1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC LỄ HỘI GÒ THÁP TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

234 272 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 234
Dung lượng 12,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Biết được vai trò của Ban Hội hương và cơ quan quản lý Nhà nước đối với lễ hội này; - Nhằm khai thác giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của cha ông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, phụ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-* -

Trần Văn Thành

LỄ HỘI GÒ THÁP TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN

CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

-* -

Trần Văn Thành

LỄ HỘI GÒ THÁP TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN

CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Chuyên ngành: Văn hóa dân gian

Mã số: 9229041

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

GS.TS NGUYỄN CHÍ BỀN

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan, luận án Tiến sĩ Lễ hội Gò Tháp trong đời sống

tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp là của tác giả luận án Các tư liệu

được sử dụng trong đây là trung thực; kết quả nghiên cứu chưa từng công bố trong công trình nào khác

Hà Nội, năm 2018

Tác giả luận án

TRẦN VĂN THÀNH

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 14

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 14

1.2 Lễ hội Gò Tháp trong diện mạo lễ hội của người Việt vùng Tây Nam Bộ 37

1.3 Cơ sở lý luận 40

Tiểu kết 48

Chương 2 TÍNH THIÊNG VÀ TÍNH THẾ TỤC CỦA LỄ HỘI GÒ THÁP 50

2.1 Tính thiêng của lễ hội Gò Tháp 53

2.2 Tính thế tục của lễ hội Gò Tháp 70

2.3 Quan hệ giữa tính thiêng và tính thế tục của lễ hội Gò Tháp 75

Tiểu kết 85

Chương 3 CHỦ/KHÁCH THỂ CỦA LỄ HỘI GÒ THÁP TRONG QUAN HỆ VỚI TÍNH THIÊNG VÀ TÍNH THẾ TỤC 87

3.1 Thái độ của người dân với nhân vật thờ và nghi thức thờ cúng 87

3.2 Ban Hội hương trong quan hệ với tính thế tục 99

3.3 Cơ quan Quản lý Nhà nước trong quan hệ với tính thế tục 102

3.4 Bàn luận việc ứng xử của chủ/khách thể với tính thiêng và tính thế tục trong lễ hội Gò Tháp hiện nay 110

Tiểu kết 118

KẾT LUẬN 119

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

PHỤ LỤC 137

Trang 5

GS.TSKH : Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học

GTVT : Giao thông Vận tải

UBND : Ủy ban Nhân dân

VHTT : Văn hóa Thông tin

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tỉnh Đồng Tháp nằm ở đầu nguồn sông Tiền, là vùng đất thuộc Tây Nam Bộ, một trong mười ba tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Tỉnh Đồng Tháp có diện tích khoảng 3,275,8 km2; dân số khoảng 1,681,325 người; phía Bắc giáp tỉnh Pray Veng (Campuchia) với chiều dài biên giới 47,8km và

4 cửa khẩu: Thông Bình, Dinh Bà, Mỹ Cân và Thường Phước; phía Nam giáp Vĩnh Long và Cần Thơ; phía Tây giáp An Giang; phía Đông giáp Long An và Tiền Giang Trung tâm tỉnh Đồng Tháp là thành phố Cao Lãnh, cách Thành phố Hồ Chí Minh 162km Đồng Tháp có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều Khu di tích lịch sử lâu đời, nhiều đình chùa, miếu mạo và nhiều lễ hội có tính quy mô được tổ chức hàng năm

Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Tháp năm

2014, tỉnh Đồng Tháp hiện có 01 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 13 di tích cấp quốc gia và 55 di tích cấp tỉnh; ngoài ra, còn có rất nhiều di tích cấp xã và cấp thôn khác Các di tích là điểm đến tham quan như di tích Gò Tháp, Khu di tích Xẻo Quýt, Lăng Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Vườn Quốc gia Tràm Chim, Vườn cò Tháp Mười, Làng hoa cảnh Tân Quy Đông (Vườn hồng Sa Đéc) Ở đây còn có di sản văn hóa phi vật thể thấm đẫm bản sắc cội nguồn, thể hiện ở các diễn xướng dân gian, văn nghệ dân gian, đờn ca tài tử, truyện kể, thơ ca,

hò, vè, lý…, đặc biệt là các lễ hội, lễ cúng đình, cúng đền mang đậm màu sắc dân gian Cũng theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Tháp năm 2014, tỉnh Đồng Tháp hiện có 02 lễ hội Văn hóa du lịch cấp tỉnh; 9

lễ hội cấp huyện, thành phố, thị xã; 106 lễ hội cấp xã, phường, thị trấn Song, mỗi lễ hội mang một màu sắc riêng, hòa quyện, tạo nên sự hấp dẫn, trở thành những tiềm năng xây dựng đời sống văn hóa, để phục vụ và phát triển du lịch tại quê hương

Trang 7

1.2 Quần thể di tích và lễ hội Gò Tháp là một di sản văn hóa vô cùng quý giá của tỉnh Đồng Tháp nói riêng và vùng Đồng Tháp Mười nói chung Với bề dày lịch sử hàng ngàn năm tuổi, di tích, lễ hội Gò Tháp chứa đựng nhiều giá trị văn hóa của nhiều cộng đồng người, nhiều thời xếp chồng lên nhau Di tích, lễ hội Gò Tháp không chỉ là nền văn hóa cổ mà còn là nền văn hóa đương đại Dù dưới hình thức tín ngưỡng tâm linh hay dân gian đều biểu hiện thái độ uống nước nhớ nguồn và lòng biết ơn đối với các vị anh hùng đã dũng cảm hi sinh xương máu cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc

Việc đi sâu nghiên cứu di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội Gò Tháp nhằm mục đích phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đã trở nên cấp thiết và

có ý nghĩa quan trọng trong hội nhập và phát triển đất nước ngày nay Trước đây do chiến tranh và một số yếu tố khách quan khác nên di tích và nét đặc trưng của lễ hội ít nhiều bị mai một Một bộ phận giới trẻ bị ảnh hưởng, lai căng của một số yếu tố văn hóa du nhập từ bên ngoài vào; đồng thời coi nhẹ truyền thống văn hóa của dân tộc làm cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta gặp không ít khó khăn Trước tình hình đó, việc nghiên cứu di tích và lễ hội Gò Tháp để tìm ra những mặt được và những mặt còn hạn chế, nhằm khắc phục, bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát triển; từ đó góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập mở cửa mà một số loại hình văn hóa dân gian đang có nguy cơ mai một và biến dạng

Nhận thức được những vấn đề cấp thiết trên, NCS chọn Lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp làm luận án tiến sĩ

của mình

2 Mục đích nghiên cứu

- Mục đích của luận án là nghiên cứu, làm rõ quá trình hình thành và phát triển lễ hội Gò Tháp trong tiến trình khai hoang mở mang bờ cõi của

Trang 8

người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vùng Ðồng Tháp Mười nói riêng;

- Qua nghiên cứu lễ hội, nhằm biết được thái độ của người dân nơi đây đối với nhân vật thờ tự trong lễ hội này;

- Nghiên cứu lễ hội Gò Tháp để biết được vai trò của nó trong đời sống tinh thần của người dân Gò Tháp nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung

- Biết được vai trò của Ban Hội hương và cơ quan quản lý Nhà nước đối với lễ hội này;

- Nhằm khai thác giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của cha ông trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, phục vụ nhu cầu tâm linh trong đời sống văn hóa của người dân nơi đây;

- Tìm ra những mặt tích cực và hạn chế, từ đó đưa ra một số ý kiến nhằm phát huy và bảo tồn những giá trị của loại hình văn hóa dân gian này trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói chung;

- Luận án nghiên cứu, giải mã, mô tả chi tiết về lễ hội Gò Tháp đang diễn

ra trong giai đoạn hiện nay thành một công trình khoa học; cung cấp tư liệu cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và những ai quan tâm tới lễ hội này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, thuật ngữ nghiên cứu

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu Lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp trên địa bàn xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp;

- Đề tài lấy nơi diễn ra lễ hội thuộc xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp làm không gian nghiên cứu Lấy không gian thiêng: di tích đền thờ Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều, miếu bà Chúa Xứ làm cơ sở chính;

- Đề tài lấy lễ hội Gò Tháp diễn ra vào rằm tháng 3 và rằm tháng 11 âm lịch trong giai đoạn hiện nay để nghiên cứu; tuy nhiên có liên hệ đến quá trình hình thành và phát triển lễ hội này từ xưa tới nay

Trang 9

3.2 Thuật ngữ nghiên cứu

Căn cứ vào nội dung của đề tài, luận án sử dụng một số thuật ngữ nghiên cứu như: lễ hội, đời sống tinh thần; tính thiêng, tính thế tục

3.2.1 Thuật ngữ lễ hội

Lễ hội (P: carnaval) Lễ hội dân gian (nghĩa hẹp là lễ hội có diễu hành và mang y phục cải trang) trong các quốc gia theo Thiên chúa giáo ở Nam Âu và châu Mỹ - Latinh Tại châu Âu, lễ hội này thường để đánh dấu thời điểm chuyển mùa và có nguốn gốc từ tín

ngưỡng đa thần, giống như lễ hội maslenitsa của dân Nga (xem từ

mục Văn hóa các dân tộc Slav) Lễ hội ở nông thôn mang tính tín ngưỡng xưa kia biến thành lễ hội ở đô thị vào thời gian Đế chế La

Mã, rồi định hình và thành tục lệ chung của các nhóm cư dân đô thị

Lễ hội “Carnaval” của Đế chế La Mã ảnh hưởng đến nền văn hóa châu Âu thời Trung đại, do mỗi quan hệ giữa đạo Cơ-đốc với các tín ngưỡng dân gian làm cho thời điểm tiến hành các lễ hội được gắn vào với những ngày kỷ niệm của đạo Cơ - đốc

Nhà ngữ văn học Nga thế kỷ XX M.M Bakhtin (trong cuốn Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian thời Trung đại

và thời Phục hưng, in lần thứ hai 1965) nhận thấy trong lễ hội

“Carnaval” có vết tích của tục “đảo ngược vị trí” thời xưa”: trong lễ hội người ta đảo ngược vị trí xã hội: người giàu cải trang thành người nghèo, và ngược lại, người nghèo cải trang thành người giàu, cũng như nhiều hình thức “đảo được” khác Theo Bakhtin, lễ hội có vai trò cân bằng lại sự phân biệt giai tầng xã hội trong thời Trung đại Trong những năm đầu của nước Nga Xô - Viết, người ta thấy mối quan tâm của nhân dân và chính quyền (mang động cơ hệ tư tưởng hóa) tới các hình thức lễ hội, và những hình thức này rất thành công

Trang 10

trong các đô thị Thực tiễn văn hóa Xô - Viết vào thập niên 1920 đã ảnh hưởng đến Bakhtin và nền văn hóa “carnaval” [1, tr.277]

Lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp, là một hoạt động tâm linh, tín ngưỡng của người dân tỉnh Đồng Tháp, được tổ chức trên địa bàn Gò Tháp Lễ hội Gò Tháp là một chuỗi gồm nhiều

lễ hội được tổ chức nhiều đợt trong năm: rằm tháng 3 là lễ hội vía bà Chúa

Xứ, rằm tháng 11 là lễ hội tưởng niệm hai vị anh hùng dân tộc Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều Người dân tổ chức lễ hội nhằm tưởng niệm các nhân vật đã có công đánh giặc giữ nước, giúp dân trong những ngày đầu mở mang bờ cõi, khai hoang lập nghiệp Đây là tâm tư, tình cảm, là đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp, được gửi gắm vào các nhân vật thờ tự, cầu các thần phù hộ độ trì, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, nhân khang, vật thịnh, mùa màng bội thu, gia đình ấm no và hạnh phúc

3.2.2 Thuật ngữ đời sống tinh thần

Theo Từ điển tiếng Việt: đời sống được nêu gồm 4 ý chính:

1 Tình trạng tồn tại của sinh vật: Đời sống của cây cỏ Đời sống của súc vật Đời sống của con người 2 Sự hoạt động của người ta trong từng lĩnh vực: Đời sống vật chất Đời sống tinh thần Đời sống văn hóa Đời sống nghệ thuật 3 Phương tiện để sống: Phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân (HCM) 4 Lối sống của cá nhân hay tập thể: Đời sống xa hoa Đời sống cần kiệm Đời sống chan hòa Đời sống cũng cần thơ ca (Phạm Văn Đồng) [78,

tr.194]

Từ điển bách khoa Việt Nam (4) cho biết:

Tinh thần, đối lập với phạm trù vật chất, tuy rất gắn bó với vật chất, nói lên một phương thức tồn tại của đối tượng được phản ánh trong tâm lí con người, là chức năng của vật chất có tổ chức cao, là kết

Trang 11

quả phản ánh thực tiễn Với tư cách là cảm tính và lí tính, tinh thần mang trong nó những đặc điểm lịch sử - xã hội của con người Về nguồn gốc, ban đầu tinh thần chỉ là sự phản ánh của vật chất, tuy nhiên, tinh thần có tính độc lập tương đối của nó và trở thành nguồn động lực tích cực, quyết định đối với hoạt động sống của con người

và của cộng đồng, xã hội Nhờ có tinh thần, con người chẳng những

có thể phản ánh hiện thực, mà còn có thể cải biến hiện thực trong ý thức mình cũng như trên thực tế, ảnh hưởng tích cực đến tồn tại xã hội, đến hoạt động thực tiễn của con người [58, tr.419]

Theo đó, đời sống tinh thần đối lập với đời sống vật chất, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với vật chất Đời sống tinh thần là hoạt động tinh thần, là kết quả phản ánh thực tiễn của con người, là nguồn động lực tích cực, quyết định đối với hoạt động sống của cá nhân và cộng đồng xã hội

cho cái thiêng đã được đặc cách hóa ở mức độ cao bằng hệ thống

biểu tượng tính Nếu như trong tôn giáo, những kỹ thuật tôn giáo (những nghi lễ) do sự hoàn hảo của nó đã có thể đóng được vai trò

của mình là duy trì sức mạnh của những gì đã trở thành thiêng liêng thì những nghi lễ, nghi thức trong xã hội mới đã đạt được đến

trình độ biểu tượng đó hay chưa? Nếu làm được cả hai điều đó, chắc chắn cái thiêng sẽ hiện hữu [139, tr.248 - 249]

Trang 12

Thế tục: 1/ Tập tục ở đời: ăn ở phải theo thế tục 2/ Đời sống trần tục,

phân biệt với đời sống tu hành [170, tr.1558]

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Thống kê, phân loại qua các tư liệu liên quan

Trước khi tiến hành nghiên cứu đề tài lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp, NCS đã tiến hành thu thập các tài liệu, các công trình liên quan đến đề tài đã được công bố; đọc, thống kê và phân tích dữ liệu, phân loại và thu thập các kết quả liên quan đến đề tài để nghiên cứu Các nguồn tài liệu thu thập từ các tác giả trong và ngoài nước phục vụ cho việc nghiên cứu có nội dung như: Các công trình, các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành viết về lễ hội Gò Tháp; các công trình văn hóa dân gian, các công trình và các bài báo nghiên cứu về lĩnh vực lễ hội, đình chùa, miếu, tín ngưỡng, phong tục tập quán, (về lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể) trong tỉnh Đồng Tháp, trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung

4.2 Điền dã, quan sát tham dự

Cùng với việc thu thập, phân tích và lựa chọn những vấn đề liên quan đến đề tài có trong tư liệu; tác giả đi tới địa bàn nơi tổ chức lễ hội để điền dã, tham dự - quan sát; quay phim, chụp ảnh; giúp luận án nhận diện rõ hơn về hiện trạng, quá trình thực hành nghi lễ của người dân, của khách hành hương, của BHH và của các cơ quan chức năng nhà nước trong suốt mùa lễ hội diễn ra

4.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trong những đợt đi tới địa bàn nơi tổ chức lễ hội để điền dã, tham dự lễ hội; gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn người dân, phỏng vấn khách hành hương tham dự lễ hội, phỏng vấn Ban Quản lý Khu di tích và lễ hội qua các thời kỳ; phỏng vấn Ban lãnh đạo, những người làm công tác quản lý văn hóa nói chung Những cuộc phỏng vấn sâu này là nguồn tư liệu hữu ích giúp luận án

Trang 13

nhận diện rõ hơn về hiện trạng, quá trình hình thành và phát triển di tích, lễ hội tới giai đoạn ngày nay, và kế hoạch xây dựng, phát triển di tích, lễ hội trong tương lai Đồng thời giúp luận án nắm rõ hơn về mặt tâm linh, tín ngưỡng của người dân đối với lễ hội trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

4.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Để phân tích, đánh giá toàn diện về lễ hội Gò Tháp, NCS sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: Xã hội học, Nhân học văn hóa, Văn hóa dân gian trong quá trình hình thành và phát triển, gắn liền với lịch sử khai hoang mở mang bờ cõi của người Việt vùng Tây Nam Bộ

4.5 Miêu thuật – khảo tả

Trong quá trình đi điền dã, tham dự lễ hội; cùng với việc ghi chép những thông tin phỏng vấn của người dân; Luận án ghi chép, miêu thuật – khảo tả lại hiện trạng thực tế nơi đang diễn ra lễ hội, về không gian tổ chức lễ hội; mô tả trình tự các bước thực hành lễ hội từ việc chuẩn bị của Ban Quản

lý Khu di tích, Ban Hội hương, các cơ quan nhà nước khác và của người dân Tiếp theo, luận án miêu thuật các bước hành lễ khi thực hiện các nghi thức lễ bái từ lúc mở màn cho đến kết thúc lễ hội Luận án miêu thuật – khảo tả lại những hoạt động thực hành tín ngưỡng của người dân và khách hành hương trong quá trình đến thăm viếng, tham dự lễ hội từ lúc mở màn cho đến lúc kết thúc lễ hội

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Tính thiêng, tính huyền thoại trong lễ hội của người Việt ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, lễ hội Gò Tháp này nói riêng, không được như ở Bắc Bộ, nhưng tại sao mỗi mùa lễ hội đến, lại thu hút một lượng khách rất đông về đây tham dự lễ hội? Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đến đề tài này hay chưa, và nếu có thì nghiên cứu ở mức độ nào? là những

Trang 14

vấn đề đặt ra cần làm sáng rõ đối với lễ hội này trong giai đoạn hiện nay

5.2 Giả thuyết khoa học

Gắn liền với quá trình khai hoang mở mang bờ cõi của người Việt ở vùng Tây Nam Bộ, lễ hội Gò Tháp có tuổi đời tướng đối ngắn, quá trình thiêng hóa nhân vật thờ tự chưa trọn vẹn Người dân tổ chức lễ hội, nhằm bày

tỏ lòng biết ơn của mình đối với nhân vật thờ tự đã có công giúp dân trong những ngày đầu khai hoang lập ấp

Cho đến hiện nay, luận án là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu

đầy đủ và chi tiết về Lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp; cung cấp tư liệu cho các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và những

ai quan tâm tới lính vực này dưới góc nhìn văn hóa dân gian

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận án là công trình nghiên cứu nhằm sáng tỏ thêm một số đặc trưng

và giá trị văn hóa độc đáo của lễ hội Gò Tháp ở tỉnh Đồng Tháp dưới góc nhìn Văn hóa dân gian;

Góp phần lý giải sự tác động qua lại giữa các yếu tố địa lý, sinh thái với lịch sử tộc người trong quá trình định hình các tín ngưỡng dân gian ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là tín ngưỡng người Việt qua góc nhìn văn hóa dân gian tại tỉnh Đồng Tháp;

Thông qua đề tài nghiên cứu, giúp các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý thấy được những ưu điểm, khuyết điểm của di tích, lễ hội Gò Tháp ở tỉnh Đồng Tháp Từ đó, xây dựng kế hoạch, chương trình tổ chức các hoạt động nhằm phát huy tính tích cực của loại hình văn hóa dân gian này;

Làm sáng tỏ vấn đề hỗn dung giữa văn hóa gốc và văn hóa của những người đi khai hoang mở mang bờ cõi, chịu sự tác động và có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa người Việt ở Nam Bộ nói chung, tỉnh Đồng Tháp nói riêng;

Thông qua đề tài, người đọc có khả năng nhận thức đầy đủ, khoa học

Trang 15

về hệ thống lễ hội Gò Tháp, làm tư liệu tham khảo cho quá trình quy hoạch bảo tồn và khai thác văn hóa tỉnh Đồng Tháp nói chung

7 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm hai phần, chính văn và phụ lục

Phần chính văn: Ngoài mở đầu (10 trang), kết luận (3 trang), danh mục

các công trình đã công bố (1 trang), tài liệu tham khảo (14 trang), nội dung luận án được trình bày trong 3 chương: Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài (36 trang); Chương 2 Tính thiêng và tính thế tục của lễ hội Gò Tháp (37 trang); Chương 3 Chủ/khách thể của lễ hội Gò Tháp trong mối quan hệ với tính thiêng và tính thế tục (32 trang)

Phần phụ lục: Phụ lục 1 Bản đồ hành chính huyện Tháp Mười (1 trang);

Phụ lục 2 Bản đồ khu di tích Gò Tháp (3 trang); Phụ lục 3 Bảng thống kê tiền công đức lễ hội từ năm 1992 đến nay (2 trang); Phụ lục 4 Một số bài văn tế (6 trang); Phụ lục 5 Ảnh di tích và lễ hội Gò Tháp (22 trang); Phụ lục 6 Danh sách những người cung cấp thông tin cho luận án (2 trang); Phụ lục 7 Quy chế tổ chức hoạt động của BHH và BQL Khu di tích (30 trang); Phụ lục 8 Gỡ băng phỏng vấn sâu (29 trang)

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ngày nay, trên khắp mọi miền của Tổ quốc, đi tới đâu chúng ta cũng dễ dàng được trải nghiệm với cuộc sống của người dân thông qua lễ hội, được tổ chức với nhiều dạng thức, tên gọi, ý nghĩa khác nhau Nhiều nhất là vào dịp đầu năm và thứ đến là dịp cuối năm Mục đích của lễ hội chủ yếu nhằm tưởng niệm, tôn vinh nhân vật có thật trong lịch sử, hoặc một sự kiện nào đó, hoặc qua các truyền thuyết được nhân dân thêu dệt, hư cấu, nhằm gửi gắm niềm tin tín ngưỡng của mình vào nhân vật ấy Có những lễ hội lên đến hàng ngàn năm tuổi như ở Bắc Bộ và ít nhất cũng trên cả trăm năm tuổi như ở Nam Bộ Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là dạng lễ hội dân gian, hay lễ hội truyền thống , được hình thành dựa trên cơ sở tín ngưỡng của người dân

Lễ hội Gò Tháp trong đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp thuộc dạng lễ hội dân gian Để nắm rõ về lễ hội này, trước hết, luận án

tiến hành nghiên cứu tổng quan tình hình dưới đây

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lễ hội của người Việt đồng bằng sông Cửu Long

Công trình Gia Định thành thông chí [33] là một bộ địa chí ghi chép về

vùng đất Nam Bộ vào những năm 1820 - 1822 của tác giả Trịnh Hoài Đức Đây là công trình ghi chép, miêu thuật về không gian, đời sống, vật chất, phong tục tín ngưỡng , giúp luận án có tư liệu xác định văn hóa vùng Nam

Bộ nói chung trong việc nghiên cứu đề tài luận án tiến sĩ của mình

Năm 1992, công trình Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ của các

tác giả: Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh [120] gồm

11 chương; toàn bộ nội dung chương IV nói về đặc điểm và vị trí sinh hoạt lễ

Trang 17

hội truyền thống trong đời sống tinh thần của người Việt ở Nam Bộ, trong đó

đề cập đến một số lễ hội tiêu biểu như lễ hội đền Linh Sơn Thánh Mẫu, lễ hội Nghinh Cô, lễ vía bà Chúa Xứ ở Núi Sam, lễ hội Nghinh Ông, lễ hội Lăng Ông Theo tác giả:

Nhìn trên tổng thể, lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ vẫn mang những nét chung tiêu biểu, thống nhất với lễ hội ở miền Bắc, miền Trung trên nhiều bình diện từ mục đích lễ hội, nghi thức tiến hành lễ hội, không gian và thời gian lễ hội, đến đối tượng tham dự hội Thực tế ấy không có gì là khó hiểu bởi lẽ lễ hội cổ truyền Việt Nam (dù ở Bắc, ở Trung hay ở Nam) đều được hình thành và xuất phát từ một nền tảng chung, đó là nền kinh tế nông nghiệp, mà trung tâm là nghề trồng lúa nước Tuy nhiên, do sự tác động của những điều kiện tự nhiên, địa lí – xã hội, lịch sử và kinh tế ở môi trường mà nó được hình thành và phát triển, lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ, bên cạnh những nét chung, còn mang những nét riêng, những sắc thái đặc thù [120, tr.73]

Năm 1993, công trình Đình Nam Bộ, tín ngưỡng và nghi lễ của các tác

giả: Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường [154], đề cập đến hai vấn đề chính: Đặc điểm lịch sử của đình làng Nam Bộ; nghi thức cúng tế của đình Nam Bộ Về lễ hội, các tác giả nghiên cứu các vấn đề: Các lễ đầu năm và cuối năm; tam nguyên; tứ thời tiết lạp; lễ chính ở đình: Kỳ yên, thượng điền và hạ điền; lễ cúng tiên sư; tạp tế; giỗ hậu và giỗ các anh hùng lịch sử; lễ vật cúng mặn; lễ vật cúng chay; lễ vật đặc biệt; lễ vật cúng thần thành hoàng bổn cảnh; nghi thức cúng; nghi thức tế thần; các nghi lễ khác trong lễ Kỳ yên

Năm 1994, công trình Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại của các tác giả: Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (Chủ biên) [67], đề cập đến

nhiều vấn đề xung quanh lễ hội – hội lễ trong nước và một số nước trên thế

Trang 18

giới như Inđônêxia, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Campuchia Nghiên cứu về

lễ hội người Việt ở Nam Bộ gồm có:

- Bài: “Mấy đặc điểm của sinh hoạt lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ”, cho rằng:

Cũng như những hiện tượng văn hóa và tinh thần khác, lễ hội cổ truyền của một dân tộc thường chịu sự tác động trực tiếp của những điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội, lịch sử của môi trường mà nó hình thành và tồn tại Do vậy, lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ, bên cạnh những nét chung, còn có những sắc thái đặc thù mang dấu

Năm 1995, công trình Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt: Nghệ thuật kiến trúc, trang trí, lễ hội của tác giả Bùi Thị Ngọc Trang [151], ở phần lễ hội,

công trình miêu tả trình tự về nghi thức tế lễ gồm: nghi thức túc yết, nghi thức đoàn cả; mỗi nghi thức đều có đội lễ sinh (4 người) và đào thài thực hiện dâng các lễ vật: dâng hương, dâng rượu, dâng trà lên chánh điện Công trình nhận định: “Những nghi thức sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội diễn ra tại lăng miếu Tả Quân Lê Văn Duyệt hiện nay là những tập tục, sinh hoạt văn hóa của nhân dân, thể hiện lòng biết ơn, kính trọng đối với người đã có công với quốc gia, dân tộc” [151, tr.141]

Trang 19

Năm 1997, công trình Tìm hiểu một số hiện tượng văn hóa dân gian Bến Tre của tác giả Nguyễn Chí Bền [11] dành gần 20 trang (Chương hai) viết

về các vấn đề lễ hội ở đình làng Bến Tre như: Kiến trúc của đình làng, các vị thần được phụng thờ, các lễ và hội, nét chung và nét riêng trong diện mạo lễ hội cổ truyền

Năm 1997, công trình Văn hóa Nghệ thuật Nam Bộ của nhiều tác giả

[100] đề cập đến nhiều vấn đề xung quanh đời sống văn hóa tín ngưỡng và nghệ thuật của người dân Nam Bộ nói chung Tuy nhiên, về di tích và lễ hội Gò Tháp tại huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp chưa được công trình quan tâm đề cập đến

Năm 1998, tuyển tập Lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam của tác giả Thái Thị

Bạch Liên [81], là cuốn sách mỏng 88 trang, nhưng nội dung đã chuyển tải được hai vấn đề chủ yếu như: Tín ngưỡng thờ bà Chúa Xứ núi Sam Châu Đốc, An Giang; lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam, Châu Đốc An Giang Qua bài viết của tác giả, luận án nhận thấy lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam gồm hai phần (Phần lễ và phần hội) Phần lễ bà đã miêu tả và giải mã về các nghi lễ như: Lịch lễ và ban tổ chức thờ cúng, nghi thức tế lễ (lễ mộc dục, lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu, lễ túc yết, lễ xây chầu, lễ chánh tế) Phần hội cũng được tác giả miêu tả và giải mã: Những tục lễ (xin xăm, tục xin khăn bùa, tục vay tiền bà, tục hầu bóng), những sinh hoạt hội (hát bội, những sinh hoạt hội khác); tín ngưỡng

và lễ hội bà Chúa Xứ trong đời sống kinh tế văn hóa của cư dân hiện nay

Năm 1999, công trình Lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ (Khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc) của tác giả Huỳnh Quốc Thắng [137], đã lược

khảo tổng quan về một số lễ hội như lễ hội thờ cúng thần thành hoàng và các nhân vật lịch sử, lễ hội nghề nghiệp, lễ hội thờ Mẫu – Nữ thần Theo tác giả:

Lễ hội dân gian người Việt ở Nam Bộ chỉ mới phát triển trong vòng trên dưới vài ba trăm năm nay nhưng căn cứ vào thể loại, nội dung

Trang 20

và đặc biệt thu hút lượng người tham gia vào các hoạt động của nó, người ta có thể khẳng định rằng hệ thống lễ hội ấy đã chiếm vị trí đáng kể trong đời sống văn hóa của người dân địa phương nơi đây [137, tr.148]

Năm 2004, công trình Đình miễu và lễ hội dân gian miền Nam của tác

giả Sơn Nam [92], là công trình biên khảo, đề cập đến những vấn đề: Đình miễu và lễ hội dân gian, Lăng ông bà Chiểu và lễ hội văn hóa dân gian, nghi thức và lễ bái của người Việt Nam, người Việt có dân tộc tính không? Ở chương hai (phần thứ nhất), khi bàn về đình, miếu, tác giả trích đoạn của Nguyễn Văn Tố: “Người có công với dân thì được dân thờ cúng (hữu công tắc

tự chi), vì vậy lập đình từ (đình và đền) để thờ các vị thành hoàng tức là công thần đời trước Khi cầu việc gì mà thấy được linh ứng thì cũng dựng cơ ngơi,

gọi đền đài dinh phủ” [92, tr.23] Ở chương ba (phần thứ nhất), tác giả nói về

nguồn gốc và ý nghĩa của đình ở miền Nam, có đoạn viết: “Ở đình xã Định Yên (Cái Dầu), huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp, đồng bào bảo thờ ông

“Tam thần tứ”, xưa kia dày công đánh cọp, khẩn hoang nhưng trong sắc chỉ ghi chức vụ khái quát Bổn cảnh thành hoàng” [92, tr.33]

Năm 2004, công trình Nam Bộ - Đất và người của nhiều tác giả [105],

gồm nhiều tập, nghiên cứu về đất và con người trên vùng Nam Bộ rộng lớn; tập một nghiên cứu về đời sống con người, đất đai và thiên nhiên, tập hai nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa tinh thần và vật chất [106] Năm 2005, hội

tiếp tục cho xuất bản cuốn Nam Bộ đất và người tập ba [107] Đây là cụm

công trình nghiên cứu một cách đa dạng về mọi mặt xung quanh cuộc sống của con người Nam Bộ nói chung

Năm 2005, công trình Đình ở Thành Phố Hồ Chí Minh do tác giả Hồ

Tường (Chủ biên) [157], đề cấp đến các vấn đề: Làng và đình ở Sài Gòn Gia Định xưa, kiến trúc đình ở TP Hồ Chí Minh, tín ngưỡng trong đình ở TP Hồ

Trang 21

Chí Minh, lễ hội đình ở TP Hồ Chí Minh, đình trong đời sống văn hóa ở TP

Hồ Chí Minh Nghiên cứu về lễ hội đình ở TP Hồ Chí Minh, tác giả miêu tả

và giải mã các nghi thức trong lễ hội kỳ yên như: nghi thức tụng kinh cầu an, nghi thức rước ban nhạc lễ, nghi thức rước đoàn hát bội, nghi thức lễ thượng thần kỳ, nghi thức lễ thỉnh sắc và hồi sắc, nghi thức tế thần (nghi thức trình sanh, nghi thức túc yết và đoàn cả, nghi thức xây chầu đại bội, nghi thức hát chầu, thụ lộc thần, nhân dân đi lễ đình), nghi thức tế tiên sư tiền hiền, hậu hiền, tiền bối, hậu bối, liệt sĩ, ân nhân hữu công

Năm 2005, tuyển tập Lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam và du lịch vùng Châu Đốc An Giang của tác giả Phạm Côn Sơn [131], là cuốn sách mỏng hơn 100

trang miêu tả những vấn đề như: tượng bà Chúa Xứ, từ đâu tới, đặt pho tượng trên đỉnh núi Sam bằng cách nào, vấn đề đem xuống, giới tính của pho tượng, các truyền thuyết về pho tượng, cảnh quang ngày nay, những nẻo đường đến, ngôi miếu thờ bà, diễn tiến lễ nghi vía bà (lễ mộc dục, lễ túc yết), Thoại Ngọc Hầu là ai, kinh Vĩnh Tế Mục đích của công trình là nhằm quảng bá, giới thiệu về du lịch tại vùng đất Châu Đốc, An Giang là chủ yếu

Năm 2006, công trình Góp phần nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam của tác giả Nguyễn Chí Bền [12], nghiên cứu nhiều vấn đề xung quanh

lĩnh vực văn hóa dân gian người Việt nói chung Với bài “Tổng quan về tình hình sưu tầm, nghiên cứu lễ hội truyền thống của người Việt”, công trình đã dành gần 55 trang nhìn nhận về tình hình sưu tầm và nghiên cứu lễ hội truyền thống của người Việt trên khắp mọi miền của Tổ quốc từ trước cho đến năm công trình được xuất bản Về lễ hội ở Nam Bộ, các bài viết trong công trình

đề cập đến các vấn đề: Tiếp cận lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ, lễ hội và nguồn truyện dân gian của người Khơ Me Nam Bộ, tục thờ cúng thành hoàng với người Việt ở Nam Bộ, tục thờ mẫu với người Việt Nam Bộ, tục thờ cúng cá voi của cư dân ven biển ở Bến Tre, nhìn lại tình hình sưu tầm nghiên

Trang 22

cứu tín ngưỡng và lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam Ngoài bài tổng quan, công trình còn có một số bài đi vào nghiên cứu, giải mã cụ thể như:

- Bài: “Tiếp cận lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ”, nhận định:

“Từ trước đến nay, lễ hội dân gian của người Việt ở Nam Bộ chưa được khảo sát, miêu thuật cũng như nghiên cứu cặn kẽ” [12, tr.518] Về phần lễ trong lễ hội của người Việt ở Nam Bộ, tác giả cho biết:

Phần lễ của ngày hội đình diễn ra trong 3 ngày 2 đêm với các nghi thức: ngày đầu tiên làm lễ nghênh thần; lễ túc yết và lễ tiền vãng, tức là lễ tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ; giữa đêm là lễ tiên

tế, ngày hôm sau là ngày hát xướng vui chơi, chiêu đãi và giao nghĩa, nửa đêm của ngày này làm lễ chánh tế Ngày thứ ba là ngày họp mặt hương chức và dịch mục trong làng để bàn về việc làng xã

và hoàn tất lễ kỳ yên [12, tr.529]

- Bài: “Lễ hội Nghinh Ông ở xã Bình Thắng, một cách tiếp cận” [12, tr.585], đề cập đến những vấn đề như lời mở, biển với ngư dân, diện mạo xã Bình Thắng, thần cá voi – vị thần nơi biển cả, việc thờ cúng cá ông của ngư dân,

lễ nghinh ông nhìn từ vấn đề tổ chức, thử lý giải một số nguyên nhân, lời kết

- Bài: “Tục thờ cúng thành hoàng với người Việt ở Nam Bộ”, cho rằng:

“Về phía người dân, sự thờ cúng thành hoàng dẫn tới sự xuất hiện của một loại lễ hội, đó là lễ kỳ yên Đồng thời, người dân cũng tác động tới diện mạo thần linh ở Nam Bộ, đưa những nhân vật lịch sử vào thế giới thần linh, để phụng thờ, để mong nhận được sự bảo trợ của các vị này, từ cõi thiêng của làng” [12, tr.655]

- Bài: “Tục thờ mẫu với người Việt Nam Bộ”, có nêu: “Đầu tiên là thời gian làm lễ cúng miễu, đa số các nơi đều tổ chức vào dịp tháng ba âm lịch hàng năm như các miễu ở Bến Tre, ở Sông Bé Đáng lưu ý, thời điểm này là thời điểm người dân chuẩn bị bước vào mùa vụ mới Nghĩa là một vòng quay

Trang 23

của thiên nhiên và mùa vụ lại sắp bắt đầu” [12, tr.655] Liên hệ với lễ hội bà Chúa Xứ Gò Tháp, luận án thấy những nhận định trên hoàn toàn phù hợp với

lễ hội này, được tổ chức vào rằm tháng ba âm lịch hàng năm Không những

về thời gian, mà còn rất nhiều yếu tố khác mà trong bài viết này đề cập đến giống với lễ hội Gò Tháp được tổ chức vào tháng ba, trong đó có múa hát bóng rỗi: “ở các nơi thờ bà tại miễu hay tại gia, việc thờ cúng mẫu bao giờ cũng gắn với hát bóng rỗi” [12, tr.655] Để người đọc nắm rõ hơn về tục thờ mẫu với người Việt Nam Bộ, bài viết đã đi vào nghiên cứu cụ thể lễ vía bà Chúa Xứ núi Sam với trình tự các nghi thức trong lễ hội như: Lễ tắm bà, lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu bà, lễ túc yết, lễ xây chầu, lễ chánh tế

- Bài: “Về hai hình thức hầu đồng trong tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Nam Bộ”, nhận định: “Tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt ở Nam Bộ

có hai dòng cùng tồn tại: một là dòng tín ngưỡng gắn với lớp cư dân thời khai phá; hai là dòng tín ngưỡng gắn với lớp cư dân đến Nam Bộ thời Pháp thuộc và năm 1945 Hai dòng này, có hai hình thức hầu đồng khác nhau” [12, tr.723]

- Bài: “Tục thờ cúng cá voi của cư dân ven biển ở Bến Tre”, cho thấy lễ vật cúng chánh tế này có phần giống với lễ vật cúng chánh tế trong lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam và bà Chúa Xứ Gò Tháp: “một con heo trắng, hai mâm xôi,

có rượu và trà” [12, tr.730] Về hình thức và không gian tổ chức lễ hội này có phần khác so với các lễ hội cúng đình, cúng đền, cúng miếu khác, nhưng chung quy thì vẫn có điểm giống nhau là đều có phần lễ và phần hội như bao

Trang 24

ĐBSCL có 6 lễ hội tại dinh, lăng mộ, gò (chiếm tỷ lệ 0,8%) Đối tượng được tôn vinh trong các lễ hội này có hai loại: Một là các danh nhân, với các lễ hội được diễn ra tại các cơ sở thờ tự như lăng

Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang); lăng Nguyễn Văn Tồn (Trà Ôn, Vĩnh Long); lăng Bùi Hữu Nghĩa (An Thới, Tp Cần Thơ); lăng Mạc Cửu (Bình Sơn, thị xã Hà Tiên); dinh Đốc binh Vàng – Trần Văn Năng (Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp) Hai là, các danh nhân phối tự với bà Chúa Xứ, chẳng hạn như lễ hội Gò Tháp (xã Tân Kiều, Tháp Mười, Đồng Tháp) [61, tr.54]

Để phục vụ cho đề tài, tác giả đã chọn một số lễ hội tiêu biểu của người Việt ở ĐBSCL để nghiên cứu, mô tả quá trình thực hiện lễ hội như: Lễ hội đình thần Tân Phước Tây (huyện Tân Trụ, tỉnh Long An), lễ hội bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc, An Giang), lễ hội lăng ông Nam Hải (Kinh Cùng, xã Trung Bình, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng) [61]

Năm 2012, công trình Diện mạo văn hóa tín ngưỡng và lễ hội dân gian Trà Vinh của hai tác giả: Trần Dũng, Đặng Tấn Đức [29], nghiên cứu những

vấn đề về văn hóa tín ngưỡng và lễ hội dân gian trên địa bàn tỉnh Trà Vinh như: Tín ngưỡng và lễ hội dân gian tộc người Việt, tín ngưỡng và lễ hội dân gian tộc người Hoa, tín ngưỡng và lễ hội dân gian tộc người Khmer, kiến họ

và văn hóa kiến họ, các làng nghề truyền thống và sản vật chủ yếu, các di tích lịch sử văn hóa, địa danh, nhân vật tiêu biểu, văn học dân gian, ẩm thực dân gian, nguồn gốc và lễ hội cúng biển Mỹ Long, miếu bà Chúa Xứ, tổ chức lễ hội chùa miễu và lai lịch các thần, lễ hội cúng biển Mỹ Long

Năm 2013, công trình Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam [113],

là công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam của nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng trong nước Các bài viết được sắp xếp theo hệ thống vùng miền, tạo cho bạn đọc dễ dàng tiếp cận khi muốn

Trang 25

tìm hiểu một vấn đề nào đó của một dân tộc hay một vùng liên quan đến lễ hội truyền thống Nghiên cứu về lễ hội vùng Nam Bộ gồm có 19 bài nghiên cứu các vấn đề như: Lễ hội bà Chúa Xứ, lễ hội Chùa Bà, lễ hội Chùa Ngọc Hoàng, lễ hội Chùa Ông, lễ cúng Yang của người Ch’ro, lễ hội Dinh Cô, lễ hội đình làng ở Bến Tre, lễ Đôn Ta của người Khmer, lễ hội Giỗ tổ giới hát bội và cải lương Nam Bộ, lễ hội Giỗ tổ nghề Kim hoàn, lễ kỳ yên ở đình Châu Phú, lễ hội Lăng ông, lễ hội miếu ông địa, lễ hội Oc – om – book của người Khmer, lễ Roya Idil Adha, lễ hội thờ Cá Ông ở Bến Tre, lễ hội vía bà ở Côn Đảo, lễ hội vía bà ở Thạch An, lễ hội vía Linh Sơn Thánh Mẫu

Năm 2013, công trình Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ do tác giả

Trần Ngọc Thêm (Chủ biên) [141], là sản phẩm của đề tài khoa học cấp trọng điểm của trường Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh thực hiện từ năm 2009 đến 2011 và nghiệm thu năm 2012 Nội dung của công trình được thiết kế gồm 5 chương, nghiên cứu đến các vấn đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, văn hóa nhận thức và văn hóa tổ chức của người Việt vùng Tây Nam Bộ, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên của người Việt vùng Tây Nam Bộ, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội của người Việt vùng Tây Nam Bộ, các đặc trưng tính cách văn hóa của người Việt vùng Tây Nam Bộ Công trình đã đi sâu nghiên cứu tất cả mọi mặt trong đời sống văn hóa của người dân Tây Nam Bộ nói chung

Năm 2013, công trình Lễ hội cổ truyền của người Việt – Cấu trúc & thành tố của tác giả Nguyễn Chí Bền [14], là công trình đồ sộ với khối lượng

kiến thức phong phú, được chia làm 8 chương (chưa kể 6 phần phụ lục) Ở

chương 1 với tiêu đề Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu lễ hội cổ truyền của người Việt, theo dòng thời gian, công trình phân nội dung này ra thành ba giai đoạn:

Giai đoạn từ năm 1954 trở về trước, giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1986, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012 Tác giả nhận định:

Trang 26

Trong các loại hình của văn hóa dân gian Việt Nam, lễ hội là loại hình được sưu tầm, nghiên cứu tương đối muộn màng Thời kỳ từ thế kỷ thứ X đến năm 1858, các nhà nho chỉ quan tâm ghi chép lại huyền thoại, thần tích về các thần được người dân ở các làng quê thờ phụng mà ít ghi chép sự phụng thờ các vị thần ấy của người dân

ở các làng quê Thực tế, các thành tố: trò diễn, truyền thuyết, di tích, v.v của lễ hội cổ truyền gắn bó với nhau một cách mật thiết Suốt dặm dài lịch sử, chắc chắn các thành tố này tồn tại trong một

di tích, một lễ hội như một thành tố không thể tách rời Phải chăng, điều này là do quan niệm của các nhà nho hay do truyền thống của

văn hóa Việt Nam Thành thử, từ Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên đến Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh – Kiều Phú đến Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ đến Ô Châu cận lục của Dương Văn An,

v.v chỉ ghi chép phần huyền thoại, truyền thuyết liên quan đến các

vị thần được các vương triều, các địa phương phụng thờ Ở một địa hạt khác, khi làm các bộ sách loại chí, thực lục, các nhà nho hay các viên quan trong Quốc sử quán nhà Nguyễn có ghi chép một số dòng

về phong tục tập quán v.v [14, tr.15 - 16]

Ở Nam Bộ, một số bài trong công trình đề cập đến các vến đề nghiên cứu như: Lễ tế xuân hay đám rước thần nông (Bách khoa, 1961), những lễ tết đầu năm (Bách khoa, 1961), nhớ lại hội hè đình đám, đình miếu và lễ hội dân gian, đình miếu ở đồng bằng sông Cửu Long, hương rừng Cà Mau, văn minh miệt vườn, đồng bằng sông Cửu Long, những nét sinh hoạt xưa, hội đình Thông Tây Hội – Gò Vấp trong bối cảnh hội đình làng tại Nam Bộ [14]

Cuối năm 2015, công trình Tục thờ thần qua am miếu Nam Bộ của tác

giả Nguyễn Hữu Hiếu [50], gồm 4 chương, đề cập đến những vấn đề: Nguồn gốc và các nhân tố hợp thành; tục thờ bà, tục thờ thần liên quan đến đất, tục

Trang 27

thờ bàn thiên Tác giả đi sâu vào nghiên cứu về nguồn gốc, tục thờ bà, tục thờ thần liên quan đến đất và tục thờ bàn thiên trên địa bàn Nam Bộ nói chung, giúp luận án có thêm nhận định về tục thờ thần qua am miếu Nam Bộ

1.1.2 Tình hình nghiên cứu lễ hội Gò Tháp

Lễ hội Gò Tháp mang đậm bản sắc văn hóa vùng đồng bằng sông nước, được tổ chức vào rằm tháng ba (lễ hội bà Chúa Xứ) và rằm tháng mười một (lễ hội Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều) hàng năm Nghiên cứu về lễ hội này,

từ trước đến nay có một số bài báo, bài báo cáo văn hóa viết về lễ hội Gò Tháp đăng trên các tạp chí chuyên ngành Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu về lễ hội Gò Tháp hay một số công trình có nội dung nghiên cứu liên quan nhưng chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu hoặc mang tính chất chung chung gần với hướng nghiên cứu của đề tài như:

Năm 1963, công trình địa phương chí, Cao Lãnh đến 1954 của tác giả

Trần Quang Hảo [40], gồm 14 chương Đây là công trình sưu tập về địa lý, về các nhà cách mạng và danh nhân, về thi ca của Cao Lãnh một trong những địa danh nổi tiếng của vùng Đồng Tháp Mười giàu lòng ái quốc, thật thà chất phác

Năm 1972, cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của tác giả Nguyễn Hiến Lê [75], là cuốn du kí (Hồi kí – tùy bút) gồm 10 chương Nội dung mô tả

sự đa dạng địa thế, sự phong phú của tài nguyên, con người anh hùng của vùng Đồng Tháp Mười với những nét đặc trưng, giúp luận án tiếp cận cách nhìn về văn hóa Đồng Tháp Mười với dấu ấn đẹp của vùng đất nơi này

Năm 1995, công trình Văn hóa Óc Eo, những khám phá mới của các tác

giả: Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải [27] gồm 4 chương, đề cập đến các nội dung chính như: Phát hiện và khai quật, di tích văn hóa Óc Eo gồm các mục nghiên cứu như di tích cư trú, di chỉ kiến trúc tôn giáo, di chỉ

mộ táng, di vật văn hóa Óc Eo, niên đại văn hóa Óc Eo và phần phụ lục Đây

Trang 28

là báo cáo kết quả khai quật khảo cổ trong đó có di tích Gò Tháp của các chuyên gia, giúp luận án xác định niên đại, nguồn gốc, những đặc trưng cũng như sự tác động và ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài đến văn hóa lịch sử di tích Gò Tháp nói riêng, vùng Đồng Tháp Mười nói chung, trong đó, văn hóa

Ấn Độ được chú trọng rõ nét

Năm 1996, công trình Địa chí Đồng Tháp Mười [98], là công trình kỷ

niệm 300 năm Nam Bộ, tập hợp các bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về: Đặc điểm tự nhiên của Đồng Tháp Mười, Đồng Tháp Mười – một vùng đất văn hóa lâu đời, Đồng Tháp Mười nhận định về xã hội và dân tộc học, địa lý – lịch sử Đồng Tháp Mười, nông cụ và ngư cụ truyền thống ở Đồng Tháp Mười, lịch sử Đồng Tháp Mười (Từ thế kỷ XVIII đến 1930), văn nghệ dân gian vùng Đồng Tháp Mười; Đồng Tháp Mười qua thơ văn, Đồng Tháp Mười

9 năm kháng chiến chống Pháp, Đồng Tháp Mười 21 năm chống Mỹ cứu nước, Đồng Tháp Mười của cả nước, vì cả nước Viết về ông Thiên hộ Dương, công trình dành gần 2 trang sơ lược về giai thoại Thiên hộ Dương với vùng Đồng Tháp Mười

Năm 1997, cuốn Đồng Tháp - di tích lịch sử - danh lam thắng cảnh, do

Sở Văn hóa Thông tin và Bảo tàng Đồng Tháp xuất bản [99] Nội dung giới thiệu về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, trong đó có di tích, lễ hội Gò Tháp

Năm 2002, công trình Văn hóa đồng bằng Nam Bộ (Di tích kiến trúc cổ) của tác giả Võ Sĩ Khải [65], gồm ba chương, đề cập đến những vấn đề:

Tổng quan về lịch sử nghiên cứu, di tích kiến trúc cổ và di vật có liên quan ở đồng bằng Nam Bộ, truyền thống và không gian văn hóa – xã hội của các di tích kiến trúc cổ ở đồng bằng Nam Bộ Theo tác giả:

Gò Tháp (Đồng Tháp) là một di tích lớn, nằm ở khoảng giữa Đồng Tháp Mười Nơi đây, khu cư trú nhà sàn, được dựng ở địa hình

Trang 29

thấp, giáp chân gò Trên gò cao được đắp bằng đất sét và cát, là di tích của những kiến trúc đền thờ, những mộ hỏa táng Những di vật thu thập được gồm nhiều loại Có những vật liệu bằng đá hoa cương, sa thạch như những tấm đan, mi cửa, cột trụ, chân trụ, bệ thờ và vật thờ thuộc Ấn Độ giáo, tượng Phật bằng gỗ, đồ trang sức bằng vàng và nhiều vật dụng sinh hoạt (gốm, đá) Đặc biệt, ở đây đã tìm thấy 4 tấm đá có văn minh cổ, niên đại từ thế kỷ V đến thế kỷ VIII sau Công nguyên [65, tr.46]

Đây là công trình nghiên cứu khảo cổ học, có một phần của nội dung liên quan đến Khu di tích Gò Tháp

Năm 2004, công trình Đồng Tháp 300 năm [104], là tập hợp các bài

viết của các nhà nghiên cứu, các tác giả trong và ngoài tỉnh, viết về đất nước, con người vùng Sa Đéc – Cao Lãnh, phân ra làm ba phần: Đất nước, con người và địa danh; nhân vật và sự kiện; vài nét về văn hóa Liên quan đến lễ hội Gò Tháp, trong công trình có hai bài:

- Bài: “Bàn thêm về cái chết của Thiên hộ Võ Duy Dương”, gồm 6 trang, tác giả đã đưa ra nhiều chứng cứ khoa học, nhằm xác định rõ cái chết của ông Thiên hộ Dương là do nguyên cơ nào Dựa trên nhiều cứ liệu, tác giả nhận định về cái chết của ông:

So với các tư liệu trước đây, những thông tin mà hồ sơ lưu trữ của Pháp nói trên cho chúng ta biết rõ hơn về cái chết của Võ Duy Dương: chết vì bị cướp biển sát hại! Đó là sự thật, đành rằng vậy, nhưng hình ảnh một Ngũ linh Thiên hộ trí dũng có thừa, từng xây dựng căn cứ Tháp Mười theo kiểu chiến lũy California của đại tướng Suter (Hoa Kỳ), thống lĩnh lực lượng nghĩa quân ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ sau khi Trương Định qua đời, gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất, đã từng bao lần thoát hiểm giữa vòng vây của quân Pháp với

Trang 30

đầy đủ khí giới, lại bị Lý Sen, một tên cướp biển bắt ném xuống biển! Làm chúng ta đau xót suy nghĩ [104, tr.279]

- Bài: “Lễ hội Gò Tháp” gồm 10 trang, nội dung của bài viết này với

nội dung của bài viết Lễ hội Gò Tháp – một loại hình sinh hoạt văn hóa tâm linh đa dạng ở Nam Bộ trong công trình Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ

(2004) là một nên luận án không phân tích lại nữa

Năm 2005, liên quan đến lễ hội Gò Tháp có bài “Lễ hội bà Chúa Xứ ở

Gò Tháp” của tác giả Lê Hồng Lý [84] Nội dung của bài viết nói về lễ hội bà Chúa Xứ được diễn ra hàng năm tại Gò Tháp, tỉnh Đồng Tháp

Năm 2005, công trình Anh hùng Võ Duy Dương chống Pháp ở đất Đồng Tháp Mười (Người con của Quảng Ngãi trên đất Tháp Mười) của tác

giả Thượng Hồng [59], gồm hai phần, bàn về các vấn đề: Tài liệu lịch sử nghiên cứu về Võ Duy Dương (Phần 1), sự nghiệp đấu tranh chống Pháp của anh hùng Võ Duy Dương trên đất Đồng Tháp Mười (Phần 2) Khi bàn về quê quán, các tác giả trong công trình đều cho rằng quê quán của Võ Duy Dương

ở Quảng Ngãi:

Võ Duy Dương sinh năm 1824 tại Nghĩa Hành, Quảng Ngãi Năm lên 18 tuổi, ông theo cha vào Gia Định Ông học rất giỏi nhưng không ỷ vào thế của cha Ông không thích chốn quan trường, nên

bỏ học, theo luyện võ với một số thanh niên yêu nước đương thời như Trương Định, Trương Gia Hội, Nguyễn Thông, Âu Dương Lâm Kể cả bậc trưởng là thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa cũng thường gặp

gỡ bàn chuyện với nhau [59, tr.15]

Tuy nhiên, trong một số công trình nghiên cứu khác thì cho rằng quê quán của Võ Duy Dương ở tỉnh Bình Định

Năm 2008, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cho ra mắt công trình Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Võ Duy Dương [57] gồm nhiều bài viết của nhiều tác

Trang 31

giả Nội dung giải đáp 16 câu hỏi bàn về xung quanh vấn đề cuộc đời và sự nghiệp của ông

Năm 2009, công trình Đồng Tháp Đất & Người (Tập II) của nhiều tác

giả [111], được biên tập từ nhiều bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu viết về các vấn đề: lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng, các nhân vật lịch sử, các trận đánh oai hùng, các trò chơi – sản phẩm văn học dân gian đặc hữu của Nam Bộ, các địa danh của tỉnh Đồng Tháp trong chiều dài lịch sử 300 năm hình thành và phát triển Liên quan đến Khu di tích Gò Tháp, tác giả Nguyễn Thị Hậu dành

10 trang viết về “Khu di tích Gò Tháp và một cách tiếp cận văn hóa Óc Eo” Bài viết công bố về một số dấu tích kiến trúc cổ, tượng thờ, bia đá và văn tự cổ được phát hiện tại Khu di tích Gò Tháp; đồng thời, điểm lại một vài di tích tiêu biểu được phát hiện và có những nghiên cứu mới sau năm 1975 như

di chỉ cư trú Gò Minh Sư, di tích kiến trúc, kiến trúc Gò Tháp, kiến trúc gò bà Chúa Xứ, cổ vật quan trọng trong Khu di tích Gò Tháp Về nhân vật Thiên hộ Dương có 3 bài viết gồm:

- Bài: “Phát hiện tài liệu quý về anh hùng Võ Duy Dương”, đưa ra nhiều chứng cứ mới về quê hương của ông Thiên hộ Dương:

Tộc Võ xã Nhơn Tân phát hiện tờ cam kết viết vào năm Thành Thái thứ 12; Quyển Định Tường Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân tiểu truyện là tác phẩm chép tay bằng chữ Hán không đề tên tác giả, do Trần Văn Thông (gọi vợ thứ Võ Duy Dương là Trần Thị Vàng bằng

cô ruột) chép lại năm 1942, công bố trên văn hóa Nguyệt San Sài Gòn số 50 – 52 (năm 1960); Năm 1992, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Tháp xuất bản công trình biên khảo Võ Duy Dương với cuộc kháng chiến Đồng Tháp Mười do Nguyễn Hữu Hiếu chủ biên; Theo phổ hệ tộc Võ xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định

[111, tr.97 - 100]

Trang 32

Những công trình trong bài viết này đều khẳng định quê hương Võ Duy Dương là thôn Cù Lâm Nam, tổng Nhơn Nghĩa, huyện Tuy Viễn, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định

- Bài: “Đặc điểm và ý nghĩa cuộc kháng chiến của Võ Duy Dương ở Đồng Tháp Mười” [111, tr.101 - 106], nghiên cứu đặc điểm và ý nghĩa của cuộc kháng chiến, nhằm ngợi ca về sự khôn khéo, gan dạ và dũng cảm, vạch

ra nhiều mưu lược, lập nhiều chiến công trên vùng đất đầy hiểm trở Vùng Đồng Tháp Mười của Võ Duy Dương

- Bài: “Thiên hộ Võ Duy Dương – Người anh hùng Đồng Tháp Mười” [111, tr.101 - 106], kể về cuộc đời và sự nghiệp của ông từ khi tuổi nhỏ đến khi lớn lên vào Nam hưởng ứng chính sách khai hoang của Nguyễn Tri Phương Khi giặc Pháp tấn công thành Gia Định, ông cùng người bạn thân là Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân chiêu mộ dân kéo đi ứng cứu và được phong Chánh Bát phẩm Thiên hộ, vào Nam chiêu mộ nghĩa dũng chống giặc Qua nhiều cuộc chiến đấu, đến tháng 8/1864, Thiên hộ Dương rút vào Đồng Tháp Mười ẩn náu, lập bộ máy hành chính kháng chiến mà Tháp Mười làm trung tâm Tại đây, ông tiếp tục vừa chiến đấu vừa chiêu mộ nghĩa dũng; do vũ khí thô sơ, để bảo toàn lực lượng, ông dẫn đại quân rút xuống Cái Thia, quay về Cao Lãnh, rồi lên Tây Ninh Tháng 10, ông vượt biển về Bình Thuận, chẳng may đến địa phận biển Cần Giờ, ông bị nạn qua đời

Năm 2010, nghiên cứu về lễ hội dân gian tại Đồng Tháp có đề tài:

Truyền thuyết Thiên hộ Dương và lễ hội Gò Tháp của tác giả Trần Minh

Hường [63], là bài dự Hội thảo Việt Nam học lần 3, năm 2008, tại Hà Nội [62] Toàn bộ nội dung của đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thuyết Thiên hộ Dương và lễ hội Gò Tháp

Năm 2011, công trình Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918) của tác giả Võ Phúc Châu [21], đề

Trang 33

cập đến bốn vấn đề: Hệ thống hóa truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918), khảo sát các nhóm truyền thuyết trong hệ thống truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp

ở Nam Bộ (1858 - 1918), khảo sát motif phổ biến trong hệ thống truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918), khảo sát một số chứng tích văn hóa liên quan đến truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918) Trong

hệ thống truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam

Bộ (1858 - 1918), tác giả phân thành sáu nhóm: Một - Trương Định, hai - Thiên hộ Dương, ba - Nguyễn Trung Trực, bốn - Thủ Khoa Huân, năm - Thất Sơn, sáu - nhóm truyền thuyết về những cuộc khởi nghĩa khác Liên quan đến

đề tài luận án tiến sĩ có nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Thiên hộ Dương (28 truyện) Điều đáng ghi nhận ở công trình này là tác giả đã dành gần một trang để nói về lễ giỗ Thiên hộ Dương và Đốc binh Kiều tại Gò Tháp

Năm 2013, công trình Địa chí tỉnh Đồng Tháp do Ban Tuyên giáo tỉnh

ủy Đồng Tháp cho xuất bản [8], nghiên cứu trên mọi mặt xung quanh cuộc sống con người Đồng Tháp Bố cục của công trình được phân làm 6 phần Công trình nhận diện về nhiều mặt của vùng đất Đồng Tháp như: đặc điểm tự nhiên, địa lí – lịch sử, đặc điểm xã hội và dân tộc học, phương thức canh tác, công cụ lao động, hoạt động văn hóa nghệ thuật, văn hóa xã hội

Năm 2013, công trình Lễ hội dân gian đồng bằng sông Cửu Long do

tác giả Trần Văn Nam (Chủ biên), cho rằng: “Lễ hội dân gian đồng bằng sông Cửu Long là lễ hội dân gian diễn ra tại các địa phương thuộc đồng bằng sông Cửu Long, tính từ Long An, Đồng Tháp đến Cà Mau, Kiên Giang” [93, tr.8] Công trình là sự tập hợp gồm 29 bài của nhiều tác giả viết về lễ hội trên khu vực đồng bằng sông Cửu Long, trong đó, điều đáng chú ý là bài viết về

“Lễ hội Gò Tháp” của tác giả Hoài Phương Với bài Lễ hội Gò Tháp dài 4

Trang 34

trang rưỡi (kể cả ảnh minh họa), đã nói sơ lược (không đặt tiểu mục) về thời gian

tổ chức lễ hội, về địa danh Gò Tháp, về di tích Gò Tháp, và về lễ hội Gò Tháp

Năm 2013, công trình Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của các tác

giả Nguyễn Q Thắng, Nguyễn Bá Thế [138], được in lại lần thứ 8, bổ sung sửa chữa tiếp tục in phát hành năm 2013 Công trình đề cập sơ lược tiểu sử

1576 nhân vật đã có công xây dựng và bảo vệ đất nước trên khắp mọi miền của Tổ quốc (chưa kể liệt kê 21 nhân vật gần đây) Liên quan đến nhân vật thờ tự trong đề tài luận án tiến sĩ có nhân vật Võ Duy Dương và nhân vật Lê Công Kiều:

- Về nhân vật Võ Duy Dương, công trình đã dành gần một trang nói về ông với tựa đề - Võ Duy Dương ( - Bính Dần, 1866) Về quê quán, năm sinh, và những tài năng thuở nhỏ:

Anh hùng chống Pháp, tổ tiên gốc miền Trung, sau dời vào ở Gia Định Ông giỏi nghề võ, có tài sản và thường đem của cải làm việc phúc lợi cho nhân dân, nên được triều đình phong tặng chức Thiên

hộ, đời sau gọi ông là Thiên hộ Dương Và vì ông có tài nhắc một lúc năm trái linh bằng sắt, nên nhân dân cũng xưng tụng ông là Ngũ Linh Thiên hộ Dương [138, tr.1508 - 1509]

Về nguyên nhân, thời gian và địa điểm xảy ra cái chết của ông, công

trình cho biết: “Theo Đại Nam thực lục chính biên thì ông rời căn cứ Tháp

Mười ngồi thuyền định ra miền Trung chiêu tập dân quân để phục thù, chẳng may giữa đường gặp bão chìm thuyền, mất tích ở cửa biển Thần Mẫu tỉnh Khánh Hòa trong năm 1866” [138, tr.1509] Như vậy, về ngày sinh, quê quán của Thiên hộ Dương trong phần tiểu sử này chưa lý giải rõ; còn về năm ông chết, nếu nhìn vào tựa đề chúng ta có thể thấy ông chết năm 1866; còn về nguyên nhân cái chết của ông ở bài viết này có nhiều tình tiết khác với các công trình khác

Trang 35

- Về nhân vật Lê Công Kiều, tác giả viết rất ngắn gọn về ông, song nhiều công trình khác mà luận án đề cập trên đây đều xưng ông là Đốc binh Kiều hay Nguyễn Tấn Kiều Với tiêu đề - Lê Công Kiều: “Liệt sĩ Cần vương chống Pháp, không rõ năm sinh, năm mất Quê ở Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp)” [138, tr.433] Về nguyên nhân cái chết, công trình nêu: “Địa bàn hoạt động của ông trải rộng từ Mỹ Tho đến Tân An Năm 1862, khi Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) thất thủ, ông rút về lập chiến khu ở Đồng Tháp Mười và lập căn cứ ở vùng Mỹ Quí (thuộc tỉnh Đồng Tháp) Ông tích cực đánh đuổi quân cướp nước nhưng vì thế yếu, bị thất bại và hy sinh Nhân dân Đồng Tháp hằng tưởng niệm ông” [138, tr.434]

Năm 2014, công trình Du lịch lễ hội vùng đất Tây Nam Bộ của tác giả

Đoàn Nô [115], đề cập đến hai vấn đề chính: Lễ hội tín ngưỡng tâm linh, lễ hội danh nhân văn hóa anh hùng dân tộc Công trình đã dành 10 trang (kể cả ảnh minh họa) viết về lễ giỗ Võ Duy Dương, Đốc binh Kiều (huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) với các ý: Nguồn gốc hình thành lễ hội, quy mô lễ hội, các di tích cổ vật, đôi nét về du lịch vùng đất có lễ hội; mục đích của bài viết nhằm giới thiệu và quảng bá du lịch tại vùng đất Gò Tháp này

Năm 2015, công trình Đồng Tháp nhân vật chí [9] do Ban Tuyên giáo

Tỉnh ủy và Hội Khoa học lịch sử Đồng Tháp cho tái bản; nhưng lần tái bản này có sửa chữa và bổ sung thành 284 nhân vật có công đóng góp vào xây dựng quê hương tỉnh Đồng Tháp nói riêng và cả nước nói chung Nhân vật

Võ Duy Dương và nhân vật Đốc binh Kiều là hai nhân vật thờ tự trong lễ hội

Gò Tháp vào rằm tháng 11 âm lịch mà luận án đang tiến hành nghiên cứu:

- Về nhân vật Võ Duy Dương, công trình đã dành 2 trang tóm tắt về năm sinh, thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của ông từ nhỏ cho đến khi rời khỏi cuộc đời về bên kia thế giới Công trình khẳng định: “Ông Võ Duy Dương là con trai thứ ba trong một gia đình nông dân ở thôn Cù Lâm Nam, thuộc phủ

Trang 36

Tuy Viễn, trấn Bình Định (nay là thôn Nam Tượng, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định), sinh năm 1827, em ruột của anh hùng chống Pháp Võ Duy Tân Tương truyền ông rất khỏe mạnh và giỏi võ nghệ” [9, tr.111] Nói

về nguyên nhân, thời gian, địa điểm nơi xảy ra cái chết của ông, công trình nêu tương đối cụ thể:

Tháng 4 năm 1866, De Lagrandière tập trung quân chia làm ba mũi tấn công vào Đồng Tháp Mười, Sau gần mười ngày quần thảo với giặc, Thiên hộ Dương ra lệnh rút lui về biên giới và Cái Thia (Cái Bè) Tháng II, Thiên hộ Dương vượt biển về kinh, đến cửa Thần Mẫu (Cần Giờ), bất ngờ ông bị Lý Sen, một tên cướp biển giết chết Thiên hộ Dương nằm xuống, nhưng tên tuổi và sự nghiệp chống giặc giữ nước của ông mãi mãi gắn chặt với mảnh đất Ðồng Tháp Mười anh hùng Để tưởng nhớ người anh hùng có công giữ nước từ lâu nhân dân đã xây dựng đền thờ tưởng niệm tại Gò Tháp, hàng năm có

hàng trăm ngàn người đến kính bái [9, tr.112]

- Về nhân vật Đốc binh Kiều, công trình cũng đã dành 2 trang tóm tắt

về năm sinh, thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của ông từ nhỏ cho đến khi chết Công trình khẳng định: “Rất tiếc đến nay, chúng ta chưa biết họ và quê quán của Đốc binh Kiều Dân gian thường gọi ông là Lê Công Kiều, Trần Phú Kiều hoặc Nguyễn Tấn Kiều, nhưng phổ biến nhất là quan Lớn Thượng Tương truyền, ông người gốc miền Trung vào Nam sinh sống ở huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường” [9, tr.220] Về nguyên nhân, thời gian và địa điểm xảy ra cái chết, công trình có đoạn viết:

Trong cuộc tấn công Tháp Mười vào tháng 4 năm 1866, quân Pháp

đã dùng một lực lượng lớn để áp đảo mặt này, quyết hạ cho được đồn Tả để tiến vào Tháp Mười Quân Pháp do tay sai khét tiếng Trần Bá Lộc chỉ huy tấn công, đến chiều bọn chúng phải rút lui

Trang 37

Ông lên đài quan sát theo dõi, chẳng may ông bị thương Ông được đưa về gò Giồng Dung điều trị Mấy ngày sau, được tin đại đồn thất thủ ông uất lên mà chết Để ghi nhớ công lao chiến đấu chống giặc giữ nước gian khổ của ông, nhân dân xây cất đền thờ tưởng niệm ông chung với Thiên hộ Võ Duy Dương tại Gò Tháp [9, tr.221] Nghiên cứu về văn hóa dân gian Đồng Tháp có tác giả Nguyễn Hữu

Hiếu với nhiều công trình: Năm Nam Kỳ cố sự (chuyện kể dân gian Nam Bộ) (1997) [43]; năm 2003 với bài Chân dung bà Chúa Xứ ở Nam Bộ, Hội nghị

Thông báo Văn hóa dân gian [44] Năm 2004, ông cho xuất bản cuốn sách

Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ [45], gồm hai phần chính Công trình đã

dành 10 trang viết về lễ hội Gò Tháp – Một loại hình sinh hoạt văn hóa tâm linh đa dạng ở Nam Bộ; giúp người đọc nhận diện về Khu di tích Gò Tháp, tiểu sử Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều, tục thờ bà Chúa Xứ Theo tác giả:

Khu di tích Gò Tháp tập trung sáu di tích, theo trình tự từ hướng Tây Nam lên Đông Bắc: gò Tháp Mười, Tháp Mười cổ tự, đền thờ Thiên hộ Dương – Đốc binh Kiều, gò Minh Sư, miếu bà Chúa Xứ

và nền che gạch cổ Lễ hội chính tập trung ở miếu bà Chúa Xứ (vào tháng ba) và đền thờ Thiên hộ Dương – Đốc binh Kiều (vào tháng 11) Song, từ xưa đã có lệ khi cúng bà thì kiếng ông; ngược lại khi cúng ông thì kiếng bà [45, tr.158]

Năm 2005, ông tiếp tục cho xuất bản công trình Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười [46], đề cập đến các vấn đề: Bối cảnh xã hội Việt Nam và

nét đặc trưng của Nam Kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược, chung quanh vấn đề tiểu sử Võ Duy Dương, hai giai thoại kháng chiến của Võ Duy Dương Theo tác giả: “Võ Duy Dương sinh ra và lớn lên ở một thôn nhỏ, được bao quanh bởi những dãy đồi núi chập chùng, sau lưng là núi Thơm, trước mặt là núi Hòn Giang, bên trái là núi An Thượng, bên phải là sông Côn, xa xa về

Trang 38

phía trước mặt là núi Chàng Lía (Nam Thượng xã Nhơn Tân, huyện An

Nhơn, Bình Định)” [46, tr.40] Liên quan đến địa điểm tổ chức lễ hội, tác giả cho rằng:

Gò Tháp là một gò đất pha cát do bàn tay con người bồi đắp dựa trên sự thành tạo ban đầu của tự nhiên, nằm theo hướng dòng chảy sông Tiền, Đông Bắc – Tây Nam Đỉnh gò dài trên 500m, rộng 300m, nhưng chân gò chạy thoai thoải mở rộng ra hướng Tây Nam, diện tích lên gần 1 cây số vuông, có những con lung viền quanh

công trình Văn hóa dân gian vùng Đồng Tháp Mười [48] gồm 6 chương,

nghiên cứu về văn hóa dân gian vùng Đồng Tháp Mười: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tên gọi; di tích lịch sử, văn hóa; nhân vật; đời sống vật chất; đời

sống tâm linh; văn học dân gian Năm 2014, tuyển tập Ông bà Đỗ Công Tường và Thành phố Cao Lãnh [49], nội dung kể về cuộc đời và sự nghiệp

của ông bà chủ chợ Đỗ Công Tường cũng như nói về đền thờ và phần mộ, chương trình lễ giỗ hàng năm, ban tế tự đền thờ qua các thời kỳ cũng như nói

về câu chuyện từ chợ Câu Lãnh đến thành phố Cao Lãnh Năm 2016, công

trình Văn hóa dân gian miệt Sa Đéc [51], đề cập đến các vấn đề trên vùng đất

Sa Đéc như: Khái quát về vùng đất Sa Đéc, di tích lịch sử - văn hóa, nhân vật, đời sống vật chất, đời sống tâm linh, văn học dân gian, nghệ thuật diễn xướng Nếu dựa vào điều kiện tự nhiên, tỉnh Đồng Tháp ngày nay gồm hai dải: Bắc

và Nam sông Tiền Nam sông Tiền bao gồm các huyện Châu Thành, thành

Trang 39

phố Sa Đéc, huyện Lai Vung, huyện Lấp Vò Bắc sông Tiền gồm một phần vùng trũng Đồng Tháp Mười, nơi có Khu di tích – không gian tổ chức lễ hội Gò Tháp mà đề tài luận án đang tiến hành nghiên cứu Sa Đéc ngày nay là một thành phố trực thuộc UBND tỉnh Đồng Tháp

Tóm lại, Qua nhìn lại tình hình nghiên cứu, NCS thấy rằng việc sưu

tầm nghiên cứu lễ hội truyền thống vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, tỉnh Đồng Tháp nói riêng mà đặc biệt là lễ hội Gò Tháp đã có những đóng góp đáng kể Song, theo NCS thì việc sưu tầm, nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa tại tỉnh Đồng Tháp nói chung còn ít, mà đặc biệt là về lĩnh vực lễ hội mới chỉ xuất hiện ở dạng một số bài báo đăng trên tạp chí viết về lễ hội Gò Tháp hoặc một vài lễ hội khác

1.2 Lễ hội Gò Tháp trong diện mạo lễ hội của người Việt vùng Tây Nam Bộ

Diện mạo lễ hội người Việt vùng Tây Nam Bộ nói chung, tác giả Nguyễn Chí Bền cho biết: “Về phía người dân, sự thờ cúng thành hoàng dẫn tới sự xuất hiện của một loại lễ hội, đó là lễ kỳ yên Đồng thời, người dân cũng tác động tới diện mạo thần linh ở Nam Bộ, đưa những nhân vật lịch sử vào thế giới thần linh, để phụng thờ, để mong nhận được sự bảo trợ của các vị này, từ cõi thiêng của làng” [12, tr.655] Tác giả Thạch Phương cho rằng:

“Thường thường các lễ hội ở đây có tuổi đời từ một vài thế kỷ, hoặc cao hơn thì cũng không vượt quá ngưỡng cửa thời gian 300 năm tương ứng với lịch sử khai phá và xác lập trọn vẹn vai trò chủ nhân của vùng đất phương Nam Tổ quốc” [67 tr.118] Về số lượng lễ hội tổ chức trong năm, theo tác giả Nguyễn Xuân Hồng, ở ĐBSCL hiện có 683 cơ sở tín ngưỡng gồm đình, đền, miếu, lăng thờ cá ông, dinh, lăng mộ, gò có tổ chức lễ hội hàng năm Ở nhóm lễ hội tại dinh, lăng mộ, gò “có 6 lễ hội tại dinh, lăng mộ, gò (chiếm tỷ lệ 0,8%) Đối tượng được tôn vinh trong các lễ hội này có hai loại: Một là các danh

Trang 40

nhân, với các lễ hội được diễn ra tại các cơ sở thờ tự như lăng Tứ Kiệt (thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang); lăng Nguyễn Văn Tồn (Trà Ôn, Vĩnh Long); lăng Bùi Hữu Nghĩa (An Thới, Tp Cần Thơ); lăng Mạc Cửu (Bình Sơn, thị xã

Hà Tiên); dinh Đốc binh Vàng – Trần Văn Năng (Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp) Hai là, các danh nhân phối tự với bà Chúa Xứ, chẳng hạn như lễ hội

Gò Tháp (xã Tân Kiều, Tháp Mười, Đồng Tháp)” [61, tr.54] Bên cạnh đó còn

có một số lễ hội tiêu biểu như: lễ vía bà Chúa Xứ ở Núi Sam, lễ hội Nghinh Ông

Nằm trong dòng chảy của lễ hội người Việt ở vùng Tây Nam Bộ, lễ hội

Gò Tháp có tuổi đời chưa quá dài, gắn liền với quá trình khai hoa mở mang

bờ cõi của người Việt; quá trình thiêng hóa nhân vật diễn ra chưa trọn vẹn như ở Bắc Bộ Lễ hội Gò Tháp là tên gọi chung cho nhiều lễ hội được tổ chức trong năm Mỗi lễ hội/năm lại có tên gọi riêng theo tên gọi nhân vật thờ tự Lễ hội vào rằm tháng 3 gọi là lễ hội vía bà Chúa Xứ, lễ hội vào rằm tháng 11 gọi

là lễ hội Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều Người dân tổ chức lễ hội nhằm tưởng niệm các nhân vật đã có công đánh giặc giữ nước, giúp dân trong những ngày đầu mở mang bờ cõi, khai hoang lập nghiệp; Đây là tâm tư, tình cảm, là đời sống tinh thần của người dân tỉnh Đồng Tháp, được gửi gắm vào các nhân vật thờ tự, cầu các thần phù hộ độ trì, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, nhân khang, vật thịnh, mùa màng bội thu, gia đình ấm no và hạnh phúc

Lễ hội Gò Tháp được tổ chức trên địa bàn Gò Tháp, ấp 1 xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp; cách huyện lỵ Tháp Mười khoảng 11km

về hướng Bắc, cách Tp Cao Lãnh 43km (theo đường bộ và đường thủy) về hướng Đông Bắc Gò Tháp nằm ở trung tâm vùng Đồng Tháp Mười (xưa) và chưa bao giờ bị ngập hoàn toàn trong những mùa nước lớn Đây là một gò đất pha cát, có chiều dài khoảng 1.000m và chiều rộng nhất ở phía Nam khoảng

Ngày đăng: 30/04/2019, 07:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w