Đánh giá sự tuân thủ điều trị uống thuốc ARV: thực hiện trong tất cả các lần người bệnh đến tái khám dựa trên đếm số thuốc còn lại, tự báo cáo của người bệnh, sổ tự ghi, báo cáo của ngườ
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
7-9/2018
HÀ NỘI - 2019
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN 3
3
1.1.1 Khái niệm về HIV/AIDS và Điều trị kháng virút HIV (ARV) 3
1.1.2 Điều trị thuốc kháng virút HIV (ARV) 3
7
1.2.1 Khái niệ 7
1.2.2 Phân loại tuân thủ điều trị thuốc ARV 8
1.2.3 Các phương pháp đánh giá tuân thủ ị: 8
chương trình chăm sóc, hỗ trợ, điều trị HIV/AIDS trên thế giới, và tại Việt Nam 14
1.3.1 Trên thế giới 14
1.3.2 Việt Nam 15
1.3.3 Tại Vĩnh Phúc 16
17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
21
21
2.2.1 Chỉ số, biến số 21
23
2.2.3 23
2.2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu: 24
25
2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 25
ỨU 27
3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành về tuân thủ điều trị ARV 27
3.1.1 Kiến thức về tuân thủ điều trị ARV 27
3.2.2 Thái độ tuân thủ điều trị ARV 29
3.2.3 Thực hành về tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân AIDS 31
3.2 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV 35
3.2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 35
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 40
4.1 Đặc điểm nhân khẩu họ 40
4.2 Đặc điểm về kiến thức, thái độ, thực hành tuân thủ điều trị ARV 42
4.3 ố ại thời điểm nghiên cứu: 47
4.4 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV 48
53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 4DANH MỤC BẢNG
4
Bảng 3.1: Kiến thức về tuân thủ điều trị ARV (n = 124) 27
Bảng 3.2: Kiến thức về tuân thủ điều trị 28
Bảng 3.3: Thái độ về tuân thủ điều trị ARV 29
Bảng 3.4: về tuân thủ điều trị ARV 30
31
32
Bảng 3.7: Tần suất sử dụng thuốc trong ngày 32
Bảng 3.8: Tỉ lệ quên thuốc trong 1 tháng gần đây 33
Bảng 3.9: Tỉ lệ quên thuốc trong 1 tháng gần đây 33
Bảng 3.10: Lý do quên dùng thuốc (n=46) 33
Bảng 3.11: Xử trí khi quên hay chậm giờ uống thuốc 34
34
34
35
35
Bảng 3.16 Thông tin chung của ĐTNC 35
Bảng 3.17 : Mối liên quan gi a thực hành TTĐT ARV với một số yếu tố 38
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
(Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)
NRTI
nucleotide NNRTI
nucleoside
PI
(Jont United Nations programme on HIV/AIDS)
Trang 6LỜI CẢM ƠN
những khó khăn và truyền cho tôi tinh thần làm việc sôi nổi, sáng tạo, miệt
những kiến thức nền quý giá để chuẩn bị sẵn sàng cho việ
Tôi xin chân thành cảm ơn đến:
ạo điều kiện, giúp đỡ để tôi thực hiện đề tài này
-ối hợp, giúp đỡ tôi trong công tác điều tra thu thập số liệu
ến gia đình, người thân, anh, chị, em, đồng nghiệp lời cám ơn chân thành nhất
Trang 8ARV ăm sóc, hỗ trợ và điều trị ARV, góp phần nâng cao công tác chăm sóc người nhiễm và hiệu
trạng trong thuốc ARV của bệnh nhân HIV/AIDS điều trị
Trang 9CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
1.1.1 Khái niệm về HIV/AIDS và Điều trị kháng virút HIV (ARV)
HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Human Immunodeficiency
Virus" là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh[1]
AIDS là chữ viết của cụm từ tiếng Anh "Acquired Immudeficiency
syndrome" là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến
tử vong[1]
Người nhiễm HIV: Người nhiễm HIV là người có mẫu huyết thanh dương
tính với HIV khi mẫu đó dương tính cả ba lần xét nghiệm bằng ba loại sinh phẩm với các nguyên lý và kháng nguyên khác nhau (phương cách III)[1]
1.1.2 Điều trị thuốc kháng virút HIV (ARV)
Bộ Y tế mới ra Quyết định số 5418/QĐ-BYT ngày 01/12/2017 về việc “ Ban hành Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS” Quyết định này thay thế cho Quyết định số 3047/QĐ-BYT ngày 22/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế về “ Hướng dẫn quản lý, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS” và Quyết định số 3413/QĐ-BYT ngày 27/7/2015 về việc sửa đổi nội dung tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV trong “ Hướng dẫn quản lý, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS ” ban hành kèm theo Quyết định số 3047/QĐ-BYT ngày 22/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, tạo hành lang pháp lý cho công tác điều trị thuốc ARV[2]
* Mục đích của điều trị bằng thuốc ARV
- Ngăn chặn tối đa và lâu dài quá trình nhân lên của HIV trong cơ thể;
- Phục hồi chức năng miễn dịch
* Nguyên tắc điều trị ARV:
nhằm ngăn chặn khả năng nhân lên của HIV, giảm số lượng HIV trong máu và
Trang 10giảm phá hủy tế bào miễn dịch;
và theo dõi trong suốt quá trình điều trị;
đúng liều, đúng giờ, đúng cách theo chỉ định [2]
*
(NRTI)
Lamivudine/3TC Tenofovir /TDF
Emtricitabine/ FTC
ức chế men sao chép ngược Non-nucleoside
(NNRTI)
Nevirapine/NVP Delavirdine/ DLV Efavirenz/ EFV Etravirine/ ETR
Trang 11Ritonavir/RTV Indinavir / IDV Nelfinavir/ NFV Amprenavir/ APV Lopinavir + ritonavir/ LPVr Atazanavir/ ATV Fos-Amprenavir Darunavir/ DRV Darunavir/ DRV
Enfuvirtide/ ENF
ức chế men tích hợp
Raltegravir /RAL
* Yêu cầu về tuân thủ điều trị ARV:
- Đảm bảo 3Đ là: Đúng thuốc, Đủ liều và Đều đặn
- Cần đảm bảo tuân thủ điều trị nghĩa là hàng tháng uống đủ ít nhất 95%
số lần và số thuốc cần uống trong 1 tháng
- Cụ thể như sau:
+ Đối với bệnh nhân dùng thuốc 2 lần/ngày: tuân thủ 3Đ nghĩa là uống
Đúng thuốc được bác sĩ cấp, uống Đủ 60 lần/tháng và 14 lần/tuần, Đều đặn 2
lần/ngày Tuân thủ trên 95% nghĩa là không quên uống thuốc quá 3 lần/tháng
và nếu tính trong 1 tuần thì không được quên lần nào
+ Đối với bệnh nhân dùng thuốc 1 lần/ngày: tuân thủ 3Đ nghĩa là uống
Đúng thuốc được bác sĩ cấp, uống Đủ 30 lần/tháng và 7 lần/tuần, Đều đặn 1
lần/ngày Tuân thủ trên 95% nghĩa là không quên uống thuốc quá 1 lần/tháng và nếu tính trong 1 tuần thì không được quên lần nào[2]
Trang 12* Đánh giá tuân thủ điều trị tại các cơ sở điều trị HIV :
Đánh giá tuân thủ điều trị bao gồm đánh giá uống thuốc đúng theo chỉ định, tái khám và xét nghiệm đúng hẹn
Đánh giá sự tuân thủ điều trị uống thuốc ARV: thực hiện trong tất cả các lần người bệnh đến tái khám dựa trên đếm số thuốc còn lại, tự báo cáo của người bệnh, sổ tự ghi, báo cáo của người hỗ trợ điều trị…
Theo dõi việc đến khám, lĩnh thuốc và làm xét nghiệm theo lịch của người bệnh Liên hệ với người bệnh để nhắc nhở họ đến khám và lấy thuốc đúng hẹn qua điện thoại hoặc mạng lưới đồng đẳng viên/người hỗ trợ điều trị hoặc nhân viên y tế xã, phường, thôn bản
Đánh giá sự tuân thủ điều trị thông qua việc theo dõi xét nghiệm tải lượng HIV thường quy: Phản ánh tốt nhất sự tuân thủ điều trị của người bệnh[2]
* Đánh giá các yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị:
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị bao gồm:
- Nhận thức của người bệnh về sự cần thiết của việc tuân thủ điều trị ARV
- Tính chất công việc của người bệnh
- Khoảng cách đi lại từ nhà đến phòng khám
- Sự hỗ trợ tuân thủ điều trị của các thành viên trong gia đình
- Tình trạng nghiện rượu, ma túy, thuốc lá…
- Các thuốc điều trị phối hợp khác: điều trị methadone, điều trị lao, các thuốc điều trị các bệnh khác…[2]
* Hướng dẫn cách xử lý khi quên uống thuốc ARV:
Nhớ lúc nào uống lúc đó (uống liều đã quên)
Uống liều kế tiếp như sau: Nếu khoảng cách giữa 2 liều dưới 4 giờ (đối với người uống một ngày hai liều thuốc) hoặc dưới 12 giờ (đối với người uống một ngày một liều thuốc) thì phải đợi trên 4 giờ hoặc trên 12 giờ mới uống thuốc Nếu giờ uống liều kế tiếp khó khăn cho người bệnh thì có thể phải bỏ liều này Ngày hôm sau lại uống thuốc theo giờ cố định như thường lệ [2]
Trang 131.2
1.2.1.1
Theo T chức y tế th giới, tuân thủ điều trị được định nghĩa là sử
i sống và chế độ ăn phù hợp với hướng dẫn của nhân viên y tế
chỉ việc tuân thủ với việc sử dụng thuốc Trong các nghiên cứu, tỷ lệ
u thị bằng tỷ lệ số lần uống thuốc thực tế trên số lần uống thuốc được hướng dẫn trong một khoảng thời gian cụ thể
Tuy nhiên, sử dụng thuốc tốt không chỉ cần uống thuốc đầy đủ, m còn phải u ng đúng cách và đúng thời điểm Do đó, để đảm bảo hiệu quả của thuốc, bệnh nhân cần được đánh giá sự tuân thủ về thời điểm và cách sử dụng thuốc [44]
1.2.1.2 Vai trò c
Việc tuân thủ nghiêm ngặt các liệu pháp điều trị kháng retrovirus là chìa khoá dẫn đến giảm HIV giảm nguy cơ kháng thuốc, cải thiện sức khoẻ ng thể, chất lượng cuộc ng và t lệ sống còn, cũng như giảm nguy cơ lây truyền HIV Ngược lại, tuân thủ kém là nguyên nhân chính của thất bại điều trị Đạt được sự tuân thủ điều trị ARV là một yếu tổ quan trọng quyết định kết cục lâu dài của bệnh nhân nhiễm HIV Đối với nhiều bệnh m n tính, ví dụ như ti u đường hoặc cao huyết áp, phác đ thuốc vẫn có hiệu quả ngay cả sau khi điều trị được tiếp tục sau một khoảng thời gian gián đoạn Tuy nhiên, trong trường hợp nhiễm HIV, sự mất kiểm soát virus học do hậu quả của việc không tuân thủ điều trị ARV có dẫn tới kháng thuốc và mất các lựa chọn điều trị trong tương lai, khiến người bệnh có khi phải trả giá bằng chính sinh mệnh của mình [3]
NVP, EFV có thể nhanh chóng xuất hiện, m trong đó kháng với một thuốc là kháng
này sang người khác thông qua các hành vi có nguy cơ cao, dẫn tới hậu quả thu hẹp các lựa chọn điều trị [42]
Trang 14Tuân thủ điều trị ARV là trọng tâm của thành công điều trị Các thuốc
dưới ngưỡng phát hiện của các kỹ thuật xét nghiệm hiện nay, sự sao chép của virus vẫn được diễn ra Do đó, bệnh nhân cần tuân thủ y đủ và liên tục để duy trì tác dụng ức chế virus ngay cả khi tải lượng virus rất thấp Paterson và cộng
sự thấy rằng mức tuân thủ thấp hơn 95% làm tăng nguy cơ nhập viện, nhiễm trùng cơ hội và giảm tác dụng ức chế virus [40]
1.2.2 Phân loại tuân thủ điều trị thuốc ARV
Hiện nay, trên lâm ng cũng như trong các nghiên cứu, chưa có sự đồng thuận về chỉ tiêu phân loại tuân thủ điều trị “tốt” và “kém” nào được đưa ra Một
nhân cần đạt mức độ tuân thủ cao để duy trì tác dụng ức chế tải lượng virus [39] [40]
chứng về mốc tuân thủ mục tiêu bệnh nhân cần đạt được khi điều trị ARV Các
theo kết quả thu được từ nghiên cửu của Paterson và cộng sự Tuy nhiên, nghiên
từ một số nghiên cứu khác cho thấy, các phác đồ chứa NNRTI có th đạt hiệu quả ức chế virus ở mức độ tuân thủ từ 70% trở lên [25] [43] Bằng chứng từ các nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ tuân thủ cần thiết để ngăn đột biến kháng thuốc phụ thuộc vào giai đoạn điều trị, chủng virus và hệ gen của bệnh nhân [25] Mặc
dù các phác đồ mới có hiệu quả cao hơn, nhưng trong giai đoạn 4 - 6 tháng đầu điều trị với bất kỳ phác đồ ARV o, bệnh nhân cần phải đạt được mức tuân thủ gần như tuyệt đối (95-100%) [43] Do đó, mốc 95% đã nêu ở trên phần nào vẫn
có ý nghĩa đối với quá trình điều trị HIV
1.2.3 Các phương pháp đánh giá u trị:
Sự tuân thủ là một hiện tượng phức tạp, không có một biện pháp "tiêu chu n vàng” được xác định đề theo dõi và đo lường nó Mỗi phương pháp có ưu
Trang 15và nhược điểm nên cần phải xem xét khía cạnh khác nhau, giữa l thuyết và thực nghiệm đ sử dụng chúng theo thực tế của hoàn cảnh kinh tế và văn hóa xã hội khác nhau, đặc biệt là ở các nước có nguồn lực hạn chế Điều quan trọng cần lưu
ý công tác gi m sát việc tuân thủ phải được sử dụng như một chiến lược để hỗ trợ các bệnh nhân ở chỗ nó giúp cho đội ngũ y tế để xác định những khó khăn,
từ đó phác thảo một kế hoạch hành động theo những đòi hỏi và nhu cầu của người bệnh Vì vậy, nó nên được sử dụng như một tính năng giúp cho bệnh nhân
lược và biện pháp can thiệp tốt hơn chứ không phải là một cách đ đỗ lỗi cho họ
kháng virus và tác động của đại dịch trong tương lai của nhân loại, đặc biệt là ở
nhóm: nhóm phương pháp chủ quan và nhóm phương pháp khách quan
1.2.3.1
Nhóm phương pháp chủ quan là phương pháp đánh gi tuân thủ dựa vào thông tin do bệnh nhân cung cấp Đây là phương pháp đơn giản, dễ dàng áp dụng trong thực tế lâm s ng cũng như trong các nghiên cứu Phương pháp này yêu cầu bệnh nhân tự báo cáo về việc tuân thủ của mình thông qua bộ câu hỏi hoặc phỏng v n bệnh nhân
Vai tr của bộ câu hỏi trong đánh gi tuân th điều trị ARV:
Đánh giá tuân thủ điều trị bằng bộ câu hỏi phỏng vấn là phương pháp được
chăm sóc sức khỏe hàng ngày
Có lợi thế của việc chi phí thấp, linh hoạt, mất ít thời gian, cần ít nhân
và người bệnh, giúp cán bộ y tế có thể lắng nghe và thảo luận v những nguyên nhân và những khó khăn, chở ngại liên quan đến liều nhỡ và các giải pháp khả thi
Nhược điểm:
Trang 16Kết quả u chính xác về mức độ tuân thủ của bệnh nhân Tuy nhiên phương pháp này vẫn đóng một vai trò nhất định trong quá trình theo dõi điều trị của bệnh nhân trên lâm s ng, và được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu Arnsten và cộng sự thấy ng kết quả từ bộ câu hỏi cho tỷ lệ tuân thủ cao hơn kết quả thu được từ phương pháp sử dụng thiết bị theo đõi điện tử (Medication event monitoring system - MEMS), nhưng cả 2 kết quả đều tương quan chặt chẽ với tải lượng virus của bệnh nhân [24] Mặt khác, các phương pháp đánh giá khách quan như MEMS hay theo dõi thời điểm lĩnh thuốc của
dữ liệu y tế số hóa, nên khó thực hiện đặc biệt như ở các nước đang phát triển như nước ta
Một số bộ câu h ng vấn bệnh nhân
Trên thế giới đã có một số bộ câu hỏi được xây dựng để áp dụng trong
như bộ công cụ mẫu đ đánh giá tuân thủ điều trị Các bộ câu hỏi đánh giá tuân thủ thường có cầu trúc gồm 2 phần chính: phần câu hỏi về tuân thủ của bệnh
Phần này thường được các nghiên cứu kế thừa từ một số bộ câu hỏi sẵn có Một số công cụ thường gặp trong các nghiên cứu v tuân thủ điều trị ARV gồm: Visual Analog Scale (VAS), Case Adherence Index Questionnaire (CASE), Swiss HIV, Cohort Study Adherence Questionnaire (SHCS-AO), Adult AIDS Clinical Trials Group instrument (AACTG)
- VAS là phương pháp đánh giá tuân thủ đơn giản dựa trên thang điểm từ 0- 10, bệnh nhân được yêu cầu đánh d u vào một điểm trên đường tỷ lệ tương ứng với mức độ tuân thủ của mình trong một khoảng thời gian nào đ (ví dụ 1
ặc thậm chí là từ khi bắt đầu điều trị) [35], [41]
- Bộ câu hỏi AACTG được xây dựng bởi Adult AIDS Clinical Trials Group
Trang 17bộ câu hỏi này vào các nghiên cứu dịch tễ [27], [35] Công cụ này đánh giá việc
sử dụng thuốc của bệnh nhân trong khoảng thời gian 4 ngày [27] bao gồm các
(một lần uống thuốc không đầy đủ như hướng dẫn cũng được tính là bỏ thuốc)
- Bộ công cụ SHCS-AQ bắt nguồn từ một nghiên cứu thuần tập lớ
hành tại Thụy Sĩ (Swiss HIV Cohort Study) Nghiên cứu này đã sử dụng 2 câu hỏi trắc nghiệm: “anh (chị) có thường xuyên bỏ lỡ một lần uống thuốc trong vòng 4 tuần qua không? Các lựa chọn bao gồm: hàng ngày, nhiề
: >10 điểm - tuân thủ tốt, < 10 điểm - tuân thủ kém[38].Các bộ câu hỏi u đưa ra những câu hỏi có c u trúc giống nhau Điểm khác biệt giữa các bộ câu hỏi này nằm ở thời gian hồi cứu Các nghiên cứu có th áp dụng thời gian hồi cứu ngắn như 1, 3, 4,
được cho r ng sẽ làm giảm sai số nhớ lại của bệnh nhân, nhưng theo kết quả
tháng cho kết quả chính xác hơn trong 3 và 7 ngày [36]
Một số nghiên cứu đã n nh so sánh các bộ công cụ n y, kết quả cho thấy khả năng đánh gi của chúng tương đương nhau, không có bộ công cụ n o
có hiệu lực vượt trội [31], [38].Một điểm khác biệt khác giữa các nghiên cứu về
Trang 18tuân thủ là cách định nghĩa một liều thuốc được uống “đúng giờ” CASE index định nghĩa “đúng giờ”là không sớm hay muộn hơn 2 giờ so với lịch uống thuốc được nhân viên y tế hướng dẫn Các bộ công cụ còn lại không đưa ra tiêu chuẩn
về mặt thời gian cho việc uống thuốc Trong một nghiên cứu gân đây, Gill và cộng sự thấy rằng các bệnh nhân uống thuốc đúng giờ, không sớm hay muộn hơn 1 giờ so với lịch uống thuốc được hướng dẫn đạt hiệu quả ức chế virus cao hơn so với các bệnh nhân chỉ tuân thủ về số lần uống thuốc [30] Từ kết quả này,
Đỗ Mai Hoa và cộng sự đã áp dụng định nghĩa trên vào một nghiên cứu về tuân thủ điều trị trên 615 bệnh nhân từ 5 phòngkhám ngoại trủ tại Việt Nam [29]
* Phần câu hỏi về một số y u t có thể ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị
Các bộ câu hỏi thường phối hợp thu thập các thông tin để đánh giá về sự tuân thủ điều trị v các thông tin để phát hiện các yêu t có thể ảnh hưởng tới hành vi tuân thủ của bệnh nhân Một số yếu t thường được đánh giá sự ảnh hưởng trong các nghiên cứu và đã được chứng minh có m i quan hệ với hành vi
được đánh giá dựa vào số thuốc còn dư, số thuố
nhân không uống thuốc mà bỏ thuốc đi; gây bất tiện cho bệnh nhân do phải mang theo hộp thuốc mỗi lần tái khám; tạo tâm lý không thoải mái cho bệnh
ợc thời điểm và cách sử dụng thuốc của bệnh nhân
Trang 19ện tử (MEMS) đã được sử dụng để đo lường tuân thủ trong các
là sử dụng thiết bị theo dõi điện tử trên nắp hộp thuốc có hiệu lực cao trong việc
dự đoán diễn biến về tải lượng virus của bệnh nhân Số lần v thời điểm bệnh nhân mở nắp hộp thuốc sẽ được ghi lại, và sử dụng đ tính tỷ lệ tuân thủ so với
khoảng cách giữa các liều, số lần mở chai và uống thuốc, tạo sự tuân thủ cho những người tham gia do nó tạo ra th i quen quản lý việc mở chai Tuy nhiên,
với mục đích khác (ví dụ: để đếm số thuốc còn lại), không uống thuốc nhưng vẫn mở nắp, hoặc trường hợp thiết bị theo dõi bị hỏng Mặt khác, sử dụng phương pháp này cũng đòi hỏi chỉ phí lớn cho việc trang bị hộp thuốc có thiết bị theo dõi
Giám sát n ng độ thuốc ARV: việc giám sát n ng độ thuốc ARV trong máu đã được coi là một biện pháp trực tiếp và khách quan về sự tuân thủ dùng thuốc có th được sử dụng cả trong phòng khám và trong nghiên cứu Các phân tích được thực hiện bằng kết quả của một xét nghiệm máu cho biết mức độ hiện
có của thuốc N ng độ thấp của thuốc ARV trong máu có liên quan chặt chẽ với
thất bại điều trị Mặc dù là một biện pháp khách quan, nhưng phương pháp này
vẫn còn nhược điểm Một trong những nhược điểm chính là các xét nghiệm máu chỉ có thể phản ánh sự hấp thụ của thuốc trong vòng 24 giờ qua và kết quả có thể thay đổi tùy theo các yếu t như sự tương t c với các thuốc khác hoặc với
chúng trên quy mô lớn là chi phí cao, bệnh nhân phải đến cơ sở y tế hằng ng y
Đánh giá tuân thủ theo dữ liệu về việc lĩnh thuốc của bệnh nhân tại hiệu thuốc là phương pháp đơn giản, đòi hỏi chi phí thấp Một số nghiên cứu cho
quan khả cao với tải lượng virus Tuy vậy cũng như các phương pháp ở trên, nó
Trang 20thời điểm uống thuốc của bệnh nhân Mặt khác để áp dụng phương pháp này, các nhà thuốc cần có một hệ thông lưu trữ thông tin hiệu quả Do đó, không
ựa vào tải lượng virus trong máu: mục tiêu của việc điều trị
đó có thể sử dụng tải lượng virus để theo dõi, đánh giá việc tuân thủ điều trị Tuy nhiên, tải lượng virus trong máu không chỉ chịu ảnh hưởng bởi mức độ tuân thủ của bệnh nhân Một bệnh nhân tuân thủ tốt vẫn có th có tải lượng virus cao do kháng thuốc hoặc thuốc kém hấp thu Với những nơi xét nghiệm tải lượng virus không sẵn có, có thể thay thể bằng xét nghiệm số lượng CD4 Tuy nhiên, do tuân thủ điều trị kém không lập tức dẫn tới thất bại v virus học hay miễn dịch học nên phương pháp này ít khi có thể phát hiện sự tuân thủ kém của bệnh nhân tại thời điểm xét nghiệm
Các nghiên cứu rất ít khi áp dụng một phương pháp duy nhất đ đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân, m thường kết hợp nhiều phương pháp Cụ th , tải lượng virus thường được sử dụng như là kết quả đ đối chiều với kết quả thu được từ các phương pháp khác
HIV/AIDS trên thế giới, và tại Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Theo báo cáo của chương trình phối hợp Liên hợp quốc năm 2013, năm thứ
32 của cuộc chiến chống HIV/AIDS, nhân loại vẫn phải “nhận” thêm khoảng 2,1 triệu người mới nhiễm HIV (dao động từ 1,9 triệu-2,4 triệu) tức là 6.000 ca nhiễm mới mỗi ngày và 1,5 triệu người (dao động từ 1,4 triệu-1,9 triệu) tử vong
do các bệnh liên quan đến AIDS Số người nhiễm HIV/AIDS hiện đang còn sống trên toàn cầu là 35 triệu (dao động từ 33,2 triệu – 37,2 triệu), trong đó trẻ
em dưới 15 tuổi là 3.2 triệu[30] Khu vực Cận Sahara và Châu Phi là nơi có số người nhiễm HIV cao nhất trên thế giới với 24,7 triệu người, tiếp đến là châu Á
Thái Bình Dương với 4,8 triệu người nhiễm HIV[23]
Trang 21Việc mở rộng tiếp cận với điều trị ARV trên toàn cầu đang làm cho tỷ lệ
tử vong do AIDS giảm nhanh chóng (ước tính giảm 4,2 triệu ca tử vong ở các nước thu nhập thấp và trung bình trong khoảng 2002-2012), đồng thời làm tăng tuổi thọ cho bệnh nhân (ở Nam Phi người lớn điều trị ARV sớm có tuổi thọ bằng 80% tuổi thọ người bình thường) và giảm tỷ lệ lây truyền HIV Tỷ lệ bệnh nhân được tiếp cận điều trị trên toàn thế giới tăng từ 54% năm 2011, lên 65% (đạt 9,7 triệu người) năm 2012 Nếu nỗ lực này được duy trì, thế giới có thể đạt mục tiêu
15 triệu người được điều trị ARV vào cuối năm 2015[44]
1.3.2 Việt Nam
Theo thống kê của Cục Phòng, chống HIV/AIDS, tính đến quý II/2015, lũy tích số người nhiễm HIV đang còn sống 227.114 người, số bệnh nhân AIDS là 71.115 và số tử vong 74.442 người[7] Về địa bàn phân bố dịch, toàn quốc đã phát hiện 80,3% xã/phường, gần 99,8% quận/huyện ở 63/63 tỉnh/thành phố có người nhiễm HIV
Về hình thái lây truyền HIV/AIDS: tỷ lệ nhiễm HIV là nữ ngày càng tăng,
từ 24,2% năm 2007 đến năm 2013 là 32,4% và trong 3 tháng đầu năm 2015 tỷ
lệ người nhiễm HIV được xét nghiệm phát hiện là nữ giới chiếm 34% Tỷ lệ lây truyền qua đường tình dục ngày càng chiếm tỷ lệ cao hơn so với lây truyền qua đường máu Về phân bố theo nhóm tuổi, người nhiễm HIV nhóm từ 30-39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất [5]
Việt Nam bắt đầu triển khai mở rộng điều trị ARV từ năm 2006, đến quý II/2015 có 95.752 người (91.156 người lớn, 4.596 trẻ em) đang điều trị ARV tại 312 phòng khám ngoại trú và 526 điểm cấp phát thuốc ARV tại xã/phường trên toàn quốc Việc gia tăng số người được điều trị ARV đã giúp làm giảm đáng kể số tử vong do AIDS hằng năm (trong những năm 2009 số tử vong khoảng 7.000- 8.000 ca/năm, đến nay khoảng 2000-3000 ca/mỗi năm) [5] Điều
đó đồng nghĩa với việc các gia đình sẽ có thời gian sống chung lâu hơn và phải
có kế hoạch ứng phó lâu dài trong chăm sóc, hỗ trợ người bệnh tại nhà
Điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng vi rút (ARV) không những làm giảm tỷ lệ bệnh tật và giảm tử vong ở người nhiễm HIV, mà còn làm giảm lây
Trang 22truyền HIV sang người khác Một số nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã chỉ ra rằng: Điều trị ARV làm giảm 96% nguy cơ lây truyền HIV qua quan hệ tình dục và giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 2% Đồng thời, điều trị ARV còn làm giảm gánh nặng điều trị cho gia đình và ngành y tế[6]
Tuy nhiên, ngân sách trong nước đầu tư cho công tác điều trị còn hạn chế, năm 2010 có 6,2%, năm 2011 có 5,3%; năm 2012 có 7,3%; năm 2013 là hơn 6,3% và năm 2014 chỉ có 4,4% Bên cạnh đó đã có thông báo về lộ trình cắt giảm viện trợ của hai nhà tài trợ lớn là Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS
và Chương trình cứu trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ (PEPFAR)[6] Như vậy trong thời gian tới, để đáp ứng nhu cầu điều trị của bệnh nhân, đáp ứng hiệu quả điều trị, giảm gánh nặng cho ngành y tế thì việc chăm sóc hỗ trợ tại nhà của gia đình là một phần rất quan trọng
1.3.3 Tại Vĩnh Phúc
Đến ngày 31/12/2017, số người nhiễm HIV còn sống của tỉnh là 2007 người, trong đó số bệnh nhân AIDS còn sống là 1269 người, phân bố trên cả 9/9 huyện, thị xã, thành phố; 136/137 xã, phường (chiếm 99,3% số xã phường) phát hiện có người nhiễm
Tính đến hết 31/12/2017, lũy tích số bệnh nhân đã điều trị HIV/AIDS là
1045 bệnh nhân (trong đó có 34 trẻ em) Số hiện đang nhận thuốc điều trị ARV
là 794 bệnh nhân (26 trẻ em) đạt 77,9% so với tổng số 1019 người nhiễm HIV
hiện còn sống trong tỉnh (trừ những trường hợp mất dấu, không có thực và chưa xác định) Trong đó tại phòng khám Trung tâm Kiểm soát bệnh tật là: 670 bệnh
nhân và 124 bệnh nhân (08 trẻ em) đang điều trị tại TTYT huyện Sông Lô
Chương trình điều trị tuy mới được triển khai ở Vĩnh Phúc, nhưng đã nhận được sự đồng thuận cao của cộng đồng và gia đình người nhiễm do hiệu quả điều trị mang lại Tuy nhiên, công tác điều trị còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất và nguồn nhân lực cho phòng chống AIDS nói chung và cho chương trình điều trị HIV/AIDS nói riêng còn hạn chế [7]
Trang 231.4
Nhiều tác giả trên thế giới đã tiến hành các nghiên cứu đánh giá về liên quan giữa tuân thủ điều trị với hiệu quả điều trị ARV, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến TTĐT, các rào cản TTĐT và cũng đã đề xuất các biện pháp giúp tăng cường TTĐT
Nghiên cứu về mức độ tuân thủ điều trị ARV:
Tỷ lệ bệnh nhân HIV/AIDS tuân thủ điều trị ARV qua một số nghiên cứu trên thế giới có sự dao động khoảng từ 25% đến 75%
Nghiên cứu của Chesney (2000) tại Mỹ cho thấy ước lượng có khoảng 70% bệnh nhân không tuân thủ điều trị [28]
50-Một nghiên cứu tại Thái Lan do Mannheimer và cộng sự tiến hành trên 149 bệnh nhân điều trị ARV qua báo cáo tuân thủ của bệnh nhân trong vòng 30 ngày qua, cho thấy tỷ lệ tuân thủ thay đổi từ 25% đến 100% Phần lớn bệnh nhân (114 người, chiếm 77%) tuân thủ tốt (>95%) với kết quả tải lượng HIV ≤ 50 phiên bản/ml máu [33]
Nghiên cứu trên 181 bệnh nhân ở vùng nông thôn Trung Quốc cho kết quả
có 81,8% bệnh nhân báo cáo có tuân thủ điều trị thuốc ARV trong 3 ngày qua [8]
Kết quả nghiên cứu trên 163 bệnh nhân tại 8 quận của Hà Nội năm 2007 tìm hiểu sự tuân thủ uống thuốc ARV bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân nhớ lại hành vi uống thuốc trong vòng 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng vừa qua cho kết quả: trong vòng 6 tháng tỷ lệ quên hoặc uống muộn là 58,3%, tỷ
lệ này trong vòng 3 tháng là 54%, trong vòng 1 tháng là 46% [9]
Nghiên cứu tương tự tại quận 10 TP Hồ Chí Minh năm 2009, phỏng vấn trực tiếp 400 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách bệnh nhân đang điều trị tại PKNT quận 10 cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị trong vòng 1 tháng qua là 67% [10]
Trang 24Nghiên cứu của Võ Thị Năm và cộng sự năm 2009 trên 267 bệnh nhân đang điều trị ARV được từ 6 tháng trở lên tại 5 PKNT tại TP Cần Thơ cho kết quả 77% bệnh nhân đã tuân thủ điều trị trong vòng một tháng vừa qua [11]
Cũng đo lường sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân trong vòng 1 tháng qua, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang tại tỉnh Thanh Hóa năm 2010 phỏng vấn trực tiếp 220 bệnh nhân mới vào điều trị ARV được từ 6 tháng đến 1 năm cho kết quả có 40,5% bệnh nhân báo cáo đã quên uống thuốc trong vòng 1 tháng qua, trong đó 76,7% quên từ 1-3 lần/tháng, 23,3% quên trên 3 lần/tháng và có 13,3% bệnh nhân quên uống thuốc ngày hôm qua [12]
Nghiên cứu tại tỉnh Sơn La năm 2011 trên 110 bệnh nhân mới bắt đầu điều trị được từ 6 tháng đến 12 tháng cho kết quả có 23,6% bệnh nhân quên uống thuốc trong vòng 1 tháng vừa qua, số bệnh nhân quên uống thuốc trên 3 lần trong tháng chiếm tỷ lệ là 13,6% [13]
Nghiên cứu của Đỗ Mai Hoa và cộng sự (2011) về tuân thủ điều trị trên
615 bệnh nhân HIV/AIDS tại một số PKNT ở Hà Nội và Hải Dương bằng phương pháp phỏng vấn có trợ giúp của máy tính gắn với thiết bị nghe nhìn (ACASI) cho kết quả: có tới 24,9% BN không tuân thủ đúng liều trong tháng qua và 29,1% BN không tuân thủ đúng giờ trong 4 ngày qua [34]
Nghiên cứu về các yếu tố liên quan tuân thủ điều trị ARV:
a, Các yếu tố cá nhân liên quan đến tuân thủ điều trị:
Nghiên cứu của Chesney tại Mỹ ở trên cũng đưa ra kết luận: các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến TTĐT ARV kém là giới tính nam, trẻ tuổi, học vấn thấp,
không thay đổi về tình trạng sức khỏe, người da màu [28]
Talam và cộng sự nghiên cứu trên 384 BN tại Kenya năm 2008 thì cho kết quả: các yếu tố về nghề nghiệp là yếu tố chính ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị,
đó là: tính chất công việc hay phải đi xa nhà hay do công việc quá bận rộn [45] Một nghiên cứu khác tại Ấn Độ do Cauldbeck MB và cộng sự thực hiện năm 2009 về các yếu tố ảnh hưởng tới TTĐT đã đi tới kết luận: các yếu tố làm tăng tuân thủ bao gồm: bệnh nhân cao tuổi, nữ giới, đã được điều trị NTCH từ
Trang 25trước; còn các yếu tố: học vấn, thu nhập, khoảng cách tới phòng khám … không ảnh hưởng tới việc TTĐT [37]
Nghiên cứu tại Cần Thơ tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn với tuân thủ điều trị ARV ở BN, những BN có trình độ học vấn thấp (≤cấp 2) thì tuân thủ kém hơn những người có trình độ học vấn cao hơn (từ cấp 3 trở lên) [11] Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra kết luận tương tự về mối tương quan
này [13], [14], [15]
Nghiên cứu của Võ Thị Năm tại TP Cần Thơ ở trên cũng đưa ra kết luận những người có gia đình thì tuân thủ điều trị thấp hơn những người độc thân [11] Tuy nhiên nghiên cứu khác tại Đắc Lắc lại cho kết quả ngược lại, những
người chưa lập gia đình tuân thủ điều trị tốt hơn những người đã có gia đình [15]
Nghiên cứu định tính trên nhóm BN điều trị ARV là người NCMT tại Từ Liêm – Hà Nội (2010) cho thấy khó khăn đối với việc điều trị ARV của họ chủ yếu là do thất nghiệp, công việc và thu nhập không ổn định [18] Đánh giá của Nguyễn Văn Kính và cộng sự tiến hành năm 2008-2009 tại 8 tỉnh nước ta cũng cho thấy khó khăn mà BN gặp phải trong quá trình điều trị là không ổn định về
địa chỉ cư trú và việc làm, khó khăn về tài chính [17]
b, Các yếu tố về thuốc liên quan đến tuân thủ điều trị:
Trên t
Nghiên cứu tại Ấn Độ của Cauldbeck MB và cộng sự ở trên đưa ra mối liên quan giữa tuân thủ điều trị và không có tác dụng phụ của thuốc ARV [37]
Chesney MA đưa ra kết luận tương tự: các yếu tố về thuốc ARV như hơn
2 liều mỗi ngày, gánh nặng về thuốc, loại thuốc, không sẵn có thuốc khi đi xa, nhu cầu thực phẩm không đủ khi uống thuốc, tác dụng phụ của thuốc liên quan có ý nghĩa tới sự tuân thủ điều trị ARV kém ở người bệnh [28]
Tác giả Minzi OM và cộng sự xuất phát từ quan điểm, tác dụng phụ của thuốc ARV là một thách thức trong quá trình điều trị và ảnh hưởng tới việc tuân thủ của bệnh nhân, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu đánh giá yếu tố này và cho kết quả là: thiếu máu, nhiễm độc gan, phát ban trên da và bệnh lý thần kinh
Trang 26ngoại biên… là các tác dụng phụ thường gặp của các thuốc ARV ở BN không tuân thủ tại Tanzania [22]
Phác đồ điều trị: Một nghiên cứu tìm hiểu tỷ lệ tuân thủ điều trị và các
yếu tố liên quan ở nhóm bệnh nhân là trẻ em được thực hiện ở Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2011 cho kết quả: phác đồ điều trị có mối liên quan tới tuân thủ điều trị, những bệnh nhân điều trị theo phác đồ bậc 2 tuân thủ tốt hơn những bệnh nhân điều trị theo phác đồ bậc 1 (p<0,05) [18]
Phản ứng phụ của thuốc: Nghiên cứu tại 8 quận Hà Nội năm 2007 ở trên
cũng đưa ra kết luận: việc gặp tác dụng phụ của thuốc có liên quan tới hành vi tạm nghỉ thuốc của bệnh nhân trong tháng vừa qua [11] Một số nghiên cứu khác cũng cho kết quả một trong các lý do khiến BN bỏ không uống thuốc hoặc uống thuốc muộn là do lo sợ sẽ gặp phải các tác dụng phụ của thuốc ARV [11], [12], [19] Nghiên cứu tại quận Tây Hồ, TP Hà Nội (2009) đưa ra kết luận việc phối hợp tốt với cán bộ y tế sẽ làm tăng mức độ tuân thủ điều trị ARV ở những bệnh nhân HIV/AIDS [19]
Nghiên cứu tại huyện Từ Liêm, TP Hà Nội (2010) cũng cho thấy công tác tư vấn hỗ trợ điều trị còn nhiều hạn chế là một trong các rào cản đối với việc tiếp cận điều trị và tuân thủ điều trị ở bệnh nhân [16]
Nghiên cứu tại tỉnh Thanh Hóa thì cho kết quả những bệnh nhân được cán
bộ y tế tư vấn đầy đủ trước điều trị sẽ có kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị tốt hơn những người không được tập huấn và tư vấn đầy đủ [12]
ố lượng bệnh nhân HIV/AIDS tiếp cận điều trị ARV ngày càng tăng cùng với sự gia tăng của người nhiễm HIV/AIDS khi đại dịch này
ết để địa phương có những căn cứ nhằm nâng cao hiệu quả chương trình hỗ trợ, chăm sóc và điều trị trong thời gian tới
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1
Người nhiễm HIV hiện đang được quản lý tại phòng khám ngoại tr
A THÔNG TIN CHUNG
Tuổi (theo năm) của đối tượng đến thời điểm điều tra theo dương lịch
Công việc chính tạo thu nhập hiện tại của đối tượng
Trang 28TT Biến số Định nghĩa biến Ph
nhà đến PKNT
Ước tính của BN về khoảng cách từ nhà đến PKNT (<=20 Km ,
11
Bất kỳ cách xử trí nào có thể làm để khắc phụ
C THÁI ĐỘ VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV
Số lần đối tượng quên không uống thuốc trong ngày, tháng
BN quên 1 hoặc nhiều
Trang 29TT Biến số Định nghĩa biến Ph
liều thuốc
Cách xử trí mà đối tượng áp dụng khi phát hiện ra mình quên uống thuốc
18
Tác dụng phụ
của ARV
Những tác dụng không mong muốn mà bệnh nhân gặp phải
2.2.3
Công cụ thu thập số liệu
Phiếu phỏng vấn người nhiễm HIV (Phụ lục 1), gồm có 4 phần:
- Phần A Thông tin chung về đặc điểm nhân khẩu học, xã hội
- Phần B Kiến thức tuân thủ điều trị ARV
Phần D Thực hành tuân thủ điều trị ARV (cách uống thuốc, số lần quên thuốc, xử trí khi quên thuốc)
Phiếu thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án gồm có các phần sau (Phụ lục 4):
- Thông tin chung (tuổi, giới, nghề nghiệp, thời gian phát hiện HIV)
- Thông tin phác đồ điều trị bệnh nhân đang sử dụng
b
-
xin phép thực hiện nghiên cứu, đồng thời trao đổi kế hoạch làm việc của nhóm
nhóm nghiên cứu thực hiện việc thu thập thông tin
Trang 30-
- Xây dựng bộ công cụ:
- Tập huấn điều tra viên
9/2018
Thu thập số liệu:
- Triển khai họp với lãnh đạo các đơn vị tham gia nghiên cứu để phổ biến
kế hoạch phỏng vấn người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV tại đơn vị: nhân lực, thời gian dự kiến, kinh phí, địa điểm, quy trình phỏng vấn
- Phối hợp trực tiếp với cán bộ phụ trách phòng khám điều trị ARV xin lịch cấp thuốc ARV để đối chiếu với danh sách đối tượng nghiên cứu và bố trí điều tra viên phù hợp
- Thời gian phỏng vấn sắp xếp trùng với lịch cấp thuốc của phòng khám để thuận tiện và không sót bệnh nhân
- Tiếp cận phỏng vấn theo quy trình
- Nghiên cứu đã dự phòng trường hợp những bệnh nhân có lý do cá nhân không thể lên điểm phỏng vấn, nhóm nghiên cứu cử ĐTV xuống tận nhà bệnh nhân để phỏng vấn Tuy nhiên qua kết quả không có trường hợp nào phải xuống nhà phỏng vấn và không có trường hợp nào không thể hoàn thành hết cuộc phỏng vấn
2.2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
Trang 31a Cỡ mẫu:
nghiên cứu
b Phương pháp chọn mẫu
Dựa vào hồ sơ bệnh án, lập danh sách các bệnh nhân AIDS được bắt đầu điều trị ARV từ ngày 01/01/2017 đến 31/12/2017 tại Phòng khám ngoại trú ở Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.
Số liệu định lượng được nhập bằng phần mềm Epi Data 3.1, các số liệu sau khi được nhập sẽ được làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Số thống kê mô tả gồm tần số và tỉ lệ phần trăm Phép kiểm tra chi bình phương được sử dụng để so sánh các tỉ lệ
tính điểm được sử dụng trong nghiên cứu
Theo phụ lục 3
* Đánh giá tuân thủ điều trị: [2]
- Tuân thủ điều trị trong 1 tháng:
Điểm thực hành TTDT đạt:
Tổng điểm các câu 22, 23, 24 tối đa = 4 điểm; tối thiểu = 0 điểm
Tổng điểm các câu 25, 26,27 và 28 tối đa = 4 điểm; tối thiểu = 0 điểm
+ Đạt: Tổng điểm thực hành TTDT >= 4 điểm
+ Không đạt: Tổng điểm thực hành TTDT < 4 điểm
2.3 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Trang 32- Đối tượng nghiên cứu được thông báo về mục đích của nghiên cứu và tự quyết định đồng ý hay không đồng ý tham gia nghiên cứu Chỉ tiến hành nghiên cứu khi nghiên cứu khi có sự chấp nhận tham gia của đối tượng nghiên cứu
- Đảm bảo giữ bí mật hoàn toàn các thông tin thu được Các số liệu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Việc tham gia vào nghiên cứu này là hoàn toàn tự nguyện Một số câu hỏi
có thể từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào Tất cả những
mã số
Trang 33
CHƯƠNG 3
3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành về tuân thủ điều trị ARV
3.1.1 Kiến thức về tuân thủ điều trị ARV
Đánh giá về kiến thức tuân thủ điều trị ARV được thể hiện ở bảng 3
Bảng 3.1: Kiến thức về tuân thủ điều trị ARV (n = 124)
2 Nêu được các tác hại của không TTĐT
3 Biết biện pháp khắc phục không TTĐT
91,9% bệnh nhân (BN) biết được tuân thủ điều trị ARV là phải uống đúng thuốc, trên 85% BN nhắc lại được nguyên tắc uống đúng liều, đúng khoảng cách và chỉ có 47,5% BN biết được nguyên tắc uống suốt đời; Về các tác hại của việc không tuân thủ điều trị: có 75,8% BN nghĩ đến hậu quả kháng thuốc, 73,2% BN cho rằng bệnh tiếp tục phát triển, 58,9% BN biết sẽ không ức chế được sự phát triển của vi rút Tỷ lệ BN biết nếu không tuân thủ sẽ hạn chế
Trang 34cơ hội điều trị trong tương lại và gây chi phí cao cho chương trình là rất thấp (19,4% và 11,3%)
Về biện pháp khác phục tình trạng không TTĐT: có gần 3/4 BN (74,2%) cho là phải tuân theo chỉ dẫn của CBYT, 51,6% BN trả lời phải phối hợp với người hỗ trợ, 33,1% BN thông báo ngay những khó khăn cho CBYT, 22,6% tự
khi không tuân thủ điều trị
Bảng 3.2: Kiến thức về tuân thủ điều trị
2 Nêu được các tác hại của không TTĐT
Không ức chế được vi rus HIV
Bệnh phát triển
Trang 36Việc uống đúng thuốc là quan trọng 124 100,0