Phát triển cá rô phi đã được nuôi phổ biến ở rất nhiều nơi trong cả nước, đặc biệt được đưa vào nuôi trồng phát triển nhất trong nông hộ thuộc địa bàn tỉnh Hải Dương. Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học (Sở Khoa học và công nghệ Hải Dương) đã triển khai dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình nuôi thủy sản theo hướng an toàn trên địa bàn tỉnh Hải Dương thuộc chương trình ứng dựng tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển sản xuất nông sản hàng hóa góp phần xây dựng nông thôn mới tỉnh Hải Dương giai đoạn 20122015. Cụ thể dự án đã đưa giống cá rô phi lai xa dòng Isarel vào nuôi ghép với các loài cá truyền thống theo hướng an toàn. Dự án được thử nghiệm tại xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với các hộ nuôi trồng. Ngoài ra dự án còn đem lại nguồn thực phẩm sạch đáp ứng được nhu cầu và đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng. Để tìm hiểu kỹ hơn về hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel và khả năng áp dụng của mô hình này đến các nông hộ, tôi xin nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng áp dụng của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an toàn trong nông hộ ở xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương” với mục tiêu cơ bản trên cơ sở đánh giá mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an toàn, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đưa ra khả năng áp dụng mô hình đó tại địa bàn xã Hưng Đạo, Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HÀ NỘI 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luậnnày là hoàn toàn trung thực, chưa từng được ai sử dụng để công bố trong côngtrình nào khác Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong khóa luận đã được ghi rõnguồn gốc
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015
Tác giả khóa luận
Sv Phạm Thị Hà
i
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốtnghiệp, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Học viện Nông nghiệpViệt nam đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và kinh nghiệm thựctiễn để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất Đặc biệt,tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền, bộ mônphát triển nông thôn – người đã trực tiếp truyền đạt và hướng dẫn tôi hoànthành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo, các phòng ban,cán bộ thôn xã và những hộ gia đình trên địa bàn xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ,tỉnh Hải Dương đã tạo điều kiện, giúp đỡ, cung cấp sô liệu khách quan và nóilên những suy nghĩ của mình để giúp tôi hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viênkhuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthành khóa luận
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên không thểtránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và bạn
bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2015.
Sinh viên
Phạm Thị Hà
ii
Trang 4TÓM TẮT KHÓA KHÓA LUẬN
Phát triển cá rô phi đã được nuôi phổ biến ở rất nhiều nơi trong cảnước, đặc biệt được đưa vào nuôi trồng phát triển nhất trong nông hộ thuộcđịa bàn tỉnh Hải Dương Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học (Sở Khoa học
và công nghệ Hải Dương) đã triển khai dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xâydựng mô hình nuôi thủy sản theo hướng an toàn trên địa bàn tỉnh Hải Dươngthuộc chương trình ứng dựng tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển sảnxuất nông sản hàng hóa góp phần xây dựng nông thôn mới tỉnh Hải Dươnggiai đoạn 2012-2015
Cụ thể dự án đã đưa giống cá rô phi lai xa dòng Isarel vào nuôi ghépvới các loài cá truyền thống theo hướng an toàn Dự án được thử nghiệm tại
xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và đem lại hiệu quả kinh tế caođối với các hộ nuôi trồng Ngoài ra dự án còn đem lại nguồn thực phẩm sạchđáp ứng được nhu cầu và đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng
Để tìm hiểu kỹ hơn về hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ghép cá rô philai xa dòng Isarel và khả năng áp dụng của mô hình này đến các nông hộ, tôi xin
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng áp dụng của mô
hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an toàn trong nông hộ ở xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương” với mục tiêu cơ bản trên cơ sở đánh giá mô hình nuôi ghép cá rô phi lai
xa dòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an toàn, từ đó đưa ramột số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đưa ra khả năng áp dụng môhình đó tại địa bàn xã Hưng Đạo, Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
iii
Trang 5Để đạt được mục tiêu chung của đề tài tôi đưa ra các mục tiêu cụ thể như:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng
áp dụng của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa Đánh giá thực trạng áp dụng vàhiệu quả của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cátruyền thống khác theo hướng an toàn trên địa bàn xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ,tỉnh Hải Dương Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế và khảnăng áp dụng của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cátruyền thống khác theo hướng an toàn địa bàn xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnhHải Dương Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả khi thực hiện môhình
Đối tượng nghiên cứu của đề tài hướng đến là vấn đề kinh tế tùy thuộctrong áp dụng mô hình và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai
xa dòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an toàn Để nắmđược cơ sở lý luận của để tài, trong nghiên cứu tôi đã đưa ra một số khái niệmliên quan bao gồm: Cá Rô Phi; Lai xa; Cá rô phi lai xa dòng Isarel theo hướng
an toàn; Mô hình; An toàn thực phẩm; Sự cần thiết phát triển nuôi thủy sảntheo hướng bền vững; Điều kiện phát triển nuôi thủy sản theo hướng bền
vững; Một số đặc điểm của con cá rô phi
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã áp dụng các phương pháp nghiêncứu như thu thập thông tin qua các tài liệu đã đăng trên sách báo, đề tài khoahọc, ấn phẩm, internet, các báo cáo của địa phương kết hợp với thu thập sốliệu trực tiếp qua điều tra bằng bộ phiếu câu hỏi chuẩn bị sẵn Các số liệu thuthập được xử lý và tiến hành phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả,phương pháp so sánh
Qua quá tình nghiên cứu thực tế tại địa phương tôi thu được một số kếtquả cụ thể như sau: (1) Nghiên cứu đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận vàthực tiễn về đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng áp dụng của mô hình nuôighép cá rô phi lai xa (2) Độ tuổi trung bình của những người tham gia phỏng
iv
Trang 6vấn là 45,22 tuổi, người cao tuổi nhất là 63 và người trẻ tuổi nhất là 28 Trungbình mỗi hộ có tới trên 6.875 năm kinh nghiêm nuôi cá, hộ có ít năm kinhnghiêm nhất là 2 năm và cao nhất là 12 năm Theo tra phỏng vấn ta thấy
100% nông hộ đều trồng lúa Diện tích đất trồng lúa của mỗi nông hộ dao
động trong khoảng 3 sào đến 15 sào Trong 2 năm 2014 và 2015, diện tích đấtcanh tác nông nghiệp hầu như không có sự thay đổi Nghiên cứu cho thấyrằng chi phí trung bình của các hộ sau khi áp dụng mô hình thấp hơn so vớitrước khi chưa có mô hình 6,21% (3) Doanh thu bình quân của các hộ sau khi
áp dụng mô hình cao hơn so với trước khi chưa có mô hình 28,85% Lợinhuận bình quân đạt được sau khi áp dụng mô hình cao hơn trước khi áp dụng
mô hình 77,98% như vậy có thể thấy rằng lợi nhuận thu được sau khi áp dụng
mô hình cao hơn rất nhiều so với trước khi áp dụng mô hình Các chỉ tiêu hiệuquả cho thấy chỉ tiêu lợi nhuận/doanh thu của các hộ sau khi áp dụng mô hìnhcao hơn 89,77% so với trước khi áp dụng mô hình, cụ thể sau khi áp dụng môhình chỉ tiêu lợi nhuận/chi phí đạt 1,35 lần như vậy với 1 đồng chi phí bỏ rangười chăn nuôi sẽ thu lại được 1,35 đồng lợi nhuận Chỉ tiêu doanh thu/chiphí của các hộ sau khi áp dụng mô hình cũng cao hơn 37,38% so với trướckhi áp dụng mô hình Như vậy có thể thấy được mô hình nuôi ghép cá rô philai xa dòng Isarel đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với trước khi chưa có
mô hình (4) Qua nghiên cứa cũng tìm ra được một số các yếu tố ảnh hưởngđến hiệu quả của mô hình như: Thời tiết, Địa hình và thủy văn, Nguồn vốn,
Cơ sở vật chất, Dịch bệnh, Thị trường, Mức độ thích nghi của giống cá, Laođộng, Thị trường tiêu thụ Từ các yếu tố ảnh hưởng này đề tài đã đề xuất một
số giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình như: Giải pháp về vốn cho sản xuất,
Về thị trường, Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực.
v
Trang 7MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 6
PHẦN III 37
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1.2.3 Kinh tế của xã trong những năm qua 40
PHẦN IV 46
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
3, Hiệu quả vượt trội từ lai ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel ( Thủy sản Việt Nam ) 88
http://thuysanvietnam.com.vn/hieu-qua-vuot-troi-tu-lai-ghep-ca-ro-phi-lai-xa-dong-isarel-article-10860.tsvn 88
PHIẾU ĐIỀU TRA NÔNG HỘ 90
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
2.1 Cơ sở lý luận 10
Bảng2.1.Phân biệt cá đực, cá cái qua các đặc điểm hình thái 21
3.1 Đặc điểm địa bàn 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
Bảng 3.1: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 42
Bảng 4.1: Giới tính của người được phỏng vấn 47
Bảng 4.2 Trình độ văn hóa của người phỏng vấn 47
Bảng 4.3 Độ tuổi của người tham gia phỏng vấn 49
Bảng 4.4 Nghề nghiệp chính của các hộ tham gia phỏng vấn 49
Bảng 4.5 Nghề nghiệp phụ của các hộ tham gia phỏng vấn 49
Bảng 4.6 Nhân khẩu và lực lượng lao động ở 2 nhóm hộ phỏng vấn 51
Bảng 4.7 Kết quả sản xuất nông nghiệp trong các hộ được phỏng vấn 52
Bảng 4.8: Tình hình chăn nuôi của 2 nhóm hộ 53
Hình 4.2 Lý do nuôi cá của các hộ tham gia mô hình 55
Hình 4.3 Diện tích ao nuôi cá của các hộ có tham gia mô hình 56
Bảng 4.9 Độ sâu ao của các hộ có tham gia mô hình 56
Bảng 4.10 Đánh giá về mật độ cá của các hộ điều tra có tham gia mô hình 58
Bảng 4.11 Chi phi mua giống cá của các hộ điều tra 61
ĐVT: 1000đ 61
Bảng4.12 Lượng thức ăn trung bình dùng cho cá ăn trước khi tham gia mô hình tính cho toàn bộ ao trong 1 ngày 64
Bảng 4.13 Lượng thức ăn trung bình dùng cho cá ăn khi tham gia mô hình tính cho toàn bộ ao trong 1 ngày 65
Bảng 4.14 Thuế ao của các hộ điều tra 66
Bảng 4.16 Tổng chi phí bệnh dịch cho cá 68
Bảng4.17 Trung bình kích cỡ cá khi thu hoạch 70
Trang 9Bảng4.18 Năng suất trung bình khi thu hoạch cá 70
(Tính trung bình 1 sào ao) 70
ĐVT: kg/sào 70
Bảng 4.19 Giá bán bình quân các loại cá của các hộ điều tra 71
Bảng 4.20 Tổng chi phí nuôi cá của các hộ điều tra 73
ĐVT: 1000đ/sào/vụ 73
Bảng 4.21 Doanh thu nuôi cá của các hộ điều tra 74
ĐVT: 1000đ/sào/vụ 74
Bảng 4.22 Hiệu quả nuôi cá của các hộ điều tra 75
Bảng 4.23 Nhu cầu vay vốn của hộ 78
ĐVT:% 78
Bảng 4.24 Đánh giá về cơ sở vật chất của xã qua các hộ phỏng vấn 80
ĐVT:% 80
PHẦN V 85
5.1 Kết luận 86
5.2.1 Kiến nghị 87
Trang 10DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 6
Hình 2.1: Cá rô phi 10
Hình 2.2 Cá rô phi lai xa dòng Isarel 12
Hình 2.3: Thức ăn tự nhiên của cá rô phi 18
Hình 2.5 Cơ chế để cơ sở hạ tầng thúc đẩy phát triển nông nghiệp 27
Hình 2.6 : Sản lượng cá rô phi 30
Hình 2.7 Tình hình nuôi cá rô phi trong nước 32
PHẦN III 37
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1.2.3 Kinh tế của xã trong những năm qua 40
PHẦN IV 46
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
Hình 4.4 Kích cỡ cá trung bình của từng loại cá khi bắt đầu nuôi cá giai đoạn trước và trong khi thực hiện mô hình 60
63
Hình 4.5 Tỷ lệ nông hộ thực hiện các biện pháp chuẩn bị ao 63
Hình 4.6 Kích cỡ cá trung bình khi thu hoạch của các loại cá trong 2 thời điểm nuôi .69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
3, Hiệu quả vượt trội từ lai ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel ( Thủy sản Việt Nam ) 88
http://thuysanvietnam.com.vn/hieu-qua-vuot-troi-tu-lai-ghep-ca-ro-phi-lai-xa-dong-isarel-article-10860.tsvn 88
PHIẾU ĐIỀU TRA NÔNG HỘ 90
Trang 12PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nước ta có nghề nuôi cá truyền thống từ lâu đời và có nhiều tiềm năng
để phát triển nghề nuôi trổng thuỷ sản Trong 10 năm gần đây, nghề nuôitrổng thuỷ sản nước ta đã có những bước tiến đáng kể trong việc sử dụng diệntích mặt nước, nâng cao năng suất và sản lượng cá nuôi, góp phần quan trọngtrong việc cung cấp thực phẩm có nguồn đạm đông vật cho con người vàbước đầu tạo ra nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu Tuy nhiên, trướcnhững thành tựu mới của khoa học công nghệ thế giới và yêu cầu tiếp tục pháttriển của nền kinh tế Việc đa dạng hoá loại hình cá nuôi đã và sẽ là một yêucầu cần thiết để phát triển nuôi trổng thuỷ sản một cách bền vững Bên cạnhviệc nâng cao chất lượng giống của những loài cá nuôi đã có, bảo vệ và pháttriển các giống cá kinh tế, các loài cá bản địa quý hiếm, chúng ta đã nhập nuôinhững giống cá mới cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện nước ta Hơnnữa cần tập trung cho lĩnh vực công nghệ sinh học – một lĩnh vực còn mới mẻvới Việt Nam, để nhanh chóng hoàn thiện được những đàn cá nuôi đáp ứngvới những yêu cầu cần phát triển mới của nghề nuôi trồng thuỷ sản
Song song với việc phát triển nuôi các loài cá truyền thống, thì việcphát triển nuôi cá rô phi đang ngày càng được mở rộng quy mô với nhiều hìnhthức nuôi khác nhau, góp phần tăng thu nhập và cải thiện kinh tế hộ gia đình.Với ưu thế ít bệnh dịch, thức ăn không đòi hỏi chất lượng cao…nuôi cá rô phiđang ngày càng nhận được sự quan tâm của người nuôi và diện tích thả nuôităng hằng năm
Phát triển cá rô phi đã được nuôi phổ biến ở rất nhiều nơi trong cảnước, đặc biệt được đưa vào nuôi trồng phát triển nhất trong nông hộ thuộcđịa bàn tỉnh Hải Dương Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học (Sở Khoa học
Trang 13và công nghệ Hải Dương) đã triển khai dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xâydựng mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng an toàn trên địa bàn tỉnh HảiDương thuộc chương trình ứng dựng tiến bộ khoa học và công nghệ phát triểnsản xuất nông sản hàng hóa góp phần xây dựng nông thôn mới tỉnh HảiDương giai đoạn 2012-2015
Cụ thể dự án đã đưa giống cá rô phi lai xa dòng Isarel vào nuôi ghépvới các loài cá truyền thống theo hướng an toàn Dự án được thử nghiệm tại
xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và đem lại hiệu quả kinh tế caođối với các hộ nuôi trồng Ngoài ra dự án còn đem lại nguồn thực phẩm sạchđáp ứng được nhu cầu và đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng
Để tìm hiểu kỹ hơn về hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ghép cá rô philai xa dòng Isarel và khả năng áp dụng của mô hình này đến các nông hộ, tôi
xin nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh tế và khả năng áp dụng
của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an toàn trong nông hộ ở xã Hưng Đạo, huyện Tứ
Kỳ, tỉnh Hải Dương”
Đề tài này sẽ dựa vào dự án của tỉnh để phân tích đánh giá kĩ hơn về
mô hình và đưa ra khả năng áp dụng tại địa phương Nhằm đưa ra giảipháp nâng cao hiệu quả kinh tế, phát triển nông thôn mới, góp phần xóađói giảm nghèo
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xadòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an toàn, từ đó đưa ramột số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và đưa ra khả năng áp dụng
mô hình tại địa bàn xã Hưng Đạo, Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
Trang 141.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quảkinh tế và khả năng áp dụng của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa
- Đánh giá thực trạng áp dụng và hiệu quả của mô hình nuôi ghép
cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an
toàn trên địa bàn xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế và khảnăng áp dụng của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xa dòng Isarel với các loài
cá truyền thống khác theo hướng an toàn địa bàn xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ,
tỉnh Hải Dương
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả khi thực hiện môhình
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề kinh tế tùy thuộc trong việc đánh giáhiệu quả kinh tế và khả năng áp dụng của mô hình nuôi ghép cá rô phi lai xadòng Isarel với các loài cá truyền thống khác theo hướng an toàn
- Địa điểm nghiên cứu
Tại xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
Điều tra mô hình nuôi ghép các rô phi lai xa dòng Isarel với các loài cátruyền thống khác theo hướng an toàn trên địa bàn xã Hưng Đạo, huyện
Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cá rô phi lai xakhi thực hiện mô hình nuôi ghép
Trang 15 Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình
Phân tích đánh giá khả năng áp dụng của mô hình
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển mô hình
Trang 16(nguồn: Tạp chí Thủy sản VN)
Hình 2.1: Cá rô phi
Trang 17Việc du nhập cá rô phi đến những nước châu Á bắt đầu từ thập kỷ 30,khi đó được coi như một loài cá cảnh Trong thế chiến thứ 2, người Nhật
đã du nhập cá rô phi vào các nước châu Á, cá rô phi du nhập đầu tiên vàocác nước Caribe ở thập kỷ 40 sau đó sang các nước Mỹ la tinh và Mỹ.Cuối thập kỷ 50 cá rô phi trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu ở đạihọc Aubrn- Hoa Kỳ
Cá rô phi không được xem là nguồn thực phẩm Ở Califolia, cá rô phi làloại được nuôi ở kênh để kiểm soát thực vật thủy sinh Vài loài cá rô phi cómàu sặc sỡ xem như một loài cá cảnh
Một số loài cá rô phi và con giống có thể chịu đựng được độ mặn ởcác vùng Duyên hải Việc nuôi cá rô phi trong nước mặn phát triển ởCaribe và Bahamas
2.1.1.2 Lai xa
Lai xa (lai khác loài) là các hình thức lai giữa các dạng bố mẹ thuộc 2loài khác nhau hoặc thuộc các chi, các họ khác nhau nhằm tạo ra các biến dị
tổ hợp mới có giá trị
2.1.1.3 Cá rô phi lai xa dòng Isarel theo hướng an toàn
Là một loài cá rô phi được nhân giống bằng phương pháp lai xa Loài
cá này được sử dụng cá đực O.aureus Israel lai với cá cái O.niloticus Israel
có cùng khởi điểm vây lưng sau điểm cuối nắp mang lai với nhau Cá bố
mẹ sau khi được chọn lựa thì được nuôi ghép trong ao để cá thụ tinh tựnhiên mà không phải tiêm bất kỳ chất kích thích nào Có thể kích thích cá
đẻ bằng cách phun mưa, cấp thêm nước mới vào ao Cá bố mẹ được ghépđực cái theo tỷ lệ 1:1,6 và 1:2 Sau khi ghép khoảng 15 - 20 ngày thì chothu cá bột (Tilapia Culture, 1994)
Trang 18(nguồn: Tạp chí Thủy sản VN)
Hình 2.2 Cá rô phi lai xa dòng Isarel
Gọi dòng cá rô phi này là an toàn bởi vì khi tạo ra giống cá này khôngcần phải dùng bất kì chất kích thích nào như loại cá rô phi đơn tính khác cầnphải sử dụng hocmon xử lý giới tính chuyển từ cái sang đực Điều này an toàncho người sử dụng và rút gọn được chi phí cũng như tiền giống nuôi cá
2.1.1.4 Mô hình
Mô hình là công cụ giúp ta thể hiện được sự vật, hiện tượng, quá trìnhnào đó phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạttinh thần của con người
2.1.1.5 An toàn thực phẩm
An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sứckhỏe, tính mạng con người
Trang 19Thực phẩm an toàn là loại thực phẩm:
- Không chứa tồn dư thuốc BVTV, hoá chất, kháng sinh cấmhoặc vượt quá giới hạn cho phép
- Không chứa tạp chất (kim loại, thuỷ tinh, vật cứng …)
- Không chứa tác nhân sinh học gây bệnh (vi rút, vi sinh vật, kýsinh trùng)
Bên cạnh đó thực phẩm cần phải:
- Có nguồn gốc, xuất xứ đầy đủ, rõ ràng;
- Được kiểm tra, đánh giá chứng nhận về ATTP
2.1.2 Sự cần thiết và điều kiện để phát triển nuôi trồng thủy sản theo
hướng an toàn
2.1.2.1 Sự cần thiết phát triển nuôi thủy sản theo hướng bền vững
Theo thông tư số 51/2014/TT-BNNPTN, điều kiện bảo đảm an toàn thựcphẩm áp dụng đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ gồm có: Bảo đảm cácđiều kiện về địa điểm, nguồn nước để nuôi trồng thủy sản an toàn thực phẩm;
Sử dụng giống thủy sản khỏe mạnh, có nguồn gốc rõ ràng Thức ăn dùng chonuôi trồng thủy sản phải bảo đảm không gây hại cho thủy sản nuôi và người
sử dụng sản phẩm thủy sản Không sử dụng chất thải của động vật và của conngười để nuôi thủy sản Thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học, chất xử lýcải tạo môi trường dùng trong nuôi trồng thủy sản phải theo hướng dẫn sửdụng ghi trên bao bì, tài liệu hướng dẫn sử dụng hoặc hướng dẫn của cán bộ
kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, cán bộ khuyến nông Bên cạnh đó, nước ao nuôiphải được xử lý trước khi xả thải ra môi trường xung quanh nếu thủy sản bịbệnh trong quá trình nuôi Bùn thải từ ao nuôi phải được thu gom, xử lýkhông ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Ngoài ra, thủy sản nuôi sau khithu hoạch phải được bảo quản, vận chuyển bằng thiết bị, dụng cụ phù hợp,bảo đảm không gây độc hại, không gây ô nhiễm cho thực phẩm Người nuôitrồng thủy sản được phổ biến, hướng dẫn về thực hành sản xuất thực phẩm an
Trang 20toàn, và cần duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và cung cấpđược thông tin liên quan đến việc mua bán sản phẩm.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thựcphẩm đối với cơ sở thu hái, đánh bắt, khai thác nông lâm thủy sản nhỏ lẻ như:Cần có trang thiết bị, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng, phương tiện phùhợp để thu hái, đánh bắt, khai thác, bảo quản và vận chuyển sản phẩm, đảm bảokhông gây độc hại, không gây ô nhiễm cho thực phẩm Sản phẩm thu hái, đánhbắt, khai thác phải được bảo quản phù hợp với tính chất của từng loại sảnphẩm: tươi, sống, sơ chế, đông lạnh, sản phẩm khô Trường hợp có sử dụngphụ gia, hóa chất trong bảo quản, xử lý sản phẩm phải theo đúng hướng dẫnloại dùng cho thực phẩm, có bao bì, nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng (quyđịnh tại Thông tư 27/2012/TT-BYT) Ngoài ra, người thu hái, đánh bắt, khaithác, bảo quản, vận chuyển sản phẩm được phổ biến, hướng dẫn về thực hànhsản xuất thực phẩm an toàn và cần phải duy trì các điều kiện bảo đảm an toànthực phẩm và cung cấp được thông tin liên quan đến việc mua bán sản phẩm.Việc áp dụng nuôi trồng thủy sản theo hướng an toàn giúp cho bà con nôngdân quản lý cơ sở nuôi một cách khoa học, tạo ra được sản phẩm sạch, hạnchế ô nhiễm môi trường, giảm thiểu nguy cơ dịch bệnh, tiết kiệm chi phí sảnxuất, tăng năng suất, chứng minh được chất lượng sản phẩm và tạo dựng đượcmối quan hệ tốt với người lao động, còn nhà phân phối và người tiêu dùng sẽ
có được nguồn sản phẩm đảm bảo chất lượng, giảm chi phí kiểm tra, nhậnbiết sản phẩm thông qua mã số chứng nhận và có thể truy xuất được nguồngốc sản phẩm…
- Đối với người lao động: Là những người trực tiếp sản xuất ra các sản
phẩm phục vụ cho người tiêu dùng Áp dụng nuôi trồng thủy sản theo hướng
an toàn trước tiên bảo vệ an toàn sức khỏe cho chính bản thân họ và tạo cơhội, biện pháp để nâng cao trình độ sản xuất thông qua các lớp tập huấn kỹthuật và việc thường xuyên ghi chép sổ sách, tạo điều kiện thích hợp với yêu
Trang 21cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Một khi sản phẩm thủy sản của họlàm ra được nhiều người tiêu dùng chấp nhận thì lợi nhuận mang lại ngàycàng nhiều hơn Do đó lại càng khuyến khích họ hăng hái đầu tư vào côngnghệ và cải tiến phương thức làm việc, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ chungcủa nền sản xuất.
- Lợi ích của doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu: Các doanh nghiệp có
nguồn nguyên liệu đảm bảo chất lượng nên sẽ bảo đảm chất lượng đầu ra củasản phẩm, vì thế giữ được uy tín với khách hàng và nâng cao doanh thu Donguồn nguyên liệu đầu vào đã được bảo đảm, các doanh nghiệp có thể giảmbớt chi phí và thời gian cho việc kiểm tra mẫu thủy sản đầu vào Giảm nguy
cơ sản phẩm bị cấm nhập khẩu hoặc bị kiểm tra 100% khi nhập do không đảmbảo yêu cầu về dư lượng hóa chất
- Đối với người tiêu dùng: Người tiêu dùng sẽ được sử dụng những sản
phẩm thủy sản chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, đó cũng là mục tiêuchính và lợi ích lớn nhất mà việc nuôi trồng thủy sản theo hướng an toànmang lại Việc làm này đã khơi dậy và khuyến khích quyền được đòi hỏi củangười tiêu dùng, từ đó góp phần tạo lên một thế hệ những người tiêu dùng dễdàng nhận biết được sản phẩm bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trên thịtrường khi thấy có chứng nhận hoặc dấu chứng nhận sản phẩm, đây cũng làđộng lực chính thúc đẩy người dân và các nhà sản xuất phải cải tiến để sảnxuất và cung ứng các sản phẩm thủy sản tốt cho xã hội
- Lợi ích của xã hội: Đây chính là bằng chứng để chống lại việc bôi nhọ
tên tuổi của các sản phẩm thủy sản Việt Nam Tăng kim ngạch xuất khẩu docác sản phẩm thủy sản vượt qua được các rào cản kỹ thuật, không vi phạm cácquy định về các chất tồn dư trong thủy sản Áp dụng nuôi trồng thủy sản theohướng an toàn làm thay đổi tập quán sản xuất hiện nay, xã hội giảm bớt đượcchi phí y tế, người dân được sử dụng sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩmnghĩa là đã nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng Giúp giảm thiểu
Trang 22mâu thuẫn hoặc giải quyết sớm các mâu thuẫn trong cộng đồng, đảm bảo sựbình đẳng, công bằng, ổn định trật tự xã hội và sự phát triển bền vững.
An toàn vệ sinh phực phẩm là yêu cầu của phát triển đất nước hiện naycũng như xu thế hòa nhập toàn cầu, do đó mục đích của ngành thủy sản làtuyên truyền, nhân rộng các mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng an toàngóp phần tạo ra sản phẩm thủy sản đạt an toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuấtđược nguồn gốc, giảm thiểu tác động đến môi trường sinh thái, quản lý tốt sứckhỏe động vật thủy sản, thực hiện các trách nhiệm về phúc lợi xã hội và antoàn cho người lao động (Nguồn: Tổng cục thủy sản)
2.1.2.2 Điều kiện phát triển nuôi thủy sản theo hướng bền vững
- Khả năng là cái có thể xuất hiện và có thể xảy ra trong điềukiện nhất định
- Áp dụng là đưa nhưng điều đã nghiên cứu, tìm hiểu vào vậndụng trong thực tế
- Khả năng áp dụng nghĩa là có thể đưa những thứ đã được tìmhiểu, nghiên cứu vào vận dụng thực tế trong một điều kiện môi trường, khônggian, địa điểm, con người cụ thể
2.1.3 Một số đặc điểm của con cá rô phi
Một số đặc điểm quan trọng cần biết về cá rô phi:
- Nhiệt độ là một trong những yếu tố môi trường quan trọng nhất ảnhhưởng đến sinh trưởng và phát triển của cá Cá rô phi có nguồn gốc từ ChâuPhi nên khả năng chịu lạnh kém hơn khả năng thích ứng với nhiệt độ cao Cá
rô phi có thể chịu đựng được ở nhiệt độ 400C và chết nhiều ở nhiệt độ dưới
100C Khi nhiệt độ nước dưới 200C kéo dài thì cá tăng trưởng chậm, nhiệt độthích ứng cho sự sinh trưởng và phát triển của cá rô phi là 20 - 350C Chính vìnhững đặc điểm chịu nhiệt như vậy nên chỉ những vùng xích đạo, nhiệt đới vàcận nhiệt đới mới có khả năng phát triển nuôi một cách kinh tế loài cá này và
Trang 23nước ta là một nước có khí hậu thuận lợi để phát triển loài cá này (Chervinski,1982)
- Cá rô phi là loài cá khỏe, có khả năng thích nghi với khoảng pH rộng,song pH thích hợp cho sự phát triển là môi trưởng trung tính, hơi kiềm (pH =6,5 - 8,5) và chết ở pH = 3,5 hay lớn hơn 12 sau 2 - 3 giờ (Philipart vàRuwet, 1982)
- Cá rô phi là nhóm cá thích ứng với đô muối rộng, chúng có thể sốngđược cả ở nước ngọt, nước lợ và nước mặn Cá rô phi có khả năng chịu được
độ mặn tới 32% Cá rô phi được nuôi trong nước lợ có chất lượng thịt thơmngon hơn trong nước ngọt, điều này rất đáng chú ý trong việc tạo ra sản phẩmnước lợ xuất khẩu có giá trị (Nguyễn Duy Khoát, 1997)
Có nhiều loài cá rô phi có thể sống và sinh sản trong nước biển có độ
mặn cao Các loài khác nhau có ngưỡng độ muối khác nhau Loài O zillii, O aureus và O spilurus là những loài rộng muối sau đó là O mossambicus, sau cùng là O Niloticus (Philipart và Ruwet, 1982)
- Cá rô phi có khả năng sống trong môi trường nước bẩn như ao tù, môitrường nước thải mà ở đó hàm lượng ôxy hoà tan thấp Magid và Babiker(1995) chỉ ra rằng cá rô phi có thể chịu đựng được ở hàm lượng ôxy hoà tantrong nước 0,1 mg/lít Trong điều kiện thí nghiệm cá rô phi có thể chịu đựngđược nồng độ ôxy hoà tan 0,5 mg/lít Song hàm lượng ôxy hoà tan trong nướcthấp kéo dài sẽ ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cá Trong nuôi thâmcanh cá rô phi cần hết sức chú trọng đến hàm lượng ôxy hoà tan, đây là yếu tố
có ảnh hưởng lớn đến khả năng kiếm mồi, hấp thụ thức ăn và sinh trưởng của
cá rô phi (Tilapia Culture, 1994)
- Cá rô phi là loài cá ăn tạp, thức ăn của chúng bao gồm: động vật phù
du, giun, côn trùng trong nước, ấu trùng của các loài chân đốt sống trongnước như ấu trùng muỗi, ấu trùng chuồn chuồn , mùn bã hữu cơ Ngoài ramột số loài cá rô phi còn ăn cả thực vật như bèo tấm, rau muống
Trang 24Ta thấy tính ăn của cá có liên quan chặt chẽ đến cấu tạo của cơ quan tiêuhoá Cơ quan tiêu hoá của cá rô phi có thực quản ngắn, dạ dày nhỏ, ruột dài
và xoắn nhiều, rất phù hợp với tính ăn tạp của cá rô phi Khi nuôi cá rô phibằng hình thức thâm canh, nuôi lồng, bè người ta còn cho cá ăn bằng thức
ăn nhân tạo Nguyên liệu chế biến thức ăn cho cá rô phi gồm bột mì, cámgạo, bột cá và các phế phẩm nông nghiệp cùng các loại muối khoáng, muối
vi lượng Phần thức ăn của cá rô phi thay đổi theo giai đoạn phát triển của cá.Giai đoạn cá còn nhỏ thức ăn của chúng chủ yếu là sinh vật phù du, sau khi
nở 20 ngày chúng chuyển sang ăn thức ăn như cá trưởng thành (Khoa thuỷsản, Trường Đại Học Cần Thơ, 1994)
Hiện nay người nuôi cá rô phi với nhiều loại thức ăn khác nhau, bao gồmcác loại nguyên liệu rẻ tiền dễ kiếm như phụ phế thải của sản phẩm nôngnghiệp, thuỷ sản
Nguyên liệu đuợc sử dụng làm thức ăn bổ sung cho cá gồm: bột cá, cámgạo, bột đậu tuơng, bột ngô và các phụ phẩm nông nghiệp khác
Hình 2.3: Thức ăn tự nhiên của cá rô phi
Trang 25- Tốc độ tăng truởng của cá rô phi mang đặc thù riêng của loài, các loài
cá khác nhau thì sự sinh truởng và phát triển khác nhau Loài O niloticus có tốc độ sinh truởng, phát triển nhanh và kích thuớc lớn hơn hẳn O mossambicus (Khoa thuỷ sản, Truờng Đại Học Cần Thơ, 1994)
Trong cùng một loài, các dòng cá khác nhau cũng có sự khác nhau vềtốc độ sinh truởng Khater & Smitherman (1988) nghiên cứu sự sinh truởng
của 3 dòng O niloticus, đó là dòng Egypt, dòng Ivory Coast và dòng
Ghana, cho thấy dòng Egypt có sức tăng truởng nhanh nhất, dòng Ghana cósức lớn chậm nhất trong cùng một điều kiện nuôi ở Philippine đã tiến hành
nghiên cứu so sánh tốc độ sinh truởng cá O niloticus dòng Israel, dòng Singapore và dòng Đài Loan Kết quả nghiên cứu cho thấy cá O niloticus
dòng Israel có tốc độ sinh trưởng nhanh nhất, sau đó là dòng Singapore vàchậm nhất là dòng Đài Loan
Tốc độ tăng truởng của cá rô phi còn phụ thuộc vào các yếu tố môi truờng nhưnhiệt độ, chế độ dinh dưỡng, mật độ cá thả trong ao Khi nhiệt độ nuớc 20 - 220Ckéo dài thì cá tăng trưởng chậm và ngừng sinh sản Cá rô phi sinh trưởng và pháttriển tốt nhất ở nhiệt độ nuớc 20 - 350C (Marcel Huet, 1994)
Nhiệt độ và độ sâu nước ao cũng có ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởngcủa cá rô phi Sayed và ctv (1996) đã tiến hành theo dõi tốc độ sinh trưởngcủa cá rô phi ở 4 độ sâu khác nhau, có nhiệt độ nước dao động từ 5 - 330C sau
10 tháng nuôi Kết quả cho thấy, ở độ sâu 50 cm cá đạt 250 g/con, ở độ sâu
100 - 200 cm cá đạt 348 - 362 g/con ở nhiệt độ nuớc trên 210C Khi nhiệt độnuớc duới 100C thì cá ngừng ăn, kém hoạt động và hay mắc bệnh
Do đặc điểm sinh học về sinh sản, cá cái O niloticus phải ấp trứng và
nuôi cá bột ở giai đoạn đầu trong miệng nên tốc độ tăng trưởng có sự sai khácgiữa cá đực và cá cái Trong cùng một điều kiện nuôi, sau khi thành thục sinhdục cá đực thường có tốc đô tăng trưởng nhanh hơn cá cái Kết quả nghiêncứu của Liu Jiazhao (1991) cho thấy trong cùng môt điều kiện nuôi dưỡng,
Trang 26môi trường như nhau, cỡ cá thả ban đầu 12,6 g/con, sau 36 ngày nuôi, trọnglượng trung bình của con đực là 61,4 g, con cái là 43,6 g Cũng theo LiuJiazhao (1991), tốc độ tăng trọng của cá rô phi còn phụ thuôc vào giai đoạnphát triển của cá Cá bột có tốc độ tăng trọng tương đối nhanh nhất, sự tăngtrọng tương đối tỷ lệ nghịch với trọng lượng và tuổi cá.
- Cá rô phi có tuổi thành thục sớm, sinh sản lần đầu khi cỡ cá còn rất bé,mắn đẻ và đẻ tự nhiên trong hệ thống nuôi Sự hình thành và phát triển tuyếnsinh dục cá rô phi chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: tuổi cá, kích cỡ cá,chế độ dinh dưỡng, nhiệt độ nước, ánh sáng và nồng độ muối ở Việt Nam do
có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên cá rô phi có thể đẻ gần như quanh năm (trừcác tháng mùa đông ở miền bắc và dải miền trung) Thông thường cá rô phi
đẻ khi nhiệt đô nước trên 200C Các loài cá rô phi khác nhau có tuổi thành
thục khác nhau Oreochromis niloticus tham gia sinh sản lần đầu khi 5 - 6 tháng tuổi, chu kỳ sinh sản là 30 - 35 ngày Còn O mossambicus bắt đầu đẻ
khi 3 - 4 tháng tuổi, chu kỳ sinh sản là 30 - 35 ngày
Tập tính sinh sản của cá rô phi có sự khác nhau giữa các giống Dựa vàođặc điểm sinh sản của cá rô phi mà Trewavas (1983) đã chia cá rô phi ra làm
3 giống
1. Giống Tilapia: Cá làm tổ bằng cỏ rác, cá đẻ trứng bám vào giá thể, sau
khi đẻ cá đực và cá cái cùng tham gia bảo vệ tổ
2. Giống Sarotherodon: Cá đào tổ đẻ, cá đực hoặc cá cái cùng tham gia
ấp trứng trong miệng
3. Giống Oreochromis: Cá đực đào tổ đẻ, cá cái ấp trứng trong miệng.
Để phân biệt đực cái ở cá rô phi có hai phương pháp, đó là:
- Dựa vào hình thái ngoài (khi cá 7 - 10 cm), bằng quan sát vùng lỗ huyệt,con đực có hai lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là rãnh huyệt (huyệt niệusinh dục) Còn con cái có ba lỗ, phía trước là lỗ hậu môn, phía sau là lỗ niệu
và giữa là lỗ sinh dục Khi trưởng thành cơ thể cá đực có màu sắc sặc sỡ hơn,vây bụng của cá đực có mầu hổng tím đến xanh đen Cá cái hầu như không cóthay đổi về mầu sắc bên ngoài
Trang 27Bảng2.1.Phân biệt cá đực, cá cái qua các đặc điểm hình thái
Đầu To và nhô cao Nhỏ, hàm dưới trề do ngậm
trứng và conMàu sắc Vây lưng và vây đuôi cá màu
Lỗ sinh dục 2 lỗ: lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu
môn
3 lỗ: lỗ niệu, lỗ sinh dục, lỗ hậu môn
Dựa vào phương pháp giải phẫu tuyến sinh dục: khi cá đạt cỡ 2 - 4 cm,
mổ cá lấy phần nhỏ của giải sinh dục đưa lên lam có sẵn thuốc nhuộm Aceto carmine, dùng lam khác đặt lên ép nhẹ hai tấm lam lại Quan sát dưới kínhhiển vi, thấy có những chấm nhỏ thì đó là cá đực, còn nếu những vòng trònnhỏ xếp sít nhau thành từng khối thì đó là cá cái
-Nuôi cá Oreochromis trong ao đất, khi sinh sản cá đực thường làm tổ
trên nền đáy ao và chờ cá cái đến đẻ Khi cá cái đẻ, cá đực tiết sẹ để thụ tinhcho trứng Số lượng trứng tuỳ thuộc vào cỡ cá mẹ, thường dao động từ 500 -2.000 trứng/cá mẹ/lần đẻ Sau khi đẻ xong, đổng thời trứng cũng đã được thụtinh, cá mẹ thu trứng vào miệng, ấp trứng trong khoang miệng Trong suốtthời gian ấp trứng, cá mẹ hầu như không ăn, ở nhiệt độ nước 25 - 300C trứng
nở sau 4 - 6 ngày, cá bột được mẹ ấp trong khoang miệng cho tới khi hết noãnhoàng chúng được nhả ra khỏi miệng cá mẹ khoảng 2 - 4 tuần cá mẹ lại có thểtham gia chu kỳ sinh sản tiếp
Do đặc điểm sinh sản của cá rô phi như đã trình bày ở trên (thành thụcsớm, đẻ nhiều lần trong ao và cá đẻ không đổng loạt ) nên dẫn đến tình trạngkhông kiểm soát nổi mật độ cá nuôi trong ao, cỡ cá nhỏ và không đề khi thuhoạch Vì vậy năng suất cá thường không cao, cá thương phẩm nhỏ
Để chủ động kiểm soát mật độ cá nuôi trong ao, hạn chế ảnh hưởng đếnsinh trưởng do sinh sản, nhằm nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm cá rô
Trang 28phi trong thuỷ vực Người ta áp dụng các biện pháp khác nhau như: đánh tỉabớt cá con trong ao theo định kỳ hàng tháng, thả ghép cá dữ vào trong aonuôi, nuôi cá đơn tính Hiện nay có nhiều phương pháp khác nhau để tạo quầnđàn cá rô phi đơn tính đực như:
-Khi cá đạt cỡ 7 - 10 cm có trọng lượng > 30g, ta dựa vào sự khác biệthình thái bên ngoài để tách nuôi riêng đực cái, cá cái, phương pháp này tuyđơn giản, nhưng tốn nhiều công lao động và dễ sai sót ngay cả với nhữngngười có kinh nghiệm (khoảng 10%) tuy vậy vẫn được ứng dụng kết hợp vớimột số phương pháp khác
-Tạo cá rô phi đơn tính kiểu hình bằng xử lý hóc môn, đã và đang đượcnhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Philippine, Đài Loan, Brazil và ViệtNam ứng dụng Phương pháp này dễ làm, công nghệ có sẵn, song có nhữnghạn chế nhất định Mặt khác cá đơn tính xử lý bằng hóc môn thường đắt hơn
cá thường rất nhiều và môi trường nước có nguy cơ bi ô nhiễm bằng hóc môncủa nước thải từ khu sản xuất cá chuyển đổi giới tính
- Tạo quần đàn đơn tính đực bằng lai giữa hai loài thuộc giống
Oreochromis Một số nước như Israel, Đài Loan đã và đang ứng dụng một số
công thức lai cho quần đàn đơn tính đực Tuy nhiên tỷ lệ phần trăm cá đực ởthế hệ con lai F1 của một số công thức lai không ổn định, ngay cả cùng côngthức lai tỷ lệ cá đực ở con lai thay đổi theo nguồn gốc địa lý của cá bố và mẹ.Việc lai khác loài yêu cầu phải lưu giữ được dòng bố, mẹ thuần một cáchnghiêm ngặt
-Tạo cá đơn tính đực bằng cá siêu đực (YY) cho sinh sản với cá cáithường cho phép tạo được một lượng lớn cá giống trong cùng một thời gian.Song tỷ lệ giới tính ở thế hệ con của cá siêu đực ở một số dòng cá không thật
ổn định và thời gian để tạo ra con siêu đực (YY) dài mất 3 - 4 năm và phải ápdụng các biện pháp kỹ thuật phức tạp
2.1.4 Hiệu quả kinh tế và phương pháp xác định
2.1.4.1 Hiệu quả kinh tế
Trang 29Trên bình diện xã hội, các chi phí bỏ ra để đạt một kết quả nào đóchính là hao phí lao động xã hội Cho nên thước đo của hiệu quả là mức độ tối
đa hóa trên một đơn vị hao phí lao động xã hội tối thiểu Nói cách khác, hiệuquả chính là sự tiết kiệm tối đa các nguồn lực cần có Thực chất, khái niệmhiệu quả kinh tế đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt độngsản xuất kinh doanh Đó là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinhdoanh, phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu màdoanh nghiệp đề ra
Nghiên cứu về bản chất kinh tế, các nhà kinh tế học đã dưa ra nhữngquan điểm khác nhau nhưng đều thống nhất về bản chất chung của nó Nhàsản xuất muốn có lợi nhuận thì phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định như:vốn, lao động, vật lực… Chúng ta tiến hành so sánh kết quả đạt được sau mỗiquá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra thì có được hiệu quả kinh tế
Sự chênh lệch này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại
Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội vàtiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt của một vấn đề về hiệu quả kinh tế.Hai mặt này có quan hệ mật thiết với nhau, gắn liền với quy luật tương ứngcủa nền sản xuất xã hội, là quy luật tăng năng suất và tiết kiệm thời gian Yêucầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là đạt kết quả tối đa về chi phí nhấtđịnh và ngược lại, đạt hiệu quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ở đâyđược hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả chi phí để tạo ra nguồn lực, đồng thờiphải bao gồm cả chi phí cơ hội Nói tóm lại, bản chất của hiệu quả kinh tế xãhội là hiệu quả của lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánhgiữa lượng kết quả thu được với lượng hao phí lao động xã hội bỏ ra
Trang 302.1.4.2 Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
a Thứ nhất, Hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách lấy kết quả thu được chia cho chi phí bỏ ra (dạng thuận) hoặc lấy chi phí bỏ ra chia cho kết quả thu được (dạng nghịch).
Dạng thuận: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả thu
được và chi phí bỏ ra:
C
Q
H =Trong đó:
H: Hiệu quả kinh tế (lần)Q: Kết quả thu được (nghìn đồng, triệu đồng…)C: Chi phí bỏ ra (nghìn đồng, triệu đồng…)Công thức này cho biết nếu bỏ ra một đơn vị chi phí sẽ tạo ra được bao nhiêuđơn vị kết quả, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
Dạng nghịch: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa chi phí bỏ ra
và kết quả thu được
Hai loại chỉ tiêu này mang ý nghĩa khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiếtvới nhau, cùng được sử dụng để phản ánh hiệu quả kinh tế Các chỉ tiêu trêncòn được gọi là chỉ tiêu toàn phần
Trang 31Ưu điểm của phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồnlực, xem xét được một đơn vị nguồn lực sử dụng đã mang lại bao nhiêu đơn
vị kết quả, hoặc một đơn vị kết quả thu được cần phải chi phí bao nhiêu đơn
Hb : hiệu quả cận biên (lần)
∆Q : lượng tăng giảm của kết quả (nghìn đồng, triệu đồng…)
∆C : lượng tăng giảm của chi phí (nghìn đồng, triệu đồng…)
Phương pháp này sử dụng nghiên cứu đầu tư theo chiều sâu, đầu tư cho táisản xuất mở rộng Nó cho biết được một đơn vị đầu tư tăng thêm bao nhiêuđơn vị của kết quả tăng thêm Hay nói cách khác, để tăng thêm một đơn vịđầu ra cần bổ sung thêm bao nhiêu đơn vị đầu vào
Có nhiều phương pháp xác định Hiệu quả kinh tế, mỗi cách đều phản ánhmột khía cạnh nhất định về hiệu quả Vì vậy, tùy vào mục đích nghiên cứu,phân tích và thực tế mà lựa chọn phương pháp nào sao cho phù hợp
2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng mô hình
2.1.5.1 Điều kiện tự nhiên
Các điều kiện khí hậu, môi trường đặc thù ở địa phương sẽ ảnh hưởng đếnviệc ứng dụng mô hình vì nó ảnh hưởng tới mức sinh lợi và rủi ro của mô hình
Trang 32+ Tín dụng là một trong những công cụ đáp ứng nhu cầu vốn một cáchnhanh chóng và tiện lợi nhất, để phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh củanông hộ mà không cần bỏ thời gian trông chờ vào nguồn vốn tích lũy hoặcvốn tự có.
Tài chính – tín dụng góp phần ổn định tiền tế, ổn định giá cả:
Thông qua các chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền kinh
tế, thị trường nhàn rỗi trong xã hội được tận dụng và xác định làm giảm khốilượng tiền, giảm áp ứng lạm phát, nhờ vậy góp phần ổn định tiền tệ
Thông qua vốn tín dụng, nông dân có thể đạy được các mục tiêu sảnxuất kinh doanh, làm đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầungày càng tăng của người tiêu dùng, nhờ vậy mà tín dụng góp phần ổnđịnh giá cả thị trường ( Phát triển thị trường tín dụng nông thôn, vai trò
và gợi ý chính sách)
Trang 332.1.5.3 Cơ sở hạ tầng
Hình 2.5 Cơ chế để cơ sở hạ tầng thúc đẩy phát triển nông nghiệp
(Nguồn: Pinstrup – Andersen & Shimokawa)
Cơ sở hạ tầng góp phần rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế Cơ
sở hạ tầng là yếu tố không thể thiếu trong việc ứng dụng dụng mô hình Cơ sở
hạ tầng kém phát triển ở khu vực nông thôn điều này hạn chế khả năng ápdụng mô hình sản xuất trong nông nghiệp Cơ sở hạ tầng kém là nhân tố kìmhãm đầu tư vào nông nghiệp cũng như ứng dụng các mô hình kĩ thuật mới vàosản xuất
Trang 342.1.5.4 Thị trường
Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản xuấtkinh doanh cũng như việc ứng dụng mô hình trong nuôi trồng thủy sản Trongnền kinh tế hàng hoá, mục đích của các nhà sản xuất hàng hoá là sản xuất rahàng hoá ra để bán, để thoả mãn nhu cầu của người khác Cụ thể việc ứngdụng mô hình nuôi cá lai xa dòng Isarel cũng nhằm mục đích tạo ra sản phẩm
để đem đến người tiêu dùng, với mục đích mong người tiêu dùng đón nhận
Vì thế các nông hộ khi thực hiện công việc sản xuất cũng như áp dụng môhình nuôi cá không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà mọi hoạt động sản xuấtkinh doanh đều phải gắn với thị trường Quá trình đưa mô hình vào áp dụngdiễn ra không ngừng theo chu kỳ mua nguyên vật liệu, nguồn giống, thiếtbị… trên thị trường đầu vào, tiến hành sản xuất ra sản phẩm, sau đó bánchúng trên thị trường đầu ra
Nông hộ chịu sự chi phối của thị trường hay nói cách khác thị trường
đã tác động và có ảnh hưởng quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuấtứng dụng mô hình nuôi ghép của nông hộ Thị trường càng mở rộng và pháttriển thì lượng hàng hoá sản phẩm tiêu thụ được càng nhiều và khả năng pháttriển cũng như khả năng ứng dụng của mô hình ngày càng cao và ngược lại.Bởi thế còn thị trường tiêu thụ thì còn sản xuất, mất thị trường thì sản xuấthay việc thực hiện mô hình bị ảnh hưởng và nông hộ tìm cách tiếp cận thịtrường bằng các phương thức sản xuất khác Trong nền kinh tế thị trường hiệnđại hiện nay, có thể khẳng định rằng thị trường có vai trò quyết định tới sự tồntại và phát triển của mọi loại hình sản xuất cũng như khả năng áp dụng củacác mô hình sản xuất kinh doanh
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình nuôi ghép cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi là loài cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau nhữngloài cá chép (Fitzsimmons, K và Gonznlez, P, 2005) Sản lượng cá rô phi nuôi
Trang 35không ngừng tăng lên và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cảithiện nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người nghèo, nghề nuôi cá rô phi cũngđược cho là một sinh kế tốt nhất cho nông dân thoát khỏi đói nghèo Trongtương lai, cá rô phi sẽ là sản phẩm thay thế cho các loài cá thịt trắng đangngày càng cạn kiệt (WFC 2003)
Cá rô phi là động lực chính cho sự tăng trưởng tổng sản lượng cá toàncầu Từ chưa đầy 500.000 tấn những năm 1990, sản lượng cá rô phi của thếgiới đã vượt 3,5 triệu tấn trong năm 2011 Dự báo sản lượng cá rô phi thế giớinăm 2012 tăng khoảng 2,7% so với năm 2011 và tốc độ tăng năm tiếp theo sẽ
là 3,4% Năm 2014, tổng sản lượng cá rô phi nuôi của thế giới được kỳ vọngđạt xấp xỉ 3,9 triệu tấn
Trung Quốc là nước nuôi cá rô phi lớn nhất thế giới với sản lượng ướcđạt 1,3 triệu tấn năm 2011, bằng khoảng 40% sản lượng toàn cầu Nhữngnước có sản lượng cá rô phi lớn khác là Ai Cập (gần 600.000 tấn năm2011), Inđônêxia (500.000 tấn), Thái Lan (300.000 tấn), Philippin (gần300.000 tấn)
Trang 36Hình 2.6 : Sản lượng cá rô phi
Năm 2012 sản lượng cá rô phi của Trung Quốc giảm nhẹ và dự kiến sẽgiảm mạnh hơn trong năm 2013 Trái với xu hướng này, sản lượng của cả AiCập và Inđônêxia dự kiến sẽ tăng đáng kể trong năm 2013
Trang 37Mỹ là nhà NK cá rô phi lớn nhất thế giới, chủ yếu dưới dạng đông lạnh
và philê Khối lượng NK của nước này liên tục tăng từ những năm 1990 vàđạt mức cao kỷ lục 210.000 tấn năm 2010 Năm 2011, khối lượng NK cá rôphi của Mỹ sụt giảm đáng kể (11%) song đã tăng trở lại trong tám tháng đầunăm 2012
Giá philê cá rô phi đông lạnh NK đạt mức kỷ lục 6 USD/kg vào năm1996-1997 Tuy nhiên, sau một thời gian liên tục giảm sâu, kể từ năm 2007,giá philê rô phi trung bình chỉ còn dao động quanh mức 4,5 USD/kg
(Nguồn: tạp chí Thương mại thủy sản - Số 157 /Tháng 01/2013)
2.2.2 Tình hình nuôi cá rô phi trong cả nước
Cá rô phi là loài cá đang được nhiều nước trên thế giới cũng như ở ViệtNam ưa chuộng và đang được phát triển nuôi rộng rãi với những hình thứcnuôi đa dạng như nuôi đơn trong ao đất, trong bể xi măng, trong lổng, nuôighép với các loài cá khác, nuôi kết hợp với các hệ thống canh tác nôngnghiệp, nuôi luân canh lúa - cá, tôm - cá, nuôi trong hệ thống kết hợp VAC với các mức độ thâm canh khác nhau
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT các địa phương, năm 2014,
cả nước có 236 cơ sở sản xuất kinh doanh giống cá rô phi, trong đó có 44 cơ
sở nuôi giữ đàn cá rô phi bố mẹ với khoảng 940.000 cá bố mẹ, sản xuất được
455 triệu con giống Số lượng cá giống này đủ cung cấp cho diện tích thả nuôihiện nay nhưng cá giống đảm bảo chất lượng phục vụ cho xuất khẩu còn hạnchế Qua phản ánh của người nuôi giống sản xuất tại các tỉnh phía Nam, tốc
độ tăng trưởng, tỷ lệ phi lê của cá rô phi nuôi chưa đáp ứng yêu cầu của thịtrường xuất khẩu
Trang 38Hình 2.7 Tình hình nuôi cá rô phi trong nước
Năm 2014, các tỉnh phía Bắc sản xuất được 173 triệu con giống, chủđộng một phần giống qua đông cung cấp cho nhu cầu thả nuôi vào đầu vụ
Cá giống lưu qua đông được cung cấp từ các cơ sở tại Hải Dương vàQuảng Ninh
Hiện nay, cá rô phi được nuôi trong lồng và trong ao, cả trong môitrường nước ngọt và nước lợ Cá rô phi vằn chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phíaBắc và cá rô phi hồng được nuôi ở các tỉnh phía Nam Năm 2012, diện tíchthả nuôi cá rô phi đạt 16.337ha, chiếm 1,41% tổng diện tích nuôi thủy sản vàchiếm 3,88% diện tích nuôi cá nước ngọt của cả nước Đến hết tháng 11/2014,diện tích nuôi cá rô phi trong ao, hồ đạt 15.992ha, nuôi lồng bè đạt410.732m3, sản lượng đạt 118.800 tấn Ước sản lượng cá rô phi nuôi năm
2014 trên cả nước đạt 125.000 tấn, tăng 25% so với năm 2013
Trang 39Bên cạnh hình thức nuôi trong ao đất, hình thức nuôi thâm canh tronglồng cho năng suất cao, chất lượng tốt Khu vực miền Bắc và miền Trung cókích cỡ lồng nuôi nhỏ, miền Nam lồng bè có kích thước dao động lớn Hiện,
cả nước có 16 tỉnh nuôi cá rô phi trong lồng, với tổng số 2.036 lồng, trong đómiền Bắc có 948 lồng (kích cỡ 12-19 m3), miền Trung 158 lồng (kích cỡ 10-36m3), miền Nam 1.130 lồng bè (từ 5-1.250m3) với tổng thể tích khoảng75.000m3 Năng suất nuôi cá rô phi trung bình đạt 6,28 tấn/ha, trong đó khuvực ĐBSCL có năng suất cao nhất, đạt 18,12 tấn/ha và thấp nhất là vùng TâyNguyên, chỉ đạt 1,18 tấn/ha
Ông Nguyễn Văn Công, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnhQuảng Ninh, cho biết, những năm qua, phong trào nuôi cá rô phi ở QuảngNinh phát triển nhanh, vùng nuôi được mở rộng từ các vùng chuyển đổi đấtnông nghiệp năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản Có được kết quả đó,một phần là nhờ sức lan tỏa của những mô hình, dự án nuôi cá rô phi đượcthực hiện thành công Kết quả dự án cho thấy, năng suất nuôi trung bình đạt10-12 tấn/ha, lợi nhuận khoảng 40-50 triệu đồng/ha
Theo nhận định của Tổng cục Thủy sản, Việt Nam có nhiều cơ hội pháttriển nuôi cá rô phi khi thị trường cá rô phi tại Mỹ đối với cá rô phi nhập khẩu
từ Trung Quốc co lại, đặc biệt là khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 5hàng năm Kích cỡ cũng là một yếu tố quan trọng ở thị trường Mỹ, cá phi lê
cỡ 3-5 (85,05-141,75g) được tiêu thụ trong các hệ thống siêu thị bán lẻ Điềunày có nghĩa là trọng lượng cá nuôi phải đạt tối thiểu 357,11 g/con Thị hiếucủa người tiêu dùng Mỹ đang hướng tới tiêu thụ sản phẩm cá rô phi nước lợ,kích thước trung bình Hiện nay đã có một số doanh nghiệp của Việt Nam tại
An Giang, Tiền Giang, Thanh Hóa xuất khẩu cá rô phi nuôi nước lợ
Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩuthủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết, trong 10 tháng đầu năm 2014, xuấtkhẩu cá rô phi của Việt Nam đạt 27 triệu USD và hiện nay, nhiều thị trườngtrên thế giới đang muốn bỏ cá rô phi của Trung Quốc để mua của Việt Nam
do có chất lượng tốt hơn
Trang 40Mặc dù tiềm năng phát triển nuôi cá rô phi là rất lớn nhưng thời gian quađối tượng nuôi này vẫn chưa được quan tâm đầu tư phát triển Chính vì vậy,việc sản xuất và tiêu thụ cá rô phi vẫn còn nhiều bất cập, nhất là trong khâusản xuất giống và nuôi thương phẩm.
Theo Tổng cục Thủy sản, hiện nay chất lượng đàn cá rô phi mẹ tại cácđơn vị nghiên cứu chưa đáp ứng được nhu cầu của các cơ sở sản xuất giống
về số lượng và chất lượng Nhiều cơ sở phải nhập đàn cá bố mẹ từ TrungQuốc hoặc Đài Loan về để sản xuất giống Theo số liệu báo cáo của các địaphương phía Nam, khoảng 70% đàn cá rô phi bố mẹ do cơ sở tự chọn từ đàn
cá nuôi thương phẩm nên qua nhiều năm có dấu hiệu thoái hóa, dẫn đến chấtlượng con giống kém, tốc độ sinh trưởng chậm Các tỉnh phía Bắc do đặcđiểm thời tiết và mùa vụ nên đầu vụ nuôi cần thả giống tập trung nhưng cáctỉnh phía Bắc mới chỉ cung cấp được 50%, còn lại phải nhập từ các tỉnh phíaNam và Trung Quốc
Đến nay, Việt Nam cũng chưa có quy trình nuôi chuẩn, không ổn định vềchất lượng sản phẩm cũng như lượng sản xuất, chưa phát triển thành sản xuấthàng hóa, đặc biệt là sản xuất với mục tiêu xuất khẩu Về tổ chức sản xuất,vẫn chưa liên kết được giữa vùng nuôi với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu
Do phát triển ao bè nuôi nhiều trong cùng diện tích cũng như nuôi với mật độcao làm cho nghề nuôi bị thiệt hại nhiều do dịch bệnh xảy ra
Ông Lê Văn Quang, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Thủy sản Minh Phú (CàMau), cho biết, để nuôi cá rô phi đạt trọng lượng 0,85 kg/con, chế biến đượcphile đông lạnh, cá giống của thế giới chỉ cần nuôi 4 tháng còn ở nước ta phảinuôi gấp đôi thời gian, lại hao hụt lớn
Định hướng phát triển sản xuất và tiêu thụ cá rô phi trong thời gian tới,Tổng cục Thủy sản đặt ra kế hoạch phấn đấu đến năm 2015 diện tích thả nuôi
cá rô phi cả nước đạt 21.000ha với sản lượng 140.000 tấn, trong đó sản phẩm
đủ tiêu chuẩn xuất khẩu 50.000 tấn và xuất khẩu 30.000 tấn Đến năm 2020,