho người học tự xác định chính xác nộidung cần nghiên cứu

+ Kết hợp các phương thức dạy học thảo luận nhóm, đàmthoại và giáo cụ trực quan để giúp người học tìm ra câu trả lời chovấn đề nêu ra

+ Giảng viên đưa ra những câu hỏi dẫn dắt: bao gồm câu hỏichính, câu hỏi phụ, câu hỏi gợi mở giúp học viên tự giải đáp chovấn đề đó

Trình tự thực hiện đối với giảng viên

+ Giảng viên nêu ra vấn đề ở dạng giả thuyết để học viên tìmlời giải cho vấn đề được đặt ra

+ Cho học viên thảo luận nhóm, các nhóm sẽ đưa ra ý tưởng,các kiến thức cần có để giải đáp cho vấn đề nêu ra

+ Quy định thời gian để học viên tìm ra câu trả lời

+ Gọi học viên lên trả lời

+ Giảng viên tổng kết và kết luận để đưa ra lời giải cuốicùng

Trang 21

Nhiệm vụ của học viên

Học viên phải biết tìm kiếm tài liệu, đọc sách và phải có khảnăng khái quát được nội dung tri thức của môn học, để từng bướctìm ra lời giải đáp cho vấn đề cần giải quyết

Quy trình thực hiện trên lớp

Giảng viên đưa ra vấn đề cho cả lớp cùng nhau tập trungnghiên cứu

Tổ chức thảo luận nhóm, giảng viên quyết định phân chianhóm, các nhóm tiến hành thảo luận, trao đổi tập hợp các kiếnthức của các bạn học trong nhóm Giảng viên gọi nhóm trưởngcủa các nhóm lên trả lời trước lớp

Giảng viên yêu cầu những thành viên của nhóm góp ý chonhóm mình đồng thời phản biện, bổ sung lời giải cho nhóm khác

Giảng viên kết luận lời giải cuối cùng

Giai đoạn 3: Kết luận vấn đề

Quy trình thiết kế

Học viên tìm những kiến thức mới với sự hướng dẫn củangười dạy để tìm lời giải cho vấn đề đặt ra, và đặt ra mục tiêu họctập mới

Ngày đăng: 30/04/2019, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w