1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất lĩnh vực điện điện tử viễn thông việt nam tt

30 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 377,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cạnh tranh đã chuyển từ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sang cạnh tranh giữa các chuỗi cung ứng, do đó quản trị chất lượng hiện nay không chỉ dừng ở cấp độ quản trị nội bộ mà

Trang 1

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRIỆU ĐÌNH PHƯƠNG

QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT LĨNH VỰC ĐIỆN - ĐIỆN TỬ

- VIỄN THÔNG VIỆT NAM

Ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 9.34.01.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI-năm 2019

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Trần Nhuận Kiên

2 PGS TS Chu Đức Dũng

Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Xuân Trung

Phản biện 2: PGS TS Lê Công Hoa

Phản biện 3: PGS TS Lê Thái Phong

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại: ………

……… vào hồi……… ….giờ…………phút,

ngày………tháng……….năm………

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chất lượng có vai trò quyết định với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp ngày nay Từ góc độ chiến lược, chất lượng là cội nguồn của khác biệt hóa, nâng cao chất lượng là một trong các trụ cột giúp tạo ra lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, cạnh tranh đã chuyển từ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sang cạnh tranh giữa các chuỗi cung ứng, do đó quản trị chất lượng hiện nay không chỉ dừng ở cấp

độ quản trị nội bộ mà còn phải quan tâm đến các hoạt động thực hành bên ngoài, vượt qua ranh giới của các tổ chức, tích hợp doanh nghiệp với khách hàng và nhà cung cấp Năng lực quản trị chất lượng chuỗi cung ứng yếu kém sẽ dẫn đến các sự cố chất lượng sản phẩm, chậm giao hàng, suy giảm độ tin cậy và sự hài lòng của khách hàng Các sự cố về triệu hồi sản phẩm trong lĩnh vực sản xuất chế tạo của Toyota (2010) và Samsung (2016) đã cho thấy vai trò quan trọng của quản trị chất lượng và rủi ro chuỗi cung ứng

Ngành sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông là một trong những ngành có những bước phát triển mạnh, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 2010 đến nay, Tuy có được những thành tích đáng mừng như trên nhưng có một thực tế là các doanh nghiệp FDI đóng góp tới 90% giá trị xuất khẩu của ngành và thu hút 85% lực lượng lao động, phần đóng góp còn lại của các doanh nghiệp nội địa là rất hạn chế Nguyên nhân là do các doanh nghiệp sản xuất nội địa không đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn về sản phẩm như chất lượng, chi phí, thời gian giao hàng Nghiên cứu

mô hình và các thực hành quản trị chất lượng làm cơ sở tạo ra các

Trang 4

sản phẩm có chất lượng ổn định, đáp ứng các yêu cầu của khách hàng về chi phí, thời gian giao hàng là nhu cầu cấp thiết

Từ các lí do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất lĩnh vực điện – điện tử

- viễn thông Việt Nam” làm đề tài luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích luận án nghiên cứu hoạt động thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (SCQM) và mối liên hệ với kết quả hoạt động tại doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

 Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện - điện tử - viễn thông Việt Nam

 Phạm vi nghiên cứu:

Các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam được nghiên cứu là các doanh nghiệp đăng ký mã ngành kinh doanh thuộc nhóm C26, C27 của Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Trong Luận án này, sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp nghiên cứu tại bàn, Phương pháp nghiên cứu định tính, Phương pháp nghiên cứu định lượng, Phương pháp nghiên cứu tình huống

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

 Đóng góp về mặt lý thuyết:

Tổng hợp, hệ thống hóa đầy đủ các lý thuyết và mô hình về SCQM; Phát triển khung phân tích, đo lường/đánh giá hoạt động SCQM phù hợp với bối cảnh tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo ở các nước đang phát triển; Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động tích

Trang 5

cực của SCQM tới kết quả hoạt động về chất lượng, chi phí, thời gian giao hàng

 Ý nghĩa thực tiễn:

Cung cấp bằng chứng, hướng dẫn, gợi ý các thực hành tốt giúp quản trị hiệu quả chất lượng chuỗi cung ứng tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận án gồm có 04 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị chất lượng chuỗi cung ứng

- Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và hàm ý

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Các nghiên cứu quốc tế về SCQM

1.1.1 Các nghiên cứu về tích hợp QM và SCM

Khái niệm Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) hình thành từ trong thập niên 1980 và ban đầu liên quan đến các hoạt động quản trị mua hàng, quản trị tồn trữ, vận chuyển trong chuỗi cung ứng Quản trị chất lượng toàn diện (TQM): “…là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng dựa vào sự tham gia của tất cà các thành viên, nhằm đạt tới sự thành công lâu dài nhờ thoả mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức và cho xã hội” [14]

Cho đến năm 2000, nỗ lực QM chỉ tập trung cải thiện chất lượng sản phẩm tại các quá trình trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp Với sự không chắc chắn ngày càng gia tăng của môi trường kinh doanh, chất lượng sản phẩm cuối cùng phụ thuộc vào toàn bộ dòng chảy liên tục trong chuỗi cung ứng Việc làm thỏa mãn khách hàng chỉ có thể đạt được khi toàn bộ chuỗi cam kết, tích hợp, phối hợp chặt chẽ với nhau [94] Các hoạt động thực hành TQM truyền thống cần phải được chuyển đến một cách tiếp cận khác về chuỗi cung ứng [85], mở rộng hoạt động với các đối tác chuỗi cung ứng cả xuôi dòng và ngược dòng để thu được toàn bộ lợi ích tiềm năng của cải tiến chất lượng, nâng cao chất lượng để làm hài lòng khách hàng [85], [93] Tích hợp hai khái niệm QM và SCM được đề xuất bởi nhiều học giả, dẫn tới

sự ra đời của quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (Supply Chain Quality Management - SCQM), mang lại các tiềm năng để đối phó với những thách thức trong tương lai của chuỗi cung ứng [45]

1.1.2 Các nghiên cứu về khái niệm và nội hàm của SCQM

Trang 7

SCQM là khái niệm tích hợp hai lĩnh vực khoa học quản trị – QM và SCM được đề xuất bởi nhiều học giả từ những năm 2000 Giai đoạn đầu, SCQM được định nghĩa là “sự tham gia của tất cả các thành viên kênh cung ứng, vượt qua ranh giới giữa các doanh nghiệp trong quá trình phát triển liên tục và đồng nhất của tất cả các quy trình, sản phẩm, dịch vụ và văn hoá làm việc, tập trung vào việc tạo ra năng suất khác biệt, cạnh tranh thông qua việc quảng bá sản phẩm và các giải pháp dịch vụ mang lại giá trị và sự hài lòng của khách hàng” [35] Gần đây, SCQM được xem xét như hiệu ứng cộng hưởng giữa SCM và QM, trong đó QM trong doanh nghiệp là chìa khóa để cải thiện kết quả hoạt động trên toàn chuỗi Mới đây nhất, các nhà nghiên cứu xem xét SCQM như một khái niệm đa hướng bao gồm

QM nội bộ (quản trị quá trình, thiết kế sản phẩm/quy trình, đào tạo chất lượng,…) và các hoạt động QM ở cấp độ chuỗi cung ứng (hợp tác với khách hàng và nhà cung cấp, đào tạo chất lượng ở cấp độ chuỗi cung ứng, sự tham gia của các thành viên trong quá trình thiết

kế sản phẩm) [55] Có thể nhận thấy, tồn tại một loạt các định nghĩa khác nhau về SCQM được đề xuất Những định nghĩa này phản ánh

sự khác biệt về lý thuyết, thực nghiệm và quan trọng hơn là trọng tâm và phạm vi nghiên cứu của các học giả

1.1.3 Các nghiên cứu về thành phần của SCQM

Hoạt động thực hành SCQM được định nghĩa là tập hợp các hoạt động hàng ngày được thực hiện bởi các tổ chức để đạt được các mục tiêu SCQM [83] Các hoạt động thực hành SCQM đã được nghiên cứu bởi nhiều học giả nhằm phát triển các cấu trúc, biểu thị đặc tính của SCQM, cũng như đánh giá tác động của từng thực hành này tới kết quả hoạt động [95] Kuei và cộng sự [66] đề xuất 11 cấu trúc để

đo lường SCQM, dựa trên thực hành QM nội bộ và quan hệ của

Trang 8

Công ty với khách hàng và nhà cung cấp Trong khi đó, Kaynak và Hartley [61] phát triển 8 thực hành SCQM với tập trung vào nội bộ

và QM nhà cung cấp: sự lãnh đạo, đào tạo, quan hệ nhân viên, tập trung khách hàng, báo cáo và dữ liệu chất lượng, QM nhà cung cấp, thiết kế sản phẩm/dịch vụ và quản trị quá trình Rồi sau đó, Zeng và cộng sự [103] đề xuất thực hành SCQM được chia thành 3 nhóm:

QM nội bộ, QM dòng ngược, QM dòng xuôi Gần đây, các thực hành SCQM liên quan tới chia sẻ thông tin và quản trị tri thức giữa các doanh nghiệp, nhà cung cấp và khách hàng [55], [103], cũng như ứng dụng hệ thống thông tin như công nghệ Internet mới nhất để nâng cao kết quả chất lượng trong toàn bộ chuỗi cung ứng [85]

Tác động của SCQM tới kết quả hoạt động cũng được nghiên cứu rộng rãi bởi nhiều học giả để có hiểu biết tốt hơn cách thức hoạt động thực hành SCQM tác động tới kết quả chất lượng [93], [95], sự hài lòng khách hàng [103], kết quả kinh doanh của doanh nghiệp [55], [66], [83] Kết quả thu được khá đa dạng do khác nhau về bối cảnh, mẫu nghiên cứu cũng như không có một thang đo thống nhất

và hoàn chỉnh các hoạt động thực hành SCQM Cụ thể như, Zeng và cộng sự [103] chỉ ra rằng không có bằng chứng về tác động của quản trị chất lượng ngược dòng tới sự phù hợp về chất lượng, trong khi đó Soares và cộng sự [95] chỉ ra rằng tập trung vào nhà cung cấp và tích hợp nhà cung cấp có thể cải thiện kết quả chất lượng

1.1.4 Các hướng nghiên cứu khác liên quan đến SCQM

Bên cạnh 3 hướng nghiên cứu chính về SCQM gồm (1): định nghĩa

và xác định các đặc tính của SCQM, (2) xem xét và phát triển các thực hành SCQM để cải thiện chất lượng và kết quả hoạt động chuỗi cung ứng (3) đánh giá thực chứng tác động của thực hành SCQM tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp, các học giả trên thế giới còn

Trang 9

phát triển các cách tiếp cận khác có liên quan nhằm cải thiện chất lượng chuỗi cung ứng, giảm tỷ lệ phế phẩm, chi phí chất lượng, nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi Các nghiên cứu điển hình có thể

kể đến như: Beamon và cộng sự [29]; Romano và Vinelli [86]; Yang

và cộng sự [79]; Ramudhin và cộng sự [84]; Gionata Carmignani [32]; Braglia và Petroni [31]

1.2 Các nghiên cứu trong nước có liên quan đến chủ đề SCQM

Tại Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về chất lượng, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu bắt đầu được các học giả, nhà quản trị quan tâm nghiên cứu từ những năm 2000 dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, chủ đề nghiên cứu về SCQM dường như chưa phổ biến với duy nhất 01 công trình nghiên cứu được công bố năm 2015 của nhóm tác giả Hằng và cộng sự Sử dụng dữ liệu từ 282 doanh nghiệp Việt Nam thuộc ngành nông nghiệp, vận tải, thủy sản, công nghiệp chế biến, khách sạn Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hoạt động SCQM có tác động tích cực đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như sự hài lòng khách hàng, hiệu quả tài chính, hiệu quả hoạt động

Các hướng nghiên cứu khác có liên quan đến chủ đề luận án được công bố trong nước từ năm 2000 có thể chia thành 04 nhóm: các nghiên cứu về chuỗi giá trị/chuỗi cung ứng các ngành hàng, tập trung vào các mặt hàng có giá trị kinh tế, kim ngạch xuất khẩu lớn như: các mặt hàng nông sản, thủy hải sản, dệt may, đồ gỗ, du lịch; các nghiên cứu về chuỗi giá trị/mạng lưới sản xuất toàn cầu, phát triển công nghiệp hỗ trợ; các nghiên cứu về hệ thống và hoạt động QM; các nghiên cứu về SCM tại các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp sản xuất chế tạo lĩnh vực điện/điện tử, viễn thông

Trang 10

1.3 Tổng kết đánh giá và khoảng trống nghiên cứu

Qua tổng quan, tác giả nhận thấy tồn tại 04 khoảng trống nghiên cứu:

- Nghiên cứu tích hợp hệ thống quản trị chất lượng và quản trị chuỗi cung ứng hướng tới một hệ thống quản trị vượt trội hơn tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam

- Nghiên cứu xác định các cấu trúc đo lường/đánh giá chất lượng chuỗi cung ứng và các hoạt động thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng xét trong bối cảnh nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản xuất chế tạo Việt Nam

- Nghiên cứu thực chứng mối quan hệ giữa các hoạt động thực hành quản trị chất lượng chuỗi cung ứng và kết quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất chế tạo tại Việt Nam

- Các vấn đề liên quan đến chất lượng và mô hình, hoạt động quản trị chất lượng chuỗi cung ứng ứng tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử /viễn thông Việt Nam

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung trả lời 03 câu hỏi nghiên cứu sau:

- Cách tiếp cận đo lường/đánh giá SCQM bao gồm 3 thành phần: Quản trị chất lượng nội bộ, Quản trị chất lượng dòng ngược, Quản trị chất lượng dòng có phù hợp xét trong bối cảnh nghiên cứu tại các doanh nghiệp sản xuất, chế tạo Việt Nam ?

- Hiện trạng thực hành SCQM tại các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam hiện nay ?

- Liệu tăng cường các thực hành SCQM có cải thiện kết quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện/điện tử/viễn thông Việt Nam ?

Trang 11

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG CHUỖI

CUNG ỨNG

2.1 Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng

2.1.1 Chuỗi cung ứng và các hoạt động của chuỗi cung ứng

Thuật ngữ "chuỗi cung ứng" đã được các nhà nghiên cứu sử dụng từ những năm 1970 [28] Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “chuỗi cung ứng” Trong phạm vi luận án này, tác giả kế thừa cách tiếp cận của Govil và Proth [51] theo đó: “Chuỗi cung ứng như một mạng lưới các tổ chức hợp tác để cải thiện các dòng chảy nguyên vật liệu và thông tin giữa các nhà cung cấp và khách hàng ở mức chi phí thấp nhất và tốc độ cao nhất; mục tiêu của chuỗi cung ứng là sự hài lòng của khách hàng”

2.1.2 Các thành viên của chuỗi cung ứng

Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức hợp tác với mục tiêu là

sự hài lòng của khách hàng Mô hình đơn giản nhất của chuỗi gồm nhà sản xuất cùng với khách hàng và nhà cung cấp của họ Mở rộng hơn, thành viên trong chuỗi cung ứng bao gồm nhà sản xuất, nhà phân phối (bán sỉ, bán lẻ), các tổ chức, cá nhân đóng vai trò là khách hàng và các tổ chức cung cấp dịch vụ cho thành viên chuỗi như: thiết

kế sản phẩm, logistics, tài chính, marketing, hạ tầng mạng…

2.1.3 Các thực hành quản trị chuỗi cung ứng

2.1.3.1 Khái niệm và lịch sử phát triển của SCM

Jones và Riley [57] là các học giả tiên phong đưa ra khái niệm về SCM như một phương pháp quản lý Từ đó đến nay có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về SCM tùy thuộc vào từng tác giả và quan điểm của họ Cách tiếp cận được sử dụng trong luận án này về SCM

là “hoạt động quản lý các mối quan hệ xuôi dòng và ngược dòng với nhà cung cấp và khách hàng nhằm cung cấp giá trị khách hàng cao

Trang 12

hơn với chi phí thấp hơn cho toàn bộ chuỗi cung ứng” [40]

2.1.3.2 Các hoạt động thực hành quản trị chuỗi cung ứng

Hai chức năng chính của SCM là tích hợp mạng lưới các tổ chức và phối hợp đảm bảo sự lưu chuyển liên tục, ổn định của dòng thông tin, nguyên liệu/sản phẩm và tài chính Dựa trên hai chức năng nền tảng của chuỗi cung ứng, các học giả trên thế giới đã phát triển các thực hành SCM hướng tới cải thiện hiệu suất hoạt động Các thực hành quản trị chuỗi cung ứng được định nghĩa là một tập hợp các hoạt động được thực hiện trong một tổ chức để thúc đẩy quản trị hiệu quả chuỗi cung ứng [70] Theo cách tiếp cận quá trình của Li và cộng sự [70] các hoạt động thực hành quản trị chuỗi cung ứng gồm 4 nhóm hoạt động với 5 thực hành gồm: quản trị dòng ngược (quan hệ đối tác chiến lược với nhà cung cấp), quản trị dòng xuôi (quan hệ khách hàng), quản trị luồng thông tin trong chuỗi (mức độ và chất lượng chia sẻ thông tin), quản trị quy trình chuỗi cung ứng nội bộ (trì hoãn)

2.2 Chất lượng và quản trị chất lượng

2.2.1 Khái niệm về chất lượng

Chất lượng là một khái niệm trừu tượng, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về nó tùy thuộc vào quan điểm, cách tiếp cận Vì mục đích của nghiên cứu này là tìm ra những yếu tố trong mô hình quản trị chất lượng sản phẩm, dịch vụ trên phạm vi toàn bộ chuỗi cung ứng do đó, định nghĩa chất lượng được tác giả sử dụng trong luận án này là: “sự phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật và đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi của khách hàng”

2.2.2 Quản trị chất lượng và tiến trình phát triển của QM

Chất lượng luôn đóng một vai trò quan trọng trong thương mại giữa người mua và người bán Do đó, QM đã có từ rất sớm cùng với nền kinh tế trao đổi Tương ứng với từng giai đoạn phát triển, định nghĩa

và thực hành QM có sự thay đổi cả về lượng và chất Cách tiếp cận

Trang 13

được chấp nhận rộng rãi hiện nay về QM như là: “…một cách tiếp cận tích hợp để đạt được và duy trì sản phẩm/dịch vụ chất lượng cao, tập trung vào việc duy trì và cải tiến liên tục các quá trình và phòng ngừa khiếm khuyết ở tất cả các cấp, trong mọi chức năng của tổ chức, nhằm đáp ứng hoặc vượt quá mong đợi của khách hàng” [43]

2.2.3 Các thực hành quản trị chất lượng

Theo Flynn và cộng sự [43], [44] các hoạt động thực hành QM được chia làm 2 nhóm: các thực hành QM cốt lõi nhằm hướng tới cải thiện kết quả chất lượng và các thực hành phát triển cơ sở hạ tầng cho QM nhằm thiết lập môi trường, điều kiện áp dụng hiệu quả các thực hành

QM cốt lõi Các thực hành cốt lõi là các khía cạnh quá trình/kỹ thuật của QM như: quản trị quá trình, thiết kế chất lượng, cải tiến chất lượng, giải quyết vấn đề, thông tin chất lượng (dữ liệu và báo cáo chất lượng, thông tin phản hồi) Các thực hành cơ sở hạ tầng là các khía cạnh con người, chiến lược của QM bao gồm: sự hỗ trợ từ lãnh đạo cao nhất, lập kế hoạch chiến lược về chất lượng, quan hệ với khách hàng, quan hệ với nhà cung cấp, thái độ làm việc, quản trị lực lượng lao động (đào tạo, phần thưởng)

2.3 Quản trị chất lượng chuỗi cung ứng

2.3.1 Các quan điểm về quản trị chất lượng chuỗi cung ứng

Tích hợp hai khái niệm quản trị chất lượng và quản trị chuỗi cung ứng là xu hướng tất yếu quyết định khả năng cạnh tranh trong tương lai của chuỗi cung ứng SCQM được ra đời từ ý tưởng trên vào những năm 2000 Cho đến nay, SCQM vẫn còn đang được phát triển, các quan điểm về SCQM có thể kể đến gồm có:

- SCQM là giai đoạn phát triển mới của quản trị chất lượng toàn diện: đạt được chất lượng cao liên quan tới quá trình hợp tác giữa các đối tác thay vì tập trung vào nội bộ [103]

Trang 14

- SCQM là hiệu ứng cộng hưởng giữa quản trị chuỗi cung ứng (SCM) và quản trị chất lượng (QM): cách tiếp cận này cho rằng,

cách tiếp cận truyền thống về SCM không còn phù hợp, tỏ ra kém hiệu quả ở bối cảnh cạnh tranh hiện tại, ứng dụng nguyên tắc QM

mở ra các cơ hội mới để cải thiện kết quả hoạt động của chuỗi [45]

- SCQM là cơ chế quản trị chất lượng các dòng chảy trong chuỗi cung ứng: sự phối hợp chính thức và tích hợp các quy trình kinh

doanh giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng để tạo ra giá trị và đạt được sự hài lòng cho khách hàng trung gian và cuối cùng trên thị

trường

Trong luận án này, tác giả sử dụng cách tiếp cận quản trị chất lượng chuỗi cung ứng là cơ chế quản trị chất lượng các dòng chảy trong chuỗi cung ứng

2.3.2 Vai trò của quản trị chất lượng chuỗi cung ứng

- Giảm thiểu rủi ro và sự cố về chất lượng

- Giảm chi phí sản xuất và nâng cao kết quả hoạt động

- Xây dựng và bảo vệ danh tiếng/thương hiệu

- Vũ khí cạnh tranh trong môi trường kinh doanh toàn cầu

2.3.3 Các cấu phần và thực hành SCQM

Với cách tiếp cận SCQM như là cơ chế quản trị chất lượng các dòng chảy trong chuỗi cung ứng, hoạt động SCQM bao gồm các cấu phần: hoạt động QM nội bộ (bên trong tổ chức); hoạt động QM dòng ngược (quan hệ, hợp tác, tích hợp với nhà cung cấp); hoạt động QM dòng xuôi (quan hệ, hợp tác, tích hợp với khách hàng)

a Hoạt động quản trị chất lượng nội bộ

Phát triển các thực hành của hệ thống TQM, các thực hành QM nội

bộ bao gồm: sự hỗ trợ từ lãnh đạo cao nhất, lập kế hoạch chiến lược

về chất lượng, đào tạo chất lượng, phần thưởng, quản trị quá trình,

Trang 15

thiết kế chất lượng, dữ liệu và báo cáo chất lượng, thông tin phản hồi, cải tiến liên tục, giải quyết vấn đề

b Hoạt động QM dòng ngược (QM phía nhà cung cấp)

QM dòng ngược là một quá trình lựa chọn và đánh giá nhà cung cấp nhằm khuyến khích mối quan hệ lâu dài với một số nhà cung cấp có

đủ khả năng đạt được các yêu cầu về chất lượng cần thiết

c Hoạt động QM dòng xuôi (quản trị mối quan hệ khách hàng)

Các hoạt động QM dòng xuôi tập trung vào việc đảm bảo chất lượng, xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng và tích hợp các khách hàng chủ chốt vào thiết kế sản phẩm và dịch vụ, cải tiến chất lượng qua đó thỏa mãn yêu cầu của khách hàng về chất lượng, chi phí, thời gian giao hàng, đảm bảo vị thế cạnh tranh trên thị trường

2.4 Kết quả hoạt động và hệ thống quản trị, đo lường kết quả hoạt động

Kết quả hoạt động là mức độ hoàn thành những mục tiêu đã đề ra Kết quả hoạt động là một thông số rất quan trọng để quản trị hiệu quả bất kỳ tổ chức nào Không thể cải tiến quy trình/hoạt động nếu không đo lường kết quả Các học giả đã dành nhiều nỗ lực nhằm xác định thang đo kết quả hoạt động giúp so sánh kết quả trong các khoảng thời gian khác nhau Hiện nay, kết quả hoạt động của doanh nghiệp thường được phản ảnh thông qua: tỷ suất sinh lời, tỷ lệ tăng trưởng, giá trị thị trường, sự hài lòng của khách hàng, sự hài lòng của nhân viên, Tuy nhiên, vẫn chưa có một thang đo thống nhất về kết quả hoạt động

Ngày đăng: 26/04/2019, 20:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w