1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN và THỰC TIỄN của VIỆC sử DỤNG PHƯƠNG PHÁP nêu vấn đề TRONG dạy học PHẦN NHỮNG vấn đề cơ bản của CHỦ NGHĨA mác LÊNIN, tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH tại TRƯỜNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ cần THƠ

77 156 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 100,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nêu vấn đề haycòn gọi là phương pháp dạy học nêu vấn đề là phương phápdạy học dựa trên sự điều khiển quá trình học tập, phát huytính độc lập tư duy nhận thức của đối tượng ng

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC PHẦN NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN,

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp nêu vấn

đề trong dạy học phần Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp nêu vấn đề

Khái niệm phương pháp nêu vấn đề

“Phương pháp là con đường, cách thức để đạt tới mụcđích Trong hoạt động dạy học, phương pháp là con đường,cách thức mà người dạy sử dụng để hướng dẫn người học tiếpnhận tri thức khoa học nào đó Phương pháp nêu vấn đề (haycòn gọi là phương pháp dạy học nêu vấn đề) là phương phápdạy học dựa trên sự điều khiển quá trình học tập, phát huytính độc lập tư duy nhận thức của đối tượng người học.Phương pháp này là một trong hệ phương pháp dạy học tíchcực, là tập hợp nhiều phương pháp dạy học cụ thể nhằm tổchức hoạt động nhận thức của người học theo con đường hìnhthành và giải quyết vấn đề với quan điểm học viên là trungtâm quá trình dạy học Đây là một phương pháp mới hiện nay

Đó là bước tiến của khoa học sư phạm Nếu như phương phápdạy học cổ truyền chủ yếu là hướng mọi cố gắng làm cho họcviên có nhiều tri thức, tìm cách tác động từ bên ngoài vào đối

Trang 3

tượng học tập thì phương pháp dạy học nêu vấn đề là phươngpháp tìm mọi cách để kích thích nhu cầu nhận thức từ bêntrong, tạo ra khả năng tư duy độc lập và sáng tạo cho ngườihọc, nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.Trong phương pháp này giảng viên là người gợi mở, tạo ratình huống có vấn đề, sau đó tổ chức, hướng dẫn học viênphát hiện vấn đề; học viên tích cực, chủ động, tự giác giảiquyết vấn đề và thông qua đó mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩxảo nhằm đạt được mục tiêu dạy học” [1; 27].

Đặc trưng cơ bản của phương pháp nêu vấn đề là “tình huống gợi vấn đề” vì “Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề” (Rubinstein).

“Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một

tình huống gợi ra cho học viên những khó khăn về lý luận haythực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng khôngphải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quátrình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạtđộng hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có” [32; 4]

Phương pháp dạy học nêu vấn đề đối với lý luận chínhtrị là phù hợp với quan điểm nhận thức Mácxít Lênin đã nhấn

Trang 4

mạnh rằng, học chủ nghĩa cộng sản không thể chỉ thuộc lòngtừng câu từng chữ với những công thức sẵn có trong sách giáokhoa Trước thực tiễn sinh động, những mâu thuẫn trong đờisống xã hội, con người phải tư duy sáng tạo mới có thể pháthiện được những quy luật của đời sống xã hội Chính vì vậy,Lênin rất chú ý đến phương pháp luận.

Hồ Chủ tịch khi đề cập đến vấn đề này cũng nhấn mạnh

tới phương pháp học tập mới “điều cốt yếu là học tập cái tinh thần xử trí” Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nhấn mạnh

phương pháp học tập ở các trường đại học với nội dung sau:

“ở trường đại học điều chủ yếu là học phương pháp … Nếu anh tự võ trang được phương pháp vững vàng thì anh dùng

nó suốt đời vì anh phải học mãi mãi”.

“Tóm lại, phương pháp dạy học nêu vấn đề là chính là phương pháp tạo cho học viên khả năng độc lập tư duy sáng tạo Đó là phương pháp giảng viên dùng lời nói, hướng học viên đi vào tình huống có vấn đề, nêu vấn đề và tạo ra những điều kiện cần thiết để giải quyết vấn đề; cuối cùng kiểm tra lại vấn đề đã giải quyết để đi tới kết luận” [1; 26].

Trang 5

Các phương pháp dạy học như diễn giảng, đàm thoại, thínghiệm khi được thực hiện theo hình thức nêu vấn đề đều cótác dụng mang lại sự hứng thú, tạo cho học viên tâm trạng phấnkhởi, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới, tăng cường năng lực họctập, tư duy độc lập, sáng tạo của học viên-chủ thể nhận thức.

Các hình thức thực hiện phương pháp nêu vấn đề

Phương pháp diễn giảng nêu vấn đề

Cũng giống với phương pháp diễn giảng thông báo - táihiện là giảng viên đóng vai trò chủ đạo, học viên lĩnh hội các trithức một cách thụ động Nhưng trong phương pháp diễn giảngnêu vấn đề có cái khác là giảng viên trình bày các tri thức chohọc viên theo con đường suy nghĩ, tìm tòi của các nhà khoa họctrong quá trình nghiên cứu, khám phá, đi tìm ra các chân lýkhách quan Do đó học viên được làm quen với cách tư duykhoa học, xây dựng khả năng phát hiện mâu thuẫn nhận thức, từ

đó hình thành vấn đề và đề xuất giả thuyết để giải quyết vấn đề;thông qua phương pháp này học viên sẽ được tiệm cận và từngbước nâng cao vai trò tư duy độc lập, sáng tạo Tuy nhiên, khigiảng viên diễn giải, đi sâu, mở rộng về một vấn đề nào đó trongthời gian dài sẽ dẫn đến sự đơn điệu, độc thoại và học viên dễ bị

Trang 6

mệt mỏi khi phải nghe giảng liên tục một cách thụ động Vì vậy,trong khi sử dụng phương pháp diễn giải cần phải kết hợp vớicác phương pháp khác như đàm thoại hay quan sát các phươngtiện trực quan: phim tư liệu, hình ảnh, mô hình, mẫu vật việcnày sẽ có tác dụng định hướng cho sự chú ý của học viên vào nộidung vấn đề đang diễn giảng và tạo ra được bầu không khí thânthiện, gần gũi giữa thầy và trò.

Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề:

“Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề là phương pháp mà

giảng viên đặt ra những câu hỏi “có tính chất vấn đề”tạo cho

học viên gặp phải tình huống có vấn đề và qua đó họ có nhucầu cần phải tiếp thu tri thức mới để có khả năng giải quyếtvấn đề đó Phương pháp này bao gồm một tập hợpcác câu hỏiđược tổ chức, sắp xếp thành hệ thống nhằm mục đíchđể họcviên độc lập phát hiện và tìm cách giải quyết vấn đề mới trongnhận thức của họ” [5; 26]

Hệ thống câu hỏi bao gồm những câu hỏi tái hiện kiếnthức và các câu hỏi tình huống (có vấn đề), trong đó các câuhỏi có vấn đề là những câu hỏi mang tính chất thành tố chính.Các câu hỏi tái hiện chủ yếu để giúp cho học viên tìm ra các

Trang 7

kiến thức là cơ sở khoa học của vấn đề mới, là chỗ dựa chohoạt động giải quyết vấn đề

Khi giảng viên đưa ra câu hỏi có vấn đề là có tác dụngđịnh hướng cho học viên phát hiện các mâu thuẫn khách quan,

từ đó chuyển thành mâu thuẫn lôgic của chủ thể và đề xuấtphương án nhằm giải quyết vấn đề đó Đối với câu hỏi có vấn

đề là câu trả lời của học viên có chứa đựng những nội dungmới trong vấn đề

Sử dụng phương pháp đàm thoại nêu vấn đề, giảng viênphải biết kết hợp một cách nhuần nhuyễn, hợp lý, hài hòa giữa

2 loại câu hỏi có vấn đề và câu hỏi tái hiện sao cho các câuhỏi tái hiện có tác dụng tích cực giúp đỡ, hỗ trợ học viên cóthể độc lập giải quyết các câu hỏi có vấn đề

Hình thức tổ chức đàm thoại có vấn đề cho học viên: Đầu tiên, giảng viên xây dựng các câu hỏi chính và câuhỏi gợi mở thành một hệ thống câu hỏi theo một trình tự lôgicchặt chẽ thể hiện được cấu trúc của dạy học nêu vấn đề

Tùy theo kiểu tổ chức đàm thoại do giảng viên đưa ra

mà hoạt động tích cực, độc lập của học viên được tăng cường:

Trang 8

Mỗi học viên trả lời từng câu hỏi riêng biệt theo trình tựcủa hệ thống câu hỏi do yêu cầu giảng viên Tập hợp nội dungcủa các câu trả lời chính là nguồn thông tin đạt được cho tậpthể học viên Nghĩa là giảng viên nêu ra hệ thống câu hỏitrước tập thể học viên và yêu cầu học viên suy nghĩ trả lời lầnlượt từng câu hỏi theo trình tự Khi thực hiện kiểu tổ chứcđàm thoại nêu vấn đề này đã kích thích cả tập thể học viêncùng suy nghĩ tìm ra lời giải đáp cho cùng một câu hỏi vàbước đầu đã hình thành mối liên hệ giữa các học viên vớinhau qua các câu hỏi trả lời khác nhau Hay nói cách khác làgiảng viên nêu câu hỏi chứa đựng vấn đề chính và gợi ý, tổchức cho học viên thảo luận tìm ra sự thống nhất chung vềmột kết luận khoa học mới.

Qua kiểu học này học viên không chỉ tiếp thu được cáctri thức khoa học mới mà còn hình thành trong mỗi cá nhânhọc viên phương pháp tư duy lôgic trong quá trình tìm cáchgiải quyết vấn đề

Để chọn lựa kiểu tổ chức đàm thoại cho học viên, giảngviên cần dựa vào khả năng đối tượng học viên, nội dung củavấn đề, số lượng học viên và điều kiện cơ sở vật chất của nhàtrường

Trang 9

Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề có tác dụng giúp họcviên lĩnh hội tri thức một cách vững chắc thông qua việc pháthuy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học viên trong quátrình nhận thức

Quá trình giải quyết theo trình tự các câu hỏi đã hìnhthành các thao tác tư duy ở học viên đồng thời giảng viêncũng thu nhận được thông tin phản hồi ngược về mức độ hiểuvấn đề hay kết quả tiếp thu kiến thức của học viên

Phương pháp quan sát nêu vấn đề

Trong quá trình dạy học bằng phương pháp quan sát, vaitrò hỗ trợ của các loại phương tiện trực quan là rất quan trọng,không thể thiếu được các vật tự nhiên, di vật lịch sử, các hìnhảnh minh họa, các phim tư liệu

Thông thường phương pháp tổ chức cho học viên thựchiện hoạt động quan sát diễn ra chủ yếu dưới 2 hình thức:

Học viên quan sát các phương tiện trực quan do giảngviên biểu diễn gọi là phương pháp trực quan

Trang 10

Học viên trực tiếp tác động trên các phương tiện trựcquan và quan sát theo định hướng, gọi là phương pháp quansát thực hành

Tùy theo mục đích sử dụng trong quá trình dạy học,phương pháp quan sát có thể phân ra 2 loại phương pháp cụthể như sau:

Phương pháp quan sát thông báo - tái hiện: đối vớiphương pháp này kết quả quan sát của học viên nhằm minhhọa cho nguồn thông tin bằng lời nói của giảng viên hoặccủng cố vốn tri thức đã có của học viên

Phương pháp quan sát nêu vấn đề: là tổ chức quá trìnhquan sát cho học viên theo các bước của cấu trúc dạy học nêuvấn đề, kết quả quan sát của học viên có chứa đựng nội dungtri thức mới Trong phương pháp này, phương tiện trực quannhư hình ảnh, phim tư liệu, mẫu vật, mô hình đóng vai trò lànguồn kiến thức để tạo tình huống, nêu vấn đề và giải quyếtvấn đề

Quy trình thực hiện phương pháp nêu vấn đề.

Bước 1 Nhận biết vấn đề

Trang 11

Giảng viên nêu vấn đề, dẫn dắt học viên từng bước pháthiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề.

Để học viên hiểu đúng vấn đề được đặt ra, giảng viêncần giải thích và chính xác hóa tình huống (khi cần thiết)

Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó

Bước 2: Tìm giải pháp giải quyết vấn đề

Để tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau:

Trang 12

Giải thích sơ đồ

Phân tích vấn đề: Giảng viên cần gợi ý giúp học viên

làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm (Học viên

tư duy, nhớ lại những kiến thức đã học, trên cơ sở đó liêntưởng đến những kiến thức nào thích hợp dùng để làm chỗdựa mà giải quyết vấn đề)

Giảng viên hướng dẫn học viên từng bước tìm ra phương

án giải quyết vấn đề thông qua “đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề” Cần thu thập thông tin, tổ chức cơ sở dữ

liệu, huy động tri thức có được; sử dụng những phương pháp,

kỹ thuật nhận thức, tìm đoán suy luận như hướng đích, quy lạ

về quen, đặc biệt hóa, chuyển qua những trường hợp suy biến,tương tự hóa, khái quát hóa, xem xét những mối liên hệ phụthuộc, suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lùi, Phươnghướng đề xuất có thể được điều chỉnh khi cần thiết Kết quả

Trang 13

của việc “đề xuất và thực hiện hướng giải quyết vấn đề” là

hình thành được một giải pháp

Kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp giải quyết vấn đề:

Nếu học viên đưa ra những giải pháp đúng thì có thể kết thúcngay, nếu không đúng thì giảng viên cho tiến hành lặp lại từkhâu phân tích vấn đề cho đến khi nào học viên tìm được giảipháp đúng Sau khi đã tìm ra một giải pháp, giảng viên có thểcho tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác, khi có nhiều giảipháp thì dễ dàng so sánh chúng với nhau để tìm ra giải phápnào hợp lý nhất

Bước 3 Trình bày giải pháp giải quyết vấn đề

Sau khi tìm ra được giải pháp, học viên sẽ trình bày lạitoàn bộ quá trình từ việc phát biểu vấn đề cho tới khi tìm ragiải pháp Trong trường hợp vấn đề là một đề bài cho sẵn thìhọc viên có thể không cần phải nói lại vấn đề

Bước 4 Nghiên cứu phân tích, tìm hiểu sâu giải pháp

giải quyết vấn đề

Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả

Trang 14

Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương

tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề, và giải quyết nếu có thể

Ưu điểm và hạn chế của phương pháp nêu vấn đề

Ưu điểm

Phương pháp dạy học nêu vấn đề thực hiện được cách

tiếp cận quan điểm: “Dạy học lấy người học làm trung tâm”.

Phương pháp này ràng buộc học viên vào những vấn đề mà nóđược tạo ra trên cơ sở có thực, kích thích học viên xây dựngkiến thức, phát triển tư duy nhận xét, phê phán và đề xuất giảipháp Học viên được học tập trong một tình huống nhất định

sẽ tạo ra môi trường mà ở đó học viên phải làm việc với cácloại vấn đề có liên quan đến nghề nghiệp, công việc hiện tại

và sử dụng trong tương lai, các kiến thức và kỹ năng sẽ giúphọc viên giải quyết các vấn đề mà nghề nghiệp đòi hỏi

Phương pháp nêu vấn đề là phương pháp dạy học mới

Nó có tác dụng kích thích tư duy độc lập, sáng tạo, phát triểnđược khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau,phát hiện vấn đề Nó cũng đòi hỏi phải huy động được tri thức

và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận vớibạn bè, vận dụng kiến thức toàn diện cả về mặt lý luận và

Trang 15

thực tiễn để chứng minh lý giải vấn đề đặt ra, tìm ra cách giảiquyết vấn đề một cách tốt nhất Đồng thời, phương pháp nêuvấn đề còn trang bị cho học viên phương pháp luận chặt chẽ,trình bày một vấn đề có cơ sở khoa học, giúp họ tiếp cận vớiphương pháp của lôgic học – phương pháp tư duy lôgic.

Nếu so với việc sử dụng phương pháp thuyết trình truyềnthống thì khi thực hiện dạy học nêu vấn đề ta thấy kiểu dạy họcnày có vai trò thúc đẩy làm cho hoạt động của giảng viên cũngphải trở nên tích cực hơn Trong dạy học nêu vấn đề, giảngviên trở thành người tổ chức và điều khiển hoạt động nhậnthức của học viên, do đó, hoạt động của giảng viên sẽ trở nên

đa dạng, phức tạp và khó khăn hơn rất nhiều Nếu thiếu kiếnthức chuyên môn, kỹ năng thực hành phương pháp và lòngnhiệt tình, người giảng viên không thể hoàn thành được nhiệm

vụ của mình Yêu cầu đó đòi hỏi mỗi giảng viên phải khôngngừng tự bồi dưỡng những phẩm chất và năng lực cá nhânnhằm đảm bảo hiệu quả của quá trình sử dụng kiểu dạy họcnày Như vậy dạy học nêu vấn đề còn có vai trò giúp nâng caotrình độ, năng lực và nghệ thuật giảng dạy của giảng viên

Phương pháp nêu vấn đề rất thích hợp với đặc trưng củamôn lý luận chính trị Nó đòi hỏi sự trình bày mang tính chất lý

Trang 16

luận, dựa trên cơ sở khoa học Tính chất lôgic chặt chẽ của lýluận, tính phong phú của thực tiễn và giàu tính khoa học, đócũng là đặc trưng của lý luận Triết học Mácxít hiện nay Ápdụng tốt phương pháp này có tác dụng đối với những người làmcông tác lý luận (công tác giảng dạy lý luận chính trị, công táctuyên truyền, diễn thuyết, tranh luận).

Hạn chế

Trong phương pháp nêu vấn đề, việc tìm kiếm từng loạivấn đề cho mỗi nội dung thông thường là không dễ dàng Nóđòi hỏi cao năng lực tổ chức, cố vấn, trọng tài và ứng xử đápứng được với các kiểu nhân cách người học của giảng viên.Mặt khác giảng viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức,bên cạnh đó còn phải có năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ

để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề và hướng dẫn họcviên tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề Chính vì vậykhông phải giảng viên nào cũng có thể áp dụng được phươngpháp giảng dạy mới này

Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theophương pháp nêu vấn đề đòi hỏi phải có nhiều thời gian hơn

so với các phương pháp thông thường Hơn nữa, theo Lecne:

Trang 17

“Chỉ có một số tri thức và phương pháp hoạt động nhất định, được lựa chọn khéo léo và có cơ sở mới trở thành đối tượng của dạy học nêu vấn đề”.

Phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”

Cơ sở sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”

Việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề để dạy học phần

“Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh” là dựa trên những cơ sở sau:

Phù hợp với đặc thù tri thức của phần học

Bất cứ môn học, phần học nào cũng chứa đựng một hệthống tri thức tạo nên tính đặc thù của phần học, môn học đó.Đặc thù tri thức của môn học chính là những nét, đặc điểm cótính chất riêng biệt làm cho nó khác với các môn học khác.Đặc thù tri thức là một trong những cơ sở rất quan trọng trongviệc xác định các phương pháp dạy học thích hợp Phần

Trang 18

“Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh” là nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho hànhđộng cách mạng của Đảng và nhà nước ta Là hệ thống lý luậnsâu sắc, quý báu được rút kết từ thực tiễn cách mạng ViệtNam, đã và đang dẫn đường đưa nước ta đi theo con đườngchủ nghĩa xã hội Đặc thù tri thức này rất phù hợp với phươngpháp dạy học nêu vấn đề.

Phù hợp với đối tượng học viên trường chính trị

Học viên của trường chính trị hầu hết là cán bộ, công chức,viên chức, là đảng viên, là những người đang hoạt động thựctiễn Họ đi học trong khi đã và đang trực tiếp tham gia vào cáchoạt động sản xuất, quản lý, lãnh đạo ở địa phương hay cơ quan,đơn vị Mục đích học tập của họ là tiếp thu và vận dụng lý luậnchủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết cácvấn đề phát sinh trong thực tiễn công tác, họ có mong muốnđược hướng dẫn, rèn luyện khả năng phát hiện vấn đề, khả năng

xử lý tình huống và giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, bàibản để khi học xong về địa phương công tác có đủ khả năng pháthiện, xử lý và giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễncông tác ở địa phương, cơ quan, đơn vị của họ Do đó giảngviên cần phải sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học

Trang 19

phần “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh” như là một tất yếu do nhu cầu của người học.Chính vì thế phương pháp dạy học nêu vấn đề là cách thức vừađảm bảo thực hiện mục tiêu, vừa phù hợp với học viên trườngchính trị - là cán bộ cơ sở

Phù hợp với xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

Ngày nay - thời đại của “bùng nổ thông tin”, toàn cầuhóa và hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra nhiệm vụ cấp bách,cần thiết trong công tác dạy học và giáo dục ở tất cả các cấphọc, bậc học là phải đổi mới phương pháp dạy học theohướng phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạocủa người học Đổi mới phương pháp dạy học ngoài việc giúpcho người học tiếp cận được hệ thống những kiến thứcchuyên môn hiện đại mà còn giúp trang bị cho người học các

kỹ năng, kỹ xảo cần thiết có thể tự mình giải quyết đượcnhững vấn đề đa dạng và phức tạp do cuộc sống đặt ra

Mà phương pháp nêu vấn đề là phương pháp dạy họctích cực, lấy người học làm trung tâm, giảng viên tạo hứngthú, lôi cuốn học viên tích cực tham gia vào những hoạt động

Trang 20

học tập do giảng viên tổ chức, thông qua đó học viên tự khámphá những điều mình chưa biết, tự tìm cách giải quyết chứkhông phải là thụ động tiếp thu những tri thức đã được sắp đặtsẵn Như vậy, học viên có thể vừa nắm được kiến thức mới,

kỹ năng mới và giảng viên không chỉ đơn thuần cung cấp trithức mà còn hướng dẫn hành động, giúp cho học viên tiếp thubài giảng thuận lợi, dễ dàng Phương pháp dạy học nêu vấn đềrất phù hợp với xu thế hiện nay

Vai trò của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần

“Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh” tại Trường Chính trị thành phố Cần Thơ

Việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề có vai trò rấtquan trọng trong dạy học phần “Những vấn đề cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” ở các trường chínhtrị, bởi vì phương pháp này phù hợp với mục tiêu đào tạo củanhà trường, mục đích học tập cùng với những đặc điểm nộidung kiến thức của môn học, cũng như đổi mới phương phápdạy học theo hướng tích cực hiện nay

Phương pháp dạy học nêu vấn đề đã tạo hứng thú, giúphọc viên tích cực học tập từ đó tiếp thu được những kiến thức

Trang 21

phức tạp, trừu tượng, khó nhớ của môn học Tạo cơ hội chohọc viên phát huy được trí tuệ, tư duy, óc thông minh và nhất

là những kiến thức thực tiễn, cũng như kinh nghiệm của mình

vì kiểu dạy học này đòi hỏi học viên phải cố gắng đến mứccao nhất những suy nghĩ tìm tòi để tìm ra cách giải quyết tốtnhất trước những vấn đề mà bài học đặt ra, đặc biệt là các vấn

đề thực tiễn trong quá trình công tác Từ đó kiểu dạy học nàygiúp học viên phát huy được những khả năng học tập tiềm ẩncủa bản thân

Phương pháp nêu vấn đề có vai trò giúp cho học viênhình thành và bồi dưỡng khả năng tự học, kích thích lòng hamhọc, tạo cho học viên có được niềm vui của sự phát hiện saumỗi lần tham gia vào quá trình giải quyết các tình huống cóvấn đề Thông qua việc lý giải các tình huống nhận thức, họcviên một mặt tiếp thu tri thức, mặc khác tiếp thu cả phươngpháp nhận thức với những kỹ năng, kỹ xảo mới Đó là công

cụ nhận thức giúp người học không ngừng tự nỗ lực tìm kiếmnhững tri thức mới

Phương pháp dạy học nêu vấn đề có thể giúp học viênthông qua các hoạt động học tập như tiếp cận và xử lý tìnhhuống, xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề, trình bày, lý giải

Trang 22

các bài toán nhận thức Đó chính là quá trình rèn luyện đểtừng bước hình thành khả năng xử lý tình huống, giải quyếtvấn đề trong học tập để trở thành khả năng, kỹ năng xử lý,giải quyết các vấn đề thực tiễn ở địa phương, đơn vị của họcviên công tác.

Hiệu quả tích cực mang lại khi sử dụng phương phápdạy học nêu vấn đề có vai trò góp phần cải tiến, thay thế cácphương pháp thuyết trình truyền thống Trong dạy học nêuvấn đề, giảng viên trở thành người tổ chức và điều khiển hoạtđộng tạo quá trình nhận thức cho học viên, từ đó hoạt độngcủa giảng viên trở nên đa dạng, phức tạp và khó khăn hơn rấtnhiều Yêu cầu đó đòi hỏi mỗi giảng viên phải không ngừng

tự bồi dưỡng những phẩm chất, nắm vững kiến thức chuyênmôn và nâng cao năng lực cá nhân, kỹ năng thực hànhphương pháp nhằm đảm bảo hiệu quả của quá trình sử dụngkiểu dạy học này Như vậy dạy học nêu vấn đề còn có vai tròthúc đẩy làm cho hoạt động của giảng viên trở nên tích cựchơn, giúp nâng cao trình độ, năng lực và nghệ thuật giảng dạycủa giảng viên trong dạy học phần “Những vấn đề cơ bản củachủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” ở các trườngchính trị

Trang 23

Các nhân tố có tác động đến quá trình sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” tại Trường Chính trị thành phố Cần Thơ

Có nhiều nhân tố tác động đến quá trình sử dụng phươngpháp nêu vấn đề để dạy học phần “Những vấn đề cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” ở các trường chính trị,nhưng tập trung chủ yếu ở bốn nhân tố sau:

Thứ nhất là do phía giảng viên: việc lựa chọn vấn đề đưa

vào thành vấn đề học tập, tình huống có vấn đề là rất khó, đòihỏi giảng viên phải nắm vững nội dung môn học, phải có vốnkiến thức thực tiễn phong phú và phải có khả năng đánh giáđược trình độ, năng lực của học viên để chọn ra được vấn đề phùhợp đưa vào vận dụng cho phương pháp dạy học này Việc nàyđối với các giảng viên trẻ, thâm niên giảng dạy ít thường thì rấtkhó khăn vì họ chỉ có được kiến thức môn học do mới được đàotạo bài bản từ các cơ sở đào tạo nhưng họ thiếu về kiến thức thựctiễn, thiếu kinh nghiệm; do đó mặc dù họ trẻ có nhiệt huyết để sửdụng phương pháp dạy học mới nhưng bị cản trở, điều đó ảnhhưởng đến tình hình sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đềvào môn học; đối với những giảng viên thuộc những người có

Trang 24

nhiều thâm niên giảng dạy có nhiều kinh nghiệm và kiến thứcthực tiễn nhưng trong số này cũng có những lý do khác nhau; cómột bộ phận do ngoài việc giảng dạy họ còn nhiều việc khác củacuộc sống chi phối hết thời gian nên ngại thay đổi thói quen,ngại nghiên cứu phương pháp dạy học mới, dạy học tích cực, vàmột trở ngại không nhỏ đối với họ là khả năng sử dụng các thiết

bị hiện đại, thiết bị tin học hạn chế nên đã ngăn họ tiếp cận vớiphương pháp dạy học nêu vấn đề Một lý do khác đó là khả năngđộng viên, kích thích học viên tham gia học tập, khả năng xử lýkhéo léo các tình huống bất ngờ, năng lực tổ chức điều hành giờhọc theo kịch bản của giảng viên còn hạn chế

Thứ hai là do phía học viên: Đặc điểm học viên của

trường chính trị là cán bộ, công chức, viên chức là người đãtrưởng thành, họ có những vị trí nhất định trong xã xội, nênphần lớn việc học tập phụ thuộc vào ý thức tự giác, vào động

cơ học tập của họ Phần đông do lớn tuổi hoặc học “cho đủchuẩn” nên họ ngại thay đổi chỉ muốn học theo phương pháptruyền thống cứ thụ động nghe, ghi chép; họ không muốntham gia vào các hoạt động trong lớp, không muốn hợp tácvới giảng viên, với bạn học, không muốn thể hiện… chínhđiều này đã cản trở việc giảng viên muốn sử dụng phương

Trang 25

pháp dạy học giải quyết vấn đề vào giảng dạy môn học, nhất

là đối với giảng viên trẻ

Thứ ba là do đặc thù môn học: Có thể xem đây là môn

học có nội dung bao gồm toàn bộ học thuyết của chủ nghĩaMác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; có rất nhiều khái niệmtrừu tượng và phức tạp nhưng chỉ có 91 tiết lên lớp, với thờilượng đó nếu như dùng phương pháp dạy học truyền thống đểchuyển tải hết nội dung bài học, môn học cho học viên đã làchuyện khó, nên khi áp dụng dạy học nêu vấn đề là kiểu dạyhọc đòi hỏi phải có nhiều thời gian, lại càng khó khăn hơn.Bên cạnh đó do nhu cầu đào tạo cán bộ cao nên các trường

mở nhiều lớp, giảng viên đã sử dụng gần hết quỹ thời gianvào việc giảng dạy trên lớp nên không còn nhiều thời gian đểđầu tư nghiên cứu, chuẩn bị giáo án theo phương pháp dạyhọc nêu vấn đề, việc làm này cũng đòi hỏi mất nhiều thờigian, nên một số giảng viên còn ngần ngại khi sử dụngphương pháp dạy học này và nếu có sử dụng thì hiệu quảcũng không cao

Thứ tư là do các cấp quản lý: Để sử dụng rộng rãi và có

hiệu quả phương pháp này, Ban Giám hiệu các trường chính trịcần đề ra thành chủ trương, kế hoạch và lãnh chỉ đạo cho toàn

Trang 26

thể giảng viên thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, sửdụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học; cử giảng viên đihọc tập, tập huấn và tiếp thu phương pháp giảng dạy mới hay tổchức mở lớp tại trường về phương pháp giảng dạy tích cực chogiảng viên trường tham gia học tập Đồng thời có những chế độ,chính sách tạo sự nhiệt tình, tích cực thực hiện của đội ngũ giảngviên, nhằm vượt qua những khó khăn trở ngại quyết tâm thựchiện đổi mới phương pháp dạy học cùng với sự ủng hộ hưởngứng của học viên Đặc biệt là trang bị đầy đủ các điều kiện về cơ

sở vật chất, đáp ứng đủ yêu cầu phục vụ cho việc sử dụngphương pháp nêu vấn đề trong dạy học

Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học phần “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” tại Trường Chính trị thành phố Cần Thơ.

Khái quát về Trường Chính trị thành phố Cần Thơ

Lịch sử hình thành và phát triển

Trường Chính trị thành phố Cần Thơ có lịch sử hìnhthành và phát triển từ năm 1945 đến nay Trong thời kỳ khángchiến chống Pháp (1945 – 1954) và kháng chiến chống Mỹ

Trang 27

(1956 – 30/4/1975) Trường mang tên là Trường Đảng tỉnhCần Thơ Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tỉnh HậuGiang được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 đơn vị: tỉnh CầnThơ, tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ; tháng 3/1976 hợpnhất Trường Châu Văn Liêm và Trường Lê Hồng Phongthành Trường Lý luận Chính trị tỉnh Hậu Giang; tháng01/1979 thành lập Trường Đảng tại chức tỉnh Hậu Giang, đến12/1984 đổi tên thành Trường Lý luận Chính trị tại chức tỉnh,tháng 08/1988 đổi tên thành Trung tâm Giáo dục Chính trịtỉnh Tháng 02/1992, chuẩn bị tách tỉnh Cần Thơ và SócTrăng, chuyển Trung tâm Giáo dục Chính trị tỉnh Hậu Giangthành Trường Đảng tỉnh Cần Thơ Tháng 08/1993, hợp nhấtTrường Đảng và Trường Hành chính tỉnh Cần Thơ thành lậpTrường Đào tạo bồi dưỡng Cán bộ tỉnh Cần Thơ; ngày25/11/1995, đổi tên thành Trường Chính trị tỉnh Cần Thơ.Năm 2004, chia tách tỉnh Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang vàthành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương, Trường Chính trịtỉnh Cần Thơ đổi tên thành Trường Chính trị thành phố CầnThơ tiếp tục hoạt động cho đến nay

Quá trình hình thành và phát triển Trường Chính trị thànhphố Cần Thơ đã góp phần làm phong phú thêm lịch sử truyền

Trang 28

thống vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân thành phố Cần Thơ Là

sự ghi nhận, tôn trọng những thành tích, công lao của các thế hệcán bộ, công nhân viên khung trường; của nhiều đồng chí cán

bộ đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức hoạt động của Trườngqua các thời kỳ; của biết bao đồng bào yêu nước đã từng ủng

hộ, nuôi dưỡng, đùm bọc, bảo vệ Trường trong những nămtháng gian khổ, ác liệt của chiến tranh Nhiều người đã anhdũng hy sinh, từ trần, nghỉ hưu, chuyển ngành hoặc còn tạichức, tất cả đều có một quá khứ vẻ vang trong sự nghiệp đàotạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng bộ và phong trào cách mạngquê hương Là cơ sở cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chứcTrường Chính trị thành phố Cần Thơ nâng cao thêm lòng tựhào, tiếp nối, phát huy những truyền thống tốt đẹp, những bàihọc quí báu của lịch sử trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức, viên chức để phục vụ tốt hơn nữa cho giai đoạncách mạng hiện nay

Do đạt những thành tích xuất sắc, ngày 13/06/1997Trường Chính trị Cần Thơ được Chủ tịch nước Lê Đức Anhtặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, ngày23/09/2003 Trường được Chủ tịch nước Trần Đức Lươngtặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì và ngày

Trang 29

07/09/2012 Trường được Chủ tịch nước Trương Tấn Sangtặng thưởng Huân Chương Lao động Hạng Nhất Đó là niềmvinh dự, tự hào và trách nhiệm vẻ vang của cán bộ, giảngviên, nhân viên của Trường.

- Vị trí, chức năng

Trường Chính trị thành phố Cần Thơ là đơn vị sự nghiệptrực thuộc Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ,đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của BanThường vụ Thành ủy, có vị trí như một sở, ban, ngành cấpthành phố Nhà trường có con dấu và tài khoản riêng để hoạtđộng.Thành ủy quyết định bộ máy biên chế, chính sách đốivới cán bộ và học viên của trường; lãnh đạo, chỉ đạo nội dung,quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ Ủy ban nhândân thành phố quản lý hướng dẫn quy chế đào tạo, kế hoạchngân sách, kinh phí đào tạo, cơ sở vật chất và các nhu cầuhoạt động khác của nhà trường

Về nghiệp vụ: Trường Chính trị thành phố Cần Thơ chịu

sự chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ của Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.Trường Chính trị thànhphố Cần Thơ có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Trang 30

-lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ,công chức ở địa phương về lý luận chính trị - hành chính;đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, phápluật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ vềcông tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức về pháp luật và quản

lý nhà nước và một số lĩnh vực khác

- Nhiệm vụ, quyền hạn

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng,chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thịtrấn và các đơn vị tương đương); trưởng, phó phòng, ban,ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương; trưởng, phóphòng các sở, ban, ngành cấp thành phố và tương đương; cán

bộ dự nguồn các chức danh trên; cán bộ, công chức cấp cơ sở

và một số đối tượng khác về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh; về đường lối của Đảng, chính sách và pháp luậtcủa Nhà nước; về nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước

và một số lĩnh vực khác.Đào tạo trung cấp lý luận chính trị hành chính cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chínhtrị cấp cơ sở; cán bộ, công chức, viên chức ở địa phương.Bồidưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, chuyên môn,

Trang 31

-nghiệp vụ cho các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý; cán bộchuyên môn, nghiệp vụ của các tổ chức đảng, chính quyền,đoàn thể nhân dân cấp cơ sở.Bồi dưỡng, cập nhật kiến thứccho đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã, cấp huyện.Đào tạotiền công vụ đối với công chức dự bị; bồi dưỡng chuyên viên,chuyên viên chính và các chức danh tương đương.

Ngoài ra còn phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành ủyhướng dẫn và bồi dưỡng nghiệp vụ, phương pháp giảng dạycho đội ngũ giảng viên của các trung tâm bồi dưỡng chính trịcác quận, huyện.Tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ giảngdạy, học tập và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương,

cơ sở.Mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngoài các đối tượng đãnêu trên theo chỉ đạo của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thànhphố; các lớp ngoại ngữ, tin học cho các đối tượng dự nguồncán bộ cấp cơ sở

Nội dung phần “Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” trong Chương trình trung cấp lý luận chính trị – hành chính

“Trên cơ sở mục tiêu và đối tượng đào tạo, Học việnChính trị đã thiết kế chương trình gồm 07 phần học với 1.056

Trang 32

tiết (496 tiết lý thuyết, 136 tiết thảo luận và 424 tiết nghiên

cứu, ôn tập) (Xem Bảng 1.1)

- Thời gian đào tạo và kiến thức toàn khóa [16; 32]

S

S Ố BÀ I

THỜI GIAN TOÀN KHÓA

T ổng số tiết

Số tiết trên lớp

T

ự học, tự nghiê

n cứu (t iết)

H

ọc lý thuyết , đánh giá kết quả

T hảo luận

219

91

32

96

Trang 33

47

16

45

222

94

32

96

123

60

16

47

Trang 34

105

36

105

42

3

07

nghiệp hoặc viết

tiểu luận cuối khóa

- Nội dung chương trình trung cấp lý luận CT-HC

[16; 32]

Trang 35

Học lý thuyết , đánh giá kết quả (tiết)

3 Những vấn đề cơ bản của phương thức sản

Trang 36

4 Những vấn đề kinh tế chính trị của thời kỳ

5 Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công

6 Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ

7 Liên minh công - nông - trí thức trong thời kỳ

I.2 Những vấn đề cơ bản của tư tưởng Hồ Chí

8 Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển

9 Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn

10 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết 4

11 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, 4

Trang 38

4 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 4

5 Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền

Ngày đăng: 30/04/2019, 14:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w