1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KLTNĐH vai trò đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh bình dương

59 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 543 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên bên cạnh đó, nguồn vốn FDI đầu tư vào địa bàn của tỉnh vẫn còn nhiều bất cập tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa thật sự hợp lý giữa các địa phương trong tỉnh, giữa các ngành sản xuất, nhất là tỷ lệ đầu tư vào các ngành có sự chênh lệch lớn, vì vậy đã làm mất cân đối trong cơ cấu đầu tư, cơ cấu kinh tế của tỉnh. Để phát huy vai trò của nguồn vốn FDI đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh một cách hợp lý và đúng hướng, cần nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của nó đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của địa phương. Trên cơ sở đó, xác định những quan điểm chỉ đạo sát, đúng với yêu cầu thực tiễn, đề ra những biện pháp cụ thể, khả thi nhằm phát huy vai trò của nguồn vốn FDI đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bình Dương hiện nay, đây là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Vì những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bình Dương” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế chính trị. 2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế của các địa phương trong cả nước là rất lớn, có những tác động tích cực và cả những hạn chế của nó chính vì vậy đã có nhiều công trình khoa học, nhiều bài báo đề cập đến vấn đề này, trong đó liên quan trực tiếp đến đề tài có các công trình đáng chú ý sau: Dưới dạng sách tham khảo và chuyên khảo có: Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam của PGS, TS Nguyễn Khắc Thân, PGS, TS Chu Văn Cấp. Các tác giả đã chỉ ra xu hướng vận động của luồng tư bản đầu tư trực tiếp nước ngoài và thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trên cơ sở đó đề ra những giải pháp cơ bản về chính trị, kinh tế nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu quả. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam của TS Lê Xuân Bá chủ biên xuất bản năm 2006. Tác giả đã phân tích những tác động của FDI đến nền kinh tế Việt Nam từ năm 1988 đến nay, chỉ rõ vai trò của khu vực FDI với nền kinh tế nước ta. Bài viết đã đánh giá một cách tổng quan chính sách thu hút FDI ở Việt Nam, phân tích những quan điểm và so sánh chính sách thu hút FDI hiện hành với các nước trong khu vực từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI trong thời gian tới.

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi Luật Đầu tư (1987) có hiệu lực, đất nước ta đã có những bướcphát triển mới cả về tư duy và hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta đãdần chuyển đổi mô hình kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường năngđộng và phù hợp hơn Chính vì vậy đã tạo ra môi trường đầu tư thuận lợicho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, đặc biệt đối với nền kinh tếcòn thiếu nhiều điều kiện và các yếu tố cấu thành nền kinh tế, các doanhnghiệp trong nước còn non trẻ, chưa đủ mạnh thì nguồn vốn từ đầu tư nướcngoài đã giúp chúng ta giải bài toán trong tình trạng khó khăn đó, Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần khác Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH phát triển của đất nước” Trong các nguồn đầu tư nước ngoài thì đầu tư trực tiếp nước

ngoài(FDI) là nguồn vốn quan trọng, là động lực lớn của quá trình pháttriển kinh tế xã hội của nước ta trong suốt 29 năm qua Thực tiễn 30 nămđổi mới có thể khẳng định đóng góp của FDI vào sự tăng trưởng của nềnkinh tế của nước ta với con số không hề nhỏ, tạo sự chuyển biến lớn thúcđẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Dương luônđược đánh giá là một trong những tỉnh miền Đông Nam bộ có tốc độ tăngtrưởng kinh tế khá cao, thực tế cho thấy Bình Dương có nền kinh tế phát triểnnăng động, có chính sách thu hút vốn đầu tư khá hiệu quả và môi trường đầu

Trang 3

tư không ngừng được cải thiện Chính vì vậy trong những năm qua BìnhDương luôn là một trong những địa phương đi đầu và đạt được những kết quảquan trọng trong thu hút đầu tư nước ngoài ngay từ khi có chủ trương củaĐảng và Nhà nước Nguồn vốn này đã tạo nên bước đột phá trong phát triểnkinh tế, tác động tích cực đến cán cân xuất nhập khẩu, đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng GDP của địa phương, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướnghiện đại, mở ra nhiều ngành, nghề sản xuất mới, xây dựng và phát triển cáckhu công nghiệp công nghệ cao, giúp mở rộng thị trường và nâng cao kimngạch xuất nhập khẩu của tỉnh Đồng thời, giúp các cơ sở kinh tế, các doanhnghiệp của Bình Dương tiếp nhận được công nghệ và phương pháp quản lýhiện đại, tạo nhiều việc làm, góp phần tăng thu nhập cho người lao động vànâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương.

Tuy nhiên bên cạnh đó, nguồn vốn FDI đầu tư vào địa bàn của tỉnh vẫncòn nhiều bất cập tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa thật sự hợp lýgiữa các địa phương trong tỉnh, giữa các ngành sản xuất, nhất là tỷ lệ đầu tưvào các ngành có sự chênh lệch lớn, vì vậy đã làm mất cân đối trong cơ cấuđầu tư, cơ cấu kinh tế của tỉnh

Để phát huy vai trò của nguồn vốn FDI đối với chuyển dịch cơ cấu kinh

tế ngành của tỉnh một cách hợp lý và đúng hướng, cần nghiên cứu những vấn

đề lý luận và thực tiễn về vai trò của nó đối với quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế ngành của địa phương Trên cơ sở đó, xác định những quan điểm chỉđạo sát, đúng với yêu cầu thực tiễn, đề ra những biện pháp cụ thể, khả thinhằm phát huy vai trò của nguồn vốn FDI đến chuyển dịch cơ cấu kinh tếngành ở tỉnh Bình Dương hiện nay, đây là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về lý

luận và thực tiễn Vì những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò đầu tư

trực tiếp nước ngoài đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bình Dương” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành kinh tế chính trị.

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế của các địa phương trong cảnước là rất lớn, có những tác động tích cực và cả những hạn chế của nó chính

vì vậy đã có nhiều công trình khoa học, nhiều bài báo đề cập đến vấn đề này,trong đó liên quan trực tiếp đến đề tài có các công trình đáng chú ý sau:

Dưới dạng sách tham khảo và chuyên khảo có:

Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam của PGS, TS Nguyễn Khắc Thân, PGS, TS

Chu Văn Cấp Các tác giả đã chỉ ra xu hướng vận động của luồng tư bản đầu

tư trực tiếp nước ngoài và thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoViệt Nam trên cơ sở đó đề ra những giải pháp cơ bản về chính trị, kinh tếnhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có hiệu quả

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam của TS Lê Xuân Bá chủ biên xuất bản năm 2006 Tác giả đã phân

tích những tác động của FDI đến nền kinh tế Việt Nam từ năm 1988 đến nay,chỉ rõ vai trò của khu vực FDI với nền kinh tế nước ta Bài viết đã đánh giámột cách tổng quan chính sách thu hút FDI ở Việt Nam, phân tích những quanđiểm và so sánh chính sách thu hút FDI hiện hành với các nước trong khu vực

từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI trong thờigian tới

Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - Chính sách và thực tiễn do PGS.TS Phùng Xuân Nhạ chủ biên, được Nhà xuất bản Đại học

Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2007, biên soạn trên cơ sở kết quả nghiên cứu

của đề tài đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam Nội dung cơ bản của cuốn sách này bao hàm cơ

sở lý luận và thực tiễn của lựa chọn các hình thức FDI ở Việt Nam; các hìnhthức FDI theo luật đầu tư ở Việt Nam; thực trạng các hình thức ĐTNN ở Việt

Trang 5

Nam và các đề xuất, khuyến nghị chính sách đối với từng hình thức FDI ởViệt Nam giai đoạn hiện nay.

Dưới dạng luận văn, luận án có các công trình:

Những tác động trái chiều của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến đời sống kinh tế - xã hội ở Đồng Nai hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Nga, luận

văn thạc sĩ kinh tế, bảo vệ tại Học viện Chính trị năm 2011 Công trình đãluận giải một số vấn đề lý luận, thực tiễn về FDI và tác động của nó đối với sựphát triển KT - XH ở quốc gia nhận đầu tư, phân tích những tác động tráichiều của FDI đến đời sống KT - XH ở Đồng Nai Trên cơ sở đó, đề xuất một

số quan điểm chỉ đạo, giải pháp cơ bản hạn chế mặt trái của FDI đối với sựphát triển KT - XH ở Đồng Nai trong thời gian tới

Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay

của tác giả Phạm Duyên Minh, luận văn thạc sĩ kinh tế, bảo vệ tại Học việnChính trị năm 2009 Công trình này đã làm rõ những vấn đề lý luận và thựctiễn về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài, phân tích thực trạng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ởtỉnh Bắc Ninh Từ đó, đề xuất những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếunhằm phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Bắc Ninh trong thời gian tới

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương của tác giả Nguyễn Quang Tạo luận văn thạc sĩ kinh tế, bảo

vệ tại Học viện Chính trị năm 2013 Công trình này đã làm rõ những vấn đề lýluận và thực tiễn về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài, phân tích thựctrạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hộiđồng thời đưa ra những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu phát huynhững tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nướcngoài đến phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Dương

Trang 6

đã đánh giá thực trạng bất cập của FDI đối với nền kinh tế nước ta đồng thờiđưa ra một số giải pháp nhằm nhận diện cũng như tháo gỡ những bất cập vàtồn tại của FDI trong thời gian tới.

"Tổng kết 20 năm Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” của tác giả

Phan Hữu Thắng, đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 1/2008 đã kháiquát kết quả FDI ở Việt Nam 20 năm qua; đánh giá tác động của ĐTNN trêncác lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường; đồng thời nêu ra một số vấn đề cótính định hướng thu hút ĐTNN giai đoạn 2006 - 2010 ở nước ta

“Thực trạng và triển vọng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam ” của tác giả Hồ Thanh Thuỷ, công bố trên Tạp chí Kinh tế châu Á

- Thái Bình Dương, số 23/2005 đã khái quát kết quả đạt được và những mặt tồn tại, hạn chế của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN sau 17 năm thực hiện Luật ĐTNN; nêu dự báo về khả năng cải thiện môi trường đầu tư và triển vọng thu hút ĐTNN của Việt Nam trong thời gian tới.

Ngoài ra, có thể tìm thấy nhiều bài viết trong đó đăng tải: những ý kiến nhận định, những số liệu thực tiễn, những chính sách, các quyết định về hoạt động của FDI trên các trang website của Tỉnh ủy Bình Dương, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương… với những tiêu đề phong phú, đa dạng.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập mộtcách hệ thống, toàn diện về vai trò của FDI đối với CDCCKT ngành trên địa bàntỉnh Bình Dương Điều này đồng nghĩa với việc khẳng định sự không trùng lắp

về hướng nghiên cứu của tác giả với các công trình khoa học đã được công bố

Trang 7

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi của khóa luận

* Mục đích:

Luận giải những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn về vai trò củaFDI đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Bình Dương.Trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằmphát huy vai trò của FDI đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnhBình Dương

* Nhiệm vụ

- Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của FDI đến

chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Bình Dương

- Phân tích tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Bình Dươngtrong thời gian vừa qua

- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm pháthuy vai trò của FDI đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnhBình Dương

* Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu những vai trò của FDI đến sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bình Dương

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở phương pháp luận

Khóa luận dựa trên lý luận kinh tế của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về

Trang 8

phát huy sức mạnh của thời đại, về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết củaĐảng bộ tỉnh Bình Dương về thu hút đầu tư nước ngoài và phát huy vai tròcủa nguồn FDI vào phát triển kinh tế ngành của tỉnh.

* Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp đặc thù của kinh tế chính trịMác – Lênin và các phương pháp khác như: kết hợp lôgíc và lịch sử, phântích và tổng hợp, thống kê, so sánh và phương pháp chuyên gia

5 Ý nghĩa của khóa luận

Khóa luận được nghiên cứu thành công là đóng góp nhỏ đối với việchoạch định chủ trương, chỉ đạo, quản lý hoạt động thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương và có thể tham khảo đối với các địaphương khác Đồng thời, cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việcnghiên cứu, giảng dạy môn kinh tế chính trị liên quan đến vấn đề đầu tư nướcngoài và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Có thể phát triển thành hướng đề tài nghiên cứu ở cấp độ cao hơn

6 Kết cấu của khóa luận

Khóa luận gồm: Mở đầu; 2 chương (4 tiết); kết luận; 15 danh mục tàiliệu tham khảo và7 phụ lục

Trang 9

Chương 1 VAI TRÒ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG -

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Một số vấn đề liên quan đến vai trò của đầu tư trực tiếp nước

ngoài đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bình Dương

1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương hiện nay

* Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Xuất khẩu tư bản và các hình thức xuất khẩu tư bản

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức của xuất khẩu tư bản, bởiquá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thế giới đã sảy ra quá trìnhtích tụ và tập trung tư bản làm cho các nước công nghiệp phát triển đã tích luỹđược những khoản tư bản khổng lồ làm tiền đề cho việc xuất khẩu tư bản vàđến giai đoạn chủ nghĩa độc quyền, xuất khẩu tư bản là một đặc điểm nổi bật

và trở thành sự cần thiết của chủ nghĩa tư bản Đó là vì tư bản tài chính trongquá trình phát triển đã xuất hiện cái gọi là " tư bản thừa" “Tình trạng thừa nàykhông phải là thừa tuyệt đối, mà là thừa tương đối, nghĩa là không tìm đượcnơi có lợi nhuận cao ở trong nước Tiến bộ kỹ thuật ở các nước này đã dẫnđến tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản và hạ thấp tỷ suất lợi nhuận”[7,tr.328].Trong lúc ở nhiều nước kinh tế lạc hậu cần tư bản để mở mang kinh tế và đổimới kỹ thuật, nhưng chưa tích luỹ tư bản kịp thời Vậy xuất khẩu tư bản làđem tư bản ra nước ngoài, nhằm chiếm được giá trị thặng dư và các nguồn lợikhác được tạo ra ở các nước nhập khẩu tư bản

Ta đã thấy rằng việc xuất khẩu tư bản xuất hiện trong các nước tiêntiến Đây là vấn đề mang tính tất yếu khách quan của một hiện tượng kinh tế

Trang 10

khi mà quá trình tích luỹ và tập trung đã đạt đến một độ nhất định sẽ xuất hiệnnhu cầu ra nước ngoài Đây cũng là quá trình phát triển sức sản xuất của xã hộivươn ra thế giới, thoát khỏi khuôn khổ chật hẹp của quốc gia, hình thành quy

mô sản xuất trên phạm vi quốc tế Theo Lê Nin, “các nước xuất khẩu tư bảnhầu như bao giờ cũng có khả năng thu được một số lợi nào đó” [6, tr 90].Chính đặc điểm này là nhân tố kích thích các nhà tư bản có tiềm lực hơn trongviệc thực hiện đầu tư ra nước ngoài Bởi vì khi mà nền công nghiệp đã pháttriển, đầu tư trong nước không còn có lợi nhuận cao nữa Mặt khác các nướclạc hậu hơn có lợi thế về đất đai, nguyên liệu, tài nguyên, nhân công… lại đưalại cho nhà đầu tư lợi nhuận cao, ổn định, tin cậy và giữ vị trí độc quyền

Theo Lê Nin, " xuất khẩu tư bản" là một trong năm đặc điểm kinh tếcủa chủ nghĩa đế quốc, thông qua xuất khẩu tư bản, các nước tư bản phát triểnthực hiện việc bóc lột đối với các nước lạc hậu và thường là thuộc địa của nó:Nhưng ông không phủ nhận vai trò của nó Trong thời kỳ đầu của chínhquyền Xô Viết, Lê Nin chủ trương sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài và khiđưa ra "chính sách kinh tế mới" đã nói rằng những người cộng sản phải biếtlợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản,thông qua hình thức " chủ nghĩa tư bản nhà nước" Theo quan điểm này nhiềunước đã “chấp nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghiã tư bản để phát triểnkinh tế, như thế có thể còn nhanh hơn là sự vận động tự thân của mỗi nước”.Tuy nhiên việc "xuất khẩu tư bản" phải tuân theo pháp luật của các nước đếquốc vì họ có sức mạnh kinh tế, còn ngày nay thì tuân theo pháp luật, sự điềuhành của mỗi quốc gia nhận đầu tư

Các hình thức xuất khẩu tư bản

Xét về chủ sở hữu tư bản có: xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu

tư bản tư nhân

Trang 11

Xét về hình thức đầu tư có: xuất khẩu tư bản trực tiếp(đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao) và xuất khẩu tư bản gián tiếp(cho vay để thu lợi tức) Trong phạm vi khóa luận này tác giả chỉ tập

trung nghiên cứu hình thức xuất khẩu trực tiếp(đầu tư trực tiếp), bao gồm cảđầu tư về vốn, khoa học-kỹ thuật-công nghệ

- Quan niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)

Gần đây, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được nhiều tổ chứckinh tế quốc tế đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia hoạch định chínhsách kinh tế vĩ mô về FDI, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tự do hóa thươngmại và đầu tư quốc tế cũng như sử dụng trong công tác thống kê quốc tế Đầu

tư trực tiếp nước ngoài ngày nay đã trở thành hình thức đầu tư phổ biến và đãđược định nghĩa bởi các tổ chức kinh tế quốc tế cũng như luật pháp của cácquốc gia

Theo Ủy ban thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD):

“FDI là hoạt động đầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu

tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) đối với một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài) ”[4, tr.11].

Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): FDI được quan niệm là “Đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư - hosting country) không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước

đi đầu tư - source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp” [10, tr.350].

Hoa Kỳ là một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến hành đầu

tư lớn nhất trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa về FDI: FDI là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu

Trang 12

tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài [10, tr.350].

Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam không đưa ra khái niệm “đầu tưtrực tiếp nước ngoài” mà chỉ đưa ra các khái niệm “đầu tư”, “đầu tư trựctiếp”, “đầu tư nước ngoài”:

Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc

vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy địnhcủa Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [9, tr.1]

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và

tham gia quản lý hoạt động đầu tư [9, tr.1]

Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn

bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư [9, tr.2]

Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh

doanh[8, tr.10] Vốn có thể là những tài sản hàng hoá như tiền vốn, đất đai,nhà cửa, máy móc, thiết bị, hàng hoá hoặc tài sản vô hình như bằng sáng chế,phát minh, nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyếtthương mại…

Từ các khái niệm này có thể hiểu: FDI là một loại hình đầu tư quốc tế,trong đó chủ đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủlớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng

họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác Hay

có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sảnnào từ nước đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soátdoanh nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi

Như vậy, FDI, xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam, là hoạt động

bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện

họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó

Trang 13

Xét về bản chất FDI khác (đối lập) với đầu tư gián tiếp nước ngoài;đồng thời FDI là đầu tư thuộc kênh tư nhân, khác hẳn với đầu tư tài trợ(ODA) của Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế.

Về mặt kinh tế: FDI là một hình thức đầu tư quốc tế đặc trưng bởi quátrình di chuyển tư bản từ nước này qua nước khác FDI được hiểu là hoạtđộng kinh doanh, một dạng kinh doanh quan hệ kinh tế có quan hệ quốc tế

Về đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tư sản ở nước ngoài đểtiến hành sản xuất kinh doanh dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận vànhững mục tiêu kinh tế, xã hội nhất định

Về mặt nhận thức: Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sựkhác biệt quốc tịch hoặc về lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên thamgia đầu tư trực tiếp nước ngoài mà còn thể hiện ở sự di chuyển tư bản bắtbuộc phải vượt qua tầm kiểm soát quốc gia

Vì vậy, FDI là hoạt động kinh doanh quốc tế dựa trên cơ sở quá trình

di chuyển tư bản giữa các quốc gia chủ yếu là do các pháp nhân và thể nhânthực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tư tham gia trựctiếp vào quá trình đầu tư Nguồn vốn đầu tư có thể là những tài sản hữu hìnhnhư tiền vốn, đất đai, nhà cửa, máy móc, thiết bị, công nghệ, hàng hoá hoặctài sản vô hình như bằng thương hiệu, sáng chế, phát minh, nhãn hiệu hànghoá, bí quyết kỹ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thương mại, trình độ quản

lý của nhà đầu tư nước ngoài…

Tóm lại, qua nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của đầu tưtrực tiếp nước ngoài qua các thời kỳ có thể nhận thấy bản chất của đầu tư trựctiếp nước ngoài là nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích đầu tư hay tìm kiếm lợinhuận ở nước tiếp nhận đầu tư thông qua di chuyển vốn từ nước đi đầu tư đếnnước tiếp nhận đầu tư Nhà đầu tư nước ngoài ở đây bao gồm tổ chức hay cá

Trang 14

nhân chỉ mong muốn đầu tư khi cho rằng khoản đầu tư đó có thể đem lại lợiích hoặc lợi nhuận cho họ

Đặc điểm của FDI

Thứ nhất,gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại

tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản củanền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước điđầu tư

Thứ hai,được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh

nghiệp mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinhdoanh, mua lại các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ởmức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượngdoanh nghiệp

Thứ ba,nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư

hoặc cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lýtrực tiếp hoạt động của doanh nghiệp

Thứ tư,là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan

hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chínhtrị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao

Thứ năm,nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận

động của dòng vốn đầu tư

Thứ sáu,FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước

và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vàomột nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó

Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.

Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt độngFDI trên toàn thế giới Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đãđược gần 30 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét Chính

Trang 15

những đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hútFDI phải chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan

hệ cân đối giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế

* Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương

- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài

Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyềnthống và phổ biến của FDI Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việcchú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách

áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt độngkinh doanh để đạt hiệu quả cao nhất Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tưnhỏ nhưng cũng rất được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy môlớn Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lập một công ty con củacông ty mẹ xuyên quốc gia

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu

tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nướcnhận đầu tư) Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phảiđược đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại Doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhàđầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu tráchnhiệm về kết quả kinh doanh Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theoLuật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn,doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…

Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhàkhông cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay đượctiền thuê đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động Mặt khác, do độclập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để

Trang 16

cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiếnnhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghềngười lao động Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhậnđược kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tưnước ngoài và không có lợi nhuận.

Tính đến hết năm 2015, tại Bình Dương, doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài có 1.315 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng ký đầu tư gần

13 tỷ USD chiếm 65% vốn đầu tư [11, tr.78]

- Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước

và nhà đầu tư nước ngoài

Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay.Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam nói chung và ở Bình Dương nóiriêng, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI Doanh nghiệp liên doanh là doanhnghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữaBên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tưkinh doanh tại nước sở tại

Như vậy, hình thức doanh nghiệp liên doanh tạo nên pháp nhân đồng

sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước sở tại Hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp liên doanh phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh củanước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hoàn thiện phápluật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại Hình thức doanhnghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếuvốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lạiđược chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm;tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý củanước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát đượcđối tác nước ngoài Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm

Trang 17

nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trườngmới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh

tế quốc tế Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiệnmâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sựkhác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa,ngôn ngữ, luật pháp Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốnthấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong doanh nghiệp liêndoanh yếu

Tính đến hết năm 2015, tại Bình Dương, thành lập doanh nghiệp liêndoanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài có 950 dự ánđược cấp phép với tổng số vốn đăng ký đầu tư gần 4 tỷ USD chiếm 20% vốnđầu tư [11, tr.78]

- Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa cácnhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm

mà không thành lập pháp nhân

Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếuvốn, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự áncủa nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định Tuy nhiên, nó có nhượcđiểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệthường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhânriêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại Do đó,

về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC Tuynhiên, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rànên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển

Trang 18

bắt đầu có chính sách thu hút FDI Khi các hình thức 100% vốn hoặc liêndoanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh.

Tính đến hết năm 2015, tại Bình Dương, đầu tư theo hình thức hợpđồng hợp tác kinh doanh có 24 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng kýđầu tư gần 920 triệu USD chiếm 2% vốn đầu tư [11, tr.78]

- Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT

BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa

cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng,kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thờihạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nướcViệt Nam

BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu

tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự

Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kếtphải là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường

sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước ; bắt buộcđến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước

Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kếtcấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm

áp lực vốn cho ngân sách nhà nước Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyểngiao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồnlực khác để phát triển kinh tế Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độrủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinhnghiệm quản lý, công nghệ

Tính đến hết năm 2015, tại Bình Dương, đầu tư theo hình hình thứchợp đồng BOT, BTO, BT có 80 dự án được cấp phép với tổng số vốn đăng kýđầu tư 1.07 tỷ USD chiếm 5.5% vốn đầu tư [11, tr.78]

Trang 19

- Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp

Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As Khi thịtrường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được khaithông, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanhnghiệp ở nước sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này

Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu

tư nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI Khi nhà đầu tưnước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoánnước sở tại, họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Tuy nhiên, khi

tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham giaquản lý doanh nghiệp thì họ trở thành nhà đầu tư FDI Luật pháp Hoa Kỳ vànhiều nước phát triển quy định tỷ lệ ranh giới này là 10% Đối với Việt Namtrong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này được quy định là 30%

Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưuđiểm cơ bản là để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạtđộng của những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản Nhược điểm cơ bản là dễgây tác động đến sự ổn định của thị trường tài chính Về phía nhà đầu tư, đây

là hình thức giúp họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ronhưng cũng là hình thức đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràngbuộc, hạn chế từ phía nước chủ nhà

Tính đến hết năm 2015, tại Bình Dương, đầu tư theo hình hình thức

mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp có 246 dự án được cấp

phép với tổng số vốn đăng ký đầu tư gần 1.5 tỷ USD chiếm 7.5% vốn đầu tư[11, tr.198]

Mỗi hình thức FDI đều có những đặc điểm riêng Do vậy, cần phải đadạng hóa các hình thức FDI này sao cho phù hợp với cơ cấu chung của nềnkinh tế, quy hoạch phát triển lực lượng sản xuất của từng ngành, từng địa

Trang 20

phương với mục tiêu là huy động và phát huy một cách có hiệu quả nguồn vốnFDI cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng và phát triển bền vững.

1.1.2 Vai trò của FDI đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bình Dương

Chúng ta đều biết rằng cơ cấu kinh tế ngành phản ánh trình độ pháttriển kinh tế của một tỉnh hoặc một quốc gia, với trình độ phát triển cao vàchiếm tỷ trọng lớn ở các ngành dịch vụ và công nghiệp được coi là chìa khóa

mở đường cho sự phát triển nền kinh tế Vì vậy đối với nguồn vốn FDI tronggiai đoạn hiện nay có vai trò rất quan trọng góp phần tái cấu trúc nền kinh tế,FDI làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp với chiến lược CNH,HĐH của tỉnh, thể hiện:

*FDI tạo ra sự phát triển ổn định, đúng hướng và đa dạng các ngành kinh tế của tỉnh

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng và là một trongnhững điều kiện tiên quyết để Bình Dương thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệpCNH, HĐH Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các ngành kinh tếluôn giữ và ngày càng tăng qua các năm kể cả về số lượng và chất lượng.Làm cho cơ cấu kinh tế ngành chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng dịch vụ,giảm tỷ trọng nông nghiệp Tính đến cuối năm 2015, cơ cấu kinh tế côngnghiệp - dịch vụ - nông nghiệp đạt 60% - 37,3% - 2,7% (Nghị quyết 59% -38% - 3%), tương ứng cơ cấu mới là: công nghiệp 62,8% - dịch vụ 24% -nông nghiệp 4%, thuế sản phẩm trừ nợ cấp sản phẩm 9,2% GDP bình quânđầu người là 95,6 triệu đồng/người [12 Tr 3]

Trong những năm đầu thời kỳ đổi mới, nguồn vốn đầu tư trong nướchạn chế thì mức vốn FDI thực hiện trung bình khoảng 690 triệu USD/năm có

ý nghĩa quan trọng, tạo điều kiện cho tỉnh từng bước xây dựng cơ sở ban đầutrong phát triển kinh tế - xã hội FDI giai đoạn 2011- 2015 đạt 4.071,89 triệu

Trang 21

USD, chiếm 20.5%(xem phụ lục 6) tổng vốn đầu tư phát triển thực sự đã trởthành một trong những động lực quan trọng góp phần phục vụ sự nghiệpCNH, HĐH ở Bình Dương Việc tăng vốn FDI đã tác động tích cực vào tăngtrưởng GDP, cụ thể như: tốc độ GDP đã tăng từ 12,50% năm 2010 lên 14,54%năm 2011 Năm 2014, mục tiêu tăng trưởng GDP của Bình Dương là 11,5%nhưng đã thực hiện vượt kế hoạch, đạt 12,50% do tăng 36,15% vốn đầu tưnước ngoài trong năm 2013 Năm 2015, mục tiêu tăng trưởng GDP của tỉnhBình Dương là 13%, nhưng đã thực hiện vượt kế hoạch đạt 13,02% do tăng24,81% vốn đầu tư nước ngoài trong năm 2014[21] Như vậy, rõ ràng đầu tưnước ngoài có mối quan hệ chặt chẽ, tác động đến sự tăng trưởng kinh tế củatỉnh.

Bảng 1.1: Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) theo giá so sánh 1995

phân theo khu vực kinh tế

GDP(%) Nông, lâm nghiệp

và thủy sản

Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ Chỉ số phát triển (năm trước =100) -%

Nguồn: niên giám thống kê tỉnh Bình Dương 2015, tr 40

Trong những năm qua, FDI không chỉ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấukinh tế của địa phương mà còn tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới như côngnghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, côngnghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may…Các doanh nghiệpđầu tư nước ngoài chiếm 70% về sản xuất, lắp ráp ô tô, điện tử (linh kiện điện

tử, dây và cáp điện ô tô, máy fax), 40% về may mặc, 45% về giầy dép [22].Đây là những đóng góp đáng kể giúp cho tỉnh Bình Dương luôn là một trong

Trang 22

những tỉnh đứng đầu về số lượng các ngành kinh tế được đầu tư có chất lượng

và phong phú về loại hình đầu tư cũng như mặt hàng sản xuất

* FDI làm gia tăng giá trị sản xuất, tác động tích cực đến cân đối tài chính và tạo nên mức tăng trưởng cao ở tất cả các ngành kinh tế của tỉnh Bình Dương

FDI ở Bình Dương phân bố hợp lý và hiệu quả Hầu hết các dự án nàyđều nhằm vào lĩnh công nghiệp (bao gồm cả xây dựng) với khoảng 93 % vốnđầu tư Trong đó, ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến chiếm70,5%, phần lớn sản xuất các mặt hàng hướng về xuất khẩu Ngành nông -lâm - ngư nghiệp chiếm 1,92% và dịch vụ 4,9% tổng vốn Xét về quy mô, các

dự án tại Bình Dương chủ yếu thuộc loại vừa với mức vốn trung bình khoảng5,1 triệu USD/dự án [23] Theo UBND tỉnh Bình Dương, có sự khác biệt sovới các địa phương khác Đó là dòng vốn chủ yếu tập trung vào sản xuất côngnghiệp, nên tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, do đótạo ra giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu cao, đóng gópngân sách lớn Chỉ tính riêng trong chín tháng năm 2015, nguồn vốn FDI tạiBình Dương đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp hơn 103.768 tỷ đồng,chiếm 68% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh; xuất khẩu đạt hơn 11,3

tỷ USD và chiếm tỷ trọng hơn 81% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh; nổibật là vốn FDI đầu tư vào sản xuất công nghiệp hỗ trợ tăng mạnh, góp phầnđưa giá trị xuất siêu của Bình Dương đạt hơn 4 tỷ USD/năm [22]

Hiện nay, các dự án FDI đã đi vào ổn định, tăng doanh thu nên gópphần rất lớn trong việc gia tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh Nếu trong năm

2011, khu vực FDI chỉ đóng góp 3.500 tỷ đồng, chiếm 12.8% trong tổng thungân sách, thì đến năm 2015, số nộp vào ngân sách của các doanh nghiệp này

đã là 5.821tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 18.3% và đã tăng hơn 2 lần so với năm2011[22] Sở dĩ có sự tăng cao này là do sự thay đổi tích cực của chính sách

Trang 23

thuế, sự chuyển biến tích cực trong lĩnh vực xuất nhập khẩu phải nhìn nhậnrằng, khu vực FDI có tác động tích cực đến cân đối tài chính của tỉnh BìnhDương Thật vậy, ngoài việc gia tăng nguồn thu ngân sách, tạo khả năng chủđộng hơn trong cân đối ngân sách tỉnh, FDI góp phần lành mạnh hóa cán cânthương mại, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh từ 8.542 USD năm 2011lên đến 17.717 USD năm 2015[11, tr.285].

Mặt khác, cùng với việc gia tăng xuất khẩu, FDI còn tạo ra nguồn thungoại tệ tại chỗ, đóng góp tiềm năng cho các ngành dịch vụ thương mại, dulịch, góp phần cải thiện cán cân vãng lai Hơn nữa nguồn vốn FDI chủ yếu là

từ tư nhân hay các tập đoàn kinh tế nước ngoài, vì vậy vừa bổ sung nguồn vốnquan trọng cho quá trình tăng trưởng kinh tế, vừa không gây ảnh hưởng đến

nợ chính phủ, vừa có độ an toàn cao hơn so với các hình thức đầu tư khác

*FDI cung cấp vốn, khoa học, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và tạo

ra đội ngũ lao động có tay nghề (nguồn nhân lực chất lượng cao) cho các ngành kinh tế

Thực tế cho thấy, từ khi thực hiện chính sách FDI cho đến nay, vốnđầu tư nước ngoài vào Bình Dương bình quân 741,13 triệu USD/năm; vốnđầu tư xây dựng cơ bản của các dự án đầu tư nước ngoài bình quân 1.291 tỷđồng/năm Đối với một nền kinh tế của tỉnh, thì đây là một lượng vốn đầu tưkhông nhỏ, thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển biến, không chỉ

về qui mô mà còn có vai trò như "chất xúc tác - điều kiện" để việc đầu tư củatỉnh đạt được hiệu quả nhất định Về định tính, sự hoạt động của đồng vốn cónguồn vốn từ FDI như là một trong những động lực gây phản ứng dây truyềnlàm thúc đẩy sự hoạt động của đồng vốn trong nước

Về đối tác nước ngoài đầu tư vào Bình Dương chủ yếu đến từ cácnước châu Á, chiếm khoảng 70% (bằng tỷ lệ chung của cả nước) trong đó dẫnđầu là Đài Loan (21,33%), Nhật Bản (20,85%), Hàn Quốc (10,3%), Xingapo

Trang 24

(7,8%), Hồng Kông (6,2%), Malaixia (6,1%) tiếp đó là các nước Tây Âu, Mỹ,v.v [12, tr.284-285] Đây là những nước có nền kinh tế phát triển Các đối tácnày đã đầu tư công nghệ hiện đại vào Bình Dương, làm chuyển biến mạnh mẽmột số lĩnh vực sản xuất của tỉnh như: dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện

tử, mạch điện tử, sản xuất dây điện, lắp ráp ôtô, công nghệ chế biến thức ăngia súc

FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹthuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới,

mở ra thị trường mới Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầuhết các nước đang phát triển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trongkhi phần lớn những kỹ thuật mới xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệpphát triển, do đó để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệpphát triển, các nước này rất cần nhanh chóng tiếp cận với các công nghệ - kỹthuật mới Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng đểnâng cao trình độ công nghệ, nhưng thông qua FDI là cách tiếp cận nhanh,trực tiếp và thuận lợi Thực tế đã cho thâý FDI là 1 kênh quan trọng đối vớiviệc chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển Đầu tư trực tiếpnước ngoài có tác động mạnh đến quá trình CDCCKT của nước tiếp nhận,thúc đẩy quá trình này trên nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu vốn đầu

tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao động

Về đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh: Trước khi bước vào cơ chế thịtrường, chúng ta chưa có nhiều nhà doanh nghiệp có khả năng tổ chức có hiệuquả trong môi trường cạnh tranh, khi các dự án đầu tư nước ngoài bắt đầuhoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam những chuyên giagiỏi đồng thời áp dụng những chế độ quản lý, tổ chức kinh doanh tiên tiến

Trang 25

Đây chính là những điều kiện tốt để các doanh nghiệp trong tỉnh tiếpcận, học tập và nâng cao trình độ Mặt khác, các nhà đầu tư nước ngoài cũngbuộc phải đào tạo các bộ quản lý cũng như lao động đến một trình độ nào đó

để đáp ứng được các yêu cầu trong các dự án Như vậy dù muốn hay khôngthì các nhà đầu tư nước ngoài đã tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhânlực Lao động làm việc trong các doanh nghiệp này đòi hỏi cường độ lao độngcao, kỷ luật nghiêm khắc, trình độ cao là yếu tố tạo nên người Việt Nam có ýthức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ tay nghề Trong những năm qua,

số lượng lao động được đào tạo nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyênmôn, kỹ thuật ở khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càngtăng Hiện tại, số lao động này đủ sức thay thế các chuyên gia nước ngoài

* FDI tạo ra sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh

và các doanh nghiệp FDI, từ đó tạo nên sự phát triển, khơi thông sức ỳ của các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh

Một vấn đề cũng rất quan trọng là, nếu như trước đây, các doanhnghiệp ở các ngành kinh tế trong địa bàn tỉnh Bình Dương chỉ biết sản xuấtkinh doanh thụ động thì sự xuất hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài đã thực sự trở thành nhân tố tác động mạnh làm thay đổi căn bảnphương thức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ở các ngành kinh tếtrong địa bàn tỉnh theo hướng tích cực và ngày càng thích nghi với nền kinh tếthị trường Các nhà đầu tư trong địa bàn tỉnh phải đương đầu với vấn đề xácđịnh khả năng tồn tại hay phá sản Để có thể tồn tại và trụ vững, các doanhnghiệp chỉ còn cách là thay đổi một cách căn bản từ công nghệ cho đếnphương thức sản xuất, quản lý, kinh doanh Phải đổi mới chất lượng sản phẩm

và áp dụng phương pháp kinh doanh tiên tiến, hiện đại, phù hợp mới có thểcạnh tranh được ngay trên sân nhà, sân chơi khu vực và thế giới Đó chính làmột trong những thử thách tất yếu của nền kinh tế thị trường đối với các nhà

Trang 26

sản xuất trong nước, không có kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu không tự nó làmmình mạnh lên để sống trong cơ chế đó.

Chính vì vậy FDI đã có tác dụng rất lớn, khai thông lối làm ăn kinhdoanh kiểu manh mún, chộp giật, nhỏ lẻ của các doanh nghiệp trong nướccũng như trong địa bàn tỉnh, tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt trên tất cả mọiphương diện của quá trình sản xuất kinh doanh, trong tất cả các ngành kinh tế

* FDI góp phần mở rộng hoạt động thương mại và thị trường xuất nhập khẩu, làm cho các ngành kinh tế thích nghi nhanh hơn với các thay đổi trên thị trường trong nước và thế giới

Nếu như trước đây khi chưa có FDI, các doanh nghiệp trong tỉnh chỉbiết đến có thị trường trong nước, nhưng khi có FDI thì họ được làm quen vớicác đối tác kinh tế mới không phải trong nước Họ chắc chắn sẽ nhận thấy rấtnhiều nơi cần cái họ đang có, và họ cũng đang cần thì ở nơi đối tác lại có, dovậy cần phải tăng cường hợp tác sẽ có nhiều sản phẩm được xuất khẩu để thungoại tệ về cho đất nước đồng thời cũng cần phải nhập khẩu một số loại mặthàng mà trong nước đang cần Chính vì vậy FDI được xem là một trongnhững phương thức đưa hàng hoá tại Việt Nam thâm nhập vào thị trườngnước ngoài một cách có lợi nhất Do đó, thông qua tiếp nhận FDI để BìnhDương có điều kiện thuận lợi gắn kết nền kinh tế trong tỉnh với hệ thống sảnxuất, phân phối, trao đổi quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.Đồng thời, thông qua tiếp nhận đầu tư để Bình Dương có thể tiếp cận thịtrường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, thích nghi nhanh hơn với cácthay đổi trên thị trường thế giới Các nhà đầu tư nước ngoài thông qua việcthực hiện các dự án đã trở thành "cầu nối", là điều kiện tốt để Bình Dươngnhanh chóng tiếp cận và tiến hành hợp tác với nhiều tập đoàn kinh tế, tổ chứcquốc tế, trung tâm kinh tế kỹ thuật công nghệ cao của thế giới

Trang 27

Mặt khác, hoạt động của FDI đã giúp các doanh nghiệp trong tỉnh mởrộng thị phần ở nước ngoài và giữ được các thị trường xuất khẩu truyền thốngnhư Mỹ, EU, Nhật Bản, ASEAN được duy trì và phát triển Đối với nhữnghàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vô hìnhchung đã biến các bạn hàng truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài thànhbạn hàng

Nhờ có những lợi thế trong hoạt động thị trường thế giới nên tốc độtăng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài caohơn khả năng xuất khẩu của cả nước và hơn hẳn các doanh nghiệp trongnước Chính vì vậy FDI góp phần tăng nhanh kim nghạch xuất khẩu và mởrộng nguồn thu ngân sách của tỉnh

1.2 Thực trạng về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Bình Dương

1.2.1 Những thành tựu đạt được trong những năm vừa qua

*Công nghiệp

Công nghiệp là chủ lực trong phát triển kinh tế, tốc độ tăng trưởngcao, tương đối ổn định, đúng hướng, từng bước phát triển theo chiều sâu, tạođộng lực cho phát triển đô thị, dịch vụ, thương mại trên địa bàn Giá trị sảnxuất công nghiệp bình quân tăng 15,7%; trong đó, khu vực có vốn đầu tưnước ngoài chiếm 67,7% năm 2015 (xem bảng 1.2) Sản phẩm khá đa dạng,chủ yếu là công nghiệp chế biến và xuất khẩu với các ngành mũi nhọn như:dệt may, da giày, chế biến nông sản, thực phẩm đồ uống, hóa chất, cao su,plastic, điện – điện tử, chế biến gỗ, …công nghệ, năng lực sản xuất côngnghiệp gia tăng, tạo nhiều ra sản phẩm có khả năng cạnh tranh và giá trị giatăng cao

Bảng 1.2: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo loại hình kinh tế

ĐVT: %

Trang 28

Đầu tư trực tiếp

Nguồn: niên giám thống kê tỉnh Bình Dương 2015, tr 244

Các khu công nghiệp liên tục được mở rộng, khai thác có hiệu quả, hạtầng đồng bộ gắn với hạ tầng đô thị và dịch vụ chất lượng cao Trên địa bàntỉnh có 28 khu công nghiệp đang triển khai với tổng diện tích 10,76 ha, trong

đó có 26 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy 65% Đồngthời các cụm công nghiệp cũng được tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, hiện có 6/8cụm hoạt động với diện tích gần 600 ha và tỷ lệ lấp đầy 45%.[12, tr.6]

* Dịch vụ

Dịch vụ, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tếnhanh và bền vững của tỉnh Bình Dương Đặc biệt là chương trình phát triểndịch vụ chất lượng cao của Tỉnh được triển khai và thực hiện đồng bộ, thu hútmọi thành phần kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn FDI Chính vì vậy mà giá trịdịch vụ tăng hàng năm, bình quân là 20,9%/năm

Với sự góp mặt của các dự án FDI đã xuất hiện nhiều loại hình dịch

vụ chất lượng cao như khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê, ngân hàng, bảohiểm, kiểm toán, tư vấn luật, vận tải, Logistics, siêu thị Các dịch vụ này gópphần tạo ra phương thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thíchhoạt động thương mại nội địa, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóacủa địa phương Dịch vụ tài chính – tiền tệ phát triển mạnh, dịch vụ bảo hiểm,bưu chính viễn thông, truyền hình phát triển đa dạng Dịch vụ Logistics tuymới khởi đầu nhưng phát triển nhanh, đã gắn kết giữa sản xuất và kinh doanhcủa doanh nghiệp

Trang 29

Du lịch hàng năm tăng trưởng ổn định (bình quân tăng 17% về doanhthu và 5% về lượng khách) Trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạtdoanh thu tương đối cao, cụ thể: doanh thu của các cơ sở lưu trú ở khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài từ năm 2011-2015 đạt 15,1 tỷ đồng, chiếm 12,36%.Doanh thu của các cơ sở lữ hành ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài từ năm2011-2015 đạt 13,5 tỷ đồng, chiếm 6,28% [11,tr.295].

Thương mại có bước phát triển cả về ngành nghề, tốc độ, cơ cấu vàthành phần kinh tế tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địabàn tỉnh bình quân tăng 23,5% Kết cấu hạ tầng thương mại hiện đại được tậptrung đầu tư thu hút nhiều tập đoàn, doanh nghiệp bán lẻ trong và ngoài nước.hiện nay, toàn tỉnh có 07 trung tâm thương mại, 11 siêu thị, 100 chợ đáp ứngnhu cầu của doanh nghiệp và người dân

Xuất khẩu có mức tăng trưởng cao, bình quân là 19,5%, xuất siêu, đếnnăm 2015 kim nghạch xuất khẩu đạt 17,72 triệu USD Xuất khẩu tăng hầu hếtcác thị trường trên thế giới, đã xuất khẩu đến trên 230 quốc gia, vùng lãnhthổ Nhập khẩu tăng bình quân 16,9%, đến năm 2015 kim ngạch nhập khẩuđạt 13.93 triệu USD [21]

*Nông nghiệp

Tác động trong lĩnh vực nông nghiệp, thực trạng sản xuất nôngnghiệp của địa phương những năm trước đây luôn gặp nhiều khó khăn dongười dân sản xuất không theo một định hướng cụ thể nào Việc trồng loạicây nào, nuôi con gì chủ yếu là theo phong trào Quy mô chăn nuôi theo kiểu

hộ gia đình nên số lượng ít, chất lượng không đồng đều Tuy vậy, đến naytình trạng này đã được khắc phục do ngành nông nghiệp Bình Dương đã thuhút được rất nhiều doanh nghiệp FDI tham gia sản xuất kinh doanh, tạo nênnhân tố mới, hướng sản xuất theo nhu cầu của thị trường dưới sự định hướngcủa các doanh nghiệp

Ngày đăng: 29/04/2019, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w